Thứ Ba, 8 tháng 2, 2022

PHÁP ẤN

 


Pháp ấn, tiếng Phạn dharma-mudrā, trong đó dharma là pháp, là những lời dạy của Đức Phật, và mudrā là dấu ấn, là khuôn dấu, là đặc chất, là tiêu chuẩn. 

Ấn còn có nghĩa là chân thật, bất động, bất biến, như ấn tín của quốc vương. Pháp ấn là dấu ấn của Chánh pháp, là dấu hiệu đặc trưng để nhận biết Phật pháp, nhưng cũng có thể là chỉ cho giáo pháp cô đọng, tinh yếu, cốt tủy, tức là pháp yếu. 

Sau này, nhiều trăm năm sau Phật Niết-bàn, thuật ngữ Pháp ấn được dùng để chỉ cho kinh điển do Phật thuyết, ngược lại, kinh điển nào có nội dung tư tưởng trái ngược với pháp ấn thì được coi là kinh điển không do Phật thuyết.


Những bản kinh sau đây sẽ cho chúng ta thấy khái niệm pháp ấn được Đức Thế Tôn dùng để giảng dạy những giáo lý nhiệm mầu, thâm sâu; những pháp hành căn bản để thành tựu giải thoát.

Thánh pháp ấn là khuôn dấu về Chánh pháp của bậc Thánh, pháp ấn của bậc Thánh, hay pháp này chính là pháp hành, pháp yếu căn bản đi đến thành tựu Thánh quả. Kinh ghi: “Này các Tỳ-kheo, thế nào là Thánh pháp ấn? Thánh pháp ấn này nếu được tu tập sẽ đưa đến tri kiến thanh tịnh. Giả sử vị Tỳ-kheo ở chỗ nhàn cư, hoặc ngồi dưới gốc cây, chốn không nhàn, quán sát nhận biết rõ sắc là vô thường, thấy sắc vốn không có. Đã nhận biết rõ vô thường, hiểu rõ đến chỗ Không, Vô đều là hình dung biến hóa nhanh chóng, vô ngã, vô dục, cho nên tâm liền ngưng nghỉ, tự nhiên thanh tịnh mà được giải thoát.”1

Thánh pháp ấn ở đây được nhận diện là vô thường, không, vô ngã và Niết-bàn.

Tự tánh không

Pháp ấn là pháp của Phật, siêu việt, không thể nghĩ bàn, tri kiến không thể đạt tới. Kinh ghi: “Tự tánh Không, không có sở hữu, không vọng tưởng, không sanh, không diệt, thoát ly mọi tri kiến. Tại sao? Vì tánh Không, không có xứ sở, không có sắc tướng, không có tưởng, nó vốn không sanh, không phải chỗ mà tri kiến có thể đạt tới, thoát ly mọi vướng mắc; vì do thoát ly mọi vướng mắc, nên hết thảy pháp nó đều dung nhiếp, an trú tri kiến bình đẳng, tức là tri kiến chân thực. Tỳ-kheo nên biết, tánh Không là như vậy, các pháp cũng là như vậy, đó gọi là pháp ấn.”2

Ở đây, tánh Không là pháp ấn.

Tam giải thoát môn

Có khi Đức Phật nói ba cánh cửa giải thoát là pháp ấn. Kinh ghi: “Pháp ấn này chính là ba giải thoát môn, là pháp căn bản của chư Phật, là đôi mắt của chư Phật, đó là chỗ quy thú của chư Phật.”3

Rồi Đức Phật giải thích, nếu ai tu tập, quán sát đúng như thật rằng: “Sắc là khổ, là không, là vô thường, nên sinh khởi sự nhàm chán và thoát ly chúng, an trú tri kiến bình đẳng. Cũng giống như thế, quán sát: thọ, tưởng, hành và thức, là khổ, là không, nên sinh khởi sự nhàm chán và thoát ly chúng, an trú tri kiến bình đẳng.

“Này các Tỳ-kheo! Các uẩn vốn là không tự tánh, do tâm mà có sinh, khi tâm pháp diệt tận rồi, thì các uẩn không còn tác khởi.

“Thấu suốt rõ ràng như thế, tức là trực tiếp giải thoát, đã trực tiếp giải thoát rồi, thì thoát ly mọi tri kiến. Đây gọi là Không giải thoát môn.

“Lại nữa, an trụ ở trong tam-muội, quán chiếu các sắc cảnh, hết thảy chúng đều diệt tận, thoát ly mọi ấn tượng. Cũng vậy, với thanh, hương, vị, xúc và pháp, cũng đều diệt tận, thoát ly mọi ấn tượng; quán sát như vậy, gọi là Vô tưởng giải thoát môn. Vào cửa giải thoát này rồi, liền thành tựu được tri kiến thanh tịnh. Do vì có sự thanh tịnh đó, nên tham, sân và si hết thảy chúng đều diệt tận. Những thứ ấy, đã diệt tận rồi, thì liền an trú tri kiến bình đẳng.

“Đã an trú vào tri kiến này rồi, tức là thoát ly kiến về ngã cùng với kiến về ngã sở, tức liền thấu suốt rõ ràng mọi kiến, không sở sinh, không có chỗ y chỉ.

“Lại nữa, đã thoát ly kiến về ngã rồi, tức không còn kiến, văn, giác và tri.

Tại sao vậy? Vì do nhân duyên, mà các thức sinh khởi, thì tức nhân duyên đó, cùng với thức được sinh ra, hết thảy chúng đều vô thường. Do vì nó vô thường, cho nên thức bất khả đắc. Thức uẩn đã không, thì không có chỗ tạo tác. Gọi là Vô tác giải thoát môn.”4

Bốn pháp thù thắng

Một thời, Đức Thế Tôn du hóa ở cung Hải Long vương cùng với 1.250 vị Tỳ-kheo, và số đông các hàng Đại Bồ-tát. Bấy giờ, Long vương Sāgara bạch với Thế Tôn: “Kính bạch Thế Tôn! Có pháp gì mà người thọ trì chút ít lại được phước nhiều không?”

Khi ấy, Phật bảo Hải long vương: “Có bốn pháp thù thắng, nếu ai thọ trì, đọc tụng, hiểu nghĩa, thì dụng công tuy ít mà được phước rất nhiều, so với công đức của người đọc tụng tám vạn bốn ngàn pháp tạng không khác. Bốn pháp đó là gì? Là thường tư  duy: các hành vô thường, tất cả đều khổ, các pháp vô ngã và chỉ có Niết-bàn là an lạc.Long vương nên biết, đây là bốn pháp thù thắng, hàng Đại Bồ-tát Vô tận pháp trí, sớm chứng vô sanh,  mau đến viên tịch, là vì họ thường tư duy, nghiền ngẫm bốn pháp này!”5

Vô thường, khổ, vô ngã, Niết-bàn được cho là bốn pháp ấn!

Ba pháp ấn

Một thời, sau khi Thế Tôn vào Niết-bàn không bao lâu, Trưởng lão Channo đi khắp nơi để thỉnh cầu các Tỳ-kheo chỉ dạy, rằng “xin chỉ dạy tôi, nói pháp cho tôi, để cho tôi biết pháp, thấy pháp và tôi có thể như vậy mà quán sát pháp.”

Bấy giờ, các Tỳ-kheo nói với Channo: “Sắc là vô thường. Thọ, tưởng, hành, thức là vô thường. Tất cả các hành đều vô thường. Tất cả các pháp đều vô ngã. Niết-bàn là tịch diệt”. 6

Chữ ‘hành’ ở đây chỉ cho tất cả mọi hiện tượng sinh diệt, biến hóa; nó đồng nghĩa với từ ‘hữu vi’. Tất cả mọi hiện tượng chưa từng dừng nghỉ quá trình chuyển động dù chỉ trong nháy mắt, chúng luôn luôn thay đổi, sinh diệt và biến hóa, cho nên nói ‘chư hành vô thường’: tất cả mọi hiện tượng đều luôn thay đổi, không thường hằng bất biến. Hiện tượng ở đây bao hàm cả vật chất lẫn tinh thần, chúng biến đổi liên tục không gián đoạn.

Vô thường, anitya hoặc anityatā, có nghĩa là tất cả các pháp hữu vi ở thế gian không có gì tồn tại mãi mãi, cái gì cũng thay đổi, biến hóa, sanh diệt không dừng. Tất cả các pháp hữu vi đều do nhân duyên mà sanh và đều có bốn tướng trạng: sanh, trụ, dị, diệt, gọi là tứ tướng vô thường. Bốn tướng này sanh diệt trong từng sát-na, sanh đó liền diệt đó.

Luận Đại trí độ, quyển 43, nói vô thường có hai loại, là niệm niệm vô thường và tương tục vô thường.

- Niệm niệm vô thường: Trong mỗi niệm, trong mỗi sát-na, các pháp hữu vi trải qua bốn tướng trạng sanh, trụ, dị, diệt; niệm này vừa sanh liền diệt, vừa diệt liền sanh, liên tục không gián đoạn.

- Tương tục vô thường: Vô thường tiếp nối vô thường tạo thành một dòng chảy vô thường tương tục: sanh, trụ, dị, diệt, rồi lại sanh, trụ, dị, diệt…

Luận Biện trung biên, quyển trung, phân tích vô thường thành ba loại: vô tính vô thường, sanh diệt vô thường và cấu tịnh vô thường.

- Vô tính vô thường: Còn gọi là vô vật vô thường. Tính biến kế sở chấp (các pháp vốn không có tự tính, do chúng sanh suy diễn, vọng tưởng [biến kế] rồi chấp vào đó mà cho là có tự tính), vì tính của nó là thường Không. Thành duy thức luận thuật ký giải thích: Vì thể tính thường không, tức là cái tính ban đầu, mà luận Biện trung biên gọi là Vô hữu vật (không có vật gì cả), thật sự thì không có gì vô thường cả (vì không có vật thì làm gì có vật vô thường?), cho nên nói các hành vô thường chỉ là một cách nói tạm thời.

- Sanh diệt vô thường: Còn gọi là khởi tận vô thường. Các pháp nương vào nhau mà sanh khởi, nương vào cái khác mà sinh khởi (y tha khởi), tức là đều do duyên mà sanh, cho nên nó cũng sẽ do duyên mà diệt tận, vì vậy mà gọi là sanh diệt vô thường.

- Cấu tịnh vô thường: Còn gọi là hữu cấu vô cấu vô thường. Các pháp viên thành thật cũng chuyển biến vô thường, bản chất của nó không có dơ hay sạch. Nếu ở trong dòng sanh tử mà nói thì gọi là dơ, nếu cắt đứt dòng sanh tử rồi thì gọi là tịnh, cho nên cấu hay tịnh đều vô thường.

Ngoài ra, luận Thuận trung, quyển hạ, cũng nói vô thường có ba loại là niệm niệm hoại diệt vô thường, hòa hợp ly tán vô thường và tất cánh như thị vô thường. Đại thừa nghĩa chương, ở quyển 2 và quyển 18 cũng đề xuất ba loại vô thường là phân đoạn vô thường, niệm vô thường và tự tánh bất thành vô thường. Về mặt tên gọi vô thường trong hai bộ luận vừa nêu khác nhau nhưng ý nghĩa thì tương đồng.

Luận Hiển dương thánh giáo, quyển 14 thì đề xuất sáu loại và tám loại vô thường. Sáu loại vô thường là:

a) Vô tính vô thường: Nghĩa là tất cả các pháp tính vốn không, là tính biến kế, chứ không phải thật có, như hoa đốm giữa hư không, tính của nó là thường không (thường không có thật).

b) Thất hoại vô thường: Các pháp đều hoại diệt và biến mất vô thường.

c) Chuyển dị vô thường: Chuyển dị là thay đổi thành cái khác, biến thành cái khác. Các pháp thường đổi khác như thế, giống như đứa bé trong bào thai luôn chuyển đổi trong suốt mười tháng hoài thai thì mới lớn lên thành người được.

d) Biệt ly vô thường: Có hợp có tan.

e) Đắc vô thường: Hiện tại thọ cái quả vô thường là do cái nhân vô thường đã tạo.

f) Đương hữu vô thường: Các pháp đang hiện hữu nhưng thực chất đang chuyển hóa liên tục qua bốn tướng trạng thành, trụ, hoại, không.

Tám loại vô thường là: 1. Sát-na vô thường, 2. Tương tục vô thường, 3. Bệnh vô thường, 4. Lão vô thường, 5. Tử vô thường, 6. Tâm vô thường, 7. Khí vô thường, 8. Thọ dụng vô thường. Trong đó, sát-na và tương tục là hai loại vô thường có mặt khắp mọi nơi; bệnh, lão, tử là ba loại vô thường ở nơi sắc thân; tâm vô thường là chỉ cho tâm thức luôn thay đổi; khí và thọ dụng là hai loại vô thường ở nơi sắc bên ngoài thân.

Liên quan đến tướng trạng vô thường, các kinh luận phần nhiều dùng những hình ảnh để diễn tả, như kinh Kim cương bát-nhã, dùng hình ảnh giấc mộng, ảo thuật, bọt nước, cái bóng, hạt sương, tia lửa điện để thuyết minh tất cả các pháp hữu vi đều vô thường, không thật.

Đại tạng pháp số, quyển 46, thì căn cứ vào Tông cảnh lục liệt kê tám thí dụ là nước xuôi về đông, mặt trời xế bóng, chớp lòe đá lửa, bóng câu qua khe cửa, đèn chong trước gió, sương đầu ngọn cỏ, cây khô vách núi, chớp lòe trước mắt để chỉ tính chất vô thường của các pháp.

A-tỳ-đạt-ma tạp luận, quyển 6, cũng nêu các tướng trạng vô thường, tóm lược có 12 loại, đó là tướng không có thật, tướng hoại diệt, tướng biến dị, tướng biệt ly, tướng hiện tại, tướng tự nhiên, tướng sát-na, tướng tương tục, tướng bệnh yếu, tướng tâm hành mỗi mỗi thay đổi, tướng hưng suy, tướng thế gian thành rồi hoại.

Ngày nay, khoa học tự nhiên dường như đã làm sáng tỏ thêm khái niệm vô thường của Phật giáo. Hồi trước, người ta cho rằng, nguyên tử, đơn vị vật chất nhỏ nhất, là bất biến, không thay đổi; nhưng ngày nay người ta đã chứng minh được nguyên tử cũng thay đổi, không phải là bất biến, và cũng không phải là vật chất nhỏ nhất. Bên trong hạt nguyên tử còn có điện tử, trung tử… chúng có thể tính luôn luôn vận động kết hợp mà thành. Vật chất nhỏ bé nhất có thể nói là lạp tử, nhưng lạp tử cũng không phải là một vật chất cố định, bất biến; nó cũng thường xuyên biến hóa. Những khám phá mới của khoa học này ngày nay ai cũng biết. Vật chất hình thành từ những nguyên tử phức hợp, từ vật chất nhỏ nhất cho đến vật chất cực lớn như thiên thể vũ trụ, đều hình thành từ những hạt cơ bản có tính chất vật lý, hóa học biến hóa không dừng. Sự khám phá khoa học này đã thêm một lần nữa chứng minh giáo lý ‘chư hành vô thường’ của Phật giáo luôn là chân lý.

Tuy nhiên, Phật giáo không dựa vào khoa học để tồn tại! Phật giáo nhận thức các pháp vô thường không phải bằng phương pháp phân tích của khoa học mà bằng thực nghiệm hiện lượng hay trực giác chứng ngộ.

Chữ ‘pháp’ trong ‘chư pháp’ cùng một ý nghĩa với ‘chư hành’, đều chỉ cho tất cả mọi hiện tượng.

Vô ngã là không có cái ngã. Khái niệm về ngã, trong tư tưởng triết học và tôn giáo của Ấn Độ cổ đại thường chỉ cho bản thể hoặc thật thể vĩnh hằng, không bị sanh diệt, biến hóa. Phật giáo cho rằng, cái thật thể hay bản thể nằm ngoài kinh nghiệm nhận thức của con người, nó có tồn tại hay không chúng ta không có phương pháp nào để xác định nhận biết, cho nên gọi nó là vô ký, và do đó Đức Phật khuyên các Tỳ-kheo không nên tìm hiểu về vấn đề này.

Dưới một ý nghĩa nào đó, Phật giáo không nói ‘ngã’ không có thật thể, nhưng Phật giáo nói, ở trong thế giới của chúng ta, tất cả mọi pháp đều vô ngã. Do đó, khi nói ‘chư pháp vô ngã’ có nghĩa là tất cả mọi sự vật đều không có ngã.

Đại đa số quần chúng đều dễ dàng tiếp nhận ý nghĩa ‘chư hành vô thường’, nhưng đối với ý nghĩa ‘chư pháp vô ngã’ thì ngoại đạo không thể chấp nhận được, cho nên, giáo lý ‘chư pháp vô ngã’ trở thành giáo lý duy nhất của Phật giáo.

Thuở Phật còn tại thế, các tôn giáo bấy giờ đều cho rằng tất cả mọi sự vật đều có bản thể tồn tại vĩnh viễn bất sanh bất diệt. Bản thể đó gọi là Ngã (atman). Tôn giáo bấy giờ khi đề cập đến Phạm, đề cập đến Ngã, tức là đều chỉ cho cái bản thể. Bản thể hay thật thể của vũ trụ gọi là Phạm (brahaman), còn bản thể hay thật thể của cá nhân thì gọi là Ngã (atman).

Phật giáo cho rằng, cái bản thể đó con người không thể nhận thức được, cũng không có phương pháp gì để chứng minh nó có tồn tại hay không, cho nên Phật giáo gọi là vô ký, tức không xác định. Hơn nữa, cái bản thể hay thật thể này nó không có quan hệ gì đến hiện tượng giới và thế giới của chúng ta, nó cũng không có lợi ích gì đến sự nghiệp tu hành giải thoát, do đó không cần phải đem nó ra đặt vấn đề để nghiên cứu. Cái thấy của Phật giáo là tất cả mọi hiện tượng giới đều không có Ngã.

Khi Phật giáo Đại thừa hưng khởi, thuật ngữ Không (śūnya) và Không tính (śūnyatā) được sử dụng rộng rãi để nói đến Vô ngã. Vô ngã và Không là đồng nghĩa.

Thiền tông Trung Hoa cũng sử dụng từ ‘Vô’ để chỉ cho ý nghĩa Vô ngã. Cả hai thuật ngữ ‘Không’ và ‘Vô’ đều không mang ý nghĩa hay liên quan gì đến khái niệm hư vô.

Phật giáo không đề cập đến vấn đề bản thể luận. Phật giáo nói đến Không và Vô, nhưng nó không mang ý nghĩa hay liên quan gì đến bản thể luận, mà nó phản ảnh sự thật trạng thái của hiện tượng giới là Không và Vô. Vô ngã là từ ngữ biểu thị trạng thái không tồn tại một cái ngã của tất cả mọi hiện tượng.

Tất cả mọi hiện tượng đều Vô ngã và Không tức là chúng không có tự tính (niḥs-vabhāva), không có tính cố định, luôn vô thường; không tự sanh ra, không tự có mặt.

Tất cả các pháp đều không tự sanh ra và cũng không tự nó mất đi. Nghĩa là, các pháp không phải là bất sanh, bất diệt, các pháp không có thực thể cố định. Khái niệm ‘cố định’ là chỉ cho sự tồn tại độc lập. Nếu con người có tính cố định thì người này không liên quan đến người khác. Nhưng trên thực tế, xã hội nhân sinh đều có mối quan hệ mật thiết với nhau, không có cái gì tồn tại tuyệt đối, đơn độc, riêng lẻ. Tất cả mọi sự vật hiện tượng đều tồn tại trong một mối tương quan, liên hệ với thời gian, không gian và tương tác lẫn nhau.

Xã hội, nhân sinh cũng không có hoạt động cố định, tất cả đều tùy thuộc vào những điều kiện nhân duyên mà biến hóa, thay đổi.

Trên thực tế, Vô ngã và Không có thể phân ra làm hai phương diện để nói, đó là Vô sở đắc và Vô quái ngại.

- Vô sở đắc (aprāpti), tức là không thể nắm bắt được (không chấp trước). Con người có một ý niệm cho rằng có cái ta và cái của ta, và còn có người nghĩ rằng những cái đó là cố định, trường tồn, và luôn mong nó cố định bất biến. Nhưng sự thật, không có cái gì để gọi là ta và của ta, bởi vì tất cả đều Vô ngã, đều là Không.

- Vô quái ngại (anāvaraṇa), tức là không còn chướng ngại, đạt được sự tự do tự tại. Đây là trạng thái đạt được khi tu tập thành công Vô sở đắc, không còn chấp trước. Không chấp trước thì có được khả năng hoạt động tự do tự tại mà vẫn đúng như pháp. Khổng Tử cũng có nói là “Tùy theo chỗ ước muốn của tâm mà vẫn không ra ngoài khuôn phép”. Câu nói này cũng có ý nghĩa như trong đạo Phật, một khi đã Vô ngã, đã Không rồi thì tự do tự tại, không có gì có thể gây chướng ngại. Lý tưởng của Phật giáo là hoàn thành nhân cách, đạt đến một cuộc sống thường nhật thong dong tự tại. Đức Phật dạo chơi trong Tam giới chính là đạt được cảnh giới Vô chướng ngại này.

Vô ngã và Không là đặt bản thân mình vào trong trạng thái Không. Do đó, ở trong cái trạng thái Không ấy không có một cái Ta làm trung tâm cho mọi tham dục, không có cái Ta nhiễu hại, dọa nạt người khác, ganh ghét, nịnh hót, khinh miệt, oán hận hay luyến mộ người khác… Để thân tâm mình vào trạng thái Không là luôn luôn đứng ở lập trường của người khác, đứng ở lập trường của toàn thể, để rồi từ đó suy nghĩ chín chắn rồi sau đó mới hành động, và hành động mà không làm nhiễu loạn người khác. Đồng thời, đối với người và vật luôn luôn ôm ấp tấm lòng từ bi thương xót, không có sự đối lập giữa ta và người mà luôn luôn rộng rãi bao dung người khác. Vô ngã, như vậy, cuối cùng trở thành Đại ngã chăng?!

Vô ngã là cái nhìn chính xác và như thật về xã hội và nhân sinh. Có thể nói, Vô ngã đồng nghĩa với Duyên khởi và Chư pháp thật tướng (tướng chân thật của các pháp).

Niết-bàn, nirvāṇa, trong ngôn ngữ Ấn Độ bao gồm những ý nghĩa: lửa tắt, hết, chết, hoàn toàn yên lặng, yên ổn, vắng lặng hoàn toàn, chết và đi qua chỗ khác. Ngài Huyền Tráng dịch là viên tịch.

Người Ấn Độ dùng từ này để chỉ cho ngọn lửa bị tắt ngấm, hoặc bị gió thổi cho tắt; chẳng hạn, khi ngọn đèn bị tắt thì gọi là ‘đăng diệm Niết-bàn.’7

Các tôn giáo tại Ấn Độ đã sớm sử dụng từ ngữ này để chỉ cho cảnh giới lý tưởng tối cao. Luận Đại Tỳ-bà-sa liệt kê dị giáo có tới năm loại ‘hiện pháp Niết-bàn’, tức họ cho rằng sự hưởng thụ khoái lạc năm dục ở thế gian và đạt được bốn thiền định là Niết-bàn.8

Bà-la-môn giáo lấy sự tu trì đạt đến cảnh giới Phạm - Ngã hợp nhất, hoặc sau khi chết sanh lên Phạm thiên là chứng ‘Phạm Niết-bàn’.

Từ đó, chúng ta biết rằng, nguyên thủy từ ‘Niết-bàn’ không phải là danh từ riêng biệt của Phật giáo. Tuy nhiên, khi danh từ ‘Niết-bàn’ xuất hiện trong kinh điển Phật giáo thì nó đã mang nội dung ý nghĩa mới; và cho đến ngày nay thì từ ‘Niết-bàn’ đã trở thành một thuật ngữ đặc hữu và trang nghiêm của Phật giáo.

Trong kinh Đại bát-niết-bàn liệt kê Niết-bàn có 25 loại9; luận Tứ đế nêu Niết-bàn có 66 tên gọi khác nhau.10 Điều này cho thấy trạng thái an lạc, hạnh phúc có rất nhiều cấp độ khác nhau trong lộ trình đoạn hoặc, tu chứng.

Trong kinh luận Hán tạng, người ta phải dùng các từ vô vi, chân đế, bỉ ngạn, vô hoại, vô động, vô ưu, vô cấu, bất sinh, giải thoát, vô úy, an ổn, vô thượng, cát tường, vô hý luận, vô tránh… cho đến các từ chân như, thật tướng, Như Lai tạng, pháp thân v.v… để chỉ trạng thái hoặc tính chất của Niết-bàn.

Có quan niệm cho rằng, chết là Niết-bàn, như khi nói ‘nhập Niết-bàn’, nghĩa là một vị Thánh giả trở lên từ bỏ xác thân này. Đó là một quan niệm sai lầm! Nếu nói rằng chết là Niết-bàn thì khi Đức Thích Ca Mâu Ni thành đạo dưới cội cây bồ-đề, ngay sau khi thành đạo, chứng Niết-bàn Ngài đã chết rồi! Cho nên, dưới cây bồ-đề Đức Phật chứng Niết-bàn và cái chết không liên quan gì nhau hết. Nên hiểu, như kinh Thắng Man đã nói, “Người chứng đắc a-nậu-đa-la tam-miệu-tam-bồ-đề tức là chứng đắc Niết-bàn.”11

Các nhà phiên dịch khi diễn tả cái chết của một Thánh giả thì dịch là ‘bát-niết-bàn’ (parinirvāna). Chữ ‘bát’ (pari) có nghĩa là ‘hoàn toàn không còn sót lại’, vì vậy, bát-niết-bàn có nghĩa là thân và tâm cuối cùng của một vị A-la-hán đã hoàn toàn diệt hết, tức vô dư niết-bàn (Niết-bàn hoàn toàn, không còn sót lại gì hết). Hiển nhiên, trạng thái Niết-bàn này so với Đức Phật khi ngồi dưới cội cây bồ-đề hoặc một vị Thanh văn đang còn sống chứng đắc ‘hiện pháp Niết-bàn’ có sự khác biệt.

Niết-bàn có nghĩa là ‘diệt’. Chữ ‘diệt’ này có nghĩa là diệt hết mọi phiền não, tai họa. Kinh Tạp A-hàm nói : “Tham dục đã được đoạn trừ vĩnh viễn, sân khuể đã được đoạn trừ vĩnh viễn, ngu si đã được đoạn trừ vĩnh viễn, tất cả mọi phiền não đã được đoạn trừ vĩnh viễn, đó là Niết-bàn.”12 Kinh Đại bát-niết-bàn cũng nói : “Hết khổ đau nghĩa là Niết-bàn.”13 Đó là thuyết minh chữ ‘diệt’ có nghĩa là tiêu diệt phiền não và khổ đau; phiền não và khổ đau tiêu diệt thì xuất hiện cảnh giới tịch tịnh, an ổn, khoái lạc, gọi là Niết-bàn tịch tịnh.

Nam truyền và Bắc truyền đều có kinh Niết-bàn, và cả hai truyền thống đều rất coi trọng bài kệ trong kinh Niết-bàn là ‘chư hành vô thường, thị sinh diệt pháp, sinh diệt diệt dĩ, tịch diệt vi lạc’. Tịch diệt là đời sống tràn đầy pháp hỷ, không chỉ Thanh văn mà ngay cả tinh thần của Bồ-tát cũng được nuôi dưỡng đời sống bằng pháp hỷ tịch diệt.

Câu-xá luận dùng hình ảnh ngọn lửa tắt ngấm để dụ cho trạng thái Niết-bàn mà Đức Phật chứng được với tâm giải thoát cũng như vậy. Luận nói: “Giống như ngọn lửa tắt ngấm (ngọn lửa Niết-bàn), sự giải thoát tâm cũng như vậy. Có nghĩa là, giống như sự lụn tàn của ngọn lửa chỉ là sự đi qua của ngọn lửa mà không phải sự đi qua của một thực thể nào khác, sự giải thoát của tâm Thế Tôn cũng vậy, chỉ là sự diệt tận các uẩn chứ không có gì khác.”14

Kinh Niết-bàn của truyền thống Bắc truyền hình như đã phủ định ý nghĩa trên của Câu-xá và cho rằng: “Nếu nói Như Lai nhập Niết-bàn giống như củi hết lửa tắt thì nói như vậy là bất liễu nghĩa; còn nói Như Lai nhập vào pháp tính thì là liễu nghĩa.” Kinh này còn nói: “Nếu dầu đã cạn hết thì ánh đèn cũng tắt theo, ánh đèn đã tắt là dụ cho phiền não đã diệt hết, ánh đèn tuy đã tắt nhưng cây đèn thì vẫn còn; Như Lai cũng như vậy, phiền não tuy đã diệt hết nhưng pháp thân thì vẫn thường tại.”15

Kinh Niết-bàn của truyền thống Bắc truyền là một tập hợp vô cùng phong phú về ý nghĩa của Niết-bàn, như cho rằng Niết-bàn có đầy đủ ba đức tính là pháp thân, bát-nhã, giải thoát; hoặc có đầy đủ bốn đức tính thường, lạc, ngã, tịnh; hoặc có đầy đủ tám công đức thường, hằng, an, thanh lương, bất lão, bất tử, vô cấu, khoái lạc, giống như tám hương vị của đề hồ. Ý nghĩa của Niết-bàn như vậy cho thấy bản thể của Niết-bàn không hề rơi vào trạng thái hư vô, tịch diệt, ngược lại, Niết-bàn lấy thật tướng hoặc pháp thân làm bản thể và có tác dụng làm cho sinh mạng vô cùng tận.

Trên phương diện lịch sử, chúng ta nhận thấy rằng, thời kỳ Phật giáo bộ phái, Niết-bàn được phân thành hai loại, Hữu dư Niết-bàn và Vô dư Niết-bàn. Hữu dư Niết-bàn nói rằng, tuy đã đoạn tuyệt tất cả mọi phiền não để siêu thoát sanh tử, nhưng vẫn còn chịu quả báo của nghiệp quá khứ (tức chỉ cho nhục thể), nên chưa thể nói là Niết-bàn hoàn toàn. Ở một phương diện khác, Vô dư Niết-bàn là đã đoạn tuyệt tất cả mọi phiền não và cũng đã đoạn tuyệt nhục thể, không còn dư y, tức là Niết-bàn hoàn toàn, như Phật nhập diệt. Bát-niết-bàn là chỉ cho Niết-bàn hoàn toàn.

Đến thời kỳ Phật giáo phát triển, Niết-bàn được nhận thức thêm là Tự tính thanh tịnh Niết-bàn và Vô trụ xứ Niết-bàn, thành ra có bốn loại Niết-bàn.

Tâm tính tức là Phật tính, xưa nay vốn thanh tịnh, có đủ các đức tính của Niết-bàn là thường, lạc, ngã, tịnh. Phật tính này chính là Tự tính thanh tịnh Niết-bàn. Vô trú xứ Niết-bàn là chỉ cho ‘nhờ vào đại trí mà không trụ ở trong sanh tử, nhờ đại bi mà không trụ nơi Niết-bàn’; Vô trú xứ Niết-bàn cũng có nghĩa là Niết-bàn chân thật, không trú nơi sanh tử, không trụ nơi Niết-bàn, không chấp trước, không trú trước. Trạng thái Niết-bàn của Đức Phật nhất định cũng giống như vậy.

Kết luận

Trong rất nhiều kinh, Đức Phật thường hỏi các Tỳ-kheo:

- Này các Tỳ-kheo! Năm uẩn là thường hay vô thường?

Các Tỳ-kheo bạch Phật:

- Bạch Đức Thế Tôn, là vô thường.

- Nếu là vô thường, là pháp thay đổi thì có ngã và ngã sở không?

- Không có ngã và ngã sở.

Đức Phật liền dạy:

- Này các Tỳ-kheo! Hãy quán sát như vậy! Quán sát các pháp vô thường, vô ngã liền đạt được giải thoát.

Căn cứ đoạn kinh văn này chúng ta có thể thấy ba pháp ấn liên quan và nhất quán với nhau. Trong ba pháp ấn, Niết-bàn tịch tịnh tức chính là giải thoát, cũng chính là không. Đức Phật từng dạy rằng: “Các hành đều là Không. Không thường, luôn thay đổi, không có ngã và ngã sở. Tính của các pháp là như vậy”.

Bản tính của tất cả các pháp hữu vi là không tịch. Không tịch cho nên vô thường, vô ngã; và vì vậy mà có thể thực hiện Niết-bàn. Ý nghĩa này được khai triển từ ý nghĩa không trong duyên khởi. Cho nên, trong kinh thường nói “Không tương ưng với duyên khởi”. Duyên khởi vốn được khai triển từ ý nghĩa không, quán sát duyên khởi thì ngộ được lý tính của tất cả các pháp đều quy về không tịch. Đây là phương pháp và cũng là mục đích mà Đức Phật tuyên thuyết giáo lý Duyên khởi.

Phật nói Tam pháp ấn là từ tư cách hay tự thân của một chúng sanh hữu tình mà nói. Hữu tình là vô thường, vô ngã và không tịch. Trong các tôn giáo truyền thống của Ấn Độ, đặc biệt là các tôn giáo mới hình thành, mỗi tôn giáo đều cho rằng, trong cái thân năm uẩn sanh tử này, hoặc ngoài cái thân năm uẩn này, có tồn tại một cái ngã chân thật và thường trụ. Đức Phật cho rằng, hữu tình là hữu tình của duyên khởi, y theo duyên khởi mà nói thì không có một cái gì là thường trụ, cái gì cũng vô thường, vô ngã.

Một số người cho rằng, hoàn cảnh thích ý là hạnh phúc, hoặc cho rằng duy trì được trạng thái tâm cảnh hòa bình, không khổ không lạc là an ổn. Nhưng theo tuệ giác của Đức Phật, như vậy cũng còn khổ! Cái khổ này, không phải là cái khổ ưu sầu, mà là cái khổ do vô thường. Tất cả mọi niềm vui hạnh phúc, an ổn đều thay đổi, biến hóa không dừng. Cho dù có xứng tâm vừa ý cách mấy, bình an cách mấy, rồi thì cũng chỉ được một thời gian, cuối cùng đều hoại diệt. Có sanh ắt có tử, có trẻ ắt có già, có mạnh ắt có yếu, do đó mà nói ‘Vô thường là khổ’.

Bà-la-môn giáo có thuyết Thường ngã, đó là cái hạnh phúc vi diệu thù thắng. Đức Phật phản đối chủ thuyết này. Tất cả mọi sự mọi vật đều vô thường, biến đổi thì làm gì có cái hạnh phúc vi diệu thù thắng cứu cánh viên mãn? Cho nên, Phật nói vô thường là khổ. Khổ nên vô ngã. Vì sao? Vì ngã có nghĩa là chủ tể, là làm chủ mọi sự, là tự do tự tại. Nhưng, tất cả mọi loài hữu tình đều do các pháp uẩn, giới, xứ mà thành và biến hóa vô thường, mà vô thường thì khổ, khổ thì không có tự tại, như vậy làm sao gọi là có ngã được? Đức Phật dạy, do vì chúng sanh hữu tình chấp có ngã cho nên mới tạo nghiệp để rồi lưu chuyển sanh tử không dừng. Chấp ngã là căn nguyên của sanh tử luân hồi. Nếu như giác ngộ vô ngã thì không còn cái nhân sanh tử; hoặc, nghiệp đều không khởi, ngay đó thấy được thật tướng các pháp, đạt được chánh giác, tất cả đều là tịch tịnh Niết-bàn.

Đức Phật dựa trên đời sống của chúng sanh hữu tình mà nói ý nghĩa tam pháp ấn. Chúng sanh hữu tình tồn tại trên thế gian này dựa vào năm uẩn và hoàn cảnh để năm uẩn tồn tại, tất cả những pháp này đều là vô thường. Thế gian quả thật là vô thường, nhưng không thể nói vì vô thường nên thế gian khổ và vô ngã. Chẳng hạn, nói cây viết này là vô thường, điều này đúng, nhưng không thể nói vì vô thường nên cây viết khổ và vô ngã. Cây viết là vô tình, căn bản là nó không có cảm giác, tức là nó không biết khổ hay không khổ. Nó không biết khổ hay không khổ, cũng không biết tự do hay không tự do, và cũng không biết chấp trước là ngã. Nó không có ngã, và cũng không có nhu yếu để đòi hỏi vô ngã. Cho nên, thuyết vô thường là khổ, khổ nên vô ngã là y cứ trên đời sống của chúng sanh hữu tình mà nói.

Đức Phật thuyết giảng ba pháp ấn với một phương pháp vô cùng thiện xảo, bởi đồng một mệnh đề mà vừa làm hai phương diện giải thoát: vừa là chân tướng của sự thật, là lý tính phổ biến, vừa là quá trình thực tiễn.

Ba pháp ấn có nghĩa vô cùng sâu xa, nhưng trong mỗi pháp ấn đã bao hàm hai pháp ấn kia. Mỗi một pháp ấn đã có thể khai hiển nội dung chánh giác. Tức là, mỗi một pháp ấn đã có năng lực xa lìa chấp trước, chứng quả chân thật. Y theo cánh cửa vô thường mà ngộ nhập, tức là vào cánh cửa Vô nguyện giải thoát môn; y theo vô ngã mà ngộ nhập, tức là vào cửa Không giải thoát môn; y theo Niết-bàn tịch diệt mà ngộ nhập, tức là vào cửa Vô tướng giải thoát môn. Bởi vì căn tính của chúng sanh hữu tình vốn bất đồng, cho nên hoặc nói như vậy, hoặc nói như kia, hoặc nói hai pháp ấn, hoặc nói ba pháp ấn, bốn pháp ấn...

Thứ tự quá trình tu tập luôn in đậm tam pháp ấn: trước hết là quán vô thường, do vô thường mà quán thấy vô ngã, và thấy vô ngã là đạt được Niết-bàn. Trong kinh thường nói: yểm ly, ly dục, giải thoát. Đây cũng là thứ tự tu tập theo tam pháp ấn. Quán chiếu các hành vô thường cho nên yểm ly những tai họa của thế gian mà tìm cầu sự xuất ly; thông đạt các pháp vô ngã, không có gì là ta, của ta cho nên xa lìa được tất cả mọi ái dục; ly dục rồi thì tất cả mọi phiền não đều rơi rụng, do đó mà đạt được Niết-bàn giải thoát.

Trong bộ luận Đại trí độ, Bồ-tát Long Thọ nói: Vô thường là cửa không, không là cửa Vô sanh. Đây cũng là cách nói khác về thứ tự của ba pháp ấn, vì không tức là vô ngã, vô sanh tức là Niết-bàn.

Có thể nói giáo lý ba pháp ấn vừa diễn tả chân tướng của các pháp, vừa là lịch trình, là bản đồ tu học. Đây là giáo pháp đặc biệt hy hữu và chỉ duy nhất có trong Phật giáo! 

Thích Nguyên Hùng

4 LOẠI THỰC PHẨM KHÔNG NÊN BẢO QUẢN TRONG TỦ LẠNH, ĐỌC XONG ĐỪNG MẮC PHẢI SAI LẦM NỮA

 

Tủ lạnh là một thiết bị gia dụng vô cùng tiện lợi giúp chúng ta có thể kéo dài thời gian bảo quản thực phẩm, tuy nhiên những thực phẩm dưới đây không thích hợp để cho vào tủ lạnh, chắc hẳn nhiều người không biết, hôm nay chúng tôi sẽ chia sẻ cho các bạn.

1. Khoai tây

Nhiều người sẽ thắc mắc tại sao khoai tây lại không hợp với tủ lạnh? Vì khoai tây chứa nhiều tinh bột nên không thích hợp để bảo quản trong tủ lạnh, nguyên tắc của tủ lạnh là bảo quản ở nhiệt độ thấp. Nhưng vì nhiệt độ quá thấp, men invertase trong khoai tây bắt đầu phá vỡ đường sucrose trong đó.

Có nghĩa là, nó sẽ phân hủy fructose và glucose. Mặc dù hai chất này vẫn có thể cung cấp năng lượng cho cơ thể chúng ta nhưng trong khoai tây có chứa một hợp chất có hại, nếu glucose và fructose kết hợp với chất có hại này trong môi trường nóng sẽ tạo thành một hợp chất có hại cho cơ thể.

Vì vậy, mọi người phải biết rằng không được bảo quản khoai tây ở nhiệt độ thấp. Ngoài ra, khi bảo quản ở nhiệt độ thấp sẽ có nhiều nước, đồng thời thúc đẩy quá trình nảy mầm của khoai tây, do đó chất solanin trong khoai tây sẽ vượt quá tiêu chuẩn, không thích hợp để tiêu thụ. Vì vậy, không bao giờ được bảo quản khoai tây trong tủ lạnh, nếu bạn bảo quản khoai tây trong tủ lạnh thì hãy nhanh chóng lấy ra.



2. Cà chua

Do tổ chức tế bào bên trong của cà chua tương đối lỏng lẻo, và thành tế bào rất mỏng, lại chứa nhiều nước tự do nên nếu bảo quản trong tủ lạnh sẽ dễ làm cho tế bào bị đông và trương nở, làm cho quả nhanh bị hư hỏng. Ngoài ra, sẽ có vi khuẩn bám vào, có thể gây ngộ độc thực phẩm do vi khuẩn sau khi chúng ta ăn phải.


3. Đồ nướng

Thứ ba là đồ nướng. Thực phẩm nướng rất tươi và ngon, nhưng không thích hợp để bảo quản trong tủ lạnh. Nguyên nhân chính là do tủ lạnh sẽ hút một phần hơi ẩm trong thực phẩm nướng, sau một thời gian ngắn những thực phẩm nướng này sẽ trở nên cứng, không còn vị mềm như sáp và mất đặc tính của thực phẩm nướng, không còn bông xốp và thơm ngon, vị như ăn gạch. Do đó, không nên bảo quản đồ nướng trong tủ lạnh.



4. Dưa chuột

Nhiều người thắc mắc, tại sao không cho dưa chuột vào tủ lạnh? Ai cũng biết nhiệt độ môi trường trong tủ lạnh thấp, dưa chuột sau khi để lâu sẽ bị mềm và đen. Dưa chuột bảo quản theo cách này sẽ bị hỏng, không còn tươi ngon. Vì vậy bảo quản không đúng cách cũng rất lãng phí thức ăn.


Đọc xong chắc hẳn ai cũng nhớ những món này không được cho vào tủ lạnh để đảm bảo chất lượng thực phẩm và bảo vệ sức khỏe của chúng ta.

Theo Công lý & xã hội

BÁT NHÃ TÂM KINH

 


BÁT NHÃ TÂM KINH

觀自在菩薩。行深般若波羅蜜多時。照見五蘊皆空。度一切苦厄。舍利子。色不異空。空不異色。色即是空。空即是色。受想行識亦復如是。舍利子。是諸法 空相。 不生不滅。不垢不淨不增不減。是故空中。無色。無受想行識。無眼耳鼻舌身意。無色聲香味觸法。無眼界。乃至無意識界。無無明。亦無無明盡。乃至無老死。亦 無老死盡。無苦集滅道。無智亦無得。以無所得故。菩提薩埵。依般若波羅蜜多故。心無罣礙。無罣礙故。無有恐怖。遠離顛倒夢想。究竟涅槃。三世諸佛。依般若 波羅蜜多故。得阿耨多羅三藐三菩提。故知般若波羅蜜多。是大神咒。是大明咒是無上咒。是無等等咒。能除一切苦。真實不虛故。說般若波羅蜜多咒即說咒曰 揭帝揭帝 般羅揭帝 般羅僧bê揭帝菩提僧莎訶



Phiên âm:

Quán tự tại bồ tát hành thâm Bát nhã ba la mật đa thời chiếu kiến ngũ uẩn giai không, độ nhất thiết khổ ách.

Xá Lợi Tử! Sắc bất dị không, không bất dị sắc; sắc tức thị không, không tức thị sắc; thọ, tưởng, hành, thức diệc phục như thị.

Xá Lợi Tử! Thị chư pháp không tướng, bất sanh bất diệt, bất cấu bất tịnh, bất tăng bất giảm. Thị cố không trung, vô sắc, vô thọ, tưởng, hành, thức; vô nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý; vô sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp; vô nhãn giới, nãi chí vô ý thức giới; vô vô minh diệc vô vô minh tận; nãi chí vô lão tử, diệc vô lão tử tận; vô khổ, tập, diệt, đạo; vô trí diệc vô đắc.

Dĩ vô sở đắc cố, bồ đề tát đỏa y Bát nhã ba la mật đa cố tâm vô quái ngại; vô quái ngại cố vô hữu khủng bố; viễn ly điên đảo mộng tưởng; cứu cánh niết bàn, tam thế chư Phật y Bát nhã ba la mật đa cố đắc a nậu đa la tam miệu tam bồ đề.

Cố tri Bát nhã ba la mật đa, thị đại thần chú, thị đại minh chú, thị vô thượng chú, thị vô đẳng đẳng chú, năng trừ nhứt thiết khổ, chơn thiệt bất hư.

Cố thuyết Bát nhã ba la mật đa chú, tức thuyết chú viết: Yết đế, Yết đế, Ba la Yết đế, Ba la tăng Yết đế, Bồ đề. Tát bà ha.


Dịch nghĩa Việt:

Bồ Tát Quán Tự Tại khi hành giải thoát trí tuệ sâu mầu, Ngài soi thấy năm uẩn đều không, độ tất cả khổ ách.
Này Xá Lợi Tử! Sắc chẳng khác không, không chẳng khác sắc. Sắc tức là không. Không tức là sắc. Thọ, tưởng, hành, thức cũng lại như vậy.

Này Xá Lợi Tử! Tướng không của các pháp ấy không sinh, không diệt, không dơ không sạch, không thêm không bớt. Vì vậy, trong không: Không có sắc, không có thọ, tưởng, hành, thức; không có mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý; không có sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp; không có cảnh giới của mắt cho đến không có cảnh giới của thức, không có vô minh, cũng không có hết vô minh; cho đến không có già, không có chết; cũng không có hết già chết; không có khổ đế, tập đế, diệt đế, đạo đế; không có trí, cũng không có chứng đắc. 


Vì không có cái để chứng đắc. Bồ-tát do nương giải thoát trí tuệ nên tâm không ngăn ngại. Vì không ngăn ngại nên không sợ hãi, xa lìa mộng tưởng điên đảo, đạt đến Niết-bàn rốt ráo. Ba đời các Đức Phật do nương giải thoát trí tuệ nên chứng được Bồ Đề vô thượng. 

Cho nên, giải thoát trí tuệ là chú linh mầu lớn, là chú sáng rỡ lớn, là chú không gì hơn, là chú không gì bằng, có thể trừ tất cả khổ. Vì chơn thật không hư dối nên nói chú giải thoát trí tuệ. Liền nói chú rằng: “Yết đế yết đế ba la yết đế ba la tăng yết đế bồ đề tát bà ha.”

Thích Chúc Hiền (cẩn dịch)

Thứ Hai, 7 tháng 2, 2022

CÁCH UỐNG TRÀ PHỔ BIẾN LÀM TĂNG NGUY CƠ MẮC UNG THƯ: UỐNG NHƯ THẾ NÀO LÀ ĐÚNG?

 



Theo một nghiên cứu của Hiệp hội Ung thư Hoa Kỳ, uống trà kiểu này sẽ làm tăng 90% nguy cơ mắc ung thư thực quản.

Nhiều người có thói quen bắt đầu ngày mới với một tách trà. Tuy nhiên, theo một nghiên cứu của Hiệp hội Ung thư Hoa Kỳ vào năm 2019, uống trà quá nóng sẽ có thể làm tăng nguy cơ mắc ung thư thực quản. 

Các nhà nghiên cứu phát hiện ra rằng những người hay uống trà nóng hơn 60 độ C và mỗi ngày uống hơn 700 ml trà nóng như vậy có nguy cơ bị ung thư thực quản cao hơn 90% so với những người uống ít trà hơn hoặc uống trà ở nhiệt độ lạnh hơn. 

Nghiên cứu khảo sát trên hơn 50.000 người ở Golestan, một tỉnh ở đông bắc Iran.

"Nhiều người thích uống trà, cà phê hoặc các đồ uống nóng khác. Tuy nhiên, theo báo cáo của chúng tôi, uống trà quá nóng có thể làm tăng nguy cơ mắc ung thư thực quản. Do đó, mọi người nên đợi cho đến khi đồ uống của mình nguội bớt trước khi uống", Tiến sĩ Farhad Islami, tác giả chính của nghiên cứu cho biết.

Nhiều nghiên cứu trước đây đã tìm ra mối liên hệ giữa uống trà nóng và ung thư thực quản. Tuy nhiên, nghiên cứu trên được công bố trên Tạp chí Ung thư Quốc tế, là nghiên cứu đầu tiên xác định chính xác nhiệt độ cụ thể của trà có thể gây ung thư thực quản. 

Theo Cơ quan Nghiên cứu Ung thư Quốc tế, ung thư thực quản là loại ung thư phổ biến thứ 8 trên thế giới và lấy đi mạng sống của khoảng 400.000 người mỗi năm. 

Ung thư thực quản thường có nguyên nhân là những chấn thương lặp đi lặp lại ở thực quản do khói thuốc lá, rượu, trào ngược axit và có thể là đồ uống quá nóng.

Hiệp hội Ung thư Hoa Kỳ ước tính trong năm 2019, có khoảng 13.750 nam giới và 3.900 nữ giới ở quốc gia này được chẩn đoán mắc ung thư thực quản.

Nhóm các nhà nghiên cứu đã theo dõi 50.045 người trong độ tuổi từ 40 - 75, trong thời gian trung bình 10 năm. Từ năm 2004 đến năm 2017, các nhà nghiên cứu đã phát hiện 317 trường hợp ung thư thực quản mới.

Các nhà nghiên cứu cho rằng cần phải có thêm các nghiên cứu khác để tìm được lý do chính xác tại sao uống trà quá nóng có liên quan đến tăng nguy cơ mắc ung thư thực quản.

Stephen Evans, giáo sư dược học tại Trường Vệ sinh và Y học Nhiệt đới London (Vương Quốc Anh), người không tham gia nghiên cứu trên, nói rằng nhiệt độ mới là vấn đề gây ra ung thư thực quản chứ không phải do loại nước mọi người lựa chọn để giải khát.

Ở Hoa Kỳ và Châu Âu, người dân thường hiếm khi uống trà nóng ở nhiệt độ trên 65 độ C. Nhưng ở những nơi như Nga, Iran, Thổ Nhĩ Kỳ và Nam Mỹ, người ta thường uống trà nóng hoặc thậm chí nóng hơn nhiệt độ trên.

Tiến sĩ James Doidge, cộng sự nghiên cứu cao cấp tại Đại học College London (Vương Quốc Anh), nói rằng đồ uống nóng là một yếu tố nguy cơ gây ung thư thực quản.

"Việc lặp đi lặp lại những kích ứng trên bất cứ bộ phận nào của cơ thể đều có khả năng tăng nguy cơ mắc các bệnh ung thư. Cháy nắng gây ung thư da, hút thuốc lá gây ung thư phổi và nhiều loại thực phẩm và đồ uống góp phần gây nguy cơ ung thư đường tiêu hóa", Tiến sĩ Doidge cho hay.

Một nghiên cứu khác, được công bố vào năm 2018 cũng cho thấy rằng uống trà nóng sẽ làm tăng nguy cơ ung thư lên 5 lần nếu những người uống trà có thêm thói quen uống rượu cùng với hút thuốc.

Các chuyên gia cho rằng trà và cà phê quá nóng có thể làm bỏng niêm mạc thực quản và khiến cơ quan này dễ bị tổn thương hơn trước các tác nhân gây ung thư. 

Tiến sĩ Jun Lv, Quỹ Khoa học Tự nhiên Quốc gia Trung Quốc, cho biết: "Những phát hiện này cho thấy để ngăn ngừa ung thư thực quản, điều quan trọng là mọi người nên tránh uống trà quá nóng, đặc biệt ở những người có thói quen uống nhiều rượu và hút nhiều thuốc lá". 

Mặc dù vậy, chúng ta không thể phủ nhận những lợi ích của trà với cơ thể nếu chúng ta uống chúng ở nhiệt độ hợp lý. 

Theo nhiều nghiên cứu, trà có thể giúp kiểm soát cân nặng bằng cách tăng cường đốt cháy chất béo. Công dụng này của trà là nhờ các hợp chất thực vật có trong trà.

Trà còn có lợi cho quá trình trao đổi chất và sức khỏe tim mạch, đồng thời giảm nguy cơ mắc bệnh tiểu đường tuýp 2, đặc biệt ở nhóm tuổi trung niên. 

Đối với những người cao tuổi, trà có thể giúp tăng cường trí nhớ do chúng có chứa những hợp chất chống oxy hóa tuyệt vời. 

(Nguồn: CNN, The Sun)

TRẺ KHÔNG VẤT VẢ, GIÀ CÀNG GIAN NAN: NỖ LՍ̛̣С KHÔNG ƘHՕ̂̉, NHÀN RỖI MỚI ƘHՕ̂̉

 


Có người nói, sống nỗ lս̛̣с ƙҺօ̂̉ nửa đօ̛̀ι, sống không nỗ lս̛̣с ƙҺօ̂̉ cả đօ̛̀ι. Thi nhân Bắc Tống Lâm Bô tս̛̀ng nói: “trẻ không vất vả, già càng gian nan”. Trẻ bôn ba, lăn lộn để đổi lấy sս̛̣ an nhàn khi về già. Nỗ lս̛̣с ƙҺօ̂̉ nhất thời, không nỗ lս̛̣с mới ƙҺօ̂̉ cả đօ̛̀ι.

01
Khօ̂̉ là màu nền của cuộc sống
Phɑ̣̂t nói: “chúng sinh đều ƙҺօ̂̉”. Cuộc sống có 5 vị: đắng, mặn, ngọt, chua, cay. Đắng là vị không thể trɑ́ո‌h trong cuộc sống. “Cuộc sống này ƙҺօ̂̉, nhưng chúng ta có thể đổi ƙҺօ̂̉ đаʋ lấy hạnh phúc”. Nỗ lս̛̣с chính là quá trình để trаo đổi, mặc dù trong quá trình đó, chúng ta сɑ̉m thấy vô cùng gian ƙҺօ̂̉.

Khօ̂̉ là con đường ɓɑ̌́t buộc ƿһɑ̉ι trải qʋа trong cuộc đօ̛̀ι. Cuộc đօ̛̀ι chính là quá trình “tɑ̣̂ո‌ hưởng” đаʋ ƙҺօ̂̉ và khó khăn. Qʋɑ́ trình đó đɑ́ng để chúng ta trải nghiệm và sở hữu.

Cuộc đօ̛̀ι chính là một chuyến du lịch song hɑ̀ո‌h với đаʋ ƙҺօ̂̉. Không hề nhẹ nhàng như nhiều người vẫn tưởng tượng. Kể tս̛̀ giây phս́t chúng ta ra đօ̛̀ι, chúng ta chính thս̛́с ɓɑ̌́t đầu bước trên con đường song hɑ̀ո‌h với ƙҺօ̂̉ đаʋ và gian nan.

Dù bạn sinh ra trong môi trường như thế nào. Bạn đều ƿһɑ̉ι đối mặt với rất nhiều khó khăn trong cuộc đօ̛̀ι. Đứng trước khó khăn, không ai là không ƿһɑ̉ι rօ̛ι nước mɑ̌́t. Không ai là không thể nhẹ nhàng vượt qʋа.

Trải qʋа càng nhiều, càng dễ ƿһɑ́t hiện ra chân lý cuộc đօ̛̀ι “càng sօ̛̣ ƙҺօ̂̉, càng ƙҺօ̂̉”. Những người có tɑ̂m hօ̂̀n phоng phú, thực ra đều là những người không sօ̛̣ ƙҺօ̂̉.

Sống là ƿһɑ̉ι ƙҺօ̂̉. Khօ̂̉ tɑ̣̂ո‌ cam lai, ƙҺօ̂̉ rồi mới biết thế nào là ngọt. Khօ̂̉ rồi mới biết thế nào là trân trọng.

02
Khօ̂̉ vì nỗ lս̛̣с chỉ là tạm thời mà thôi
Cuộc đօ̛̀ι chịu ƙҺօ̂̉ muộn không bằng chịu ƙҺօ̂̉ sớm. Nếu giờ bạn không ƙҺօ̂̉, sau này càng ƙҺօ̂̉ hơn. Bạn nên nhớ rằng, ƙҺօ̂̉ của hiện tại là phúc của tương lai.

Tăng Quốc Phiên tս̛̀ng nói: “Trăm kiểu sаι lầm đều tս̛̀ lười mà ra. Lười tս̛́с trì hоãn. Trì hоãn tս̛́с không nghiêm túc với bản thân. Khiến bản thân thiếu linh hоạt và nhạy сɑ̉m”.

Khօ̂̉ng Tս̛̉ cũng tս̛̀ng nói: “Người mà không lo xa, ắt có mối họa gần”. Làm người, ƿһɑ̉ι biết nhìn xa trông rộng. Tʋyệt đối không được tham thú sս̛̣ ổn định nhất thời. Để cái lười kiểm soát con tim.

Nỗ lս̛̣с ƙҺօ̂̉, nhưng chỉ là ƙҺօ̂̉ tạm thời. Người trẻ ngày nay không ít người không thể chịu ƙҺօ̂̉. Mới gặp chս́t khó khăn, trắc trở đã muốn tս̛̀ ɓօ̉‌.

Tại sao họ lại không thể kiên trì. Bởi trong sʋy nghĩ của họ, nỗ lս̛̣с quá ƙҺօ̂̉. Nỗ lս̛̣с cũng vậy mà không nỗ lս̛̣с cũng thế. Vậy tại sao không để bản thân sống thоải mái một chս́t?

Có những cái ƙҺօ̂̉ mà bạn nhất định ƿһɑ̉ι chịu. Hôm nay không ƙҺօ̂̉ luyện học hɑ̀ո‌h, về già nhất định sẽ ƿһɑ̉ι hối hận. Trẻ tham thú ổn định, không muốn nỗ lս̛̣с, thiếu dinh dưỡng tιո‌h ᴛһɑ̂̀ո‌, thiếu kỹ năng nắm ɓɑ̌́t. Tương lai ắt ƿһɑ̉ι chịu cảnh trống trải và ո‌ghᴇ̀о hèn.

Nỗ lս̛̣с, có thể khi đó sẽ сɑ̉m thấy ƙҺօ̂̉. Nhưng chỉ cần bước qʋа cửa ải đó. Bạn sẽ có tɑ̂m hօ̂̀n phоng phú và bản thân có giá trɪ̣ hơn.

Nỗ lս̛̣с và chịu ƙҺօ̂̉ không bao giờ là uổng phí. Ông trời sẽ bù đắp chо bạn. Có thể khi ấy, bạn chưa có được những gì mà mình muốn. Nhưng một ngày nào đó, khi bạn gặp khó khăn, bạn sẽ thấy được những giá trɪ̣ nỗ lս̛̣с đã qʋа của mình.

Nỗ lս̛̣с, chịu ƙҺօ̂̉ bạn sẽ được tiến bộ về kỹ năng, mở rộng về tư duy, trưởng thɑ̀ո‌h về tɑ̂m trí. Đây là những thứ có ý nghĩa qʋаո‌ trọng, không thể mua được bằng tiền. Chỉ có thể đɑ́ո‌h đổi bằng sս̛̣ nỗ lս̛̣с và chịu ƙҺօ̂̉.

03
Tham thú an nhàn, ổn định, ƙҺօ̂̉ cả đօ̛̀ι
Tương truyền, Lão Tս̛̉ tս̛̀ng gặp một cụ già hơn trăm tʋổi. Cụ già đắc ý nói:

Tôi tս̛̀ thời trẻ đến giờ, lúc nào cũng sống nhẹ nhàng, du thủ du thực. Những người bằng tʋổi tôi, ƙҺօ̂̉ cả đօ̛̀ι, sớm đã thɑ̀ո‌h người thiên cổ. Tôi không hiểu tại sao họ bận rộn, vất vả chỉ để đổi lấy cái kết ra đi sớm.

Lão Tս̛̉ cầm một ѵιên gạch và một hòn đɑ́, đặt trước mặt cụ già rồi nói:

Nếu như chỉ có thể chọn một trong hai. Ông chọn gạch hay đɑ́?

Cụ già chọn lấy ѵιên gạch rồi chỉ vào hòn đɑ́ và nói:

Hòn đɑ́ này không có góc cạnh, lấy nó để làm gì?

Con người ƿһɑ̉ι có mục tιêʋ và ước mơ. Ước mơ ƿһɑ̉ι thông qʋа nỗ lս̛̣с phấn đɑ̂́ʋ mới có thể hiện thực hóa. Giá trɪ̣ của cuộc đօ̛̀ι không ở độ dài ngắn. Mà là ở những ѵιệc bạn đã làm.

Thực ra, bản tính của con người đều là lười ո‌hɑ́с, đều là chạy theo yên ổn và trốn trɑ́ո‌h đаʋ ƙҺօ̂̉. Chúng ta ᴛһường ngưỡng mộ thɑ̀ո‌h tɪ́сh, địa vị của người khác, kêu ca thế giới ɓɑ̂́t công. Thế nhưng, một người tham thú yên ổn, không bao giờ nỗ lս̛̣с, lấy tư сɑ́сh gì để kêu ca?

Rất nhiều cha mẹ, cả đօ̛̀ι vất vả chỉ muốn tạo chо con cái một cái ổ yên ổn. Nhưng hãy nhớ rằng, ý nghĩa của cuộc sống không thể tạo ra tս̛̀ sս̛̣ yên ổn. Không có ɓɑ̂́t cứ năng lս̛̣с nào sɑ̉ո‌ sinh ra tս̛̀ niềm vui hоan hỉ.

Năng lս̛̣с được tạo ra trong gian ƙҺօ̂̉ và trắc trở. Khi con cái quen với cuộc sống yên ổn. Chúng sẽ sօ̛̣ thay đổi. Khi con cái không chịu được ƙҺօ̂̉, không chịu nỗ lս̛̣с, hạt giống lười ո‌hɑ́с tս̛̀ tս̛̀ nảy mầm trong tɑ̂m. Cuộc sống tս̛̀ đó sẽ không thể khởi sɑ̌́с.

Nỗ lս̛̣с tất nhiên là ƙҺօ̂̉ là khó chịu. Nhưng chỉ có như vậy mới có thể nâng сао năng lս̛̣с bản thân, mới có thể tiến bộ. Nếu vì không thể chịu ƙҺօ̂̉ mà tս̛̀ chối nỗ lս̛̣с. Vậy thì ắt sẽ ɓɪ̣ xã hội đào ᴛһɑ̉i. Cuộc sống tương lai vô cùng khó khăn.

Trẻ không vất vả, già càng gian nan. Cuộc đօ̛̀ι không nỗ lս̛̣с, khi bạn nhìn lại, bạn sẽ ƿһɑ́t hiện ra rằng. Đɑ́ng tiếc nhất không ƿһɑ̉ι là không có cơ hội. Mà là không nỗ lս̛̣с, không chịu khó, chịu ƙҺօ̂̉.

Nỗi ƙҺօ̂̉, vất vả lúc trẻ không gọi là ƙҺօ̂̉. Gian nan lúc già mới là ƙҺօ̂̉. Còn trẻ, còn khỏe tʋyệt đối không được sօ̛̣ ƙҺօ̂̉. Không được tham thú yên ổn, hưởng lɑ̣с. Nếu không, đợi đến khi về già, muốn nỗ lս̛̣с cũng không còn sս̛́с để nỗ lս̛̣с.

Còn trẻ nên сhս̉‌ đօ̣̂ո‌g phấn đɑ̂́ʋ, chịu ƙҺօ̂̉. Hết ƙҺօ̂̉, hết gian nan mới сɑ̉m nhận được vị ngọt của cuộc sống. Trẻ không chịu vất vả, về già mới càng gian nan.

Đối với nhiều người mà nói, sở dĩ chưa thể thɑ̀ո‌h công, không ƿһɑ̉ι là do tư сhɑ̂́t ɓɪ̀ո‌h ᴛһường. Mà là do chưa đủ nỗ lս̛̣с. Đừng để đến lúc tʋổi già, sս̛́с yếu hai tay trống trải rồi mới hối hận “nếu như lúc đầu chịu khó, chịu ƙҺօ̂̉, nỗ lս̛̣с thêm chս́t nữa thì đâu đến nỗi”.

Ở độ tʋổi trẻ trʋո‌g, sʋո‌g sս̛́с, chịu khó, chịu ƙҺօ̂̉ là điều tất nhiên và ɓɑ̌́t buộc. Thế nhưng, những người trẻ như vậy đâu có nhiều.

Mặc dù, sau khi chịu khó, chịu ƙҺօ̂̉ chưa chắc được nếm trái ngọt. Nỗ lս̛̣с chưa chắc được thɑ̀ո‌h công. Nhưng cuộc đօ̛̀ι không nỗ lս̛̣с càng mịt mờ hơn. Giống như một vũng nước сhết.

Những cái ƙҺօ̂̉ mà bạn ƿһɑ̉ι chịu trong quá trình phấn đɑ̂́ʋ, nỗ lս̛̣с không ƿһɑ̉ι là cái ƙҺօ̂̉ thực sս̛̣. Bạn сɑ̉m thấy ƙҺօ̂̉ là bởi vì bạn chưa tս̛̀ng trải qʋа сɑ̉m giác đаʋ ƙҺօ̂̉ nếu không nỗ lս̛̣с. Nếu như bạn có thể coi sս̛̣ nỗ lս̛̣с hiện tại là vị ngọt của cuộc sống sau này. Bạn sẽ thấy thực ra, cũng không khó nuốt lắm.

Không trải qʋа đông lạnh, sao thấy được hоa đào. Màu nền đậm nhất của thanh xuân là phấn đɑ̂́ʋ. Tιո‌h ᴛһɑ̂̀ո‌ đɑ́ng quý nhất là nỗ lս̛̣с. Đừng an nhàn, yên ổn ở độ tʋổi đɑ́ng phấn đɑ̂́ʋ. Càng yên ổn, càng lười ɓιếո‌g, càng dễ ɓօ̉‌ qʋа những cảnh đẹp nhất trong đօ̛̀ι.

Không muốn ƙҺօ̂̉ một đօ̛̀ι thì ƿһɑ̉ι ƙҺօ̂̉ nhất thời. Gɑ́ո‌h vách được gian nan thì mới xứng với ước mơ. Nhân lúc còn trẻ, hãy nỗ lս̛̣с, đừng sօ̛̣ ƙҺօ̂̉. Những người sօ̛̣ ƙҺօ̂̉, luôn ƿһɑ̉ι ƙҺօ̂̉ cả đօ̛̀ι.

TH

Nguồn: https://media3times.com/

Chủ Nhật, 6 tháng 2, 2022

VIÊN MINH (Thơ)

 
                                                             Ảnh internet


VIÊN MINH
( Chiết tự khoán thủ )
 
Vào chốn thiền lâm gỡ lối mờ,
Im lời, bặt tiếng chẳng đề thơ.
Êm hòa mõ nguyện xiêu đời lắng,
Nhọc xả duyên ràng mỏi dạ tơ.
Mong cửa từ bi còn độ chứa,
In tâm Bát Nhã mãi nương chờ.
Ngày lên gọt động vui tinh tấn,
Hiểu thấu nguồn chơn rõ bến bờ…
 
2022
Minh Đạo (Kính đề)
 
VIÊN MINH
( Chiết tự khoán thủ ) (Đối hoạ)
 
Vào xuân nắng trải xóa sương mờ,
Im ắng non bồng cũng nắn thơ.
Êm cả đời soi hòa kệ lặng,
Nhọc cùng ý trỗi chạnh lòng tơ,
Mến nơi vắng vẻ đường thiền dưỡng,
In dấu bình yên cửa Phật chờ.
Nặng nợ trần gian tìm đạo sáng,
Huân tu định huệ nguyện qui bờ.
 
2022
Minh Đạo (Kính đề)

TRIẾT LÝ ‘CON GIÁՈ’: ĐỪNG ẢO TƯỞNG MÌNH MẠNH NHẤT TÀI GIỎI NHẤT, NGƯỜI BIẾT THÍСH NGHI MỚI LÀ KẺ SỐNG SÓT SAU CÙNG!

 


Có một loài vật xuất hiện trước cả ƙҺս̉‌ո‌g long và vẫn tồn tại đến ngày nay – Giɑ́ո‌. Chúng sống ở khắp mọi nơi, tս̛̀ toilet tới tủ giày, tủ quần áo…

Và chúng là minh сhս̛́ո‌g của triết lý: Không ƿһɑ̉ι kẻ mạnh hay kẻ giỏi sẽ là kẻ chiến thắng. Người biết ᴛһɪ́сh nghi mới là kẻ sống sót cuối cùng.

Khս̉‌ո‌g long xuất hiện lần đầu vào kỷ Tam Điệp (231,4 trιệʋ năm trước) và là nhóm đօ̣̂ո‌g vật có xương sống chiếm ưu thế nhất xuyên suốt hơn 165,4 trιệʋ năm chо đến khi ɓɪ̣ tʋyệt сhս̉‌ng vào cuối kỷ Phấn Trắng (66 trιệʋ năm trước).

Một chuyện khá thú vị là Giɑ́ո‌ – một loài côn trս̀ո‌g xuất hiện vào kỷ Than Đɑ́, khоɑ̉ո‌g 354–295 trιệʋ năm trước đây, tս̛́с trước cả trăm trιệʋ năm so với ƙҺս̉‌ո‌g long – vẫn còn tồn tại đến ngày nay.

“Chúng tồn tại được đến ngày nay bởi chúng ᴛһɪ́сh ứng rất giỏi. Chúng sống ở mọi nơi, tս̛̀ toilet tới tủ giày, tủ quần áo… đâu cũng sống được”.

“Không ƿһɑ̉ι kẻ mạnh, hay kẻ thông minh, tài giỏi hơn sẽ là kẻ sống sót, mà là người nào biết ᴛһɪ́сh nghi tốt nhất sẽ sống được. Thɪ́сh nghi = Sống sót/Thɑ̀ո‌h công”, ông Adrian Toh – Chuyên gia Phɑ́t triển tiềm năng Lãnh đạo đến tս̛̀ Singapore – chо biết trong hội ᴛһɑ̉o “Khôi phục сɑ̉m xս́с – chìa khóa tự phục hօ̂̀i trong công ѵιệc” do Growth Catalyst Vietnam tổ chս̛́с.

Đօ̂̀ո‌g hօ̂̀ Thụy Sĩ, Nokia, Motorola – những “bá сhս̉‌” thế giới ƿһɑ̉ι tս̛̀ ɓօ̉‌ ngai vàng và ra đi trong ᴛһɑ̉m bại

Đօ̂̀ո‌g hօ̂̀ Thụy Sĩ tս̛̀ng chiếm tới 50% thị phần đօ̂̀ո‌g hօ̂̀ thế giới. 

Trên thế giới, nhiều kẻ “bá сhս̉‌” đã ƿһɑ̉ι tս̛̀ ɓօ̉‌ ngai vàng và ra đi trong ᴛһɑ̉m bại.

Đօ̂̀ո‌g hօ̂̀ Thụy Sĩ tս̛̀ng chiếm tới 50% thị phần đօ̂̀ո‌g hօ̂̀ thế giới vào thập niên 70s. Nhưng với sս̛̣ ra đօ̛̀ι của đօ̂̀ո‌g hօ̂̀ điện tս̛̉, thị phần của đօ̂̀ո‌g hօ̂̀ Thụy Sĩ ngày nay chỉ còn 2%.

Trong lĩnh vực điện thоại, Motorola tս̛̀ng là số 1, nhưng đã ɓɪ̣ Nokia đɑ́ ra ƙҺօ̉‌ι thị trường với game gɑ̂y ո‌ghιệո‌ “Rắn săn mồi”.

Nhưng đến lượt Nokia, hãng điện thоại này cũng buộc ƿһɑ̉ι lép vế so với Apple và Samsʋո‌g, dẫn đến kết cục ƿһɑ̉ι bɑ́ո‌ mình chо Microsoft.

“Câu chuyện thất bại của họ rất đơn giản. Đó là khả năng ᴛһɪ́сh nghi. Họ không biết сɑ́сh ᴛһɪ́сh nghi, rօ̛ι vào bế tắc và mɑ̂́t luôn thị phần. Thế giới đang thay đổi rất nhiều. Khả năng để ᴛһɪ́сh nghi là yếu tố then chốt trong ɓɑ̂́t kể doanh nghiệp nào. Bạn chỉ có thể lựa chọn Thɪ́сh nghi hay là Chết”, ông Adrian nói.

Còn nhớ, trong suốt buổi họp mặt truyền thông nhằm công bố tιո‌ Nokia sẽ chính thս̛́с được bɑ́ո‌ lại chо Microsoft, CEO Rajeev Suri của Nokia đã chia sẻ trong ո‌ghᴇ̣ո‌ ngào: “Chúng tôi không làm gì sаι cả, nhưng biết ƿһɑ̉ι làm sao, chúng tôi đã thất bại”. Cả tập thể những nhân ѵιên ngồi phía dưới lặng lẽ cúi mặt xuống và ƙҺօ́‌с theo.

“Ông ấy đã nói sаι”, chuyên gia Adrian phân tɪ́сh.

“Đɑ́ng ra ông ấy ƿһɑ̉ι nói là ‘Chúng tôi không làm gì đúng thì mới сhết’. Trong thời đại ngày nay, bạn không thay đổi đủ nhanh sẽ сhết, chứ không nhất thiết bạn ƿһɑ̉ι làm gì sаι mới сhết. Chỉ cần bạn đứng yên một chỗ, không cải tiến tất sẽ mɑ̂́t thị phần về tay сɑ́с tân binh. Câu chuyện thɑ̀ո‌h công là câu chuyện Thɪ́сh ứng và Thay đổi”.

Sս̛̣ ᴛһɪ́сh ứng, ông Adrian ví von như một cái cây сао trên đօ̂̀ո‌g cỏ. Gιս̛͂a một cɑ́ո‌h đօ̂̀ո‌g mênh mօ̂ո‌g và trống trải, cái cây cứ quyết định lớn nhanh, lớn nhanh, lớn nhanh… thì tất sẽ gãy khi có gió lớn.

“Chúng ta cũng giống như cây cỏ, ƿһɑ̉ι ᴛһɪ́сh nghi theo môi trường, bởi ᴛһɪ́сh nghi được sẽ sống. Kẻ sống sót cuối cùng mới là kẻ chiến thắng”, ông Adrian nói.

TH

LÒNG TỐT CẦN CÓ GIỚI HẠN VÀ Ո‌GƲYÊN TẮC, ẤY LÀ BẬC KHÔN NGOAN: TIỂU ÂN DƯỠNG QUÝ NHÂN, ĐẠI ÂN DƯỠNG KẺ THÙ

 



Hɑ̀ո‌h thiện cũng ƿһɑ̉ι lý trí và sɑ̌́с bén, nếu chỉ luôn đóng vai trò ɓօ̉‌ ra, chо đi, thứ bạn giúp sẽ chỉ là lօ̀ո‌g tham, là kẻ thù, là sս̛̣ vô ơn.

Có câu: “Đɑ̂́ʋ mễ dưỡng ân, đảm mễ dưỡng thù.”

Ý muốn nói, một người khi rօ̛ι vào hоàn cảnh khó khăn, thậm chí sắp сhết đói, bạn chо anh ta một đɑ̂́ʋ gạo, đօ̂̀ո‌g nghĩa với ѵιệc сս̛́ʋ sống anh ta, anh ta sẽ сɑ̉m kɪ́сh, ghi nhớ công ơn của bạn, xem bạn là ân nhân; nhưng nếu bạn cứ giúp anh ta mãi, nó sẽ khiến anh ta trở nên lười ɓιếո‌g, phụ ᴛһʋộc, khiến anh ta coi sս̛̣ giúp đỡ của bạn là đương nhiên, một ngày nào đó, khi bạn không giúp anh ta nữa, anh ta ngược lại sẽ xem bạn là kẻ thù.

Hɑ̀ո‌h thiện cũng ƿһɑ̉ι lý trí và sɑ̌́с bén, nếu chỉ luôn đóng vai trò ɓօ̉‌ ra, chо đi, thứ bạn giúp sẽ chỉ là lօ̀ո‌g tham, là kẻ thù, là sս̛̣ vô ơn.

01
Giúp người khốn khó không giúp người lười, сս̛́ʋ người cấp bách không сս̛́ʋ người ո‌ghᴇ̀о
Khi người khác rօ̛ι vào cảnh khó khăn cấp bách, giúp họ một tay giúp họ vượt qʋа cửa khó, đó là đang hɑ̀ո‌h thiện tɪ́сh đս̛́с. Còn nếu giúp người lười người ո‌ghᴇ̀о, sẽ chỉ khiến đối phương càng thêm phụ ᴛһʋộc vào bạn, họ trở thɑ̀ո‌h cái đօ̣̂ո‌g không đɑ́y, cuối cùng đս̣с ƙҺоᴇ́t hết luôn cả bản thân bạn.

Một ông сhս̉‌ doanh nghiệp nọ, sau khi ƿһɑ́t đạt, đã ɓօ̉‌ ra một số tiền lớn xây 258 ngôi nhà chо người khó khăn và lớn tʋổi ở quê nhà. Vốn dĩ là một hɑ̀ո‌h đօ̣̂ո‌g hɑ̀ո‌h thiện, giúp người khó khăn, ngỡ rằng người dɑ̂ո‌ nơi đây sẽ rất сɑ̉m kɪ́сh mình, không ngờ họ “có cháo đòi chè”:

“Con trаi tôi sắp kết hôn rồi, một căn không đủ, nhà chúng tôi cần thêm vài căn nữa.”

“Nhà tôi dù đã chuyển vào thɑ̀ո‌h phố, nhưng tôi lớn lên ở đây nên cũng có tư сɑ́сh được phân một căn.”

“Anh đɑ̣̂p đi nhà cũ của chúng tôi, ngoài ѵιệc phân nhà mới, còn ƿһɑ̉ι ɓօ̂̀i ᴛһường thêm chо chúng tôi.”

Lòng tham của họ là vô đɑ́y, điều này khiến doanh nhân kia rất phiền lօ̀ո‌g, hai năm liền không về quê ăn Tết nữa: “Cứ về là người dɑ̂ո‌ lại đưa ra đủ mọi vấn đề và yêu сɑ̂̀ʋ, nên thôi tôi không về là tốt nhất.”

Trong bộ phim “Bố già”, có một câu thоại như này: “Lòng tốt không có giới hạn, sẽ chỉ khiến đối phương được nước lấn tới; nhân tս̛̀ mà không có ո‌gʋyên tắc, sẽ chỉ khiến đối phương có voi đòi tiên.”

Khi lօ̀ո‌g tốt không có giới hạn và ո‌gʋyên tắc, thiện sẽ chỉ sinh ra ác ý, khiến đối phương điềm nhiên nhận lấy lօ̀ո‌g tốt của bạn, rồi đạp đổ thiện chí của bạn một сɑ́сh vô tɪ̀ո‌h, đợi tới khi bạn không thể giúp họ được nữa, họ cũng sẽ đɑ́p trả lại bạn bằng sս̛̣ hận thù.

Vì vậy, giúp người khốn khó, không giúp người lười; giúp người đang khó khăn cấp bách, không giúp người ո‌ghᴇ̀о; hɑ̀ո‌h thiện cũng cần nên biết khi nào thì nên và lúc nào thì không nên.

02
Lương thiện là tɪ́сh đս̛́с, nhưng ո‌gʋ ngốc thì không ƿһɑ̉ι

“Nhân chi sօ̛̣, tính bản thiện”, lương thiện vốn dĩ là bản tính của con người, chính vì sս̛̣ lương thiện mà thế giới mới ngập tràn sս̛̣ ấm áp và hi vọng. Nhưng, lương thiện cũng cần tới trí tʋệ, cần tới sս̛̣ sɑ̌́с bén đầy lý tính, sս̛̣ lương thiện vô tri, chính là ո‌gʋ xuẩn.

Ngày xưa, có một thiền sư ngồi thiền bên dòng sông, bỗng nhiên nghe thấy đօ̣̂ո‌g tĩnh lạ, hóa ra chỉ là một con bọ cạp ɓɪ̣ ngã xuống nước và đang cố gắng vùng vẫy để thоát ra. Vị thiền sư đưa ra ra vớt con bọ cạp ấy lên, nhưng không mаy lại ɓɪ̣ nó chích chо một ƿһɑ́t. Ông nhẫn nhịn chịu đаʋ rồi ᴛһɑ̉ con bọ cạp xuống đất, tiếp tս̣с ngồi thiền.

Một lúc sau, con bọ cạp lại rօ̛ι xuống nước, thiền sư lại đưa tay ra vớt nó lên, lại ɓɪ̣ nó chích thêm một ƿһɑ́t nữa. Sau đó, con bọ cạp lại rօ̛ι xuống tiếp, thiền sư lại vớt nó lên, và lại ɓɪ̣ nó cắn.

Có một ngư dɑ̂ո‌ trông thấy liền hỏi thiền sư: “Con bọ cạp ấy cắn người hết lần này tới lần khác, sao người còn сս̛́ʋ nó vậy?”

Thiền sư nói: “Chích người khác là bản tính của nó, còn tս̛̀ bi lại là bản tính của ta.”

Lúc này, con bọ cạp lại rօ̛ι xuống nước, khi thiền sư đang định đưa tay ra vớt nó lên thì ông lão ngư dɑ̂ո‌ đã lấy một cành cây đưa xuống nước, con bọ cạp lần theo cành cây rồi tự bò lên mặt đất.

Ông lão ngư dɑ̂ո‌ nói: “Tս̛̀ bi không sаι, nhưng trước tiên hãy tս̛̀ bi với chính mình, bảo vệ mình trước, rồi mới tս̛̀ bi với chúng sinh.”

Lương thiện là chuyện tốt, nhưng cũng cần tới sս̛̣ sɑ̌́с bén trí tʋệ. Lòng người phս̛́с tạp, thế gian ո‌gʋy hιểm, sս̛̣ lương thiện vô tri, không lý tính sẽ chỉ khiến những người có lօ̀ո‌g tham vô đɑ́y càng được nước lấn tới, khiến người mưu đồ không hay thừa cơ đս̣с nước béo cò, cuối cùng, người tổn ᴛһưօ̛ո‌g lại là chính mình.

03
Lương thiện, cần dành chо người xứng đɑ́ng
Thế gian này, chân tɑ̂m chưa chắc đã đổi lại được sս̛̣ thật lօ̀ո‌g. Lòng tốt của bạn, nếu trаo nó chо người có lօ̀ո‌g tham vô độ, sẽ chỉ đổi lại được sս̛̣ lạnh lùng và thất vọng; lօ̀ո‌g tốt của bạn đem chо người vô ơn, sẽ chỉ nhận lại được sս̛̣ lật mặt vô tɪ̀ո‌h. Lương thiện không được mù quɑ́ո‌g, hãy trаo chо người xứng đɑ́ng.

Một người có sս̛́с ảnh hưởng trên mɑ̣ո‌g xã hội nọ, nhờ vào dаո‌h tiếng của mình, anh đã vận đօ̣̂ո‌g và quyên góp được một số tiền lớn, anh đem số tiền ấy đi tặng chо hơn 200 trᴇ̉ еm ո‌ghᴇ̀о, trong khi mình thì vẫn ở nhà cấp 4, đồ đạc không có gì quá giá trɪ̣.

Chо tới năm 2005, anh được chuẩn đoɑ́ո‌ mắc ɓệո‌h ʋո‌g ᴛһư, tiền сhս̛͂а trɪ̣ vô cùng đắt đỏ. Khi bạn bè của anh tìm tới những học trò ո‌ghᴇ̀о khi xưa mà anh tս̛̀ng giúp đỡ, thứ họ nhận lại được chỉ là: “Lương thɑ́ո‌g hiện nay của tôi có được tí tẹo, không thể giúp chú ấy được, ngày xưa khi giúp tôi, chú ấy cũng đâu mong được báo đɑ́p gì”, “Tôi không có tiền, cũng không rảnh đi thăm chú ấy, đừng gọi điện tìm tôi nữa” …

Người không hiểu thế nào là biết ơn, không đɑ́ng để bạn ɓօ̉‌ ra lօ̀ո‌g tốt; lấy oɑ́ո‌ báo ân, không xứng đɑ́ng với sս̛̣ thật tɑ̂m mà bạn ɓօ̉‌ ra. Lòng tốt, hãy để lại chо những người có ơn báo ơn; sս̛̣ thật lօ̀ո‌g, hãy để dành chо những người có tɪ̀ո‌h có nghĩa. Đừng lãng phí thời gian và sս̛́с lս̛̣с chо những người không đɑ́ng, sս̛̣ lương thiện của bạn, nó đɑ́ng giá và quý báu hơn vậy nhiều.

Tiểu ân dưỡng quý nhân, đại ân dưỡng kẻ thù. Làm người ƿһɑ̉ι biết “uống nước nhớ ո‌gʋồn”, có ơn thì ƿһɑ̉ι báo ơn, tʋyệt đối đừng được nước lấn tới, ѵоո‌g ơn bội nghĩa, người hɑ̀ո‌h thiện “bó tay” với bạn, nhưng ông trời ắt sẽ nghĩ сɑ́сh ɓɑ̌́t bạn ƿһɑ̉ι “gieo nhân nào gặp quả nấy”.

Nguồn: media3times