Chủ Nhật, 9 tháng 4, 2023

CÂU CHUYỆN “MUA HỘP TRẢ NGỌC” ĐỂ THẤY ĐƯỢC BẢN CHẤT “DANH LỢI” CỦA CON NGƯỜI

 

Ảnh pixabay

Con người thế gian đều biết rõ rằng, “danh” và “lợi” đều là vật ngoại thân, là những thứ khi sinh chúng ta không mang theo đến, khi tử chúng ta không thể mang theo đi. Nhưng rất ít người có thể tránh khỏi được cạm bẫy của “danh” và “lợi”. Họ một đời vì “danh” vì “lợi” mà “lao tâm khổ tứ”. Thậm chí có người còn coi “danh lợi” là mục đích để sinh tồn. Lấy tiền của người khác để cầu danh cho mình. 

Trong câu chuyện “Mua hộp trả ngọc”, thông qua sự giao dịch mua bán của người họ Chu và người họ Trịnh, để nói  bản chất của sự đổi lấy danh lợi.

“Mua hộp trả ngọc” kể về câu chuyện một người đàn ông họ Chu muốn bán những viên ngọc trai để được giá hời, tìm được chiếc Mộc Lan cũ, bèn đưa cho những người thợ lành nghề làm một chiếc hộp đựng ngọc trai, rồi sơn chiếc hộp bằng màu tiêu quế, mùi thơm thoang thoảng. Sau đó, chạm khắc nhiều hoa văn đẹp mắt ở bên ngoài hộp, đồng thời trang trí bằng ren kim loại đẹp mắt. Mọi thứ vất vả trước mắt đã lấp đầy mọi suy nghĩ của người họ Chu, anh ta kỳ vọng sẽ bán được món đồ với giá rất cao. Cuối cùng, anh ta đặt những viên ngọc trai vào hộp và bán chúng ở chợ.

Vừa được mang ra chợ không lâu, chiếc hộp chưa khui hộp đã thu hút rất nhiều người xem và trả giá cao. Một trong những người khách Trịnh Quốc Nhân cầm chiếc hộp trên tay và nhìn nó rất lâu, anh ta không thể đặt nó xuống, cuối cùng mua chiếc hộp của người họ Chu với giá cao. Nhưng điều kỳ lạ là người họ Trịnh chưa đi được bao xa đã vội vàng quay lại, lấy viên ngọc trai trong hộp ra đưa cho người họ Chu, nói: “Thưa anh, anh bỏ quên một viên ngọc trai vào hộp. Mục đích ta tới đây là vì trả lại ngọc trai cho anh.”

Sau đó, người họ Trịnh đưa viên ngọc trai cho người bán họ Chu, sau đó cúi đầu xuống, bắt đầu lại chiêm ngưỡng chiếc hộp gỗ rồi dần dần rời đi.

Hành vi của người họ Chu và người họ Trịnh cho chúng ta biết điều gì?

Người buôn họ Chu dồn hết tâm sức vào việc cẩn thận làm hộp đóng gói trau chuốt những viên ngọc trai để nâng cao giá trị của chúng, hơn nữa vì anh ta không biết sự quý giá thực sự của ngọc trai. Anh ta lấy khái niệm có được làm tiêu chuẩn đo lường từng lớp một, bọc và trang trí chiếc hộp đựng rất đẹp, và trong quá trình chuẩn bị, anh ta dần quên mất ý nghĩa tồn tại của ngọc trai, không để ý đến những viên ngọc đó có thật sự giá trị.

Người Trịnh dùng con mắt của người thương nhân để lựa chọn, chỉ nhận ra giá trị quý của chiếc hộp chứ không nhận ra giá trị viên ngọc trai. Tuy nhiên, bản chất lương tâm của anh ta cũng rất trân quý và tấm lòng lương thiện sáng như ngọc, nên anh ta có thể trả lại ngọc trai mà không lấy làm lợi cho mình. Thực ra, bản chất con người vốn trong sáng và quý giá như viên ngọc trai, chẳng qua là do mê muội với chuẩn mực thiện ác, đúng sai trong dòng nước đục của thế gian mà mê muội vô minh, sau này bị chôn vùi quá lâu, người ta dần dần quên đi con người thật của mình.

Nói một cách đơn giản, sở dĩ con người chấp trước vào danh lợi chủ yếu là vì họ đã bỏ qua ý nghĩa thực sự của cuộc sống mà quên đi để trở về “cội nguồn” của chính mình!

Thanh Chân biên dịch

Nguồn: secretchina

Thứ Bảy, 8 tháng 4, 2023

SỐNG (thơ)

 


SỐNG (nđt)
 
Trần gian sống trọn chẳng lưu đày!
Thiết phải nao buồn phận lỡ gay?
Chả giận đời xui hờn cõi ấy,
Đừng chê mộng hẻo xót thân nầy.
Cho đi ước vọng không choàng đủ,
Gộp hết niềm tin đã phủ đầy.
Nẻo ái non tìm, xua hận não,
Khi về lạc cảnh xóa chua cay…

Minh Đạo


ĐỨC PHẬT THÍCH CA MÂU NI TRẢ LỜI BẬC TRÍ GIẢ: VÌ SAO NGÀI KHÔNG BAN CHO ĐÀN ÔNG DỒI DÀO CỦA CẢI?

 

Bậc trí giả hỏi Đức Phật: Tại sao Ngài không ban cho tất cả phụ nữ sắc đẹp khiến cho “hoa nhường nguyệt thẹn”, một dung mạo “quốc sắc thiên hương?”

Đức Phật nói: Không phải người phụ nữ nào cũng có phẩm hạnh cao khiết, tính cách mềm mại và đoan trang, có thể nhẫn nại, không so đo tính toán. Người phụ nữ có tấm lòng bao dung, hiền hòa, khiêm tốn và biết lễ nghĩa, có tấm lòng thiện lành như nước trong, mới có thể sở hữu dung mạo phi phàm, thoát tục, lay động lòng người. Từ đó, cuộc sống mới có thể sung túc, phúc đức tự nhiên cao quý.

Vẻ đẹp bề ngoài, chỉ là chớp nhoáng, dùng để che mặt và “mê hoặc” thế nhân. Không có vẻ đẹp nào sánh bằng một trái tim thuần khiết, nhân ái.

Bậc trí giả hỏi Đức Phật: Vì sao Ngài không ban cho đàn ông dồi dào của cải?

Đức Phật nói: Không phải tất cả những người đàn ông đều có thể hào phóng và biết cách cho đi. Chỉ khi có tấm lòng rộng lớn, không so đo, tính toán những lợi ích nhỏ nhoi, thường dùng kim tiền để giúp đỡ những người khó khăn hơn mình, không tham lam hay đố kị, cũng không cố gắng chiếm tài sản của người khác, tích cực làm nhiều việc thiện nhiều hơn nữa… Người đàn ông như vậy thì tương lai nhất định sẽ giàu có, an nhiên tự tại.

Những thứ của cải vật chất ở cõi người thường chỉ là ảo ảnh, con người khi chết đi, nhục thân cũng không mang theo được, huống hồ là của cải vật chất kia. Nhân sinh vô thường, bởi vậy, sống trên đời hãy biết bố thí, tiền bạc chỉ là vật ngoại thân. Hà cớ gì phải lao thân khổ tứ vì điều đó? Chi bằng cứ tích đức hành thiện, bởi Đức kia là thứ muôn đời.

Bậc trí giả hỏi Đức Phật: Vì sao không ban tình yêu đích thực cho thiên hạ?

Đức Phật viết: Hỏi mấy ai thấu tỏ tình yêu đích thực là gì? Thế nhân thường thích làm phiền, chiếm hữu, đề phòng và kiểm soát người khác. Tuy nhiên, một tình yêu đích thực, chính là một trái tim vị tha, một tâm hồn vô tư vô ưu, vô dục vô cầu, trong mối quan hệ thì có thể sẵn sàng hy sinh và đảm đương trách nhiệm.

Tình yêu đích thực cũng giống như ánh nắng mùa đông vậy, mang đến cho người ta sự ấm áp, tiếp thêm nguồn năng lượng cho sinh mệnh của chúng ta.Tình yêu đích thực là khi chúng ta cho đi mà không cần báo đáp, là khi ta tận tâm với người khác mà không cầu sự trả ơn. Một tình yêu đích thực xuất phát từ tâm hồn có thể xả bỏ những thứ khó thể xả, có thể “nan nhẫn năng nhẫn, nan hành năng hành”, đó chính là cái gọi lại tình yêu đích thực.

Con người sống trong thế tục, chìm trong biển cả dục vọng, cũng giống như con sâu, tự trói buộc bản thân vào trong vỏ kén, không thể giải thoát chính mình. Quay cuồng trong biển tình và dục vọng, ngược xuôi theo dòng chảy không ngừng, mắc kẹt trong sự buồn phiền và đau khổ. Vì vậy, họ dần mất đi trí huệ và năng lượng. Bất luận là vùng vẫy như thế nào, họ vẫn không tìm ra lối thoát, từ đó chìm trong biển luân hồi từ đời này qua đời khác.

Bậc trí giả hỏi Đức Phật: Tại sao Ngài không để tất cả mọi người thân cận với Phật Pháp?

Đức Phật: “Muốn đến gần với Phật Pháp, cần phải có đủ thiện căn, nhân duyên và Phật đức. Còn chúng sinh trong thời mạt Pháp, thiện căn nông, phúc báo cũng nông, nghiệp chướng nặng nề. Hơn nữa, có rất nhiều người không còn tin vào nhân quả.

Một người khi ở trần thế hành nhiều điều ác, sau này nhất định sẽ phải chịu tội nghiệp, muốn thoát khỏi cũng không cách nào. Nếu con người không chú trọng tu dưỡng đạo đức, thì sẽ không có đường lui, dẫn đến tình trạng “một khi mất đi thân người thì vạn kiếp bất phục”.

Lan Hòa biên tập

Nguồn: Dusheng


Thứ Sáu, 7 tháng 4, 2023

NGƯỜI VIỆT CÓ BIẾT VĂN HÓA NGỒI ÔTÔ?


 

Tôi từng không biết thứ văn hoá này, không biết ngồi ở đâu trên xe, đó là chuyện hơn 10 năm trước, lần đầu tiên đến xứ Mỹ học.

Một buổi được người bạn học cho đi nhờ chiếc xe "đồng nát", tôi vô tư ôm balô nhảy ngay lên ghế sau ngồi. Ngồi mãi một lúc chẳng thấy "cu cậu" đi mới hỏi với lên xem còn chờ ai.

"Cu cậu" ra vẻ nghiêm túc "Mày chẳng phải ông chủ của tao, mày ngồi đấy tại sao tao lại lái". Thế là thằng tôi lũn cũn lên ghế trước ngồi. Được bài học rằng trên đời này có cái gọi là "Văn hóa ngồi xe hơi".

Chạy xe thì có luật, chạy không đúng thì không mất mạng cũng mất tiền. Ngồi xe không có luật, nhưng vô văn hóa thì cũng mất mặt. Nhân dịp gần đây chứng kiến nhiều ông chủ lớn và các bạn tri thức trẻ "nhảy" lên ngồi xe hơi một cách... "vô văn hóa", nên tôi phổ cập quy tắc cơ bản được thế giới văn minh chấp nhận như sau: Ngồi xe chia làm 2 trường hợp, có tài xế riêng và chủ xe tự lái.

Người ngồi có phân cấp: trên (người lớn tuổi, sếp...), đồng cấp (vợ-chồng, bạn, đồng nghiệp) và nhỏ hơn (trẻ con, lính lác).

Ghế có phân cấp theo sự thoải mái và an toàn: ghế sau bên phải là an toàn nhất, ghế sau ở giữa ít thoải mái nhất, ghế trước bên phụ dành cho người đồng cấp.


Cứ thế mà "diễn" nhé:

Trường hợp 1 có tài xế riêng: người trên ngồi sau bên phải, nhỏ hơn ngồi trước hoặc giữa.

Trường hợp 2, chủ xe tự lái: chỉ có 2 người thì lên ghế phụ trước ngồi. Có từ 3 người trở lên trên xe thì người có ngôi thứ cao nhất hoặc vợ/chồng lên ngồi trước với chủ xe.

Nếu xe 7 chỗ thì băng sau cùng cho những người vị thế nhỏ nhất.

Nguồn Internet

MẸ (Thơ)

 


 MẸ (nđt-bvđâ)
 
Hanh chiều quạnh quẽ hởi người đâu!
Vạt cỏ vàng êm réo nỗi sầu.
Mãi gởi xuân thời theo gánh đậu,
Luôn ghìm tuổi hạc với dòng ngâu.
Đời cho thấm lệ không còn dẫu!
Phận lém chầy vai cũng chẳng dầu…
Dưỡng dục sinh thành ai hiểu thấu!
Muôn trùng cách biệt… nghĩa tình sâu…
 
Nghĩa trang ĐP, 6/4/2018
Minh Đạo


Thứ Năm, 6 tháng 4, 2023

CHƯA HẲN NGHỊCH DUYÊN SẼ MANG TỚI KHỔ ĐAU

 


Trên những đoạn khúc khuỷu của đường đời, chúng ta thường dễ trượt ngã và oán trách số phận: “Sao đời lại bất công như thế?”. Nhưng với người Ấn Độ, họ luôn dùng kim chỉ nam là 4 quy tắc tâm linh đầy sâu sắc dưới đây để đi qua những cơn sóng của niềm vui và nỗi buồn trong cuộc sống.

1. “Bất cứ người nào bạn gặp cũng đúng là người mà bạn cần gặp”

Không ai ngẫu nhiên bước vào cuộc đời bạn mà không mang một ý nghĩa nào đó. Tất cả những người chúng ta gặp trên đường đời đều là những người “thầy” vô giá. Dù họ yêu thương bạn, bỏ rơi bạn, giúp đỡ bạn hay tranh đấu với bạn, tất cả chỉ để dạy bạn cách sống, cách yêu thương, cách bao dung và nhẫn nhường. Số phận luôn sắp đặt đúng người vào đúng thời điểm để tôi luyện ý chí và phẩm cách con người bạn, để bạn nhận ra đâu là giá trị cuộc sống và giá trị của bản thân mình.

Vậy nên, nếu bạn chỉ biết ơn những người trao cho bạn cơ hội mới, những người tặng bạn những khoảnh khắc ngọt ngào, và thù ghét những người để lại vết thương lòng trong bạn thì bạn mới chỉ hiểu một nửa thông điệp của tạo hóa.

2. “Bất cứ điều gì xảy thì đó chính là điều nên xảy ra”

Có thể bạn sẽ cảm thấy khó chịu khi kẹt cứng trên một tuyến đường vì phương tiện giao thông quá tải, trong khi có một cuộc phỏng vấn đang chờ. Bạn cũng sẽ thấy dằn vặt, đau thương và tiếc nuối ra sao khi mất mát đi một người thương yêu mình. Nhưng bạn có thể không ngờ rằng, nếu bạn đi nhanh hơn thì một chiếc ô tô lao vun vút trên con đường khác có thể cướp đi mạng sống của bạn, và một nửa đích thực của bạn sẽ không có cơ hội được tìm thấy nếu bạn cứ ôm giữ hình bóng của quá khứ.

Không có điều gì chúng ta trải nghiệm lại nên khác đi và đừng tốn thời gian để hối tiếc về những chuyện đã qua. Mỗi chuyện xảy ra đều là một mảnh ghép hoàn hảo trong một bức tranh to lớn của cuộc đời.

3. “Chuyện gì đến, nó sẽ đến”

Chúng ta không thể ngăn chặn những điều mình không thể đoán trước xảy ra. Việc lo sợ vào một ngày chuyện tồi tệ ập đến sẽ khiến bạn quên đi những giây phút đáng quý của hiện tại. Dù là niềm vui hay nỗi buồn, hãy học cách dũng cảm đón nhận nó. Bạn không thể kiểm soát thế giới xung quanh. Chuyện gì phải đến cũng sẽ đến vì sống trên đời không phải để thỏa mãn tất cả những nhu cầu của bản thân, mà để học cách bình thản đối diện với những chuyện bất ngờ xảy ra.

Đôi khi, chúng ta phải chờ đợi rất lâu và trải qua rất nhiều những “chuyện sẽ đến” chỉ để hiểu hết ý nghĩa của thời điểm. Thời điểm luôn là món quà mà Thượng Đế trao cho những ai biết nhẫn nại, kiên trì và quyết tâm.

4. “Những gì đã qua, hãy cho qua”

Quy tắc này rất đơn giản: Khi điều gì đó trong cuộc sống của chúng ta kết thúc, thì có nghĩa là nó đã đi hết nhiệm vụ của mình. Mối duyên phận của chúng ta với điều đó đã chấm dứt, để nhường một mối nhân duyên khác hội tụ. Đó là lý do tại sao, để làm phong phú thêm trải nghiệm của mình, chúng ta hãy buông bỏ và tiếp tục cuộc hành trình mà không nên ôm mãi những phiền muộn hay ký ức của quá khứ.

Với người Ấn Độ, để có được một cuộc đời thanh thản, bình yên và vững chắc, mỗi người đều nên biết sống tùy duyên và thuận theo tự nhiên. Có người từng nói:

“Ta thường gọi nhân duyên tốt là thuận duyên, và nhân duyên xấu là nghịch duyên, tức là những điều kiện có lợi và bất lợi cho ta. Bản chất của nhân duyên thì không có thuận nghịch, tốt xấu. Nó chỉ hội tụ hay tan rã theo sự thích ứng giữa các tần số năng lượng phát ra từ mọi cá thể mà thôi. Ấy vậy mà thói quen của hầu hết chúng ta khi đón nhận thuận duyên thì luôn cảm thấy sung sướng và rất muốn duy trì mãi nhân duyên ấy, còn khi gặp phải nghịch duyên thì luôn cảm thấy khó chịu và tìm cách tránh né hay loại trừ.

Nhưng chưa hẳn thuận duyên sẽ đem lại giá trị hạnh phúc hay nghịch duyên sẽ mang tới khổ đau, bởi có khi nghịch duyên đưa tới sự trưởng thành, còn thuận duyên sẽ khiến ta yếu đuối. Và nhiều khi thuận duyên ban đầu nhưng lại biến thành nghịch duyên sau này, có khi nghịch duyên bây giờ nhưng lại biến thành thuận duyên trong tương lai. Tất cả đều tùy thuộc vào bản lĩnh và thái độ sống của ta”.

Hãy cứ sống như người Ấn Độ, để sinh mệnh mình trôi theo dòng chảy của vũ trụ, hòa cùng với những quy luật, đặc tính thiêng liêng và những mối nhân duyên đầy ý nghĩa. Bạn sẽ nhận ra rằng mỗi phút giây trên cuộc đời đều thật đáng quý tuyệt vời.


Nguồn: https://vandieuhay.net/

KỶ NIỆM (Thơ)

 
Hình Internet


 
Ngàn dâu rẽ lối… lặng quay về,
Kỷ niệm xuân thời trót ngõ quê.
Ẳm lại người xưa đành nẻo mới!
Mong tìm chốn cũ ngập niềm mê.
Hương mùa gợi nỗi đời theo hướng,
Gió bãi hòa âm tuổi ngại bề.
Mộng gởi già lên càng vẫy bước,
Ta còn nuối mãi chặng tình lê.

Minh Đạo
 


Thứ Tư, 5 tháng 4, 2023

ĐẤT NƯỚC (Thơ)

 



“ Đất nước thấm nhuần an tịnh thủy
Quê nhà nương náu cát tường vân “

 
ĐT bình dung cha mọi hư chân,
C chuyn lưu hòa khắp dạng thân.
Thm c muôn loài ân lộc nhn,
Nhun cùng vn vt phúc niềm nhân.
An nhiên… tánh hin soi đưng thế,
Tnh lc… hu thông xóa nghip trn.
Thy đc li căn cu đo tỏ, (*)
QUÊ NHÀ NƯƠNG NÁU CÁT TƯỜNG VÂN.
 
Minh Đạo
-------------------------
(*) Bát công đức thủy


TRONG NẠN ĐÓI, VỢ MỚI CƯỚI BÁN THÂN MÌNH CỨU CHỒNG VÀ CÁI KẾT VIÊN MÃN

 

Ảnh Internet

Người xưa có câu: “Tu trăm năm mới đi chung một chuyến thuyền, tu ngàn năm mới nên duyên vợ chồng”. Tình nghĩa vợ chồng đi qua nhiều kiếp mới đến được với nhau. Tình nghĩa đó cũng nặng và rất sâu đậm rất khó có thể quên được khi chia xa. Vậy phải làm thế nào để trọn đạo vợ chồng và trân quý mối nhân duyên ấy?

Vào thời nhà Thanh, có một thư sinh tên là Lưu Hoằng Đồ ở phủ Thanh Châu (nay là Nghĩa Đô, tỉnh Sơn Đông) vừa mới cưới vợ, lúc bấy giờ xảy ra nạn đói, mùa màng thất bát, hai người kiếm sống không đủ qua ngày. Chẳng mấy chốc, họ thấy rằng có nhiều người ăn xin như kiến.

Một hôm, hai vợ chồng đói quá ôm nhau khóc. Vợ anh ta nói: “Nếu chàng bán thiếp, chàng vẫn có thể sống, nếu thiếp giữ tôi, chúng ta sẽ chết cùng nhau, điều đó không tốt cho mọi người.” Lưu Hoằng Đồ buồn đến mức không biết trả lời như thế nào, chỉ lắc đầu. Đột nhiên, họ nhìn thấy một chiếc xe ngựa nhỏ chở vài người đàn ông và phụ nữ, họ là những kẻ buôn người.

Người vợ nói: “Chàng hãy bán thiếp đi, thiếp bằng lòng bán thân mình cứu sống chàng”. Lưu Hoằng Đồ khóc không nói nên lời, vợ anh hỏi lái buôn: “Chỉ cần tôi bán được mười xu thì tôi sẽ đi với anh.” Người buôn người nói: “Không được đâu, cô chỉ đáng giá năm đồng xu thôi”. Những người bên đường nhìn thấy họ, thông cảm với họ và thuyết phục lái buôn, và cuối cùng bán được tám đồng xu. Sau khi lấy được tiền, vợ anh đặt tiền trước mặt Lưu Hoằng Đồ và nói: “Thiếp sinh ra đã gầy và nhỏ bé. Cha mẹ thiếp nuôi thiếp rất vất vả, và lại không giúp được gì cha mẹ, đi lấy chồng lại là gánh nặng cho chàng. Có số tiền này chàng có thể sống, không có số tiền này chàng sẽ đói mà chết mất, chàng nhất định phải sống, nhưng không được lãng phí cuộc đời này, nhất định phải giành vinh quang cho hậu nhân, bán vợ lấy mạng, mong chàng đừng quên thiếp.”

Lưu Hoằng Đồ bật khóc và nói: “Với sự xuất hiện của nàng với ta, thì có gì sai? Chẳng lẽ ta và nàng sẽ nói lời tạm biệt ở đây mãi mãi? Hay chúng ta sẽ gặp lại nhau trong tương lai?” Kẻ buôn người vội vàng thúc giục họ, nhưng hai người cố gắng ôm lấy nhau, vì vậy kẻ buôn người đến ôm cô gái trẻ vào trong xe, đẩy Lưu Hoằng Đồ xuống đất, vừa rung chuông ra hiệu để xe ngựa chạy đi. Nhìn theo bóng lưng của vợ, Lưu Hoằng Đồ khóc lớn, cuối cùng anh một mình đi về phía bắc với tiền và nước mắt lưng tròng.

Cô gái trẻ đã đi bộ vài ngày trên xe của một kẻ buôn người, và nhiều người đã hỏi cô giá cả trên đường đi. Con buôn tưởng hàng của anh hiếm nên ra giá cao nhưng không bán được.

Một ngày nọ, chiếc xe đến một ngôi làng Tân Thành của tỉnh Hà Bắc. Trong làng này có một người đàn ông tên là Vương Phượng Sơn, là võ sinh, gia cảnh giàu có, tính tình cương trực, hiếu thuận với mẹ nhất, người trong làng rất kính trọng. Mặc dù năm nay xảy ra nạn đói nhưng người dân trong ngôi làng này vẫn phụ thuộc vào Vương Phượng Sơn để vay gạo.

Vương Phượng Sơn mở một quán trọ ở lối vào làng. Vào ngày này, khi chiếc xe của kẻ buôn người dừng lại, Vương Phượng Sơn nhìn thấy hành vi của người phụ nữ trẻ này không giống một kẻ thấp hèn, và cô ấy rất buồn và đáng thương. Anh biết cô bị buôn bán bởi những kẻ buôn người và lo lắng rằng cô sẽ kết thúc trong một nhà thổ dân. Vương Phượng Sơn nói với kẻ buôn người: “Người phụ nữ này thật xinh đẹp.” Kẻ buôn người nói: “Nếu anh thích cô ta, tại sao anh không giữ cô ấy lại? Miễn là anh chả được mức giá xứng đáng, tôi sẽ không yêu cầu lợi nhuận quá cao.”

Vương Phượng Sơn về nhà và nói với mẹ mình, nhưng người mẹ không đồng ý. Vương Phượng Sơn nói: “Con trai không yêu vẻ ngoài của cô ấy, nhưng thông cảm cho hoàn cảnh của cô ấy. Mẹ có thể nhận cô ấy làm con gái nuôi không?” Người mẹ gật đầu đồng ý. Vương Phượng Sơn đến nhà trọ và nói với cô gái trẻ rằng anh ta muốn coi cô như em gái, và cô gái trẻ rất biết ơn. Vương Phượng Sơn mua cô với giá 20 đồng xu, và mẹ của Vương Phượng Sơn coi cô như con gái. Sau đó, họ muốn gả cô đi nhưng cô gái trẻ không đồng ý và muốn phục vụ mẹ cả đời như một đứa con gái . Mẹ của Vương Phượng Sơn cũng rất vui khi có người chăm sóc mình.

Sau khi Lưu Hoằng Đồ chia tay với vợ vào ngày hôm đó, anh ta đi bộ về phía bắc, định đến vùng núi cao để vượt biên, nhưng tình cờ bị bắt nhốt và không được phép đi tiếp, vì vậy anh ta phải quay trở lại Sơn Đông bằng con đường cũ. Lúc này đang vào mùa thu hoạch lúa mì, ven đường còn rất nhiều bông lúa, có người thuê anh nhặt những bông lúa trên đường. Một năm sau, anh trở về quê hương, trên đường đi ngang qua Tân Thành và ở trong một quán trọ. Một đêm trời mưa to, sân ngập nước đọng không đi lại được, Hoằng Đồ bèn dùng chổi quét sân.

Lúc này Vương Phượng Sơn vừa vào quán trọ, thấy sân đã được quét dọn sạch sẽ, vui mừng hỏi: “Ai đã quét sân nên không còn ngập nước và không còn bùn đất đọng lại?” Lưu Hoằng Đồ đáp: “Mưa xong tôi dậy sớm, tôi không có việc gì làm nên tôi dọn dẹp sân.” Vương Phượng Sơn lại hỏi: “Anh đến từ đâu?” Hoằng Đồ trả lời: “Tôi họ Lưu, và tôi đến từ Thanh Châu. Tôi đã rời quê hương của mình trước đó đi tìm cơ hội làm ăn, và bây giờ tôi muốn quay lại.” Vương Phượng Sơn nói: “Chắc chắn anh đã trở về nhà từ sự giàu có.” Hoằng Đồ trả lời: “Tôi rách rưới như vậy, tại sao bạn vẫn trêu chọc tôi? Tôi hy vọng mình có thể tìm được một nơi để ở, và thế là đủ.”

Vương Phượng Sơn nói: “Nếu anh chưa quyết định về nhà, tại sao không làm một số việc vặt trong nhà trọ của tôi?”

Lưu Hoằng Đồ nói: “Đây chính là điều tôi muốn.” Phượng Sơn rất vui, vì vậy anh ấy lập tức yêu cầu anh ta quản lý quầy đón tiếp, dọn phòng cho khách vào các ngày trong tuần, và sắp xếp khách ở lại nhà trọ vào ban đêm. Hoằng Đồ biết chữ và có thể giải quyết các vấn đề trong quán trọ, Vương Phượng Sơn tin tưởng anh ta đến mức không coi anh ta như một người hầu, và Hoằng Đồ coi Vương Phượng Sơn như anh trai của mình, và hai người trở thành bạn thân.

Hơn hai năm trôi qua như vậy. Những lúc bình thường không có việc gì làm, bất kể ngày hay đêm, Hoằng Đồ thường ngâm các bài văn, bài thơ để thi. Vào năm kỳ thi trấn sẽ được tổ chức một lần nữa, một ngày nọ, Lưu Hoằng Đồ nói dối với Vương Phượng Sơn: “Tôi muốn về nhà xem một chút, sẽ mất khoảng một tháng để đi tới.” Phượng Sơn ngay lập tức giúp anh ta chuẩn bị hành lý, quần áo và cả bộ giày đã được thay mới, và anh ta được tặng rất nhiều tài sản. Hoằng Đồ từ biệt Phượng Sơn và lên đường, đầu tiên đi về phía đông, sau đó quay về phía nam, và cuối cùng đến thủ phủ của tỉnh để tham gia kỳ thi. Sau khi kiểm tra khoa học, Lưu Hoằng Đồ trở về nhà của Phượng Sơn, và nghĩ rằng anh ta đã trở về từ Thanh Châu.

Khi đó, Lễ hội lần thứ chín đang đến gần, và kết quả của kỳ thi ở tỉnh Sơn Đông thường sẽ được công bố trong vòng ba hoặc bốn ngày, Hoằng Đồ đếm thời gian trên đầu ngón tay, tim đập thình thịch không ngừng. Tân Thành năm đó không có khoa thi, cho nên không có tin tức. Ngày hôm sau, khi nghe nói danh sách số 1 được đưa ra là của khu vực Quang Châu, Hoằng Đồ có chút thất vọng. Anh đi tới cổng làng và đi tới đi lui dưới gốc cây đa lớn. Chỉ thấy xa xa có hai người thở hổn hển đi tới, ngồi dưới gốc cây nghỉ ngơi. Hoằng Đồ nhìn họ một lượt, cảm thấy hình như họ là sứ giả, muốn biết họ đi đâu nên hỏi: “Hai người đi đâu vậy?” Một người nói: “Chúng tôi đến từ Thanh Châu.” Người kia nói: “Đừng hỏi, chúng tôi nói ra sợ sẽ bị người ta chê cười. Tôi đã cố gắng hết sức để nhận được tin vui về một ứng cử viên mới, và tôi đã đến Thanh Châu nhanh chóng để trở về báo tin, nhưng chúng tôi tìm khắp nơi không thấy người này”. Trời đã khuya Hoằng Đồ mời hai người xứ giả về quán trọ nghỉ chân.

Đến giờ thắp đèn ban đêm, Lưu Hoằng Đồ bưng vò rượu đến, nói: “Hai vị bằng hữu vừa đi đường mệt nhọc mới tới đây, không bằng uống một chén rượu lúa nóng cho vui, giải tỏa mệt mỏi”. Hai người đứng dậy bày tỏ lòng biết ơn, vì vậy, họ uống rượu và trò chuyện cùng nhau. Lưu Hoằng Đồ hâm nóng một bình rượu khác, và mọi người uống một cách vui vẻ. Lưu Hoằng Đồ hỏi: “Hai anh đi tìm người tân sinh để báo tin vui mà không biết tìm ở đâu, có cần tôi giúp không? Người thứ nhất nói: “Chúng tôi có danh sách tên nhưng không biết anh đã nghe qua tên người này chưa?”

Lưu Hoằng Đồ yêu cầu được xem, nhưng ngươi thứ nhất có chút miễn cưỡng, và người thứ hai nói: “Bây giờ chúng ta là bạn bè, để anh ấy xem có giúp được không?” Người thứ nhất mở ra cho anh ta xem. Khi Lưu Hoằng Đồ nhìn thấy tên mình, đôi mắt anh ấy sáng lên: “Lưu Hoằng Đồ thứ 40, một học sinh ở tỉnh Thanh Châu.” Sau khi đọc xong, Lưu Hoằng Đồ khóc như mưa.

Người thứ nhất hỏi: “Tại sao anh trai lại buồn như vậy? Anh ấy có phải là anh em trong tộc của người này không?” Lưu Hoằng Đồ trả lời: “Không”. Anh ta lại hỏi: “Đó có phải là anh họ và cháu trai của anh không?” Lưu Hoằng Đồ nói: “Không”. Hai người cùng hỏi: “Vậy tại sao anh khóc không nguôi?” Lưu Hoằng Đồ trả lời: “Bởi vì người đó trong danh sách này chính là tên tôi”. Hai người xứ giả tỏ ngạc nhiên và ngỡ ngàng. Nhưng khi Hoằng Đồ kể rõ sự tình cả hai đều vui mừng vì đã tìm được người đổ cử khoa thi để báo tin. Hôm sau dân làng ai cũng biết và đến chúc mừng Hoằng Đồ.

Biết tin Phượng Sơn sau khi nghe tin đã vội vã chạy đến và hỏi Lưu Hoằng Đồ chuyện gì đang xảy ra. Anh đã nói hết sự tình mô tả chi tiết việc anh ta giả vờ về nhà, nhưng thực chất là đi thi cấp tỉnh, và bây giờ đã đỗ. Phượng Sơn khi biết điều đó đã rất vui mừng, vì vậy anh đã nói với mẹ về thành công của bạn mình. Mẹ anh cũng rất vui mừng, vì vậy bà đã tổ chức một bữa tiệc cho Hoằng Đồ, và cả làng đều có rất nhiều khách đến chúc mừng.

Một ngày nọ, mẹ của Phượng Sơn và con gái nuôi đang dọn thức ăn trong bếp, một người hầu bước vào bếp nói lớn: “Thiếu gia Lưu Hoằng Đồ ở Thanh Châu đã đến”. Đũa trên tay thiêu nữ bỗng rơi xuống.

Phu nhân thầm nghĩ: “Người phụ nữ này đã thề không lấy chồng, hôm nay nghe thấy tên Lưu Hoằng Đồ, lại kinh ngạc như vậy, chẳng lẽ bị con gái ta đã có tình cảm với người này?” Bà liền hỏi: “Không biết tiên sinh đã có vợ chưa?”. Anh vội vã trả lời: “Dạ thưa phu nhân. Cháu chưa có gia đình”. Thiếu nữ cũng tiện hỏi: “Tiên sinh ở Thành Châu à?”. Hoằng Đồ đáp: “Đúng vậy”.

Buổi tối, phu nhân và con gái nói chuyện: “Con hầu hạ ta đã hơn hai năm, con rất là hiếu thuận, ngay cả con trai ruột của ta cũng không bằng được. Tuy nhiên, cuộc đời ai cũng phải già đi, thanh xuân cũng có thì. Khi mẹ còn sống, ta muốn giúp con tìm được một người con rể tốt, để sau này có nhắm mắt xuôi tay, ta cũng yên lòng. Con đừng quá gắn bó với quá khứ, làm sao con gái của ta có thể chết già trong nỗi buồn của mình được?” Người phụ nữ trẻ vốn dĩ điềm tĩnh và đàng hoàng đã hiểu ý của mẹ là muốn cô lấy Hoằng Đồ, nhưng cô không muốn nói ra nó trực tiếp. Cô chỉ đáp: “Con sẽ vâng lời mẹ”.

Vì vậy, mẹ  đã nói với con trai mình về điều đó, và Phượng Sơn cũng đã nói với Hoằng Đồ, nói rằng đó là ý kiến ​​​​của mẹ anh ấy. Hoằng Đồ nói: “Sống mà trong chia ly còn đau đớn hơn cả cái chết. Nỗi đau bán vợ trong nạn đói vẫn còn ở trước mắt tôi, những lời chia tay lúc chia ly vẫn còn bên tai. Ngay cả khi hôm nay tôi có thể tiếp tục có được một người vợ tốt, chỉ sợ trong tâm vẫn chưa quên được. Trên đời không có nam nhân nào bạc tình hơn ta!”

Vương Phượng Sơn nói: “Tiếp tục cưới vợ thứ hai chẳng qua là để có con nối dõi. Nếu như Lưu huynh ngoan cố không tiết chế, chung thủy với tình yêu, nếu đàn gãy mà người chết, thì sẽ bằng không. Cả đời hối hận không thể vãn hồi, huynh xem cái nào nặng, cái nào nhẹ!”

Lưu Hoằng Đồ nói: “Cảm ơn lời nói của huynh, và mệnh lệnh của mẹ huynh, tôi không dám bất cẩn mà tuân theo. Nhưng tôi có một vài điều muốn nói trước, nếu tôi có thể đoàn tụ với vợ cũ của tôi, tôi hy vọng người thê tử sau này sẽ đồng ý chiếm vị trí thứ hai.” Vì vậy, Vương Phượng Sơn huynh lại báo cáo, người mẹ gật đầu và nhìn người phụ nữ trẻ. Người phụ nữ trẻ nói: “Khi điều đó xảy ra, vẫn chưa muộn để thảo luận.” Bởi vì cô ấy vốn là vợ của Lưu Hoằng Đồ, nhưng Hoằng Đồ vẫn không biết về điều đó, anh không bao giờ nghĩ điều này sẽ xảy ra. Phượng Sơn ngay lập tức sắp xếp một phòng tân hôn cho họ trong quán trọ.

Vào ngày đại hỷ, những chiếc ghế kiệu đầy màu sắc xuất hiện giữa tiếng trống và âm nhạc, và những người phụ nữ mặc đồ thổ cẩm đỏ. Nhà họ Vương tổ chức hôn lễ hoành tráng cho cô con gái nuôi, tất cả họ hàng nhà họ Vương đều đến chúc phúc. Tiểu thư đội hoa trên đầu, đội vương miện và thắt nơ đỏ, Hoằng Đồ đích thân nâng khăn trùm đầu màu đỏ cho cô dâu. Nhìn thấy vẻ mặt vui mừng của Lưu Hoằng Đồ, thiếu nữ không khỏi cười vui mừng. Người hầu trong nhà liền bẩm báo với phu nhân. Hoằng Đồ ban đầu không nhìn kỹ, nhưng trong lòng anh nghĩ: “Người phụ nữ này sao lại giống vợ mình đến vậy?”

Đến chiều, khi khách đã về hết, anh vào phòng trong, cầm nến bước ra, thiếu nữ ôm mặt khóc. Hoằng Đồ nắm tay cô và ngạc nhiên hỏi: “Nàng có phải là vợ cũ của Hoằng Đồ ta không?” Người phụ nữ trẻ nói: “Từ khi chúng ta chia tay, chàng vẫn ổn chứ?” Hoằng Đồ bật khóc. Rồi cùng thắp đèn kể về nỗi đau khổ, nhớ nhung sau chia ly, vui buồn lẫn lộn, hai người thật như sống lại một cuộc đời khác trong cõi bồng lai. Đến rạng sáng, khi người vợ đến gấp chăn thấy chiếc khăn tay cũ của mình trên giường, nàng hiểu ra người chồng luôn thương nhớ mình ngày đêm. Lòng cô vui mừng.

Sáng sau Hoằng Đồ đến Vương Phượng Sơn, quỳ xuống cảm ơn và nói: “Lòng tốt và sự chính trực của huynh khiến tôi không thể nào quên được.” Vương Phượng Sơn kinh ngạc hỏi chuyện gì đang xảy ra. Hoằng Đồ và vợ kể câu chuyện về cuộc hội ngộ của họ. Khi mẹ của Phượng Sơn nghe xong, bà cũng rất vui và nói: “Cuối cùng ta cũng biết tại sao con gái không tùy tiện đùa giỡn trong chuyện lấy chồng trước đây.”

Sau đó, khi Hoằng Đồ chuyển đến Tân Thành, Vương Phượng Sơn đã giúp anh thành lập một trường học trong làng để dạy những trẻ nhà nghèo không có tiền đi học.

Nhớ lại những năm Càn Long thứ 50 và 51, nhiều nơi trong tỉnh Sơn Đông xảy ra hạn hán, mùa màng chết khô, bông khô héo, khung cửi ngành dệt ngừng hoạt động, nhân dân bơ vơ chờ chết. Quốc gia này đã thông qua các sắc lệnh miễn thuế của chính phủ và các chính sách cứu trợ, đồng thời xây dựng các biện pháp phòng chống thiên tai, rất toàn diện và tốt hơn bất kỳ giai đoạn nào trước đây.

Tuy nhiên, những người chết đói trong vùng hoang dã đã trở thành thức ăn của diều hâu, điều này nối tiếp nhau. Chao ôi, đúng là không có phương án cứu trợ thiên tai nào tốt! Ngoài ra, việc bán vợ và con gái rất nhiều, chính quyền tuy biết nhưng cũng không ngăn cấm, bởi nếu bán vợ con thì cha mẹ chồng vẫn có thể tiếp tục sống, nếu không thì gia đình họ cuối cùng sẽ trở thành những bóng ma trong khe núi. Có người bán đồ ăn trong chợ, người khác giật lấy rồi bỏ chạy, khi bắt kịp thì đã nuốt vào miệng rồi. Một nhóm khác hàng chục người cướp lương thực dọc theo ngôi làng và phóng hỏa vào ban đêm, vì vậy mọi nhà đều bị khóa cửa trước khi trời tối, và cả đêm không yên. Quả thật chỉ có một người trong hàng triệu người may mắn như Lưu Hoằng Đồ.

Thanh Chân biên dịch
Nguồn: epochtimes

Thứ Ba, 4 tháng 4, 2023

‘ĐƯỢC CHIM BỎ NÁ, ĐƯỢC CÁ QUÊN NƠM’: CÁCH NHẬN DIỆN NGƯỜI QUÂN TỬ VÀ KẺ TIỂU NHÂN CHỈ QUA MỘT CÂU THÀNH NGỮ…

 

Nguồn ảnh: Secretchina

Chuyện kể rằng: trước khi rũ bỏ công trạng, đi chu du Ngũ Hồ, Phạm Lãi có viết thư gửi cho bạn là Văn Chủng. Thư nói: “Vua Ngô có nói: ‘Giảo thỏ đã chết thì chó săn tất bị mổ, địch quốc đã diệt thì mưu thần cũng chẳng còn’. Ngài không nhớ hay sao? Vua Việt môi dài như mỏ quạ tuy là người biết chịu nhẫn nhục nhưng lại ghét kẻ có công. Cùng ở lúc hoạn nạn thì được, chứ cùng ở lúc an lạc thì không toàn, nay ngài không đi ắt có tai vạ”…

Câu thành ngữ “Điểu tận cung tàng” có xuất xứ từ “Sử ký – Việt thế gia”, hàm nghĩa là: khi chim đã chết hết thì người ta cất cung đi một nơi mà không dùng đến nữa…

Phiên âm Hán Việt nguyên câu là: “Giảo thố tử, tẩu cẩu phanh; cao điểu tận, lương cung tàn; địch quốc phá, mưu thần vong”. Ý tứ là: “Thỏ khôn chết, chó săn bị mổ làm thịt; chim bay cao hết, cung tốt vứt bỏ; nước địch phá xong, mưu thần bị giết”.

Từ chuyện Việt Vương Câu Tiễn vong ân bội nghĩa, bức hại công thần…

Chuyện cũ kể rằng vào thời Xuân Thu [771 đến 476 TCN], nước Việt và nước Ngô giao tranh. Vua Ngô là Phù Sai thất bại, thế cùng lực tận và bị bao vây uy hiếp nên có ý định xin hàng. Phù Sai biết hai bề tôi có uy quyền dưới trướng của Việt Vương Câu Tiễn là Tướng Quốc Phạm Lãi và Đại Phu Văn Chủng có thể giúp được mình việc này nên bèn viết một bức thư, buộc vào mũi tên, bắn vào thành Việt, mong hai người này tâu giúp lên vua Việt cho nước Ngô xin hàng. Quân nước Việt lượm được đệ trình lên Phạm Lãi và Văn Chủng. Thư ấy nói:

“Tôi nghe nói giảo thỏ chết thì chó săn tất bị mổ, địch quốc đã diệt thì mưu thần cũng chẳng còn. Sao quan Đại Phu không lưu cho nước Ngô tôi còn lại một chút để làm cái dư địa sau này”.

Nhưng Phạm Lãi và Văn Chủng không cho hàng. Cuối cùng Phù Sai đành phải tự vẫn.

Việt Vương Câu Tiễn chiếm được nước Ngô, bày tiệc rượu trên Văn Đài nước Ngô. Các quan vui say đánh chén nhưng Câu Tiễn lại có vẻ không vui. Phạm Lãi biết ý nhà vua không muốn nói đến công của kẻ hầu hạ, đã diệt được Ngô mà lòng vua lại mang mối nghi kỵ, nên liền xin từ quan trí sĩ.
Nhưng trước khi bỏ nước đi chu du Ngũ Hồ, Phạm Lãi có viết thư gửi cho bạn là Văn Chủng. Thư nói:

“Vua Ngô có nói: “Giảo thỏ đã chết thì chó săn tất bị mổ, địch quốc đã diệt thì mưu thần cũng chẳng còn’. Ngài không nhớ hay sao? Vua Việt môi dài như mỏ quạ tuy là người biết chịu nhẫn nhục nhưng lại ghét kẻ có công. Cùng ở lúc hoạn nạn thì được, chứ cùng ở lúc an lạc thì không toàn, nay ngài không đi ắt có tai vạ”.

Văn Chủng xem thư xong phàn nàn về Phạm Lãi, cho rằng họ Phạm xử trí như thế là khí khái quá!

Quả thực như y lời Phạm Lãi nói, sau khi thành đại sự, Câu Tiễn không chia cho các quan một thước đất nào, lại có ý khinh rẻ công thần. Văn Chủng buồn bã, cáo ốm không vào triều. Câu Tiễn vốn biết tài của Văn Chủng, nghĩ thầm: Ngô đã diệt, còn dùng hắn chi nữa, một khi hắn làm loạn thì sao trị nổi, nên muốn trừ diệt Văn Chủng đi.

Một hôm, Câu Tiễn lấy cớ đến thăm bệnh tình của Văn Chủng và bảo:
– Ta nghe người chí sĩ không lo cái thân mình chết mà lo cái đạo mình không được thực hành. Nhà ngươi có 7 thuật, ta mới thi hành có 3 mà Ngô đã diệt, còn thừa 4 thuật, nhà ngươi định dùng làm gì?

Văn Chủng đáp:

– Tôi cũng không biết dùng làm gì cho được!

Câu Tiễn nói:

– Nhà ngươi đem hãy đem 4 thuật ấy mà mưu hộ cho tiền nhân nước Ngô ở dưới âm phủ, phỏng có nên chăng?
Nói xong, Việt Vương Câu Tiễn lên xe đi về, bỏ lại một thanh kiếm tại chỗ ông ta vừa ngồi. Văn Chủng bèn cầm lấy xem, thấy vỏ kiếm có đề hai chữ: ‘Chúc Lâu’, đây cũng chính là thanh kiếm mà trước đây Ngô Phù Sai đã từng đưa cho Ngũ Viên tự tử. Văn Chủng ngửa mặt lên trời than: “Cổ nhân có nói: Ơn to thì không báo nữa. Ta không nghe lời Phạm Lãi đến nỗi bị giết, chẳng cũng ngu lắm ru!”

Văn Chủng than xong, cầm kiếm tự tử.

Câu nói: “Giảo thố tử, tẩu cẩu phanh; cao điểu tận, lương cung tàn; địch quốc phá, mưu thần vong”, sau này được nhiều người nhắc lại như một bài học lịch sử và được đúc kết thành câu thành ngữ: “Điểu tận cung tàng” hàm chứa nhiều giá trị triết lý nhân sinh sâu sắc.

Đến bài học lịch sử còn lưu truyền hậu thế…

Trong cuộc sống, để chỉ những hiện tượng dùng người mà phụ người, thậm chí đến độ vong ân bội nghĩa, lợi dụng người ta xong thì loại bỏ giống như trường hợp Việt Vương Câu Tiễn đối đãi với hai công thần tướng quốc là Văn Chủng và Phạm Lãi thì người ta thường hay nhắc đến câu thành ngữ: “Điểu tận cung tàng” hoặc: “Thố tử cẩu phanh”, ý tứ là:

“Chim hết rồi cung tên xếp xó;
Thỏ chết rồi chó bị phanh thây”…

Trong kho tàng thành ngữ, tục ngữ dân gian Việt Nam có những câu thành ngữ như: “Được chim bẻ ná, được cá quên nơm” hay: “Vắt chanh bỏ vỏ”; “Qua cầu rút ván”… cũng ít nhiều mang nét nghĩa đồng.

Mới hay: biết trọng ân nghĩa, không phụ lòng người cũng là một phẩm đức cao quý, là một trong những phương diện biểu hiện của bản tính Chân – Thiện – Nhẫn trong mỗi con người, đồng thời cũng là ‘thước đo’ để phân định giữa kẻ tiểu nhân và người quân tử.

Qua cách hành xử và đối đãi tệ bạc với các công thần của Việt Vương Câu Tiễn có lẽ không phải bàn nhiều, mỗi người cũng đều có thể nhìn ra nhân vật này là kẻ tiểu nhân hay người quân tử.

Sự lựa chọn ‘ra đi đúng lúc’ của Phạm Lãi và ‘ở lại muộn màng’ của Văn Chủng cũng để lại cho nhân thế nhiều bài học sâu sắc: Làm sao để không nhìn nhầm người, không nhìn nhầm thời, biết nắm giữ và buông bỏ đúng lúc đúng chỗ… để đưa ra những quyết định thật minh xác, đúng đắn đôi khi cũng chính là sự lựa chọn mang tính chất “mở ra” hay “đóng lại” đối với tương lai và sinh mệnh của mỗi con người.

Đường Phong

Tài liệu tham khảo: “Điển hay tích lạ”; Wikipedia.

Thứ Hai, 3 tháng 4, 2023

VÔ NGÔN ... (Thơ)

 


Vô Ngôn Thần Giáo
 
Đức của đất trời, bặt trí tri!
Trang nghiêm một cõi, nhiếp nhân vi
Ngàn nhà cơm bánh, thân nào quản
Tám tiết nắng mưa, hạnh sá gì
Nhỏ nhẻ nói cười, tâm đại độ
Dịu dàng đi đứng, giới oai nghi
Bao năm độ chúng, vô ngôn giáo
Hoằng pháp, lợi sanh bất khả nghì!
 
(Sương Khói Đường Thi )
Minh Đức Triều Tâm Ảnh
 
TRANG NGHIÊM CÕI TỊNH (Bài hoa)
 
Huyền linh trải rộng chẳng vô tri
Vạn cảnh xoay vần rõ tế vi
Cứ gởi tâm rong… còn lỡ nữa!
Thêm hoài mộng tưởng… để không gì
Kinh thâm mãi tụng càng nhanh tỏ
Pháp bảo luôn cầu chớ nhọc nghi
Đạo hạnh ân sư thời giáo dưỡng
Nguồn chơn vốn tịnh bất tư nghì.

Minh Đạo (Kính hoạ)


LỜI KHUYÊN CỦA CỔ NHÂN: ĐỪNG NHÌN VẺ BỀ NGOÀI, HÃY NHỚ 7 ĐIỀU NÀY CÓ THỂ BIẾT CẢ THIÊN HẠ

 

Hình Internet

Chúng ta thường đoán định một cá nhân từ vẻ bề ngoài của họ, bởi vì hễ mắt nhìn thì sẽ sinh ra liên tưởng, trong tâm tự nhiên sẽ có yêu ghét, hiếm khi không có chút cảm xúc nào. Nhưng bạn đã từng phán đoán một người qua vẻ bề ngoài mà gặp sai lầm chưa?

Người xưa thường nói: “sống lâu mới biết lòng người” thực ra là muốn biểu đạt rằng bản chất con người rất phức tạp. Rất nhiều người khi mới tiếp xúc sẽ không biểu hiện ra bản chất ban đầu, chính là sau này không ngừng tiếp xúc mới biểu hiện ra tính cách thật của mình. Chúng ta không thể chỉ nhìn bề ngoài mà đánh giá người khác, rất nhiều người là sói đội lốt cừu, bề ngoài không có vẻ gì hung hãn nhưng bên trong lại rất nóng nảy, hay bên trong rất lương thiện chân thành mà bên ngoài lại săm trổ đầy thân.

Để “nhìn người trong thiên hạ”, người xưa lưu lại rất nhiều bài học quý, minh triết và sáng suốt, chúng ta cùng tìm hiểu qua bài viết dưới đây.

1. Nhìn vào sự tu tập bản thân khi đang trong vui vẻ và tức giận

Khi người ta vui vẻ thường không có gì khác biệt, đều cười nói nhiều hơn, ngoài trời mưa rơi lòng vẫn trong veo, nhưng khi tức giận thì ai cũng có biểu hiện khác. Một số người dù đang tức giận nhưng họ có thể kiểm soát cơn tức giận rất tốt, họ không nói những điều gây tổn thương cho người khác, nhưng họ có thể bày tỏ lý do tại sao họ tức giận, sau đó bắt đầu trao đổi theo lý trí. Trong khi một số người lúc tức giận, họ sẽ “bốc hoả” với người khác, nói rất nhiều lời lẽ khó nghe, khiến cả bản thân và đối phương đều không thể “xuống thang”. Vì vậy, một người thể hiện trạng thái như thế nào khi anh ta tức giận cũng cho thấy anh ta tu dưỡng bản thân như thế nào.

2. Nhìn vào ý chí và nghị lực trong lúc khó khăn

Cuộc đời không ai là thuận buồm xuôi gió, khi thuận buồm xuôi gió ai cũng sẽ cảm thấy cuộc sống thật dễ dàng, nhưng khó khăn thường thử thách ý chí và sự tự lập của con người. Có rất nhiều người có thể làm việc chăm chỉ hơn khi đối mặt với nghịch cảnh, vượt qua mọi khó khăn tưởng không thể vượt qua và thích nghi với mọi môi trường tưởng không thể thích nghi. Họ sẽ dùng ý chí mạnh mẽ để đối mặt với thử thách trong cuộc sống và để người khác thấy được sức mạnh của bản thân.

3. Nhìn vào nội tâm khi trong nghịch cảnh

Có nhiều người đang gặp vận tốt, lập được sự nghiệp thì bắt đầu phiêu dạt khắp nơi, kết quả là bị nhiều kẻ xấu lôi kéo, sau đó tiêu tan sự nghiệp đã dày công xây dựng, và cuối cùng cũng bằng không. Lại có những người có thể duy trì một tâm trí lớn, họ không bao giờ quên mục tiêu ban đầu dù đang trong thời điểm thành công, những người này thường đáng để kết giao, bởi vì họ là những người khí phách và sẽ không đắc ý trước những thành công nhỏ.

4. Nhìn vào sự nhận định trước hoàn cảnh hiện thực

Trước một sự việc, mỗi người có cách suy nghĩ và nhận định khác nhau, đánh giá và xử lý cũng khác nhau, chính những quyết định đó mới thấy được tầm nhìn của một người rộng đến đâu, suy nghĩ của họ “trẻ con” hay “trưởng thành”. Có người khi gặp phải việc lớn thì lùi bước, vô cùng do dự phân vân, những người như vậy là người không có nhiều hiểu biết; người thực sự hiểu biết thì dù gặp phải việc khó đưa ra quyết định cũng sẽ nhanh chóng đưa ra quyết định.

5. Nhìn vào việc chịu trách nhiệm khi đang trong nghịch cảnh

Khi thành công bạn bè sẽ biết ta là ai

Khi thất bại ta sẽ biết ai là bạn ai là bè

Lúc thuận lợi, vui vẻ cùng nhau đương nhiên không thành vấn đề, nhưng lúc ở trong nghịch cảnh, nếu trực tiếp đối diện với sai lầm của nhau, vẫn có thể bao dung, chia sẻ, thể hiện thái độ cảm thông có trách nhiệm, thì mới có thể chứng minh rằng người này là một người rất đáng để kết giao.

6. Nhìn hành vi của một người trong lúc say rượu

Muốn biết tính cách của một người như thế nào, có thể xem khi say rượu anh ta biểu hiện ra trạng thái gì. Có người khi say vẫn rất trầm tĩnh; có người khi say sẽ bắt đầu lớn tiếng điên cuồng, đối với người khác nói những lời quá đáng khó nghe. Nhiều hành vi được dẫn dắt bởi tiềm thức của một người, vì vậy điều này chứng tỏ rằng người này là một người như vậy trong sâu thẳm trái tim anh ta. Hiển nhiên người như vậy sẽ không có được tình bạn sâu sắc.

7. Nhìn tình huống ứng phó với những đổi thay

Khả năng thích ứng với những thay đổi của một người là rất quan trọng, bởi vì cuộc sống không phải là một kịch bản đã định sẵn. Cho dù chúng ta đã lên kế hoạch rất tốt cho nhiều việc, nhưng vẫn có thể xảy ra một số vấn đề tạm thời, lúc này khả năng thích ứng với những thay đổi sẽ rất quan trọng. Nếu bạn có thể thay đổi phương pháp để thích ứng với sự thay đổi của hoàn cảnh, cuối cùng bạn vẫn có thể đạt được thành công; nếu bạn không thể thích ứng với hoàn cảnh, bạn sẽ kết thúc trong thất bại.

Hãy ghi nhớ 7 điều này, để giúp bạn có thể nhận biết được người trong thiên hạ!

Nhất Tâm biên tập

Nguồn: aboluowang (Vương Hòa)

PHẬT KHAI (Thơ)

 



“Phật khai tinh trí tâm hồn sáng

Đẹp đóa hoa từ ánh thiện khơi”

 

PHẬT tánh linh huyền tỏa khắp nơi,

KHAI dòng pháp bảo thấu tà rơi.

TINH thần minh mẫn tươi đường thuận,

TRÍ lực ngô nghê khó nẻo ngời,

TÂM lặng người qui luôn mãi tiến,

 HỒN cuồng phách lạc chẳng còn vui.

SÁNG niềm hạnh nguyện soi phương giác,

ĐẸP ĐÓA HOA TỪ ÁNH THIỆN KHƠI.


Minh Đạo


https://quangduc.com/a75149/phat-khai

Chủ Nhật, 2 tháng 4, 2023

LẬP HẠNH - TRANG NGHIÊM CÕI TỊNH - DUYÊN ĐỜI (Thơ)


 Chùm thơ tháng 4/2023 đăng trên Nguyệt San Chánh Pháp: 

CHÁNH PHÁP Số 137, tháng 04.2023

LẬP HẠNH
 
Lập hạnh rèn tu đẹp cõi đời
Dương trần phúc ấm chẳng nào vơi
Tâm an kệ tụng phiền đâu buộc
Dạ dữ lòng rong ác khó rời

Gặp Pháp xin nguyền nương tựa Phật
Theo Thầy lĩnh giáo đền ơn Tăng
Ngày đêm cứ thế xa dần khổ
Hỷ lạc tuôn tràn rải khắp nơi.
 
TRANG NGHIÊM CÕI TỊNH
 
Huyền linh trải rộng chẳng vô tri
Vạn cảnh xoay vần rõ tế vi
Cứ gởi tâm rong… còn lỡ nữa!
Thêm hoài mộng tưởng… để không gì
Kinh thâm mãi tụng càng nhanh tỏ
Pháp bảo luôn cầu chớ nhọc nghi
Đạo hạnh ân sư thời giáo dưỡng
Nguồn chơn vốn tịnh bất tư nghì.
 
DUYÊN ĐỜI
 
Trần gian đã xuống bởi duyên đời
Phận dỗi thăng trầm… Sóng biển khơi
Rõ biết quần sinh đều tạm gởi
Rồi ra vạn nỗi vốn đau mời
Thân hờ rán ngẫm… càng thương hỡi
Kiếp bạc suy hoài… xả lỡ vơi
Tự hiểu… nào ai cùng cõng với
Buồn chi lẽ đạo ứng trong trời…
 
MINH ĐẠO