
Mục đích của Đạo Phật là diệt
khổ và đem vui cho mọi loài, nhưng phải là người có trí mới biết được con
đường đưa đến an lạc và hạnh phúc. Mục đích của Đạo Phật là giải thoát và
giác ngộ, và chỉ có trí tuệ (Pannà) mới là phương tiện duy nhất đưa loài
người đến bờ giải thoát và giác ngộ.
Do vậy giai trò của người có
trí và vai trò của trí tuệ chiếm cứ vị trí then chốt trong mọi lời dạy của
Đức Bổn Sư chúng ta. Và chúng ta có thể nói Đạo Phật là đạo của người trí, là
đạo của tuệ giác để tìm cho được một định nghĩa thỏa đáng cho Đạo Phật.
Trước hết chúng ta nên phân
biệt giữa người có trí thức như thông thường được hiểu và người có trí tuệ
như Đạo Phật thường định nghĩa. Người có trí thức là người có thể có một trí
thức uyên bác về một vấn đề gì, có thể phân tích trình bày vấn đề ấy một cách
khúc chiết và triệt để, nhưng người ấy là người chỉ biết chớ không có hành,
và người ấy đối với vấn đề ấy vẫn có thể bị chi phối, không được tự tại. Ví
như một người có thể hiểu biết rất nhiều về vấn đề rượu, hiểu rượu gồm có
những chất liệu gì, tác động của rượu đối với cơ thể như thế nào. Người ấy
gọi là người có trí thức về rượu nhưng người ấy vẫn uống rượu, vẫn bị say
rượu, vẫn bị rượu chi phối. Như vậy người ấy vẫn chưa có trí tuệ về rượu.
Trái lại, một người hiểu rõ được rượu là gì, biết rõ được sự nguy hại của
rượu, lại có khả năng không bị rượu chi phối, không uống rượu, không nghiện
rượu, không say rượu, vượt ra khỏi sự chi phối của rượu. Như vậy người ấy
được xem là người có trí tuệ về rượu. Có người hỏi, nếu có người không có trí
thức về rượu, nhưng không uống rượu, người ấy được xem là có trí tuệ không?
Lẽ dĩ nhiên là không. Người ấy vẫn hưởng được những lợi ích do không uống
rượu đưa đến, như không say rượu, không nghiện rượu do cử chỉ không uống rượu
của mình. Nhưng rất có thể, trong một trường hợp đặc biệt nào đó, vì thiếu
khả năng đối trị với sự cám dỗ của rượu, vị ấy bắt đầu uống rượu, đi đến say
rượu và nghiện rượu. Với sự phân biệt này chúng ta mới hiểu được định nghĩa
người có trí như đã được Đức Phật định nghĩa rất rộng rãi trong những lời dạy
của Ngài. Sự phân biệt này giúp chúng ta nhận định hai hạng người thường có
trong những người Phật tử. Một hạng người rất uyên bác trong Đạo Phật, hiểu
biết về kinh điển rất nhiều, nhưng vẫn xem là người không có trí tuệ. Hạng
người này hiện có khá nhiều trong những học giả, thuần túy nghiên cứu Đạo
Phật, uyên thâm trong ba tạng giáo điển, cả ba tạng nguyên thủy lẫn ba tạng
phát triển, nhưng chỉ có nghiên cứu, không có hành trì. Chỉ nói hành thiền
giỏi nhưng không hành thiền, trình bày hay về diệu dụng của trí tuệ, nhưng
không phát triển trí tuệ, do vậy cũng chưa được gọi là có trí tuệ. Một hạng
người khác, có lòng tín thành, hành trì theo những giới cấm trong Đạo Phật,
nhưng chỉ có lòng tin, chưa chuyển lòng tin thành trí, nên cũng không thể xem
là người có trí tuệ được vì người ấy vẫn có khả năng bị tham sân si chi phối
và do vậy, chưa được xem là người có trí tuệ.
Tuy vậy, người có trí tuệ
được đề cập rất nhiều trong những lời dạy của Ngài, và người có trí ở đây
được diển tả như một thứ lương tri, giúp chúng ta phân biệt chánh tà, thiện
ác, tịnh uế, lạc khổ, thắng liệt. Điều quan trọng là trí tuệ ở nơi đây không
còn là một đặc tánh hy hữu, có một không hai, mà trở thành như một thứ lương
tri luôn luôn có mặt trong chúng ta, tác động như một ngọn đèn soi sáng chúng
ta biết phân biệt chọn lựa giữa thiện và ác, giữa chánh với tà, khiến chúng
ta có thể nhận biết những gì nên làm, những gì không nên làm, để chúng ta tự
hướng dẫn mình tiến đến an lạc và giải thoát. Diệu dụng này được Đức Bổn Sư
chúng ta khéo léo diển tả đặc tánh, những thái độ, những việc làm của hai
hạng người, được gọi là kẻ ngu và người trí. Khi đọc qua những đoạn kinh diển
tả người ngu và người trí, chính lương tri chúng ta trở thành sinh động, giúp
chúng ta nhận hiểu một cách rõ ràng những gì là tốt đẹp và những gì là không
tốt đẹp cho mình và cho người.
Tăng Chi, Chương Ba Pháp,
Phẩm Người Ngu, nêu rõ sự sai khác một trời một vực giữa người ngu và người
trí: "Thành tựu với ba pháp, này các Tỷ-kheo, người ngu được biết
đến. Thế nào là ba? Thân làm ác, miệng nói ác, ý nghĩ ác... Thành tựu với ba
pháp, này các Tỷ-kheo, người trí được biết đến. Thế nào là ba? Thân làm
thiện, miệng nói thiện, ý nghĩ thiện" (Tăng Chi, III-2).
Cũng theo ý nghĩa này, Đức
Phật nói thêm: "Phàm có sợ hãi nào khởi lên, này các Tỷ-kheo, tất cả
sự sợ hãi đó khởi lên từ người ngu, không phải từ người hiền trí. Phàm có
những nguy hiểm nào khởi lên, tất cả những nguy hiểm ấy khởi lên từ người
ngu, không phải từ người hiền trí. Phàm có những tai họa nào khởi lên, tất cả
những tai họa ấy khởi lên từ người ngu, không phải từ người hiền trí ... Như
vậy người ngu có sợ hãi, người trí không sợ hãi, người ngu có nguy hiểm,
người trí không có nguy hiểm, người ngu có tai họa, người trí không có tai
họa. Này các Tỷ-kheo, không có sợ hãi đến với người trí, không có nguy hiểm
đến với người trí, không có tai họa đến với người trí" (Tăng Chi,
III-1). Thật là một sự xác chứng quá rõ rệt về sự sai biệt giữa người ngu và
người hiền trí, dưới cái nhìn của một bậc đã giác ngộ.
Một sự sai khác rõ rệt giữa
người ngu và kẻ trí là đối với các cảm thọ. Người ngu khi gặp khổ thọ về thân
thường sầu muộn, than van, khóc lóc, đập ngực đi đến bất tỉnh. Đức Phật ví dụ
như người rơi vào vực thẳm, không đứng trên bờ, không đạt chỗ chân đứng an
toàn. Còn bậc trí, đối với khổ thọ về thân, thời "không sầu muộn,
không than van, không khóc lóc, không đập ngực, không đi đến bất tỉnh".
Như vậy Đức Phật dạy vị ấy được gọi là: "Bậc Thánh đệ tử nghe nhiều đã
đứng trên bờ vực thẳm, đã đạt tới chỗ chân đứng an toàn" (Tương Ưng,
IV-4). Bậc Đạo Sư lại nói thêm: "Người ngu si nghe ít, khi cảm xúc
khổ thọ, thời sầu muộn, than van, khóc lóc, đập ngực, đi đến bất tỉnh."
Như vậy cảm thọ hai loại cảm thọ, cảm thọ về thân và cảm thọ về tâm. Đức Phật
ví như người bị bắn trúng hai mũi tên, vừa đau khổ về thân, vừa đau khổ về
tâm. Lại nữa, người ngu si ít nghe, khi cảm xúc khổ thọ, cảm thấy sân hận nên
sân tùy miên tồn tại và tăng trưởng. Vị ấy tìm sự xuất ly khỏi khổ thọ bằng
cách hoan hỷ dục lạc, do không tìm được một xuất ly nào khác. Do hoan hỷ dục
lạc ấy, tham tùy miên đối với lạc thọ tồn tại và tùy tăng. Vị ấy không như
thật biết sự tập khởi, sự chấm dứt, vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly của
các cảm thọ ấy. Do vậy vô minh tùy miên đối với bất khổ bất lạc thọ tồn tại
và tùy tăng. Như vậy, nếu vị ấy cảm giác khổ thọ, cảm giác lạc thọ, cảm giác
bất khổ bất lạc thọ, vị ấy cảm giác như người bị trói buộc. Ở đây, Đức Phật
dạy: "Người ngu si nghe ít, bị trói buộc bởi sanh già bệnh chết, sầu
bi khổ ưu não. Ta nói rằng người ấy bị trói buộc bởi đau khổ" (Tương
Ưng, IV-36-6).
Còn đối với bậc Thánh đệ tử
nghe nhiều, khi cảm xúc khổ thọ, không sầu muộn than van, khóc lóc, đập ngực,
đi đến bất tỉnh. Vị ấy chỉ cảm giác một cảm thọ, tức cảm thọ về thân, không
cảm thọ về tâm. Đức Phật ví như người ấy bị bắn bởi một mũi tên, chỉ đau khổ
về thân, không đau khổ về tâm. Lại nữa vị Thánh đệ tử nghe nhiều, khi cảm xúc
khổ thọ, không cảm thấy sân hận nên sân tùy miên không tồn tại tăng trưởng.
Vị ấy tìm được sự xuất ly ra khỏi khổ thọ, ngoài dục lạc. Vị ấy, không hoan
hỷ dục lạc, nên tham tùy miên đối với dục lạc không có tồn tại, không có tùy
tăng. Vị ấy như thật tuệ tri sự tập khởi, sự chấm dứt, vị ngọt, sự nguy hại
và sự xuất ly của những cảm thọ ấy. Do vậy vô minh tùy miên đối với bất khổ
bất lạc thọ không tồn tại, không có tùy tăng. Như vậy, vị Thánh đệ tử nghe
nhiều ấy cảm giác khổ thọ, cảm giác lạc thọ, cảm giác bất khổ bất lạc thọ,
không có như người bị trói buộc. Ở đây Đức Phật dạy: "Vị Thánh đệ tử
nghe nhiều, không bị trói buộc bởi sanh già bệnh chết, sầu bi khổ ư não. Ta
nói người ấy không bị trói buộc bởi đau khổ" (Tương Ưng, IV-36-6).
Được hỏi sự sai khác giữa
người ngu và bậc hiền trí, đối với các thân do vô minh che đậy, do ác phược
ràng buộc khởi lên quan điểm có thân này, có danh sắc ở ngoài. Do duyên thân
này, có sáu xúc xứ và có cảm thọ lạc khổ. Vậy có sự sai khác gì giữa bậc hiền
trí và kẻ ngu? Đức Phật dạy: "Này các Tỷ-kheo, bị vô minh che đậy, bị
tham ái trói buộc, thân này của người ngu được sanh khởi. Vô minh ấy, người
ngu không đoạn tận. Tham ái ấy, người ngu không tận trừ. Vì cớ sao? Này các
Tỷ-kheo, người ngu sống phạm hạnh không phải vì chơn chánh đoạn tận khổ đau.
Do vậy, người ngu khi thân hoại mạng chung, đi đến một thân khác. Do đi đến
một thân khác, vị ấy không thoát khỏi sanh già chết, sầu bi khổ ưu não. Ta
nói rằng vị ấy không thoát đau khổ" (Tương Ưng, II-12-19).
"Và này các Tỷ-kheo,
bị vô minh che đậy, bị tham ái hệ phược, thân người Hiền trí được sanh khởi. Vô
minh ấy, người hiền trí đoạn tận. Tham ái ấy, người hiền trí tận trừ. Vì sao?
Này các Tỷ-kheo, người hiền trí sống Phạm hạnh, vì chơn chánh đoạn trừ khổ
đau. Do vậy, người Hiền trí, khi thân hoại mạng chung không đi đến một thân
khác, vị ấy giải thoát khỏi sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não.Ta nói
rằng: Vị ấy thoát khỏi đau khổ." (Tương Ưng, II-12-19).
|