Thứ Năm, 25 tháng 4, 2019

KHI CON NGƯỜI CÓ ĐẠO ĐỨC VÀ TÍN TÂM, THẦN TÍCH SẼ TRIỂN HIỆN

                                                                       Kết quả hình ảnh cho động Mạc Cao                         

Có khi nào bạn thắc mắc, vì sao con người có thể vẽ được Thần? Tại sao Thần tích chỉ xuất hiện vào thời xa xưa và một số ít người mới được chứng kiến? Kỳ thực, chỉ những ai có tín tâm và phẩm hạnh cao thượng mới có thể thấy được Thần tích. Câu chuyện về những bức vẽ thần thánh trong hang động Mạc Cao dưới đây là một minh chứng cho điều này.

Nhạc Tôn là một hòa thượng sống vào thế kỷ thứ IV ở Trung Quốc. Năm 366, trên đường đi về hướng Tây (theo giáo lý Phật giáo, Phật ở phía Tây), ông đã mơ thấy ánh sáng vàng huyền ảo trên một vách núi với một ngàn vị Phật Đà vàng kim cùng các thiên nữ phi thiên đang ca hát, nhảy múa và chơi nhạc. Chính giấc mơ này đã thôi thúc và dẫn ông tới một sa mạc khắc nghiệt ở miền Tây Bắc Trung Quốc, theo Con đường Tơ lụa nổi tiếng để tới với nơi hiện nay là hang Mạc Cao.
Nhạc Tôn đã đục một hang động nhỏ vào vách đá mà ông đã nhìn thấy trong mơ và vẽ lại cảnh tượng thiên thượng thù thắng ấy lên trên vách động. Với sự chi tiết của từng nhân vật, với khí chất của họ, với biểu cảm của họ, người ta có thể thấy được sự nghiêm túc đáng khâm phục của Nhạc Tôn khi làm công việc này. Tâm trí ông trở nên thanh tĩnh và ông được cho là đã đạt tới sự giác ngộ. Ông bắt đầu trở thành hiện thân của những gì ông vẽ ra.
Hang Mạc Cao nằm trên Con đường Tơ lụa đầy nguy hiểm. Trong thời cực thịnh vào giai đoạn Hán-Đường Trung Quốc, hàng đoàn người ngựa nối đuôi nhau đi trên những con đường quanh co và bất tận của nó. Hàng hóa, tư tưởng và tơ lụa hạng sang đi từ Trung Quốc sang Đế quốc La Mã xa xôi ở phía Tây. Các đội quân hành quân tới lui, họ đánh nhau trên các sa mạc, trên các ngọn núi, và trên các đồng bằng vì những vương quốc đã bị chôn vùi trong cát bụi và lịch sử.
Trên Con đường Tơ lụa còn có rất nhiều tăng lữ vân du. Hòa thượng Nhạc Tôn đã tới Đôn Hoàng, một thị trấn trên Con đường Tơ lụa nằm ở phía Tây Trung Quốc thuộc Sa Mạc Taklamakan. Đó là nơi Nhạc Tôn đã mơ thấy giấc mơ kỳ diệu của mình.
Sau đó nhiều hòa thượng vân du khác cũng có giấc mộng tương tự và nhập hang cùng Nhạc Tôn. Họ dừng chân lại và tự đục vào vách núi thiền phòng của mình. Mỗi người đều trang trí phòng bằng những bức họa tinh tế mô tả các vị Phật Đà và thiên quốc của họ, cùng những câu chuyện về các truyền thống Phật giáo.
Các công trình nghệ thuật được vẽ và khắc vào hang Mạc Cao cho chúng ta một cái nhìn khái quát về tâm hồn của những người sống trong hang, cũng như các triều đại đến và đi trên mảnh đất Trung Hoa. Mỗi một hang đều có những nhân vật chính khác nhau, là hoàng đế, chiến binh, tiên nữ và các thường dân…, họ là chủ đề cho rất nhiều những bức họa tại đây.
Giấc mơ của Nhạc Tôn, xét theo một khía cạnh nào đó, đã trở thành sự thực. Các hòa thượng dành cả cuộc đời mình ở trong hang để truy cầu trí huệ và nguyên lý của vũ trụ thông qua sự từ bi và khổ hạnh. Hang Mạc Cao cũng đã trở thành một trong những kho tàng quan trọng nhất của Phật giáo và nghệ thuật Phật giáo trên thế giới.
Các hòa thượng sau đó đã trồng các cây dương dưới chân vách đá. Tiếng cát thổi nhẹ nhàng và tiếng lá cây xào xạc trong gió, cùng ánh mắt uy nghiêm của các Thần Phật trên thiên thượng tạo ra cho ốc đảo sự lôi cuốn siêu thực hết sức lý tưởng để để cao tâm trí và vượt khỏi những nỗi lo toan của người thường.
Đạo đức dần suy thoái, hang động xưa nhờ ở nơi tĩnh mịch mới được bảo toàn
Dần dần, các hòa thượng sống trong hang Mạc Cao nhận ra sự thay đổi chậm rãi và tinh vi trong đạo đức của nhân loại bên ngoài nơi họ ở. Tới khoảng thế kỷ thứ 5, tâm trí của con người dần dần sa vào những điều thế tục hơn là giá trị tinh thần. Sự trượt dốc này tất yếu mang tới chiến tranh, bệnh tật và những ma nạn trong cuộc sống.
Kinh Phật giảng rằng thời kỳ này là thời kỳ mạt Pháp. Trong Phật giáo cũng giảng rằng vạn sự van vật đều phải trải qua thành – trụ – hoại – diệt. Quá trình ‘hoại’ đã bắt đầu diễn ra trên thế giới này.
Trên thực tế, rất nhiều các bức vẽ sau này tại hang Mạc Cao được đặt hàng bởi các quan chức, những con người tham lam cho rằng làm thế sẽ giúp họ có được một cuộc sống tốt đẹp hơn sau khi tạ thế. Và vì vậy, những chủ đề của các bức vẽ ngày càng dung tục hơn.
Tiếp sau đó, Vó ngựa Mông Cổ, những bệnh dịch từ châu Âu và con đường mậu dịch mới trên biển khiến Con đường Tơ lụa bị thất sủng. Hang Mạc Cao gần như mất tích trong cát bụi sa mạc.
Tới những năm 1890, một Đạo sĩ tên Vương Viên Lục bất ngờ phát hiện ra Mạc Cao cùng những bí ẩn bên trong nó. Rất nhiều kinh sách đã được giấu đi trong một cái hang được phong kín có tên hang Thư viện. Các nhà thám hiểm Anh và Pháp sau cùng đã thuyết phục được Vương Viên Lục tiết lộ vị trí của hang Thư viện và mang về đất nước của họ rất nhiều những bản thảo vô giá cùng các tài liệu như kinh sách, bản đồ sao, các phương thuốc cổ đại và các ghi chép lịch sử.

Những cái hang lại bị cát bụi bao phủ một lần nữa và tránh được sự xâm phạm của những người tị nạn, lang thang trong Thế Chiến I và II. Tới thập niên 60 và 70 của thế kỷ trước, khi cuộc vận động Cách mạng Văn hoá phá huỷ những di sản truyền thống của Trung Quốc cùng các giá trị đạo đức nổ ra, các đền chùa cùng các nhà dân cổ phác và những tác phẩm nghệ thuật bên trong chúng gần như đều bị phá huỷ.
Sự tĩnh mịch xa xôi của hang Mạc Cao mà các hoà thượng thời đầu ưa thích đã giúp nó tránh xa khỏi tầm mắt và những cái đầu cách mạng, cùng cơn cuồng loạn mà họ tạo ra. Những cây dương giờ đang toả bóng mát cho hàng triệu khách du lịch hành hương tới đây mỗi năm, cũng như các nhà bảo tồn đang cố gắng giữ gìn các kiệt tác nghệ thuật cho thế hệ tương lai.
Rất nhiều trong hàng ngàn bản viết tay tìm thấy trong các hang đã được lưu trữ trong các bảo tàng trên khắp thế giới và đang được số hoá – chúng hiện được đăng tải trên website của Dự án Đôn Hoàng Quốc tế tại địa chỉ idp.bl.uk
                                                                                                   Hạ Chi (Theo Vision Times)

Thứ Tư, 24 tháng 4, 2019

VƯỜN MƠ (Thơ)



VƯỜN MƠ (Thập Thủ Liên Hoàn)

Trăng huyền gác lửng chạnh vườn mơ
Cái tỉnh hồn mê mãi vật vờ.
Gió chuyển từng cơn đùa bãi sậy,
Hương vờn mấy sợi giỡn mành tơ.
Tìm đâu ngõ hẹp thời da diết,
Ngóng cả đường thênh nỗi lặng tờ.
Mộng vẫn còn đưa đà mở mắt ,
Sâm đằng lại lú ngẫm tình thơ. (*)
----------------------
(*) Sao Sâm và sao Thương,
2
Sâm đằng lại lú ngẫm tình thơ.
Kỷ niệm còn ghi mấy quãng chờ
Nhớ ngõ xuân lòng se chớm nở
Thương kỳ lão trượng ngỡ tàn mơ
Như bầu bãi dưới vừa đơm nụ
Tựa bắp vườn bên đã trổ cờ
Chuyện cũ ngày lên ta chẳng ước
Người đâu… chạnh nỗi có bao giờ?
3/
Người đâu… chạnh nỗi có bao giờ?
Biết cả niềm đau vẫn đợi chờ.
Lữ khách say tình bên nẻo lặng,
Thuyền quyên dỗi phận lúc duyên mờ.
Ôm hoài chuyện cũ càng vương lối,
Rộn mãi lời xưa chẳng thấu bờ.
Cái nghĩa dương trần đang đủ nặng,
Canh tàn bóng ngã giận đường tơ.
4/
Canh tàn bóng ngã giận đường tơ.
Gió đẩy hồn ai vẫn lệ chờ
Tịch tĩnh vườn khuya chờn kẻ lá.
Bình yên cõi lặng ngẩn cung giờ.
Trông về cái nọ xem đời ảo,
Ngóng lại tình kia diễu khoảng mờ.
Hé rạng khung trời sương đã tản,
Soi cùng tuế nguyệt giữ thời thơ.
5 /
Soi cùng tuế nguyệt giữ thời thơ,
Nẻo cũ thuyền nay ước lặng chờ.
Vẫn đẹp mây chùng che đỉnh núi,
Càng yên gió nhẹ vỗ lưng bờ.
Thương người mấy thuở sao đờ đẫn,
Nhớ bạn nhiêu ngày rõ vẩn vơ.
Cảnh ấy xao lòng vương mộng lẫy,
Gom nhiều kỷ niệm ghép thành mơ.
6/
Gom nhiều kỷ niệm ghép thành mơ.
Cái tỉnh hồn mê mãi vật vờ.
Gió chuyển từng cơn đùa bãi sậy,
Hương vờn mấy sợi lắng mành tơ.
Tìm đâu ngõ hẹp thời da diết,
Ngóng cả đường thênh nỗi lặng tờ.
Mộng vẫn còn đưa đà mở mắt ,
Trông về dạo ấy ủ hồn thơ.
7/
Trông về dạo ấy ủ hồn thơ,
Lật cả trang tình ngấm quãng ngơ!
Trảy nghĩa thời gian còn khó nhọc,
Ươm chùm kỷ niệm thấy xa mờ.
Duyên nầy mấy đỗi không cùng quyện,
Kiếp nọ nhiều khung vẫn chỉ chờ.
Chuốc cạn men đời say nghĩ quẩn,
Phiêu bồng lạc bước nỗi lòng tơ.
8/
Phiêu bồng lạc bước nỗi lòng tơ,
Dẫu biết rằng ai chẳng đợi chờ.
Liễu trải ngoài hiên bày dáng mộng,
Chim sà trước ngõ rộn vườn mơ,
Tìm hương kỷ niệm tình xao xuyến,
Lướt quãng xuân thời dạ ngẩn ngơ.
Phím lõm dây chùng vơi nhịp trổi,
Hờn duyên chạy mãi cứ như lờ…
9 /
Hờn duyên chạy mãi cứ như lờ,
Bể ái chênh dòng đượm nỗi thơ.
Biết nghĩa rồi quên nguyền chẳng đặng,
Còn xuân lỡ ước chạnh không dừng.
Chim về núi biệt cơn rầu rĩ,
Nguyệt dỗi đêm tàn mộng ngẩn ngơ.
Nếu cõi dương trần thôi cảnh hẹn…
Thêm hoài phận oải thấm đường tơ.
10/
Thêm hoài phận oải thấm đường tơ.
Rõ hiểu niềm thương vốn lượn lờ
Lủy kiếp đang ràng nên vẫn nợ
Nhiều năm mãi quẩn mộng luôn chờ
Thôi buồn cảnh thiếp đau đời vận
Chẳng cạn tâm chàng rũ lối thơ
Trắc trở nào than vì đã ngộ
Xin đừng giữ lấy chuyện cùng ngơ.
4/2019
Minh Quang

HOÀI MƠ (Thơ xướng họa)



HOÀI MƠ (Thuận nghịch độc)

( Đọc xuôi )
Đêm về trở thấm nghĩa hoài mơ,
Dỗi cả rầu xưa phút hẹn chờ.
Thềm đọng nỗi đan hương gió thoảng,
Nắng soi mùa dậy tản mây mờ.
Êm ngày tỏ lối vui hòa nhịp,
Rạng cõi yêu nhà rộn gióng thơ.
Mềm ướt mắt thương tràn nẻo mộng,
Thêm rầu buổi nhớ lặng hồn ngơ.
( Đọc ngược )
Ngơ hồn lặng nhớ buổi rầu thêm,
Mộng nẻo tràn thương mắt ướt mềm.
Thơ gióng rộn nhà yêu cõi rạng,
Nhịp hòa vui lối tỏ ngày êm.
Mờ mây tản dậy mùa soi nắng,
Thoảng gió hương đan nỗi đọng thềm.
Chờ hẹn phút xưa rầu cả dỗi,
Mơ hoài nghĩa thấm trở về đêm.
23/4/2019
Viên Minh

Lê Trí Viễn LẠI MƠ (Thuận nghịch độc)

( Đọc xuôi)
Đêm vắng nẻo buồn khúc lại mơ
Lạnh thương ngày ấy quãng ai chờ
Thềm soi nghĩa nặng đời đau mỏi
Bóng ngã tình thâm dạ khổ mờ
Êm thắm để thời suy ngẫm kệ
Lắng đều nghe bạn kết bình thơ
Bên bờ lá dỗi hồn người khuất
Thêm nỗi ước tìm mãi ngẩn ngơ.
( Đọc ngược)
Ngơ ngẩn mãi tìm ước nỗi thêm
Khuất người hồn dỗi lá bờ bên
Thơ bình kết bạn nghe đều lắng
Kệ ngẫm suy thời để thắm êm
Mờ khổ dạ thâm tình ngã bóng
Mỏi đau đời nặng nghĩa soi thềm
Chờ ai quãng ấy ngày thương lạnh
Mơ lại khúc buồn nẻo vắng đêm.
24/4/2019
Lê Trí Viễn (Kính họa)

Minh Quang TÀN ĐÊM (Thuận nghịch độc)
( Đọc xuôi)
Đêm tàn thức giấc trở về mơ…
Hiểu thấu còn mô ngõ đợi chờ!
Thềm lặng dáng qua ai có ngỡ,
Nợ riêng tình mỏi kẻ tan mờ.
Êm dòng sáng phách say cùng nhịp,
Vắng bạn xuôi ngày rối lỡ thơ.
Thêm nhớ cảm thương niềm mãi giữ,
Mềm lòng thấy tiếc dạ than ngơ
( Đọc ngược)
Ngơ than dạ tiếc thấy lòng mềm,
Giữ mãi niềm thương cảm nhớ thêm.
Thơ lỡ rối ngày xuôi bạn vắng,
Nhịp cùng say phách sáng dòng êm.
Mờ tan kẻ mỏi tình riêng nợ,
Ngỡ có ai qua dáng lặng thềm.
Chờ đợi ngõ mô còn thấu hiểu?
Mơ về trở giấc thức tàn đêm.
26/4/2019
Minh Quang (Kính họa)

Hau Nguyenduc ĐÊM SẦU NGUYỆT
Kính hoạ vận
bài HOÀI MƠ của nhà thơ Viên Minh

Đêm, nửa trăng về sương khói mơ
Bấc run sầu cũ bóng ai chờ
Thềm quen, gió lạnh còn thơ thẩn
Ngõ nhớ, hương phai đã mịt mờ
Êm dịu trăng vườn quên nép mộng
Hững hờ tình ý trót đề thơ
Mềm tơ tóc buộc, đêm sầu nguyệt
Thêm rối nhau lòng để ngẩn ngơ

Ngơ ngẩn để lòng nhau rối thêm
Nguyệt sầu, đêm buộc tóc tơ mềm
Thơ đề, trót ý tình hờ hững
Mộng nép, quên vườn trăng dịu êm
Mờ mịt đã phai, hương nhớ ngõ
Thẩn thơ còn lạnh, gió quen thềm
Chờ ai? Bóng cũ sầu run bấc
Mơ khói sương về trăng nửa đêm
Đặng Hữu Ý

Thứ Ba, 23 tháng 4, 2019

NƯỚC SÂU THÌ CHẢY CHẬM, NÓI THẬN TRỌNG MỚI LÀ NGƯỜI KHÔN NGOAN: 12 ĐIỀU QUYẾT ĐỊNH THÀNH - BẠI TRONG ĐỜI NHỜ BẢN LĨNH UỐN LƯỠI, ĐỪNG QUÊN "MIỆNG VÀNG LỜI NGỌC"

                                                                            Nước sâu thì chảy chậm, nói thận trọng mới là người khôn ngoan: 12 điều quyết định thành - bại trong đời nhờ bản lÄ©nh uốn lưỡi, đừng quên miệng vàng lời ngọc - Ảnh 1.

Một lời nói cũng có thể mang đến sức mạnh để quyết định sự nghiệp thành bại, vận mệnh giàu nghèo.


"Thủy thâm tắc lưu hoãn" là có ý nói rằng, nước càng sâu thì chảy càng chậm. Trên mặt nước cho dù gió thổi làm sóng trào dâng cuồn cuộn nhưng những dòng nước ở bên dưới sâu vẫn luôn duy trì tốc độ chảy chậm rãi, thong dong.
Mà "Nhân quý tắc ngữ trì" ý nói rằng, người sang quý thì lời nói thường chậm rãi, hơn nữa còn không dễ dàng tỏ thái độ, không dễ dàng kết luận, thận trọng từ lời nói đến việc làm.
Làm người gặp phải chuyện lo lắng, việc khó khăn thì đều phải bảo trì một tâm thái bình tĩnh và tường hòa. Nói chuyện chậm rãi một chút thật sự có thể giúp chúng ta tránh được rất nhiều tai họa và sai lầm không đáng có.
"Động" và "tĩnh", "nhanh" và "chậm" là thuộc về lý tương sinh tương khắc, trời đất vì có chúng mà trở nên cân bằng. "Động" sẽ khiến tiêu vong xảy ra nhanh hơn, "tĩnh" mới có thể lâu dài, cho nên người xưa mới giảng rằng "tĩnh lặng mới có thể đi xa".
Cho dù thông minh, giàu có hay bản lĩnh đến mấy mà tâm không an tĩnh, lời không trí tuệ thì vẫn khó có thể thành công. Nói là một loại năng lực nhưng không nói chính là một loại khôn ngoan. Chính vì vậy, hãy nhớ kỹ 12 điều quan trọng trong nghệ thuật giao tiếp sau đây:
1. Việc gấp, nói từ từ
Khi gặp chuyện gấp, nếu chúng ta hành xử tỉnh táo bình tĩnh, suy nghĩ rõ ràng thì mới có thể để lại một hình tượng trưởng thành chững chạc, không bốc đồng và thiếu ổn định trong mắt người khác, từ đó làm gia tăng mức độ và khả năng tin tưởng của đối phương.
2. Việc nhỏ, nói hài hước
Những chuyện nhỏ không đáng xé ra to, đặc biệt trong trường hợp muốn nhắc nhở thiện chí thì nên dùng giọng điệu hài hước, pha chút bông đùa để nói ra, vừa không làm người nghe cảm thấy mất mặt, giúp họ dễ dàng chấp nhận sự giúp đỡ của chúng ta hơn, vừa có thể tạo điều kiện xây dựng quan hệ thân mật giữa cả hai.
3. Việc chưa chắc chắn, nói thận trọng
Với những việc mà chúng ta không thể chắc chắn 100% hoàn thành tốt đẹp, tốt nhất hãy nói ra một cách thận trọng và nghiêm túc về khả năng của mình để đem lại cảm giác đáng tin chứ không phải hình tượng một kẻ đạo đức giả, không dám nhận việc.
4. Việc chưa xảy ra, đừng nói trước
Những người đáng ghét nhất chính là kẻ cố tình sinh sự, gây chuyện vì những điều còn chưa xảy ra mà chỉ dựa trên sự phỏng đoán và những lời đồn đoán lung tung. Nếu bạn biết giữ im lặng và kín miệng trước những những trường hợp ấy, người ngoài nhìn vào có thể đánh giá sự trưởng thành, năng lực tu dưỡng đại biểu cho tinh thần trách nhiệm và nhân phẩm tốt đẹp của chính bạn.
5. Việc không làm được, đừng nói lung tung
Như người ta thường nói: "Biết thì thưa thốt, không biết thì dựa cột mà nghe". Đừng tùy tiện hứa hẹn những gì mình không thể làm nếu không muốn trở thành kẻ bất tín. Đừng nói lung tung sẽ khiến người nghe cảm thấy bạn là người "nhất ngôn cửu đỉnh, đã nói là làm" và tạo dựng niềm tin vững chắc trong lòng người ta.
6. Điều hại người khác, không thể nói
Đừng bao giờ dùng lời nói của mình để cố tình nhắm vào, gây tổn thương người khác, cho dù đó là người xa lạ hay thân thiết. Điều này sẽ thể hiện tính cách thiện lương, nhân phẩm tốt đẹp của bạn, giúp duy trì mối quan hệ đôi bên.
7. Chuyện buồn, đừng có gặp ai cũng nói
Khi gặp vấn đề đau khổ, chúng ta đều có mong muốn được trò chuyện, được sẻ chia, nhưng bạn cần biết cách chọn mặt gửi lời chứ không phải gặp ai cũng nói.
Một người không đủ thân thiết phải nghe chuyện buồn của bạn dễ cảm thấy áp lực về tâm lý, không muốn nói chuyện, thậm chí là dần dần xa lánh bạn. Đồng thời, than vãn kể lể quá nhiều sẽ biến bạn thành một nguồn năng lượng tiêu cực trong mắt những người xung quanh.
8. Chuyện của người khác, đừng đưa chuyện
Hãy giữ khoảng cách an toàn vừa đủ để đảm bảo sự riêng tư cho mọi người xung quanh. Đừng tùy tiện phán xét và lan truyền những vấn đề của người khác để tránh gây ra những mâu thuẫn không đáng có.
9. Chuyện của chính mình, nghe người khác nói
Với những vấn đề của bản thân, đừng quên tham khảo cái nhìn khách quan từ người khác và chân thành lắng nghe ý kiến của họ. Hành động của bạn có thể đem lại ấn tượng khiêm tốn, biết tiếp thu và hiểu lý lẽ cho những người xung quanh.
10. Chuyện của người lớn, nghe nhiều nói ít
Người lớn tuổi thường không thích bị áp đặt, kiểm soát hay bị người khác chỉ đạo mình phải làm gì. Nếu chúng ta nói nhiều hoặc liên tục nhận xét họ nên làm gì, không nên làm gì, những người lớn tuổi sẽ cảm thấy bạn không tôn trọng họ. 
Thay vào đó, hãy yên lặng lắng nghe và đúc rút ra kinh nghiệm từ những bài học từng trải quý giá của các trưởng bối xung quanh.
11. Chuyện vợ chồng, hãy nói cùng nhau
Giữa chồng và vợ, điều đáng sợ nhất là sự yên lặng. Không trao đổi, không giao tiếp và thảo luận sẽ khiến tình cảm đôi bên hao mòn nhanh chóng, thiếu sự thấu hiểu, dễ nảy sinh xung đột. 
Tới lúc đó, hai bên lại không ngừng đổ lỗi, chỉ trích lẫn nhau. Vì vậy, trong ngày thường, hãy cùng nhau thương lượng, giải quyết mọi vấn đề trong gia đình.
12. Chuyện của con trẻ, nói dần dần
Bất cứ đứa trẻ nào cũng có thời kỳ thay đổi, trở nên nổi loạn và khó kiểm soát hơn. Nếu cha mẹ biết giữ thái độ nhẹ nhàng và kiên định để từ từ khuyên bảo thì mới có thể thuyết phục trẻ hiểu rõ đúng sai thị phi. 
Ngược lại, một mực áp đặt hoặc dùng thái độ cưỡng ép để bắt trẻ nghe lời sẽ chỉ làm phản tác dụng.
Có thể thấy rằng, chẳng phải tự nhiên mà người xưa có câu "Miệng vàng lời ngọc". Mỗi tiếng nói ra phải có trí tuệ, có tu dưỡng, phải chú ý tránh làm tổn thương người khác, thất đức, đánh mất niềm tin của mọi người xung quanh. 
Đôi khi, chỉ một lời nói cũng có thể quyết định thành - bại đời người.
                                                                                             Theo Soha

Thứ Bảy, 20 tháng 4, 2019

TẠM BIỆT CẶP KÍNH LÃO

                                                                   Kết quả hình ảnh cho Công nghệ Presbyond




Công nghệ giúp người bị lão thị có thể nhìn mà không cần đeo kính

Công nghệ Presbyond là kỹ thuật điều trị lão thị mới nhất thế giới, giúp người bệnh không cần đeo kính lão khi đọc sách, sinh hoạt hàng ngày.

Chiều 19/4, Bệnh viện mắt TP HCM nhận chuyển giao công nghệ Presbyond. Phương pháp được đánh giá cao về mức độ an toàn, tránh các nguy cơ biến chứng cho bệnh nhân sau mổ.
Lão thị là hiện tượng sinh lý tự nhiên của người cao tuổi. Lúc này, thủy tinh thể bị lão hóa, kém đàn hồi, khả năng điều tiết suy giảm, gây khó khăn khi đọc và nhìn gần. Người bệnh hầu hết đều phải đeo kính.
Công nghệ Presbyond kết hợp giữa phẫu thuật khúc xạ bằng laser trên giác mạc với việc tác động vào thành phần quang sai bậc cao của mắt, từ đó giúp tăng chiều sâu để duy trì chất lượng thị giác. Phương pháp điều trị cả các tật khúc xạ như cận, viễn, loạn.
Bệnh nhân sau điều trị có thể linh hoạt nhìn khoảng cách xa đến gần mà không phụ thuộc vào kính lão. Trong đó, hoạt động cần nhìn xa như lái xe, xem phim; nhìn gần gồm đọc sách, may vá và vùng trung gian khi nhìn màn hình vi tính...
Cẩm Anh

Thứ Năm, 18 tháng 4, 2019

LEO ĐÈO (Thơ xướng họa)



LEO ĐÈO (Bát láy)
Lững thững chồn chân khó bước đèo,
Thân càng lểnh khểnh sức nào leo.
Nhìn ra mờ mịt bên lưng gió,
Ngẫm lại mênh mang phận bọt bèo.
Mới mẻ ngày lên thì cứ chợt,
Gập ghềnh chiều xuống cũng qua veo.
Tai ù trí giảm đâu miên miết,
Đều đặn nương Người để dõi theo.

Tâm Ân NGẮM CẢNH LƯNG ĐÈO (Bát láy)

Thong dong ngắm cảnh đẹp lưng đèo,
Cảm thấy nhẹ nhàng cả buổi leo.
Suối mát long lanh vờn liếp cỏ.
Riềm xanh nhăng nhít phủ ao bèo.
Đong đưa kỷ niệm ngày lơi mãi…
Lóng nhóng duyên tình kiếp hết veo.
Gốc tích nhiêu đời ròng rã đó!
Mơ màng đỉnh núi… cuốn niềm theo…
18/4/2019
Tâm Ân (Kính họa)

Minh Quang ĐƯỜNG ĐÈO (Bát láy)
Chiều tan lận đận mới lưng đèo,
Vất vả chốn trần gắng sức leo.
Lần lữa duyên qua như cánh gió,
Đong đưa phận lụn tựa thân bèo.
Thực hư vá víu tâm đành lẫn,
Phải trái lao xao kiếp hết veo.
Hiểu vậy rập ràng nương giáo pháp,
Hương thiền phảng phất rõ đường theo…

21/8/2018
Minh Quang (kính họa)

Kỳ Hải Phan TRÊN ĐÈO MÀ TRÔNG (Bát láy - Nđt)
Kỳ Hải Phan
(Lạc họa theo bài LEO ĐÈO của tác giả Viên Minh)

Về quê hối hả vượt qua đèo
Chẳng nhớ bao lần chập chững leo
Tưởng chặng đàng sau hờ hững gió
Ngờ ao ngã trước lửng lơ bèo.
Sông đào mấy ả bơi chầm chậm
Suối lũng bao đàn lượn vẻo veo
Hiểu nỗi già nua còn gắng gượng
Xem chừng mới mẻ vẫn vời theo?!
18-4-2019

Như Huyễn Trần TRÈO ĐÈO (Họa vận) (Ngũ độ thanh- bát láy)

Lạnh lẽo chùng mây khắp đỉnh đèo,
Nhiêu người vắt vẻo lại trườn leo.
Chân thình thịch níu hoài mương cỏ,
Mắt lặng lờ trông mãi dải bèo.
Thấy dễ dàng vui chờ thỏa lạ,
Đi ròng rã mỏi sợ đành veo.
Nghiêng triềng dốc thẳm hồn men nhịp,
Dóng dả bao niềm nỗi đặng theo.
19/4/2019
Như Huyễn Trần (Kính họa)

Đình Diệm HTM
VỀ NƯƠNG PHẬT

Dòng đời vất vả tựa trèo đèo
Khấp khểnh bao nơi khó bước leo
Kiếm áo tìm cơm hùng hục kiếp
Bươi bờ móc bụi hẩm hiu bèo
Tiền tài chức tước như mây nổi
Của cải quyền uy tựa gió vèo
Ngẫm biết trăm năm là bến mộng
Về nương Phật pháp bước đường theo

Hương Thềm Mây – GM nguyễn đình Diệm
20.4.2019

Văn Trung Le "". ĐƯỜNG ĐÈO. ""
Cao nguyên đi lại lắm đường đèo
Dốc đứng trợt trơn vẫn phải leo
Khúc khuỷu nương sườn theo vách đá
Quanh co luồn lách dể như bèo
Đôi khi ngắm cảnh mây dồn lại
Lắm lúc nhìn trời sắc sáng veo
Hướng đạo tâm thành tìm đúng nẻo
Nguyện lòng một dạ để mà theo
Ngày 21/4/2019

TUYỆT ĐỐI ĐỪNG TÙY TIỆN THỀ ĐỘC, ĐỌC XONG CÂU CHUYỆN NÀY BẠN SẼ BIẾT NGUYÊN NHÂN!

                                                          Kết quả hình ảnh cho thề độc

                                                                     Hình internet

Câu chuyện về nhân quả báo ứng do một ni cô kể lại sẽ khiến cho nhiều người phải sám hối.


Kinh Hiền Ngu của đạo Phật từng truyền lại một câu chuyện thế này:
Vào thời của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, có một số ni cô sau khi xuất gia vẫn cảm thấy dục niệm còn lưu lại trong tâm can mình. Họ liền cùng nhau tới gặp một vị ni cô già để xin lời chỉ dạy.
Vị ni cô này nói với họ, mọi suy nghĩ và hành động thể hiện sự tham dục của con người cũng giống như ngọn lửa cháy lan ra khắp nơi, càng cháy càng mạnh, những thứ bị nó thiêu rụi cũng càng nhiều.
Sau đó, bà kể cho những người kia nghe về câu chuyện nhân quả - báo ứng mà đích thân bà từng thể nghiệm.
Trong kiếp trước, vị ni cô ấy từng là một đại phu nhân của gia đình danh giá. Tuy gia thế phú quý, nhưng cả đời lại không có được một người con.
Sau này, chứng kiến phu quân lấy vợ lẽ và sinh được một người con trai, bà cảm thấy vô cùng ganh tỵ, dần dần nảy sinh uất hận, lại bởi uất hận mà hình thành tà niệm, nên đã lén bỏ thuốc giết chết đứa trẻ.
Khi cậu bé vô tội ấy qua đời, Nhị phu nhân khóc ngất mấy lần, đem lòng oán hận vì tin rằng bà cả đã hại chết con mình. Đại phu nhân đương nhiên không nhận tội, còn thề độc mà nói rằng:
"Nếu quả thực ta giết con cô, thì chồng ta sẽ bị rắn độc cắn chết, con ta sẽ bị chết đuối, bị chó sói cắn chết, tự ta sẽ ăn thịt con mình, rồi ta sẽ bị chôn sống, cha mẹ ta cũng bị thiêu chết".
Trong kiếp trước, lời thề độc của bà không hề trở thành hiện thực...
Sau khi qua đời, bà chuyển kiếp thành một người phụ nữ. Đó chính là ni cô ở đời này. Thế nhưng, ác nghiệp và lời thề độc từ kiếp trước đã theo tới kiếp này và khiến bà phải nhận báo ứng.
Ở kiếp này, bà đầu thai thành một cô gái xinh đẹp, xuất thân từ gia đình cao quý. Tới khi trưởng thành, bà kết hôn cùng một người đàn ông ưu tú, có được cuộc hôn nhân vô cùng xứng đôi vừa lứa.
Sau này, ba mẹ chồng lần lượt qua đời, bản thân bà lại mang thai đứa con thứ hai nên nói với chồng cho mình về nhà mẹ đẻ an dưỡng.
Chồng bà đương nhiên đồng ý. Hai người nhanh chóng thu xếp hành lý và đưa đứa con lớn về nhà ngoại.
Nào ngờ mới đi được nửa đường thì bà đã trở dạ muốn sinh. Đứa trẻ sinh ra vẫn còn mùi máu tanh, mùi hương ấy đã dẫn dụ rắn độc đến cắn chết chồng bà ngay trên đường.
Không còn cách nào khác, bà đành cố nén đau thương, lưng cõng người con lớn, tay bồng đứa con nhỏ, tiếp tục lên đường về nhà mẹ đẻ.
Họ cứ đi mãi cho đến khi tới một con sông lớn chẳng có người qua lại. Người phụ nữ ấy chỉ có thể để đứa con trai lớn ở bên bờ sông, rồi ôm đứa nhỏ lội qua dòng nước. Sau đó, bà lại đặt đứa con nhỏ bên bờ, định bụng bơi về bên này để quay lại đón đứa lớn. 
Trớ trêu thay, khi đang quay lại để đón con trai lớn, thì đứa bé ấy trong chớp mắt đã tự nhảy xuống nước bơi đến chỗ mẹ, nhưng lại bị một con sóng lớn cuốn đi mất. Bà đau đớn vô cùng, quay lại nhìn người con mới sinh thì lại phát hiện ra đứa bé đã bị chó sói ăn thịt.
Phải tận mắt chứng kiến hết thảy những cảnh tượng ấy, người phụ nữ đau đớn đến mức tuyệt vọng. Lúc này đây, lựa chọn duy nhất của bà là trở về nương nhờ nhà mẹ đẻ. Không ngờ rằng, nhà bố mẹ ruột bị hỏa hoạn, cả gia đình chết cháy, không một ai còn sống…
Sau này, bà buộc phải tái hôn lần nữa. Một đêm nọ, người chồng sau khi đã uống say liền trở về nhà gõ cửa.
Khi ấy bà vừa mới sinh con, chưa kịp ra mở cửa. Người đàn ông ấy nổi điên, phá cửa xông vào, làm đứa con trai mới sinh ngã xuống đất chết.
Trong cơn say, ông ta lấy thi thể của con mình rán lên rồi bắt vợ ăn. Bà cương quyết không chịu, liền bị chồng đánh tới mức thập tử nhất sinh, chỉ còn cách mở miệng nuốt vào miếng thịt của chính con đẻ mình.
Sự việc hôm ấy giáng cho bà một đòn đả kích chí mạng. Không lâu sau, người phụ nữ tội nghiệp này trốn đến thành phố Varanasi và dừng chân nghỉ ngơi ở ngoài thành.
Bấy giờ, ở đó có một vị trưởng giả vô cùng quyền thế. Con trai của người này góa vợ đã lâu, đúng ngày hôm ấy cũng ra ngoài thành để thắp hương người vợ quá cố, vừa vặn nhìn thấy một phụ nữ đang mệt mỏi tựa vào gốc cây ven đường.
Như có điều gì mách bảo, người đàn ông ấy liền tìm đến hỏi thăm. Bà cũng đem hết thảy mọi đau khổ mà mình đã phải chịu đựng kể lại cho người đó.
Người đàn ông góa vợ rất cảm thông và thương cho hoàn cảnh tội nghiệp của bà. Không lâu sau đó, hai người kết làm vợ chồng.
Nhưng ngày vui chẳng được bao lâu, kết hôn một thời gian ngắn thì người chồng bạc mệnh qua đời.
Theo phong tục của thành phố Varanasi, người vợ buộc phải chôn theo người chồng quá cố của mình. Điều đó đồng nghĩa với việc bà trở thành vật bồi táng và bị chôn sống.
May mắn thay, bị chôn xuống đất chưa lâu thì có đám trộm mộ trong vùng tới đào ngôi mộ mới, nhờ vậy mà bà thoát chết.
Thủ lĩnh của đám trộm mộ thấy bà dung mạo đoan chính, liền ngỏ ý muốn lấy bà làm vợ. Thế nhưng chẳng bao lâu sau, người chồng mới của bà lại bị bắt và kết án chém đầu.
Đám đàn em dưới trướng vẫn tuân theo luật lệ của Varanasi, đem bà chôn sống cùng thủ lĩnh. Dường như vận mệnh chưa tuyệt đường sống, đám sói hoang đến đào xới ngôi mộ mới đắp, bà một lần nữa được cứu.
Cả một đời phải trải qua không biết bao nhiêu khổ nạn, sau khi trở về từ nấm mộ kia, bà đã thề phải tới chỗ Phật Thích Ca Mâu Ni xin được xuất gia.
Khi tìm thấy Đức Phật, bà vừa khóc vừa kể lại cuộc đời truân chuyên của mình, cũng vừa sám hối những lỗi lầm trong quá khứ với mong muốn được Đức Phật thương xót và cho mình xuất gia tu hành.
Nhận được sự đồng ý của Phật Thích Ca, bà đã cạo đầu và xuất gia. Trải qua nhiều khổ hạnh cuối cùng người phụ nữ ấy đã đạt quả vị A La Hán và nhìn thấy những nghiệp chướng mà mình gây ra ở kiếp trước.
Cứ như vậy, ni cô già từ tốn kể lại tất cả những câu chuyện kiếp trước – kiếp này của bản thân mình cho các ni cô khác nghe.
Nghe xong ai nấy đều nơm nớp lo sợ trong lòng. Vì họ đã hiểu được rằng, tham dục của bản thân tựa như lửa cháy trên cánh đồng, nếu không sớm ngày dập tắt thì ắt không gánh nổi quả báo. Kể từ đó, các ni cô ấy một lòng tu tập, tham niệm trong lòng cũng dần dần biến mất.
Có người cho rằng, nói ra lời thề chỉ là một việc làm mang tính hình thức. Kỳ thực không phải như vậy.
Vào thời điểm lập một lời thề, trong cõi u minh đều có thần linh chứng giám cho lời nói, việc làm và suy nghĩ của chúng ta.
Vì vậy, chúng sinh nếu thề thốt sau khi làm việc xấu cũng giống như gieo vào mặt đất một hạt giống hủy diệt, khi nghiệp duyên "chín" thì ắt sẽ gặp quả báo…
Theo Trí Thức Trẻ