Thứ Bảy, 22 tháng 3, 2014

THÓI ĐỜI


   Một cụ già hưu trí ở thành phố Thái Nguyên (tỉnh Thái Nguyên) đã gọt giũa câu chữ thành những câu thành ngữ thời hiện đại, khiến người đọc xót lòng, xót dạ.

1 .Dy con tr vn li hay, không bng na ngày làm gương, làm mu.
2. Cha m ch biết cho, chng biết đòi. Con cái thích vòi mà không biết tr.
3. Dâu, r tt cha m được đ cao. Con cái hn hào đt mười khúc rut.
4. Cha m dy điu hay, kêu lm li. Bước chân vào đi ng nga ng ngn.
5. Cha n coi khinh, m dám coi thường. Bước chân ra đường phi trm thì cướp.
6. Cha m ngi đy không hi, không han. Bước vào cơ quan cúi chào thtrưởng.
7. Con trai chào trăm câu không bng nàng dâu mt li thăm hi.
8. Khôn đng cãi người già, ch có di mà chi nhau vi tr.
9. Gi cha: ông kht, gi m: bà bô. Ăn nói xô b thành người vô đo.
10. Mi cây mi hoa, đng trách m cha nghèo tin nghèo ca.
11. Cái gì cũng cho con tt c, coi chng ra m mà cười.
12. Đng tin trên nghĩa, trên tình, mái m gia đình tr thành mái lnh.
13. Gian nhà, hòn đt, mt c anh em. Mái m bng nhiên tr thành mái nóng.
14. B m không có ca ăn ca đ, con r khinh luôn.
15. Coi khinh bên ngoi, ch mong có r hin.
      Ăn  mt c h hàng, ch mơ có nàng dâu tho.
16. R quý b v vì có nhà mt ph.
      Con trai thương b vì chc vì quyn.
17. Đi vi Bt mc áo cà sa
      Quen sng bê tha thân tàn ma di.
18. Ngi bên bia rượu hàng gi, d hơn đi ch na giây đèn đ.
20. Ci mc khó đun, chng cùn sng by, con cái mt dy, phí c mt đi.
21 Hay thì , d ra toà, chia ca chia nhà, con vào xóm “bi”.
22. Ngi cùng thiên h, trăm vic khoe hay
      M m by ngày không li thăm hi.
23.  Đi có bn đường chân không biết mi, còn có m cha sao không hi khi cn.
24. Nói gn nói xa, đng biến m già thành bà đi .
25. Bài hát Tây Tàu hát hay mi nh
      Li ru ca m chng thuc câu nào.
26. Con trai, con r bí t say mm
      Nàng dâu ngi chơi, m già ra bát.
27. Kho mnh m  vi con, đau m gy còm tuỳ nghi di tn.
28. Tht lưng buc bng nhn đói nuôi con, dâu r vuông tròn, cui đi chết rét.
39. M chết m m chưa yên, anh em xô nhau chia tin phúng viếng.
30. Khn Pht, cu Tri, l bái khp nơi, nhưng quên ngày gi T.
31. Vào quán tht cy, trăm ngàn coi nh, góp gi cha m suy t tng đng.
32. Gi cha coi nh, nuôi m thì không
      C v ln chng đi làm t thin.
33. Mt miếng ngt bùi khi còn cha m, mt miếng bánh đa hơn mười ba mâm báo hiếu.
34. Cha m còn thơm tho bát canh rau
      Đng đ mai sau xây m to, m đp.
35.  đi bt thin, là ti nhàn cư
      Con cháu mi hư đng cho là hng.
36. Bn bè tri k, nói thng nói ngay
      Con cháu chưa hay đng chê đ b.
37. By mươi còn phi hc by mt
      Mi nhy vài bước ch vi khoe tài.
38. Phong bì trao trước, bia bt ung sau, dâu r ngi đâu đ ai mà biết!
39. Tiếp th vào nhà bm mép, cn thn cnh giác, đôi dép không còn.
40. Cu th thế gii tên gi chi chi, thoáng nhìn tivi đc như cháo chy, ông ni ngi đy th hi tên gì?
N.V.Ph - Hội Người cao tuổi phường Tân Thành
(TP Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên)

(Trích email của anh QuangNgo@....)


Thứ Sáu, 21 tháng 3, 2014

CHIẾC BÁNH BỊ CHÁY



   Một người phụ nữ phải làm việc 8h/ngày lại còn chăm sóc gia đình và làm hết mọi công việc của một người nội trợ! Một ngày nọ cô mệt nhoài với hàng tá công việc ở cơ quan khiến cô có cảm giác như kiệt sức! Về nhà cô còn phải dọn dẹp nhà cửa và nấu ăn cho chồng và con của cô! Khi người chồng đón con từ trường về, cũng là lúc cho nướng xong mẻ bánh quy trong lò! Thế nhưng vì quá mệt nên cô đã để quên nó một lúc khiến cho một vài chiếc bị cháy!
    Lúc ăn tối, đ...ứa con quan sát xem có ai nói gì về những chiếc bánh cháy đó không nhưng chẳng có ai lên tiếng cả! Khi dọn bắt đĩa, người vợ ngỏ ý xin lỗi về những chiếc bánh cháy nhưng người chồng dịu dàng nói: có gì mà em phải xin lỗi chứ, hơn nữa mùi vị nhưng chiếc bánh ấy rất ngon! Người vợ mỉm cười hạnh phúc!
   Khi đưa con đi ngủ, nó thì thầm hỏi bố nó: có thật bố thích ăn bánh quy cháy không? Không con ạh, anh ta nói với con! Nhưng hôm nay mẹ con rất mệt mà vẫn phải chuẩn bị bữa ăn cho ố con chúng ta! Không nên làm mẹ buồn mà một vài chiếc bánh cháy có ảnh hưởng đến ai đâu chứ!
  Thế đấy, có bao nhiêu người không để ý đến một vài chiếc bánh cháy trên đĩa bánh? Không nhiều lắm phải không bạn! Cũng như vết mực đen trên tờ giấy trắng! Có lúc chúng ta chỉ biết nhìn vào những sai lầm, khuyết điểm của người khác để rồi lên tiếng chỉ trích mà quên rằng họ đã cố gắng rất nhiều!
-
                                                             Nguồn Internet


Thứ Năm, 20 tháng 3, 2014

QUAN NIỆM PHẬT GIÁO VỀ THIÊN ĐƯỜNG VÀ ĐỊA NGỤC



  Người Phật Tử không chấp nhận những nơi đó là trường cửu.                       Thật vô lý khi đầy đọa một người nào đó vào địa ngực vĩnh viễn vì những nhược điểm của y nhưng rất hợp lý nếu cho y có cơ hội tự mình tu sửa. Theo quan điểm Phật Giáo, những kẻ bị vào địa ngục có thể tự chuyển hóa để hướng thượng do những công đức đã tạo được trước đó. Cửa địa ngục không khóa. Địa ngục chỉ là một nơi tạm bợ và không có lý do nào bắt những chúng sanh đó phải chịu đau khổ mãi mãi ở nơi đó.Giáo lý của Đức Phật cho chúng ta thấy có thiên đường và địa ngục không những bên kia thế giới này, mà cũng có ngay chính trong thế giới này.
  Do vậy, quan niệm thiên đường và địa ngục rất hợp lý. Chẳng hạn, Đức Phật một lần nói: “khi người thiểu trí cỡ trung bình khẳng định là có Địa Ngục dưới đại dương, kẻ đó đã quyết đoán sai lầm và vô căn cứ”. “Địa Ngục” là từ ngữ dùng để chỉ những cảm giác đau đớn. Ý kiến về một nơi chốn đặc biệt đã được tạo sẵn hoặc một cảnh giới tạo ra bởi thượng đế như thiên đường và địa ngục không thể chấp nhận được theo quan niệm Phật Giáo.Lửa địa ngục trong thế giới này còn nóng hơn lửa địa ngục bên kia thế giới. Không có lửa nào bằng lửa sân hận, ái dục, tham lam và si mê.
  Theo Đức Phật chúng ta đang bị thiêu đốt bởi mười một loại đau khổ vật chất và tinh thần: tham lam, sân hận, bệnh ảo tưởng, suy tàn, chết, lo âu, than van, đau đớn (vật chất và tinh thần) sầu muộn và nuối tiếc. Con người có thể đốt cháy toàn thể thế giới với các loại lửa này do sự thiếu điều hòa về tâm linh. Theo một quan điểm Phật Giáo, cách dễ nhất định nghĩa địa ngục và thiên đường là bất luận nơi đâu có nhiều khổ đau ở thế gian này hay trong bất cứ cảnh giới nào, chỗ đó là địa ngục cho những người đau khổ. Nơi đâu có nhiều lạc thú và hạnh phúc, ở thế gian này hay trong bất cứ cảnh giới nào khác, cõi đó là thiên đường cho những người vui hưởng đời sống trần thế tại nơi chốn đặc biệt đó.
  Tuy nhiên, cảnh giới của loài người có lẫn lộn cả đau đớn lẫn sung sướng, con người kinh nghiệm được cả đau khổ lẫn hạnh phúc, và do đó có thể chứng nghiệm được bản chất thực sự của đời sống. Nhưng ở nhiều cảnh giới, chúng sinh nơi đó ít có cơ hội coù được sự chứng ngộ này. Có nơi, đau khổ nhiều hơn hạnh phúc, có nơi lạc thú nhiều hơn đau khổ.Người Phật Tử tin rằng sau khi chết sẽ có tái sanh vào một trong số những kiếp sống có thể có được. Kiếp sống tương lai này đưôïc tạo nên bởi chập tư tưởng cuối cùng của một người lúc sắp chết. Tư tưởng cuối cùng này quyết định kiếp sống tương lai do kết quả những hành động quá khứ của người đó trong kiếp này hoặc kiếp trước.
  Vậy nên, nếu tư tưởng mạnh nhất phản ảnh được hành động phước đức, người đó sẽ có một kiếp sống tương lai hạnh phúc. Nhưng tình trạng đó chỉ tạm bợ đến khi phước đức cạn hết, kiếp sống khác phải bắt đầu và cứ như vậy tiếp diễn, do “nghiệp” lực quyết định. Tiến trình này tái diễn liên tục và vô tận chỉ trừ khi ta đạt tới “Chánh Kiến” và nhất quyết đi theo Bát Chánh Đạo mới mang lại cho ta hạnh phúc tối thượng Niết Bàn.
  Thiên đường là một cõi tạm dành cho những ai đã tạo được nhiều hành động tốt đẹp được hưởng những lạc thú giác quan thêm một thời gian dài nữa. Địa ngục là một cõi tạm khác mà những người tội lỗi phải chịu thêm nhiều đau khổ về vật chất và tinh thần. Không có lý do nào để tin là các nơi đó thường còn. Không có thượng đế ở sau hậu trường thiên đưòng và địa ngục. Mỗi và mọi người đều kinh nghiệm khác nhau tùy theo thiện hay ác nghiệp của mình. Người Phật Tử chưa bao giờ thuyết phục ai đến với Đạo mình bằng cách đe dọa lửa điạ ngục hay cám dỗ bằng thiên đường.
  Lý tưởng chính của họ là xây dựng cá tính và huấn luyện tinh thần. Người Phật Tử tu tập không cần phải nhắm đến thiên đường hay phát triển tâm sợ hãi địa ngục. Bổn phận của họ là sống đứng đắn bằng cách giữ vững những phẩm tính của con người và niềm an lạc trong tâm
                                          Hòa thượng K. Sri Dhammananda
                                                   Thích Tâm Quang dịch Việt 


Chủ Nhật, 16 tháng 3, 2014

CÓ VÀ KHÔNG



  Có một vị cư sĩ đến học đạo và thỉnh vấn Trí Tạng thiền sư như sau: “Xin hỏi thiền sư thiên đường và địa ngục có hay không?”. Thiền sư trả lời “có”.
Ông ta hỏi tiếp: “xin hỏi Phật và Bồ tát có không?”
  - “Có”
  - “Xin hỏi có nhân quả báo ứng không?”
  - “Có”
    Ông ta hỏi bất cứ điều gì, Trí Tạng thiền sư đều trả lời “có”.
   Sau khi nghe xong vị cư sĩ này cảm thấy hoài nghi liền phản ứng rằng:“thiền sư! Ngài nói sai rồi”.
   Thiền sư ôn tồn đáp “tôi nói sai ở đâu?”
   Vị cư sĩ cao giọng nói “con đã hỏi Kinh Sơn thiền sư và Ngài đều nói "không"”.
  - "Nói “không” như thế nào?"
  - "Con hỏi: có nhân quả báo ứng không? Kinh Sơn thiền sư nói “không”; có Phật Bồ tát không? trả lời “không”; có thiên đường địa ngục không? cũng nói “không” và con hỏi những gì thì Kinh Sơn thiền sư đều trã lời “không”. Nhưng ngược lại đối với Ngài thì tất cả đều nói “có”."
   Trí Tạng thiền sư hiểu rỏ căn tánh và trình độ của vị cư sĩ ở cấp bậc nào rồi và vui vẻ nói: “Ồ! ông có vợ không?” Vị cư sĩ thưa “dạ có”“ông có con không?” - “dạ có”“Ông có tiền của không?” - “dạ có”“Ông có nhà cửa xe cộ không?” - “dạ có”.
   Trí Tạng thiền sư lại hỏi tiếp: “Kinh Sơn thiền sư có vợ không?” Vị cư sĩ nọ thưa “dạ không”“Kinh Sơn thiền sư có con không?” - “dạ không”“Kinh Sơn thiền sư có tiền của nhà cửa không?” - “dạ thưa không”.
Trí Tạng thiền sư kết luận: "vì thế Kinh Sơn thiền sư trả lời với Ông “không”. Ta Trả lời với Ông“có” vì Ông có vợ, con,..."
   Vấn đề này đối với người này nói “có”, đối với người khác nói “không” như vậy có khác nhau không? Thật ra, không có gì khác cả, đạo thì chỉ có một, “có” “không” là hai mặt của đạo mà thôi. Đạo là tùy theo căn tánh của con người mà có khác nhau. Hỏi đáp và trả lời của thiền sư lúc thì “có” lúc thì “không” chỉ vì trình độ của chúng ta có khác hoặc là thứ tự hiểu biết vấn đề của chúng ta có khác nhau mà thôi.
                                               Như  Nguyện dịch(Theo zhongguofojiaowang)