Thứ Sáu, 24 tháng 2, 2017

ÂN GIÁO DƯỠNG (Tánh Thiện)

 
 

Năm 1983 Ôn Mãn Giác gởi con qua Làng Hồng tu học dưới sự hướng dẫn của Ôn Nhất Hạnh . Nay , con viết bài để nhớ về hai Ôn .
 
 
Ân Giáo Dưỡng
Thành kính dâng lên Ôn Nhất Hạnh và tưởng nhớ về Ôn Mãn Giác .

Ân sanh dưỡng từ mẹ cha nuôi lớn
Công ơn Thầy khai trí cả đời con
Dẫu vô thường sanh diệt mất hay còn
Con vẫn nhớ tình Thầy luôn mãi mãi .

Đường Thầy đi là con đường vô ngại
Bước chân Thầy hoà nhịp ánh ban mai
Tình của Thầy như biển rộng sông dài
Bao thế hệ Thầy chở che thuần nhất .

Hiên chùa cũ ngày xưa mưa thấm đất
Nhưng nắng về sạch mát cảnh thiền môn
Bao lời Thầy sưởi ấm cả xóm thôn
Đêm canh thức bên vầng trăng sáng tỏ .

                      Tánh Thiện
 

 

10 LOẠI THỰC PHẨM CỰC ĐỘC CẦN TRÁNH XA


 
Có một số loại thực phẩm rất ngon và giàu dinh dưỡng. Tuy nhiên, nếu ăn không đúng cách sẽ nguy hại tới tính mạng.
  
Hãy nói “không” với 10 loại thực phẩm dưới đây:

Khoai tây mọc mầm
thuc-pham-khong-duoc-an
Nhiều người có thói quen tích trữ đồ ăn, tuy nhiên để lâu ngày sẽ khiến những thực phẩm này dễ bị hỏng. Đặc biệt là khoai tây để lâu để trong môi trường ẩm ướt sẽ rất dễ bị mọc mầm. Các chuyên gia khuyến cáo tuyệt đối không được ăn khoai tây khi đã mọc mầm do lúc này, trong khoai tây có chứa chất độc solamine. Chất này dễ gây kích thích ảnh hưởng tới dạ dày, hệ thần kinh trung ương. Ngoài ra, ăn khoai tây đã mọc mầm dẫn tới tình trạng đau bụng, buồn nôn, thậm chí suy hô hấp.
 
Cà chua xanh
thuc-pham-khong-duoc-an1
Cà chua chín có thể ăn sống được, nhưng đối với cà chua xanh thì tuyệt đối không được ăn đặc biệt là ăn sống. Bởi trong cà chua xanh có chứa chất độc solanine, khi ăn phải sẽ gây ra một số triệu chứng đau đầu, nôn mửa, chóng mặt…
Tốt nhất chỉ nên ăn cà chua khi chúng đã chín hẳn, không chỉ giúp ngon miệng hơn mà còn an toàn cho sức khỏe.
 
Dưa muối chưa chín kĩ
Nếu ăn dưa muối khi chưa chín sẽ rất có hại cho sức khỏe. Vì trong một vài ngày đầu muối dưa, vi sinh vật sẽ chuyển hóa nitrat trong các nguyên liệu thành nitric, làm hàm lượng nitric tăng cao, độ pH giảm dần.
thuc-pham-khong-duoc-an2
Ăn dưa ở giai đoạn này thì có vị cay, hăng, hơi đắng vì chưa đạt yêu cầu. Loại dưa này chứa nhiều nitrate, ăn vào rất có hại cho cơ thể.
 
Gừng dập nát
Gừng tươi là thực phẩm không nên để lâu bởi sau một vài ngày nó sẽ bị mềm, tóp đi và hỏng dần ở các nhánh nhỏ và các vết cắt. Nếu vì tiếc rẻ mà dùng tiếp thì sẽ nguy hại cho sức khỏe.
thuc-pham-khong-duoc-an3
Theo một số nghiên cứu thấy rằng do quá trình dập nát, cũ hỏng mà bên trong củ gừng đã xảy ra một chất độc hại có tên là shikimol. Chất này nằm trong cả củ gừng chứ không phải chỉ ở phần giập nát nên không thể cắt bỏ hết. Đây là hoạt chất với độc tính rất cao có thể gây sự biến đổi tế bào gan của một người đang khoẻ mạnh, cho dù lượng chất này có thể bị hấp thụ rất ít.
 
Chè bị mốc
chexanh
Chè bị mốc thường bị nhiễm penicillin và aspergillus. Nếu uống trà bị mốc, nhẹ cũng cảm thấy chóng mặt, tiêu chảy.
 
Đậu xanh nấu chưa kĩ
dau-xanh
Đậu xanh có chứa saponin và lectins, saponin, một chất gây kích thích mạnh mẽ đối với đường tiêu hóa của con người, có thể gây ra viêm xuất huyết, giải thể các tế bào máu đỏ. Trong đậu cũng chứa hemagglu tin in với tập hợp tế bào máu đỏ gây ra ngộ độc sau khi ăn. Vì vậy nếu ăn đậu xanh chưa nấu chín dễ bị ngộ độc.
 
Bắp cải thối
bap cai
Trong bắp cải thối có chứa nitrite, chất này đóng vai trò trong sự hình thành methemoglobin trong máu người, khiến máu mất các chức năng oxy, làm cho ngộ độc oxy, chóng mặt, đánh trống ngực, nôn mửa, tím môi… bị nặng có thể gây bất tỉnh, co giật, khó thở, không kịp thời cứu hộ có thể đe dọa tính mạng.
 
Trứng gà sống
trung-ga-song
Lòng trắng trứng gà sống khi ăn vào cơ thể rất khó hấp thu. Trong trứng gà sống có các chất làm cản trở sự hấp thu dinh dưỡng cơ thể và phá hoại công năng tiêu hóa của tụy tạng. Ngoài ra, ăn trứng gà sống rất mất vệ sinh, dễ đưa các vi khuẩn vào cơ thể, gây bệnh.
 
Bí ngô để lâu
bi-ngo
Bí ngô già để lâu chứa hàm lượng đường cao, hơn nữa, do lưu trữ thời gian dài, khiến bên trong bí ngô xảy ra quá trình hô hấp kỵ khí – lên men, và biến chất, vì vậy khi ăn sẽ gây nguy hiểm tới sức khỏe.
 
Mộc nhĩ tươi
moc-nhi
Mộc nhĩ tươi chứa chất nhạy cảm với ánh sáng - chất Porphyrin. Sau khi ăn, với sự chiếu rọi của ánh nắng mặt trời, chúng ta rất dễ bị viêm da, xuất hiện trạng thái ngứa, chứng phù thủng, đau nhức; có người bị phù nề thanh quản sẽ dễ gây nên tình trạng khó thở. Vì vậy, chỉ nên ăn mộc nhĩ khô, ngâm trong nước nấu lên thì mới an toàn.
 
Rau cải nấu chín để qua đêm
rau-cai
Theo Soha, trong rau cải chứa nhiều chất nitrat. Nếu để rau cải qua đêm, do tác dụng của vi khuẩn, muối nitrat chuyển thành muối nitrit, sau khi ăn có thể làm cho tổ chức trong cơ thể thiếu ôxy, xuất hiện triệu chứng trúng độc, đau đầu, chóng mặt, nôn mửa. Ngoài ra, chất nitrit có nguy cơ cao gây ung thư đường ruột.
                                                                                                     Nguồn Internet 
 
 

Thứ Năm, 23 tháng 2, 2017

TRÍ TUỆ TRONG ĐẠO PHẬT



Kết quả hình ảnh cho hoa vô uu


Mục đích của Đạo Phật là diệt khổ và đem vui cho mọi loài, nhưng phải là người có trí mới biết được con đường đưa đến an lạc và hạnh phúc. Mục đích của Đạo Phật là giải thoát và giác ngộ, và chỉ có trí tuệ (Pannà) mới là phương tiện duy nhất đưa loài người đến bờ giải thoát và giác ngộ.
Do vậy giai trò của người có trí và vai trò của trí tuệ chiếm cứ vị trí then chốt trong mọi lời dạy của Đức Bổn Sư chúng ta. Và chúng ta có thể nói Đạo Phật là đạo của người trí, là đạo của tuệ giác để tìm cho được một định nghĩa thỏa đáng cho Đạo Phật.
Trước hết chúng ta nên phân biệt giữa người có trí thức như thông thường được hiểu và người có trí tuệ như Đạo Phật thường định nghĩa. Người có trí thức là người có thể có một trí thức uyên bác về một vấn đề gì, có thể phân tích trình bày vấn đề ấy một cách khúc chiết và triệt để, nhưng người ấy là người chỉ biết chớ không có hành, và người ấy đối với vấn đề ấy vẫn có thể bị chi phối, không được tự tại. Ví như một người có thể hiểu biết rất nhiều về vấn đề rượu, hiểu rượu gồm có những chất liệu gì, tác động của rượu đối với cơ thể như thế nào. Người ấy gọi là người có trí thức về rượu nhưng người ấy vẫn uống rượu, vẫn bị say rượu, vẫn bị rượu chi phối. Như vậy người ấy vẫn chưa có trí tuệ về rượu. Trái lại, một người hiểu rõ được rượu là gì, biết rõ được sự nguy hại của rượu, lại có khả năng không bị rượu chi phối, không uống rượu, không nghiện rượu, không say rượu, vượt ra khỏi sự chi phối của rượu. Như vậy người ấy được xem là người có trí tuệ về rượu. Có người hỏi, nếu có người không có trí thức về rượu, nhưng không uống rượu, người ấy được xem là có trí tuệ không? Lẽ dĩ nhiên là không. Người ấy vẫn hưởng được những lợi ích do không uống rượu đưa đến, như không say rượu, không nghiện rượu do cử chỉ không uống rượu của mình. Nhưng rất có thể, trong một trường hợp đặc biệt nào đó, vì thiếu khả năng đối trị với sự cám dỗ của rượu, vị ấy bắt đầu uống rượu, đi đến say rượu và nghiện rượu. Với sự phân biệt này chúng ta mới hiểu được định nghĩa người có trí như đã được Đức Phật định nghĩa rất rộng rãi trong những lời dạy của Ngài. Sự phân biệt này giúp chúng ta nhận định hai hạng người thường có trong những người Phật tử. Một hạng người rất uyên bác trong Đạo Phật, hiểu biết về kinh điển rất nhiều, nhưng vẫn xem là người không có trí tuệ. Hạng người này hiện có khá nhiều trong những học giả, thuần túy nghiên cứu Đạo Phật, uyên thâm trong ba tạng giáo điển, cả ba tạng nguyên thủy lẫn ba tạng phát triển, nhưng chỉ có nghiên cứu, không có hành trì. Chỉ nói hành thiền giỏi nhưng không hành thiền, trình bày hay về diệu dụng của trí tuệ, nhưng không phát triển trí tuệ, do vậy cũng chưa được gọi là có trí tuệ. Một hạng người khác, có lòng tín thành, hành trì theo những giới cấm trong Đạo Phật, nhưng chỉ có lòng tin, chưa chuyển lòng tin thành trí, nên cũng không thể xem là người có trí tuệ được vì người ấy vẫn có khả năng bị tham sân si chi phối và do vậy, chưa được xem là người có trí tuệ.
Tuy vậy, người có trí tuệ được đề cập rất nhiều trong những lời dạy của Ngài, và người có trí ở đây được diển tả như một thứ lương tri, giúp chúng ta phân biệt chánh tà, thiện ác, tịnh uế, lạc khổ, thắng liệt. Điều quan trọng là trí tuệ ở nơi đây không còn là một đặc tánh hy hữu, có một không hai, mà trở thành như một thứ lương tri luôn luôn có mặt trong chúng ta, tác động như một ngọn đèn soi sáng chúng ta biết phân biệt chọn lựa giữa thiện và ác, giữa chánh với tà, khiến chúng ta có thể nhận biết những gì nên làm, những gì không nên làm, để chúng ta tự hướng dẫn mình tiến đến an lạc và giải thoát. Diệu dụng này được Đức Bổn Sư chúng ta khéo léo diển tả đặc tánh, những thái độ, những việc làm của hai hạng người, được gọi là kẻ ngu và người trí. Khi đọc qua những đoạn kinh diển tả người ngu và người trí, chính lương tri chúng ta trở thành sinh động, giúp chúng ta nhận hiểu một cách rõ ràng những gì là tốt đẹp và những gì là không tốt đẹp cho mình và cho người.
Tăng Chi, Chương Ba Pháp, Phẩm Người Ngu, nêu rõ sự sai khác một trời một vực giữa người ngu và người trí: "Thành tựu với ba pháp, này các Tỷ-kheo, người ngu được biết đến. Thế nào là ba? Thân làm ác, miệng nói ác, ý nghĩ ác... Thành tựu với ba pháp, này các Tỷ-kheo, người trí được biết đến. Thế nào là ba? Thân làm thiện, miệng nói thiện, ý nghĩ thiện" (Tăng Chi, III-2).
Cũng theo ý nghĩa này, Đức Phật nói thêm: "Phàm có sợ hãi nào khởi lên, này các Tỷ-kheo, tất cả sự sợ hãi đó khởi lên từ người ngu, không phải từ người hiền trí. Phàm có những nguy hiểm nào khởi lên, tất cả những nguy hiểm ấy khởi lên từ người ngu, không phải từ người hiền trí. Phàm có những tai họa nào khởi lên, tất cả những tai họa ấy khởi lên từ người ngu, không phải từ người hiền trí ... Như vậy người ngu có sợ hãi, người trí không sợ hãi, người ngu có nguy hiểm, người trí không có nguy hiểm, người ngu có tai họa, người trí không có tai họa. Này các Tỷ-kheo, không có sợ hãi đến với người trí, không có nguy hiểm đến với người trí, không có tai họa đến với người trí" (Tăng Chi, III-1). Thật là một sự xác chứng quá rõ rệt về sự sai biệt giữa người ngu và người hiền trí, dưới cái nhìn của một bậc đã giác ngộ.
Một sự sai khác rõ rệt giữa người ngu và kẻ trí là đối với các cảm thọ. Người ngu khi gặp khổ thọ về thân thường sầu muộn, than van, khóc lóc, đập ngực đi đến bất tỉnh. Đức Phật ví dụ như người rơi vào vực thẳm, không đứng trên bờ, không đạt chỗ chân đứng an toàn. Còn bậc trí, đối với khổ thọ về thân, thời "không sầu muộn, không than van, không khóc lóc, không đập ngực, không đi đến bất tỉnh". Như vậy Đức Phật dạy vị ấy được gọi là: "Bậc Thánh đệ tử nghe nhiều đã đứng trên bờ vực thẳm, đã đạt tới chỗ chân đứng an toàn" (Tương Ưng, IV-4). Bậc Đạo Sư lại nói thêm: "Người ngu si nghe ít, khi cảm xúc khổ thọ, thời sầu muộn, than van, khóc lóc, đập ngực, đi đến bất tỉnh." Như vậy cảm thọ hai loại cảm thọ, cảm thọ về thân và cảm thọ về tâm. Đức Phật ví như người bị bắn trúng hai mũi tên, vừa đau khổ về thân, vừa đau khổ về tâm. Lại nữa, người ngu si ít nghe, khi cảm xúc khổ thọ, cảm thấy sân hận nên sân tùy miên tồn tại và tăng trưởng. Vị ấy tìm sự xuất ly khỏi khổ thọ bằng cách hoan hỷ dục lạc, do không tìm được một xuất ly nào khác. Do hoan hỷ dục lạc ấy, tham tùy miên đối với lạc thọ tồn tại và tùy tăng. Vị ấy không như thật biết sự tập khởi, sự chấm dứt, vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly của các cảm thọ ấy. Do vậy vô minh tùy miên đối với bất khổ bất lạc thọ tồn tại và tùy tăng. Như vậy, nếu vị ấy cảm giác khổ thọ, cảm giác lạc thọ, cảm giác bất khổ bất lạc thọ, vị ấy cảm giác như người bị trói buộc. Ở đây, Đức Phật dạy: "Người ngu si nghe ít, bị trói buộc bởi sanh già bệnh chết, sầu bi khổ ưu não. Ta nói rằng người ấy bị trói buộc bởi đau khổ" (Tương Ưng, IV-36-6).
Còn đối với bậc Thánh đệ tử nghe nhiều, khi cảm xúc khổ thọ, không sầu muộn than van, khóc lóc, đập ngực, đi đến bất tỉnh. Vị ấy chỉ cảm giác một cảm thọ, tức cảm thọ về thân, không cảm thọ về tâm. Đức Phật ví như người ấy bị bắn bởi một mũi tên, chỉ đau khổ về thân, không đau khổ về tâm. Lại nữa vị Thánh đệ tử nghe nhiều, khi cảm xúc khổ thọ, không cảm thấy sân hận nên sân tùy miên không tồn tại tăng trưởng. Vị ấy tìm được sự xuất ly ra khỏi khổ thọ, ngoài dục lạc. Vị ấy, không hoan hỷ dục lạc, nên tham tùy miên đối với dục lạc không có tồn tại, không có tùy tăng. Vị ấy như thật tuệ tri sự tập khởi, sự chấm dứt, vị ngọt, sự nguy hại và sự xuất ly của những cảm thọ ấy. Do vậy vô minh tùy miên đối với bất khổ bất lạc thọ không tồn tại, không có tùy tăng. Như vậy, vị Thánh đệ tử nghe nhiều ấy cảm giác khổ thọ, cảm giác lạc thọ, cảm giác bất khổ bất lạc thọ, không có như người bị trói buộc. Ở đây Đức Phật dạy: "Vị Thánh đệ tử nghe nhiều, không bị trói buộc bởi sanh già bệnh chết, sầu bi khổ ư não. Ta nói người ấy không bị trói buộc bởi đau khổ" (Tương Ưng, IV-36-6).
Được hỏi sự sai khác giữa người ngu và bậc hiền trí, đối với các thân do vô minh che đậy, do ác phược ràng buộc khởi lên quan điểm có thân này, có danh sắc ở ngoài. Do duyên thân này, có sáu xúc xứ và có cảm thọ lạc khổ. Vậy có sự sai khác gì giữa bậc hiền trí và kẻ ngu? Đức Phật dạy: "Này các Tỷ-kheo, bị vô minh che đậy, bị tham ái trói buộc, thân này của người ngu được sanh khởi. Vô minh ấy, người ngu không đoạn tận. Tham ái ấy, người ngu không tận trừ. Vì cớ sao? Này các Tỷ-kheo, người ngu sống phạm hạnh không phải vì chơn chánh đoạn tận khổ đau. Do vậy, người ngu khi thân hoại mạng chung, đi đến một thân khác. Do đi đến một thân khác, vị ấy không thoát khỏi sanh già chết, sầu bi khổ ưu não. Ta nói rằng vị ấy không thoát đau khổ" (Tương Ưng, II-12-19).
"Và này các Tỷ-kheo, bị vô minh che đậy, bị tham ái hệ phược, thân người Hiền trí được sanh khởi. Vô minh ấy, người hiền trí đoạn tận. Tham ái ấy, người hiền trí tận trừ. Vì sao? Này các Tỷ-kheo, người hiền trí sống Phạm hạnh, vì chơn chánh đoạn trừ khổ đau. Do vậy, người Hiền trí, khi thân hoại mạng chung không đi đến một thân khác, vị ấy giải thoát khỏi sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não.Ta nói rằng: Vị ấy thoát khỏi đau khổ." (Tương Ưng, II-12-19).

Thứ Tư, 22 tháng 2, 2017

MẸ - THĂM MỘ

Kết quả hình ảnh cho nghia trang da phuoc tphcm
                                                            


MẸ
      
Đã đến tháng hai nhớ Mẹ thương,
Phòng không vắng vẻ dáng quanh tường.
Lay mình trở giấc là thao thức,
Ngẫm kỷ trần gian vốn chẳng thường…

Nhớ Mẹ theo Ba về xứ lạ,
Cháo rau vất vả tháng năm qua.
Quê chồng khốn khó cày lên đá,
Chịu đựng nuôi con sống hiền hòa.

Không ruộng chẳng vườn lên núi xa,
Thiếu cơm bụng rỗng đến chiều tà,
Công kênh lọn củi vài loong gạo,
Cũng đủ cho con đang đợi nhà.

Bao năm lăn lộn thoáng qua mau,
Gánh đậu chuyển qua cũng dãi dầu,
Dậy sớm thức khuya lo ế ẫm,
Trời chiều không hết dạ càng đau.

Phố thị Mẹ về vẫn nắng mưa,
Theo con nào chẳng khá hơn xưa,
Lưng còng đậu nặng ngày hai buổi,
Nghĩ cảnh trần gian chuyện thiếu thừa.

Rồi lại theo về ở phố đông,
Mẹ thương con cháu cứ ngồi trông,
Nhớ xưa thỉnh thoảng luôn thường nhắc,
Tiết kiệm chu toàn mọi việc xong.

Qui luật đời người không tránh khỏi,
Mắt mờ sức yếu dáng Mẹ xiêu,
Thương con đã nói điều cần nói,
Giả biệt trần gian gởi vạn điều.

Sướng ít khổ nhiều đời Mẹ thế,
Giấy sao viết hết chuyện dài thê,
Chông chênh khổ cực đời không vế,
Dưới ánh sao đời cảnh bước lê.

Lòng Mẹ bao la chẳng dáng hình,
Hy sinh tất cả cháu con vinh,
Bóng gương nhật nguyệt hằng soi chiếu,
Tỏa rạng đời sau sống chút tình…

                                          Minh Đạo

 THĂM  MỘ
Mộ đá xanh rêu giữa nắng chiều,
Rưng rưng khóe mắt cảnh buồn hiu.
Hàng dương phủ bóng chìm yên lặng,
Rặng núi in hình gợi tịch liêu.
Ân lớn Mẹ cho còn biết mấy,
Nghĩa sâu con trả chẳng bao nhiêu.
Nghìn thu đức sáng luôn thừa hưởng,
Nhân ái vị tha dạy rất nhiều...

                                        Minh Đạo

NGỦ QUÁ MUỘN TƯƠNG ĐƯƠNG VỚI TỰ SÁT, HÃY NÊN CẢNH GIÁC

                              thải độc cơ thể, nguy cơ, giấc ngủ,



Cơ thể người là một hệ thống rất cân bằng và hoàn chỉnh, bất kỳ hành vi nào phá vỡ cân bằng đó thì tất sẽ dẫn đến những vấn đề sức khỏe vô cùng nghiêm trọng, trong đó có vấn đề giấc ngủ.

1. Buổi tối từ 9h-11h là thời gian để hệ thống miễn dịch thải độc. Thời gian này cần được yên tĩnh hoặc nghe nhạc.
2. 23h – 1h đêm thời gian giải độc gan, cơ thể cần được ngủ.
3. 1h-3h đêm, giải độc túi mật, vẫn yêu cầu được tiến hành trong khi ngủ.
4. Buổi đêm từ 3h-5h sáng thời gian để giải độc phổi.
5. 5h-7h sáng, giải độc đại tràng. Không có gì ngạc nhiên khi người ta thường muốn vào nhà vệ sinh vào thời gian này, đây cũng là khoảng thời gian tốt nhất để đi vệ sinh.
6. Buổi sáng 7h-9h, giai đoạn thời gian ruột non hấp thụ chất dinh dưỡng, nên ăn bữa sáng. Lúc này thường ăn đồ gì cũng sẽ không khiến bạn bị béo, ngược lại đối với những người không ăn gì sẽ càng bị béo hơn. Do đó ngay cả khi 10h bạn mới ăn sáng vẫn còn tốt hơn là không ăn gì.
7. Nửa đêm cho đến 4h sáng là giờ cột sống sản xuất máu, nhất định nên ngủ say giấc, không nên quá thức khuya.
Cơ thể trong vòng 24 giờ sẽ cần những nhu cầu gì?
01:00 sáng: Giai đoạn giấc ngủ nhưng cũng hay dễ bị thức dậy. Trong trường hợp này, đầu não dường như sáng suốt hơn. Những người thường xuyên thức khuya sẽ cảm thấy rất khó ngủ vào lúc này.
2:00 Tất cả các bộ phận cơ thể hoạt động rất chậm, gan đang được giải độc.
03:00 Giai đoạn vào giấc sâu, các cơ bắp sẽ được thư giãn hoàn toàn.
04:00 Huyết áp thấp nhất trong ngày, người già thường rất dễ phát sinh vấn đề vào giai đoạn này.
05:00 Thân thể bắt đầu bồi bổ khí, tình trạng tinh thần dần dần được sung mãn.
06:00 Huyết áp sẽ bắt đầu tăng lên, tim đập sẽ dần dần nhanh hơn. Bệnh nhân tăng huyết áp nên uống thuốc hạ huyết áp vào giai đoạn này.
07:00 Thời điểm khả năng miễn dịch của con người mạnh nhất. Thời gian này ăn sáng, dinh dưỡng dễ dàng được cơ thể hấp thụ nhất.
08:00 Thời điểm tiết hormone sinh lý rất mạnh mẽ, cơ thể bắt đầu bước vào trạng thái hoạt động.
09:00 Lúc này khí huyết của cơ thể hoạt động mạnh, bộ não dễ dàng bị kích thích, cơn đau sẽ có chiều hướng giảm. (Thường không sợ đau lắm).
10:00 thời gian làm việc hiệu quả nhất trong một ngày.
10:00-11.00 Thời điểm hoàng kim của thân thể. Lúc này cơ thể sẽ không cảm thấy mệt mỏi.
12:00 Cơ thể cần thời gian để nghỉ ngơi.
12:00-13:00 Cơ thể cần được nghỉ ngơi. Không thích hợp làm những công việc nặng nhọc. Tốt nhất nằm xuống nghỉ nửa giờ đến một giờ.
14:00 Khoảnh khắc các phản ứng sẽ chậm lại. Dễ dàng có cảm giác buồn ngủ, khả năng phục hồi của con người trở nên yếu hơn.
15:00 Dinh dưỡng từ bữa ăn trưa bắt đầu được hấp thụ, khả năng làm việc cuối cùng đã bắt đầu hồi phục.
15: 00-17:00 Thời điểm hoàng kim thứ hai của cơ thể. Bạn có thể làm bất cứ điều gì quan trọng vào thời điểm này.
16:00 Đường trong máu bắt đầu tăng lên.
17:00 Hiệu quả công việc đạt được giá trị cao nhất tại thời điểm này. Thời gian này cũng rất phù hợp với tập thể dục.
18:00 Độ nhạy cảm của thân thể người bắt đầu giảm, các cơn đau sẽ được giảm đi.
19:00 Thời gian dễ xảy ra tranh cãi nhất. Cảm xúc của con người tại thời điểm này không ổn định nhất.
20:00 Thời gian hoàng kim thứ ba của cơ thể. Các phản ứng bộ nhớ, bộ não mạnh và nhanh nhất.
20:00- 21:00 Thích hợp để đọc sách, làm bài tập, viết bài, và tập thể dục…
22:00 Thích hợp để tắm. Hơi thở bắt đầu trở nên chậm rãi hơn, nhiệt độ cơ thể giảm xuống. Nếu lúc 22:30 có thể ngâm chân sẽ rất nhanh đi vào giấc ngủ.
23:00 Các cơ quan của con người bắt đầu suy giảm, bắt đầu dần dần đi vào một giấc ngủ sâu. Cả một ngày mệt mỏi vào thời điểm này đã có thể được nghỉ ngơi trở lại.
24:00 Ngoài việc nghỉ ngơi, tốt nhất không làm bất kỳ điều khác.
Theo Daikynguyenvn