Thứ Bảy, 5 tháng 7, 2014

ĐỨC PHẬT LÀ BẬC THẦY CÁC NHÀ KHOA HỌC


                                                               Đầu tượng Phật ở Ayutthaya - Thái Lan
(Cố đô Ayutthaya của Thái Lan được xem là quê hương của những tác phẩm tôn giáo đặc biệt, nhất là tượng Phật. Chùa Wat Mahathat (Chùa Đại Di tích) còn lưu phần đầu của một bức tượng Phật được làm từ đá sa thạch, phần còn lại của tượng đã bị thất lạc. Chiếc đầu tượng Phật này nằm kẹt trong rễ và dây leo của một cây cổ thụ. )
  

           Phật (Buddha) là một từ ngữ để chỉ người giác ngộ viên mãn.
  
 Ðức Thích Ca Mâu Ni (Sàkyãmuni) là người đã giác ngộ, nên chúng ta gọi Ngài là Phật. Giác ngộ là thấy biết mọi chân lý về vũ trụ và nhân sinh.
  Từ chỗ giác ngộ này, Đức Phật chỉ dạy các môn đồ còn ghi chép lại thành Tạng kinh.   Trong tạng kinh chứa đầy dẫy những chân lý, dù trải qua hơn 25 thế kỷ vẫn còn giá trị nguyên vẹn, không do thời gian làm suy giảm. Ngày nay chúng ta nghiên cứu Tạng kinh thật chín chắn, càng phát hiện những chân lý ấy gần gũi và thích hợp với khoa học một cách không ngờ. Trong bài viết này, chúng tôi chỉ giới thiệu tổng quát vài nét cương yếu để đọc giả suy ngẫm.
            Về vũ trụ
  Ðức Phật ra đời trên sáu thế kỷ trước công nguyên, còn các nhà khoa học được biết đến, mới có từ thế kỷ thứ 18 sau công nguyên. Thế mà ở thời kỳ ấy, đức Phật nhìn trong vũ trụ thấy thế giới không thể kể hết, nên trong kinh thuộc Hán tạng có những câu "Hằng hà sa số thế giới", nghĩa là thế giới nhiều như cát sông Hằng (Ganges), hoặc câu "vi trần sát" nghĩa là cõi nước (sát) nhiều như nhũng hạt vi trần. Ðến nay các nhà thiên văn học nhờ viễn vọng kính nhìn thấy trong bầu hư không có không biết cơ man là thế giới. Vô số ngôi sao lấp lánh hiện trên nền trời trong lúc ban đêm, mà mắt chúng ta nhìn thấy được; là những hành tinh (thế giới), còn không biết có bao nhiêu hành tinh khác quá xa mắt không thể nhìn thấy được. Chính đây là bằng chứng cụ thể, nhờ khoa học giúp chúng ta hiểu được lời Phật dậy cách đây trên 25 thế kỷ: Lại nữa, có lần Ðức Phật cùng các thầy tỳ kheo đi vào rừng, nhìn thấy những lá rơi lả tả và những lá vàng uá sắp về cành, đồng thời có nhũng chòi non vừa nẩy lộc và những mầm vừa nhú khỏi vỏ cây, Ngài dạy các Tỳ Kheo: Thế giới đang hoại, sắp hoại và đang thành cũng như lá cây trong rừng đang rụng, sắp rụng và đang nẩy chồi, sắp nẩy chồi".Vì thế, đức Phật thường dạy thế giới có bốn thời :Thành, trụ, hoại, không." Ngày nay các nhà khoa học cũng thừa nhận thế giới phải trải qua bốn thời kỳ như thế. Ðây là cái nhìn thích hợp giữa Phật học và khoa học mà cách cách nhau thời gian qúa xa.
         Về vạn vật
  Vạn vật sinh thành và hoại diệt trên đời, dưới con mắt trí tuệ của đức Phật đều do "duyên khởi". Duyên khởi là nhân duyên sinh khởi, không có một vật nào hình thành mà không do các duyên nhóm họp. Nếu nói sự vật ngẫu nhiên tự thành, hoặc có bàn tay mầu nhiệm nào tạo dựng đều không đúng sự thật. Ðức Phật xác nhận vạn vật do nhân duyên tụ họp thì thành, nhân duyên ly tán thì hoại. Sự thành hoại cuả vạn vật đều do duyên, là chỗ thấy như thật của đức Phật. Bởi thế trong kinh Phật thường dạy "Các pháp do duyên khởi, không có thực thể, các pháp do duyên khởi, không có cố định". Không có thực thể là thuyết "vô ngã". Không có cố định là thuyết "vô thường", mà trong kinh thường nói "chư hành vô thường, chư pháp vô ngã". Không khi nào có một nhân đơn thuần thành hình một vật, cũng không khi nào có sự bất ngờ sinh ra một vật, mà phải đủ duyên mới thành. Vì vậy đức Phật không chấp nhận thuyết "nhất nhân" và thuyết "vô nhân". Với sự thực này, ngày nay khoa học đã làm sáng tỏ, chúng ta không còn gì phải nghi ngại. Hơn nữa, trước mắt chúng ta thấy vô vàn sự vật, nếu đem ra phân tích đều do nhân duyên hợp thành, không có vật nào tự thành hay do một cái gì đó làm thành. Sự thật hiển nhiên này càng làm sáng tỏ lời đức Phật dạy. Chúng ta thấy rõ Phật học và khoa học tuy thời gian cách xa mà không có giới tuyến ngăn cách.

         Về con người
   Khi Phật còn tại thế, Ngài nhìn trong bát nước thấy vô số vi trùng, trong kinh Hán tạng có câu "Phật quán nhất bát thủy, bát vạn tứ thiên trùng" Nghĩa là Phật nhìn trong bát nước thấy tám muôn ngàn (84000) vi trùng. Ngày nay nhờ kính hiển vi, các nhà khoa học thấy trong nước có nhiều vi trùng. Lại nữa, Phật nhìn thấy trong thân người thấy vô số vi trùng, trong Hán tạng có câu "nhơn thân chi nội hữu vô số vi trùng tại trung nhi trú" Nghĩa là trong thân người có vô số vi trùng đang trú ẩn bên trong. Ðiều này ngày nay chúng ta chỉ cần có chút ít kiến thức khoa học là không còn nghi ngờ gì nữa.
       Nghiệp lực
   Nếu không có một đấng nào an bày, muôn vật làm sao được sanh thành, hoại diệt và sinh hoạt trong một trật tự nhất định? Nhà Phật nói "do sức nghiệp thúc đẩy và thu hút mọi vật hình thành, khi mãn nghiệp thì hoại diệt. Cũng như do động lực của nghiệp nên mọi vật sinh hoạt trong một trật tự nhất định". Nghiệp là động lực lôi cuốn các duyên tụ họp lại thành hình sự vật; khi sức nghiệp mãn các duyên ly tán thì sự vật hoại diệt. Nghiệp có khả năng cuốn hút sự vật quay cuồng trong quĩ đạo nhất định. Ngày nay các nhà khoa học đã nói do sức quay và sức hút của mọi vật trong vũ trụ, các hành tinh trong bầu vũ trụ hoặc lớn hoặc nhỏ đều quay cuồng trong hư không và trong một quỹ đạo nhất định. Cho đến nhỏ như một hạt nguyên tử cũng quay cuồng và xoắn chặt vào nhau mà thành hình muôn vật. Ðộng lực quay và hút này do nghiệp lực tạo nên. Nghiệp là đông lực lôi cuốn theo thói quen, đồng thời cảm ứng với vật khác đồng tính nên bị thu hút. Do nghiệp chi phối nên con người và muôn vật trên thế gian được thành hình và sinh hoạt trong một phạm vi nhất định nào đó, khi sức nghiệp mãn con người và muôn vật theo đó hoại diệt. Song nghiệp có thể chuyển đổi được, không phải cứng nhắc cố định, vì nó là động lực.
    Tuy nhiên thuyết nghiệp báo luân hồi đã có trước thời đức Phật, xuất phát từ các kinh Phệ Ðà (Véda); song với tinh thần tôn trọng chân lý, đức Phật xét thấy đúng sự thật liền ứng dụng đem dậy đệ tử tu hành. Trong đó, đức Phật có sửa đổi những phần lệch lạc theo quan niệm Bà la Môn giáo để lý thuyết này được hoàn chỉnh hơn. Vì vậy, ngày nay mọi người đều thừa nhận thuyết nghiệp báo luân hồi là của đạo Phật.
    Ðạo Phật đặt trọng tâm ở con người - Chỗ thấy biết của đức Phật đúng sự thật, hợp chân lý, nên trải qua thời gian dài mà không sai chạy hay lạc hậu. Ðức Phật không dùng cái thấy biết tuyệt vời ấy để phân tích ngoại cảnh, sử dụng ngoại cảnh phục vụ con người. Ngài chỉ dùng cái thấy ấy biết ấy để soi sáng thẳng vào con người, để thấy biết con người tường tận từ thể xác lẫn tinh thần. Biết rõ con người rồi, đức Phật dạy cách sống đúng tư cách con người, đồng thời chuyển hoá thân tâm đẻ được an lạc trong hiện tại và mãi sau kia. Có lần đức Phật cùng các thầy Tỳ kheo đi vào rừng Simma, Ngài dùng tay nắm một nắm lá cây đưa lên hỏi các thầy Tỳ kheo" "Lá cây trong tay ta nhiều hay lá lá cây trong từng nhiều?" Các thầy Tỳ kheo thưa :"Lá cây trong tay Thế Tôn rất ít so với lá cây trong rừng". Ðức Phật dạy "Cũng thế, cho ta thấy biết nhiều như lá cây trong rừng, những điều ta dạy các ông ít như lá cây trong nắm tay ta" Ðiều này khiến chúng ta thấy rõ, dù việc ấy đúng sự thật mà không cần thiết cho sự đào tạo xây dựng con người được an vui hạnh phúc hiện tại và mai sau, Phật vẫn không đem ra chỉ dạy. Phật chỉ dạy những điều cấp thiết để giải quyết mọi khổ đau cho kiếp sống con người. Vì tuổi thọ con người quá ngắn (60--70 năm) không đủ thì giờ để học hiểu hết mọi điều trên thế gian này.
   Phần hệ trọng nhất nơi con người là tinh thần. Tinh thần sai sử thể xác tạo thành nghiệp lành nghiệp dữ, cảm thọ quả khổ, vui ở hiện tại và vị lai. Cho nên bao nhiêu lời khuyên răn của Phật đều đặt nặng sự chuyển hoá nội tâm của con người. Con người nội tâm được trong sáng thì đời sống hiện tại đầy đủ ý nghĩa, sau khi kết thúc cuộc đời mọi sự sáng trong tươi đẹp đang sẵn sàng chờ chực. Ðây là trọng tâm cứu khổ chúng sinh của đức Phật Thích Ca, cũng là của đạo Phật.
   Ðạo Phật chủ trương giác ngộ, giải thoát, từ bi, bình đẳng - Ðức Phật do giác ngộ nên thành Phật, suốt đời giáo hoá của Ngài cũng lấy giác ngộ làm trọng tâm. Người tu Phật mà thiếu giác ngộ là không phải người đệ tử chân chính của đạo Phật. Khổ đau gốc từ vô minh, muốn hết khổ đau phải dứt sạch vô minh. Chỉ có ánh sáng giác ngộ mới dẹp tan được màn vô minh, ngoài giác ngộ ra không còn cách nào dẹp được vô minh. Như chỉ có ánh sáng mới dẹp được bóng tối, ngoài ánh sáng không có cái gì dẹp được bóng tối. Vô minh không tan thì đau khổ làm sao hết được. Vì thế, phương pháp duy nhất để cứu khổ chúng sinh là giác ngộ. Ðây là nguyên nhân đạo Phật lấy giác ngộ làm chủ yếu.
   Nhờ giác ngộ con người mới giản trạch được điều chân lẽ ngụy, thấy rõ cái gì trói buộc, cái gì tự d, nên chọn được lối sống thích ứng lẽ thật, phù hợp với tinh thần tự do. Tự do đây không có nghĩa đòi hỏi bên ngoài, nơi kẻ khác mà tụ chiến thắng những dục vọng đê hèn của mình, hàng phục được vọng tưởng điên đảo của nội tâm. Ðúng với câu đức Phật dạy: Thắng một vạn quân không bằng thắng mình, thắng mình mới là chiến công oanh liệt". Tinh thần tự do của đạo Phật là làm chủ toàn vẹn thể xác lẫn tinh thần của chính mình. Ðó là tự do tuyệt đối, cũng là giải thoát của Phật dạy.
   Ðem vui và giải khổ cho chúng sanh là lòng từ bi của đạo Phật. Muốn cho mọi người hết khổ được vui, tu sĩ Phật Giáo lúc nào cũng đưa cao ngọn đuốc chánh pháp cho mọi người mồi, để cùng thắp sáng trong căn nhà tăm tối muôn đời của mình. Bản thân mình, người tu sĩ phải chiến thắng phiền não để làm mẫu mực và chỉ dạy người dẹp trừ phiền não. Vô số khổ đau của chúng sanh đều phát xuất từ si mê và phiền não. Thiếu thốn vật chất là đau khổ đã đành, có khi thừa mứa vật chất người ta vẫn đau khổ như thường. Cho nên trí tuệ là hòn ngọc quý để đổi lấy của cải và sự nghiệp, trí tuệ là ngọn đuốc soi sáng cho chúng ta tránh khỏi lạc lối lầm đường. Dứt một phần phiền não, chúng ta được một phần an lạc, hoàn toàn sạch phiền não thì còn gì làm phiền lụy chúng ta. Sau khi mở sáng con mắt trí tuệ và dứt sạch phiền não, con người mới được an vui tự tại đầy đủ. Người tu sĩ Phật giáo tha thiết cứu khổ chúng sanh bằng cách tận lực chỉ dạy cho mọi người được trí tuệ và tự do.
   Phật giáo chỉ nhìn chúng sanh đều bình đẳng trong bản tánh, chỉ có sai khác trên nghiệp tướng. Nghiệp tướng là cái sinh diệt biến động, bản tánh chưa bao giờ sinh diệt đổi thay. Cái sanh diệt biến động là tạm bợ, đã tạm bợ dù sai khác thế mấy cũng không quan trọng. Chính cái quan trọng là bản tánh thường hằng của chúng sanh. Cho nên đức Phật thường dạy "Tất cả chúng sanh đều có tánh Phật", đó là lối nhìn bình đẳng của Phật giáo. Thấy thấu suốt được lẽ này, chúng ta sẽ dứt được tâm tự cao ngã mạn và không còn dám khinh thường một ai. Ðây là nền tảng đạo đức chân thật, nên Bồ tát Thường Bất Khinh thấy ai cũng nói "Tôi không dám khinh các ngài, các ngài sẽ thành Phật". Ðã sẵn có tánh Phật thì người nào tu mà chẳng được, chỉ do chưa thức tỉnh và lười nhác mà thôi. Do cái nhìn thấu suốt này, người tu theo đạo Phật không bao giờ có tâm kỳ thị với bất cứ nhóm nào, cũng không có tâm khinh khi miệt thị ai.
   Ðạo Phật lấy giác ngộ làm gốc rễ, lấy giải thoát làm hoa trái, lấy từ bi và bình đẳng làm nhựa sống. Bốn yếu tố này rất thiết thân với nhân loại văn minh. Bất cứ nền văn minh chân chính nào đòi hỏi con người phải có đủ trí tuệ sáng suốt, thong thả tự do, tình thương làm vơi cạn đau khổ cho con người, bình đẳng không chấp nhận giai cấp, không kỳ thị tôn giáo, chủng tộc, màu da. Nếu thiếu một trong bốn yếu tố này, dù nói văn minh vẫn chưa thực sự văn minh. Ðứng từ góc độ này mà nhìn, chúng ta thấy đức Phật đã quả thực đi trước các nhà khoa học xa; tương lai dù nhân loại văn minh tiến bộ đến đâu cũng khó qua mặt được đạo Phật.
                                                                       Nguồn  http://kienthuc.net.vn/


Thứ Sáu, 4 tháng 7, 2014

CUỘC SỐNG LUÔN CÓ HAI ĐÁP ÁN



Hãy quay về hướng mặt trời, và bạn sẽ không thấy bóng tối (Helen Keller).
   
   Thầy tôi là một người rất đặc biệt, trong mỗi vấn đề của cuộc sống, thầy luôn đưa ra hai đáp án khác nhau.
   Đối với những học sinh xuất sắc, thầy nói rằng: “Học kỳ này em thi đạt thành tích nhất lớp cũng không có gì tự hào lắm, vì học kỳ sau em chưa hẳn đạt được như vậy. Nhưng nếu học kỳ sau em lại đứng nhất cũng không có gì hãnh diện, vì thi vào đại học em chưa chắc đỗ thủ khoa nhưng nếu đạt thủ khoa cũng không có gì xuất sắc lắm, bởi vì sau này ra làm việc tham gia công tác ngoài xã hội không nhất định em sẽ luôn đứng nhất”.
   Và đối với những học sinh yếu kém khác thì thầy có cách nói ngược lại: “Nếu học kỳ này em thi không đạt kết quả tốt cũng không có gì quá lo ngại vì còn có học kỳ sau, nhưng nếu học kỳ sau lại không tốt cũng đừng quá buồn lo vì thi vào đại học em không hẳn lại như thế và nếu có thi hỏng đại học cũng không có gì đáng xấu hổ bởi còn có các trường đại học của xã hội (trường đời), thành tài không chỉ có ở con đường thi cử”.
   Thầy giáo còn kể cho chúng tôi nghe câu chuyện ngụ ngôn về kiến và dế: “Mùa thu đến, đàn kiến vất vả từ sáng đến tối lo kiếm thức ăn chuẩn bị cho mùa đông sắp tới, mà dế thì ngược lại ẩn trong đám cỏ xanh tươi cất tiếng hát vang.
   Mùa đông đến gần, kiến có thể ở trong hang ấm áp từ từ thưởng thức những món ăn ngon do mình kiếm được. Còn dế thì nằm chết dần ngoài hang và mạng sống của chúng chỉ trong vòng 3 tháng".
   Thầy cũng từng nói với học sinh chúng tôi: “Các em nên học theo cách sống của kiến hay của dế?".
   Chúng tôi đồng thanh trả lời: “kiến”.
   Thầy vui vẻ gật đầu nói: “Đúng! Chúng ta nên học tập từ kiến, cần cù làm việc tự mình tạo hạnh phúc cho mình bằng chính đôi tay của mình, bất luận thế nào cũng không nên học theo cách sống của dế, chỉ biết vui chơi mà không lo cho cuộc sống tương lai”.
   Nhưng không ít lâu sau, có một học sinh bị căn bệnh ung thư nặng không còn trị được. Lúc đó, thầy đến bệnh viện thăm cô học trò và kể lại câu chuyện ngụ ngôn lúc trước và khi thầy kể gần xong, cô học sinh liền nói : “Thưa thầy, em cũng nghĩ sẽ làm như kiến vậy”. Không ngờ thầy nói : “Không , em nên làm như dế, tuy rằng cuộc sống của chúng có ngắn ngủi nhưng chúng biết đem lời ca tiếng hát hay đẹp để lại cho đời, biết cống hiến và góp niềm vui cho nhân loại. Còn kiến tuy cả ngày vất vả công việc nhưng chúng chỉ lo cho cái ăn của chúng mà thôi”. Nghe xong, cô học sinh mỉm cười vui vẻ làm nhiều việc tốt trong những ngày còn lại và đi đến điểm cuối cùng của cuộc sống mà không âu sầu bi thương.
    Câu chuyện trên là một bài học rất hay cho chúng ta, bình thường thầy giáo nói có hai đáp án khác nhau, hoàn toàn tương phản nhưng đó là một phương thức của giáo dục. Bởi vì học sinh luôn không giống nhau về nhiều mặt nên thầy giáo phải biết cách giáo dục theo khả năng, tính cách của đối tượng, đó là điểm thành công của giáo dục cũng là cách làm cho cuộc sống trở nên hài hòa.
    Đồng thời câu chuyện này cũng giúp chúng ta hiểu rõ rằng trong mỗi một giai đoạn và hoàn cảnh khác nhau của cuộc đời, chúng ta nên tùy cơ ứng biến cho cuộc sống mỗi ngày tốt đẹp và hoàn hảo hơn. Chúng ta không nên cố chấp một phương án, một quan niệm hay một suy nghĩ nào đó mà cho là vĩnh cửu và đúng với mọi lúc mọi nơi. Chúng ta nên biết cuộc sống có muôn hình vạn trạng vì thế chúng ta cũng phải linh động mà thay đổi cách nhìn, cách sống cho phù hợp theo chiều hướng tốt đẹp.
                                                                                 Sưu tầm

Thứ Ba, 1 tháng 7, 2014

SÁ CHI SUY THỊNH VIỆC ĐỜI...

                                               (Hình trên trích trong tập NƠI ẤY BÌNH YÊN(Xem phần giới thiệu sách))
Thân như điện ảnh hữu hoàn vô
Vạn mộc xuân vinh thu hựu khô
Nhậm vận thịnh suy vô bố úy
Thịnh suy như lộ thảo đầu phô.
(Thân như bóng chớp chiều tà
Cỏ xuân tươi tốt thu qua rụng rời
Sá chi suy thịnh việc đời
Thịnh suy như hạt sương rơi đầu cành)

(HT.Thích Mật Thể dịch)


tiểu sử tác giả bài kệ
Vạn Hạnh thiền sư 萬行禪師 (?-1018) họ Nguyễn , tên thực và năm sinh đều chưa rõ, người châu Cổ Pháp, lộ Bắc Giang. Từ nhỏ đã học thông tam giáo, đặc biệt rất say mê đạo Phật.

Năm 21 tuổi, ông đi tu ở chùa Lục Tổ, hương Dịch Bảng và lập thành thế hệ thứ mười hai, dòng thiền Nam phương. Tuy theo đạo Phật, song ông vẫn quan tâm đến những biến cố chính trị, xã hội trong giai đoạn đó. Ông đã góp nhiều ý kiến giúp Lê Đại Hành (980-1005) chống giặc ngoại xâm và dựng nước, sau lại góp phần giúp Lý Công Uẩn lên ngôi (1010). Là một người có cái nhìn nhạy bén về thời cuộc như vậy nên trong thời Tiền Lê, ông được vua Lê Đại Hành tôn kính; sang thời nhà Lý càng được triều đình trọng đãi. Lý Thái Tổ (1010-1028) phong ông làm quốc sư.

Ông mất ngày 15 tháng Năm năm Mậu ngọ, niên hiệu Thuận Thiên thứ chín (tức ngày 30 tháng Sáu năm 1018).

Tác phẩm: hiện còn 5 bài thơ, có tính chất những lời sấm và lời kệ. Ngoài ra còn có một ít lời phát biểu về thời cuộc. 
                                                     Nguồn: http://www1.agu.edu.vn/gs..

Chủ Nhật, 29 tháng 6, 2014

CHUỘT CẮN KHỐ RÁCH



     Một đệ tử quyết tâm cầu đạo, xin học với một đạo sư. Sau thời gian học hành chăm chỉ, một hôm sư phụ có việc phải đi xa một thời gian nên dặn học trò ở lại chăm lo tu hành.
    Học trò nghe theo lời thầy, thiền định sớm hôm không hề bê trễ, Vì nếp sống tu hành thanh bần, tu sĩ chỉ có độc mỗi một miếng khố che thân. Nhưng chiếc khố cứ bị chuột cắn rách hoài nên tu sĩ cứ lâu lâu lại phải đi xin một mảnh vải che thân khác
   Dân làng thấy vậy, bèn biếu tu sĩ một con mèo để trừ lũ chuột. Tu sĩ đem con mèo về nuôi, từ đó chuột không dám lộng hành nữa, nhưng tu sĩ lại phải lo thêm một phần ăn.
   Ngoài thực phẩm chay tịnh, tu sĩ phải xin sữa để nuôi con mèo. Một tín đồ thấy vậy bèn tình nguyện dâng cúng tu sĩ một con bò cái để có sữa nuôi mèo. Tu sĩ vui vẻ nhận con bò nhưng nuôi được mèo lại không có rơm cho bò ăn. Do đó, ngoài thức ăn khất thực, tu sĩ lại phải đi xin rơm về nuôi bò.
   Dân làng thấy vậy bèn biếu tu sĩ một mảnh đất và dụng cụ canh nông để tu sĩ trồng trọt, nuôi bò. Tu sĩ ra công cầy cấy nên rau trổ thật nhiều, bò ăn không hết, phải mang bán ngoài chợ.
   Miếng đất thật mầu mỡ sinh hoa lợi quá nhiều, tu sĩ làm không xuể, phải gọi người đến làng giúp. Lạ thay, miếng đất cứ thế sinh sôi nẩy nở, trồng gì cũng tươi tốt và chả mấy chốc trở nên một đồn điền trù phú.
   Tu sĩ có nhiều hoa lợi bèn xây một đền thờ to lớn, đẹp đẽ, thuê thợ khắc tượng, đúc chuông thật vĩ đại, nhưng thời gian tu hành không còn là bao vì tu sĩ phải lo trông nom đồn điền, lo sổ sách giao dịch buôn bán, kiểm soát nhân công trồng tỉa, rồi có tiền bạc phải lo đầu tư sợ mất, bỏ vốn mua thêm đất đai, khai khẩn thêm nữa.
   Một hôm, sư phụ trở về không trông thấy túp lều đơn sơ nữa mà thay vào đó một ngôi đền tráng lệ, nô nức khách hành hương, trong đền ồn ào những tín đồ vừa cúng bái vừa buôn bán.
  Trông thấy sư phụ, tu sĩ mừng rỡ chạy ra chào. Sư phụ ôn tồn hỏi tại sao lại có sự thay đổi như thế. Tu sĩ trả lời, ’thưa thầy, thật tâm con muốn tu hành nhưng tại lũ chuột cứ cắn rách áo hoài. Để bảo vệ cái áo con nuôi mèo. Để có sữa cho mèo ăn, con phải nuôi bò, và để có rau nuôi bò, con phải canh tác. Rồi thì trúng mùa liên tiếp, sức con làm không xuể nên phải gọi thêm người làm giúp, rồi thì buôn bán thành công, tiền bạc nhiều thêm, con phải đích thân trông nom mọi việc. Sau đó con cho xây cất đền thờ to tát, đúc tượng thật vĩ đại, con còn mướn người lo việc cúng tế, nhang đèn cẩn thận’.
  Sư phụ thở dài, ’xây cất đền thờ thật to chỉ là trói buộc, nào phải giải thoát. Tụ tập tín đồ cho đông, ồn ào phức tạp, chỉ gây trở ngại cho việc thanh tu. Chỉ vì một cái khố rách mà con đã đi thật xa, xa hẳn con đường mà ta đã chỉ dạy nhằm việc giải thoát. Con chỉ lầm lẫn một chút mà đã đi lệch lúc nào không hay, trói buộc vào các thứ nghịch duyên đó rồi làm sao có thể tu hành giải thoát thoát được ?’.
   Chỉ vì một sự việc rất nhỏ mà đôi khi nó sẽ dấn đến những sự việc lớn bất ngờ mà chính bản thân ta cũng không ngờ tới.
   Bài học cuộc sống cho chúng ta là hãy biết dừng lại và cảm nhận, cảm nhận mục tiêu ban đầu và quãng đường ta đang đi, cảm nhận kết quả mà ta đã đạt…vấn đề là biết hay chưa biết, vậy thôi. Nếu kiếp này chưa biết thì có thể kiếp sau, kiếp sau.
                                                                                         Thiền sư Ấn Độ Ram Gopal Muzumdar:

Thứ Sáu, 27 tháng 6, 2014

CHIẾC BÌNH NƯỚC GIỮA SA MẠC


   Một người đàn ông bị lạc giữa một sa mạc rộng lớn. Ông mệt lả và khát khô, sẵn sàng đánh đổi bất kì cái gì chỉ để lấy một ngụm nước mát.
   Đi mãi đi mãi, đến khi đôi chân của ông đã sưng lên nhức nhối, ông thấy 1 căn lều: cũ, rách nát, không cửa sổ.
   Ông nhìn quanh căn lều và thấy ở 1 góc tối, có 1 cái máy bơm nước cũ và rỉ sét. Tất cả trở nên lu mờ đi bên cạnh cái máy bơm nước, người đàn ông vội vã bước tới, vịn chặt vào tay cầm, ra sức bơm. Nhưng không có 1 giọt nước nào chảy ra cả.
   Thất vọng, người đàn ông lại nhìn quanh căn lều. Lúc này, ông mới để ý thấy 1 cái bình nhỏ. Phủi sạch bụi cát trên bình, ông đọc được dòng chữ nguệch ngoạc viết bằng cách lấy viên đá cào lên: “Hãy đổ hết nuớc trong bình này vào máy bơm. Và trước khi đi, hãy nhớ đổ nước đầy lại vào chiếc bình này”.
  Người đàn ông bật nắp bình ra, và đúng thật, trong bình đầy nước mát. Bỗng nhiên, người đàn ông rơi vào 1 tình thế bấp bênh. Nếu ông uống ngay chỗ nước trong bình, chắc chắn ông có thể sống sót. Nhưng nếu ông đổ hết nước vào cái bơm cũ gỉ, có thể nó sẽ bơm được nước trong lành từ sâu trong lòng đất - rất nhiều nước.
   Ông cân nhắc khả năng của cả hai sự lựa chọn: nên mạo hiểm rót nườc vào máy bơm để có nguồn nước trong lành hay uống nước trong cái bình cũ và coi như không đọc được lời chỉ dẫn? Dù sao, lời chỉ dẫn không biết đã ở đó bao lâu rồi và không biết có còn chính xác nữa không......
   Nhưng rồi cuối cùng, ông cũng quyết định rót hết nước váo cái máy bơm. Rồi ông tiếp tục nhấn mạnh cái cần của máy bơm, một lần, hai lần ….chẳng có gì xảy ra cả! Tuy hoảng hốt, nhưng nếu dừng lại, ông sẽ không còn một nguồn hy vọng nào nữa, nên người đàn ông kiên trì bơm lên xuống, lần nữa, lần nữa, lần nữa…. Nước mát và trong lành bắt đầu chảy ra từ cái máy bơm cũ kỹ. Người đàn ông vội vã hứng nước vào bình và uống.
   Rồi ông hứng đầy bình, dành cho người nào đó có thể không may mắn bị lạc đưòng như ông và sẽ đến đây. Ông đậy nắp bình, rồi viết thêm 1 câu dưới dòng chữ có sẵn trên bình: “Hãy làm theo chỉ dẫn. Bạn phải cho trước khi bạn có thể nhận.”

                                                                                ST 

Thứ Tư, 25 tháng 6, 2014

TÌM HIỂU VỀ CÁI CHẾT





CHẾT LÀ GÌ?
-CHẾT LÂM SÀNG (theo Y Học)
   Khi mũi hết thở, tim ngưng đập ,mất ý thức, đồng tử không phản xạ với ánh sáng, khi chiếu vào.
-CHẾT THẬT SỰ (theo Đạo Phật)
    Theo Đạo Phật, Chết thật sự,  là khi thần Thức, rời bỏ thể xác, để vào cõi Trung giới, tức là nơi tạm trú, của những vong linh, chờ đi tái sinh .      
1/Phật giáo Nguyên thủykhông chấp nhận sự hiện hữu, của thể dạng trung gian (antarabhava). Dòng tiếp nối, liên tục của tri thức (continuum of consciousness) trực tiếp chuyển tải Nghiệp của một cá thể, từ cái chết, sang sự sinh (thụ thai) không có sự gián đoạn nào, tức không trải qua, một thể dạng, trung gian nào cả.
Sự « chuyển tiếp » giữa thể dạng hiện hữu trước, sang thể dạng hiện hữu tiếp theo sau, xảy ra rất nhanh, chỉ trong khoảnh khắc, của « một chớp mắt, hay một tia chớp ».  
  Tóm lại, Phật giáo Nguyên thủy, không quan tâm đến, những gì xảy ra, giữa cái chết và sự sinh. Có thể đây là một sự thiếu sót, vì khi quan sát và theo dõi diễn tiến,  của một cái chết bình thường, người ta thấy quá trình đó, không xảy ra đột ngột như một « tia chớp », và đối với sự sinh, thì các điều kiện thuận lợi, giúp tinh trùng, noãn cầu và dòng tiếp nối liên tục, của tri Thức kết hợp với nhau, không xảy ra trong « chớp mắt ».
2/ Phật giáo Đại Thừa : Ngài Thế thân (Vasubandu - thế kỷ thứ III-IV) nêu lên khái niệm, về thể dạng trung gian, xảy ra giữa cái chết và sự sinh. 
   Thể dạng này, tượng trưng bởi một sinh linh cấu tạo bằng « khí » và
« tri thức » (consciouness), mang hình hài của cá thể mà nó sắp tái sinh và « sống » được bảy ngày.
   Sinh linh, trong thể dạng trung gian ấy, có thể nhận biết được các sinh linh cùng một thể loại với nó.
   Sau bảy ngay, thì nguyên nhân của Nghiệp, bắt đầu « chín », sinh linh ở thể dạng trung gian trên đây sẽ chuyển sang thể dạng tái sinh, trong những điều kiện phù hợp, với Nghiệp của nó.
   Tóm lại ,trên một khía cạnh nào đó, có thể hiểu  A-lại-da thức, là dòng tiếp nối liên tục, của tri Thức (continuum of consciousness) của một cá thể, vận hành xuyên qua thể dạng trung gian. Tan-tra thừa « mô tả » các cơ sở, chuyển tải trên đây, dưới hình thức, các « khí » cực kỳ tinh tế.
   Thời điểm, khi xảy ra sự sinh (thụ thai) đánh dấu sự chấm dứt, của thể dạng trung gian và xác định sự thâm nhập, của tri Thức vào phôi, vừa được hình thành.
   Cũng bắt đầu, từ thời điểm trên đây, phôi hàm chứa, một tri Thức mới, tượng trưng cho Quả phát sinh  từ Nghiệp, trong các kiếp trước.
 Thông thường, thể dạng trung gian, kéo dài 7 ngày, tối đa 49 ngày, sau khi chết.
Tuy nhiên, theo sự tin tưởng, của một số tông phái Phật giáo Nhật bản, thời gian này, có thể lên đến 77 ngày.
3/Theo Phật giáo Tây Tạng)
     Khái niệm, về thể dạng trung gian, được Tan-tra thừa và nhất là Tối thượng du-già Tan-tra nghiên cứu, tu tập và quảng bá rộng rãi.
Tan-tra thừa, sử dụng các phương pháp quan sát, phân tích và thiền định, để tìm hiểu các hiện tượng liên quan đến, quá trình của cái chết và sự sinh, để ứng dụng vào việc tu tập. Cái Chết, theo Tan-tra thừa, là một quá trình tan biến tuần tự, của thân xác vật chất và tâm thức, các hiện tượng tan biến này, được phân loại thành nhiều cấp bậc, từ thô thiển đến tinh tế và cực tinh tế.
      Cái Chết, theo Tử Thư Tây Tạng, là khoảng thời gian kéo dài, từ lúc một người tắt thở, cho đến khi đương sự, theo Nghiệp để tái sinh, vào một trong 6 đường, là Trời, người,Thần, súc sinh, ngạ quỷ và địa ngục .
Hiểu theo nghĩa này, Chết thường có các giai đoạn, là lâm chung, tứ đại tan rã, pháp tính và tái sinh .
3-1/LÂM CHUNG kéo dài từ lúc, một người thân của chúng ta ngưng thở, cho đến khi thần Thức người ấy, bỏ lại thể xác, vào Trung giới, hóa thành vong linh, hay hương linh.Theo người Trung Hoa, giai đoạn này, thường nằm trong khoảng 8 giờ .
  Nhưng người Tây Tạng, lại nói nó có thể kéo dài tới 3 ngày rưỡi, hay 4 ngày :
Khi hơi thở ngưng lại, khí dương, từ đỉnh đầu đi xuống và khí âm, từ dưới huyệt Đan điền đi lên, để hợp thành nguyên khí ở huyệt Gíap Tích ngang tim .
   Bấy giờ, người chết thấy một vầng ánh sáng trong rực rỡ, gọi là Tịch Quang của Pháp thân. Khi ánh sáng này biến đi,người ấy sẽ rơi vào bóng tối cận tử và nhìn thấy tịch quang của Pháp thân lần thứ 2, trước khi thần thức thoát khỏi thể xác .
  Nếu người chết, không lợi dụng cơ hội này, để thoát ly sinh tử, thì sẽ lạc vào cõi Trung giới, hóa thành hương linh, mang thân Trung ấm .
  Thân này, có khả năng xuyên qua tường và  di chuyển đồng bộ, với tư tưởng của hương linh.Từ lúc mang thân Trung ấm, Hương Linh, lại bị Nghiệp lực chi phối và thường phải trải qua 2 giai đoạn, là Trung ấm Pháp tính và Trung ấm Tái sinh .
Theo Đại đức Rinpoche, thì nếu người sắp qua đời, đã nói được những Tâm Tư nguyện vọng của họ, một cách tự nhiên thoải mái, thì điều ấy, sẽ giúp họ thay đổi được, quan niệm sống, thay đổi về cuộc đời mà họ, đã từng trải qua, để đi vào thế giới khác, một cách bình an tốt đẹp .
 Khi bạn, đến thăm người sắp chết, nếu họ nói ra, những gì về cá nhân họ, cuộc đời họ, tình cảnh họ, bệnh tình họ... thì đó là, những cảm nghĩ riêng tư của họ. 
 Hãy để cho họ thổ lộ, những gì mà họ muốn nói, đừng cản lời họ vào lúc đó.   
Không những là không cản trở, mà còn khuyến khích, cảm thông với họ, hòa đồng vào với họ, một cách ân cần đầy tình cảm ...khi họ nói ra:
Có vậy, họ sẽ có được cảm giác, là khi ra đi, họ không cô đơn.  
Phần lớn người sắp qua đời, đã thường tha thứ, những gì mà người khác, đã gây hại cho họ, kể cả kẻ thù, mà lúc còn sống, họ rất căm giận.
Ngay cả nợ nần, họ cũng nhớ và muốn giải quyết dứt khoát.
Ở phút lâm chung, con người tự nhiên, tốt lành hơn, cởi mở hơn, thánh thiện hơn, tất cả như buông xả, nên họ dễ dàng tha thứ. 
Ngay cả tử tội, trước khi thọ  hình, cũng thường tỏ ra ăn năn hối cải, những lỗi lầm mà mình, đã phạm phải. 
Theo các Lạt Ma Tây Tạng, thì dù người sắp lìa đời, đã tạo nhiều ác nghiệp, nhưng lúc sắp mất, họ tỏ ra ân hận, hối tiếc, ăn năn sám hối, mong cầu sự tha thứ, thì chắc chắn sẽ phần nào, chuyển hoá được nghiệp xấu.
Điều luôn luôn cần lưu ý, là người sắp qua đời, sẽ ra đi một mình, nên phút tiễn đưa, cần có thân nhân bè bạn, để lúc qua đời, khỏi cảm thấy bơ vơ lạc lỏng.
Vì thế, sự lẻ loi đơn độc, là điều bất hạnh nhất, của người sắp mất.
     Đừng bao giờ thuyết giảng giáo lý của riêng bạn cho người sắp lìa đời, nhất là khi người ấy, không cùng tín ngưỡng với bạn.
Điều quan trọng cần nói, là bạn bè, người thân, khi kề cận bên người sắp qua đời ,thì đừng bịn rịn, khóc lóc, níu kéo người sắp mất
Nếu ta cứ tạo mối thương cảm day dứt, thì người sắp qua đời, sẽ đau buồn vô cùng, khiến họ khó nhắm mắt ; đó chính là điều, vô cùng tai hại.
Cần nhớ kỹ rằng: khi gần tới phút lâm chung, họ cần phải được an ổn tâm hồn, buông xả tất cả, không còn gì vướng bận, vào giai đoạn quan trọng đó.
3-2/SỰ TAN RÃ CỦA TỨ ÐẠI
 Chết, chính là sự hủy hoại, của cơ thể.  Theo các Kinh sách cổ Đông phương, thì thân xác và Tâm Thức hình thành, là do sự liên kết, của 5 Thể hay 5 Đại - Đó là Đất, Nước, Gió, Lửa và khoảng Không.
- Đất, tạo nên thịt, xương và cả khứu giác , để nhận biết các mùi.
Nước, tạo nên máu huyết, chất nhờn, chất lỏng, trong cơ thể và luôn cả vị giác, để nhận biết cay, chua đắng mặn, ngọt, bùi.
Gió, tạo nên hơi thở, hình thể và cả xúc giác, để cảm nhận khi tiếp xúc, sờ mó, va chạm.   
- Lửa, tạo nên hơi ấm, màu sắc và thị giác, để nhìn ngắm, xác định hình thể sắc màu. 
- Khoảng Không, tạo ra thính giác,  giúp nghe và phân biệt, các âm thanh .
Khoảng Không, còn tạo ra những xoang bào, những khoảng trống, khoảng hở, ở bên trong cơ thể.
Khi Chết, thì những tan rã, của các Thể, hay các Đại , diễn ra rất nhanh và người sắp chết lúc ấy, cũng sẽ trải qua những xáo trộn, biến chuyển trong cơ thể và cả tinh thần rất nhanh.
a/Trước hết, thì Thể Đất tan rã, nên cơ thể hầu như không còn sức mạnh nữa, khi đó người sắp chết, cảm thấy cơ thể nặng nề kỳ lạ và như bị té chúi xuống, không tự mình nhấc người lên được. 
Da bắt đầu, có màu tái xanh, má hóp và trên răng, hiện ra những điểm màu đen. 
Khi đó hai mắt, như bị kép sụp xuống, thấy mờ mờ, miệng bắt đầu nói , những lời tối nghĩa, mơ hồ, Tâm thần suy sụp.
b/Tiếp đến, Thể Nước, bắt đầu tan rã, với dấu hiệu nước mắt, nước mũi ,nước miếng chảy ra, mà ta không thể cản được.
Mắt miệng, cổ họng khô và lưỡi, như cứng lại và khát nước vô cùng. 
Hai lỗ mũi ,như lún vào trong, tay chân co giật, run rẩy,
Tâm thần mờ mịt như bồng bềnh.  Khi đó, từ cơ thể tỏa ra, mùi khó chịu , đó là mùi tử khí.   Điều này, cũng dễ hiểu, vì cơ thể con người, thật sự là một khối dơ dáy, như nhận định của các vị Chân sư, quán triệt cái thân ô trọc và thấy rõ “cái cơ thể, của con người” là như vậy .
Nó tích chứa biết bao cái xấu xa, bất toàn và xú uế , nhưng nhờ các cơ phận của cơ thể, giữ chúng lại bên trong, nên mọi người không thấy , chỉ thỉnh thoảng thấy, qua mồ hôi, hơi thở, hay phân giải, nước tiểu.
Nhưng khi các đại, bắt đầu tan rã, thì các cơ phận của cơ thể, cũng không còn khả năng, cầm giữ các thứ đó nữa, mà phân rã hay tuôn ra, khiến tỏa mùi khó chịu. 
 Những người làm việc ở bệnh viện, thường cho biết là, họ đã từng cảm nhận, những mùi hôi tỏa ra, trong phòng người sắp qua đời, hay vừa mới qua đời.  
Ở giai đoạn tan rã, của thể Nước, thì qua một số người, đã có lần chết đi, sống lại, nhiều khi nhớ và mô tả, lúc này họ như bị chìm sâu, trong lòng biển lớn, hay bị khối nước ào ạt cuốn đi.
c/Tiếp theo là giai đoạn, Thể Lửa tan rã dần, nên cơ thể lạnh, tái, mắt mũi miệng, cổ khô rát.  Hơi thở lạnh. Lúc này, không thấy rõ sự vật, tâm trí mờ tối, không nhận rõ ra, bất cứ ai, cũng như không nhớ, được ai.  Họ thấy, những đám khói mờ bốc lên. 
d/Khi Gió bắt đầu tan rã, thì bản thân người sắp mất, cảm thấy khó thở, nhiều người vào giai đoạn này, thường bảo thân nhân, mở các cửa ra vì họ ngộp thở. 
Vì là gió đang tan rã, nên thoát ra từ bên trong cơ thể, qua cổ họng, khiến ta thở hổn hển.  Nhưng không có sức hít vào. 
Ðôi mắt lúc bấy giờ trợn ngược, vì các dây cơ trong mắt, không còn tạo thế cân bằng nữa.  Cả cơ thể, trở nên cứng đờ. 
Tâm Thức, lúc ấy mờ mịt tối tăm, không còn khả năng nhận biết, những gì xảy ra chung quanh.  Khi ấy, các ảo Giác, bắt đầu hiện ra.
Tùy theo Nghiệp Thiện, ác ta gây ra, lúc còn sống, mà ta sẽ trông thấy, những hình như tương ứng, ta cũng thấy lại, tất cả quãng đời của ta, như một cuốn phim, chiếu ngược . Lúc này, các hình ảnh và sự kiện, như cuồng phong, bão tố vì Thể Gió, đang đi giai đoạn tan rã.  Đây là lúc máu, rút về Tim . Hơi thở cuối cùng hắt ra. 
Chỉ còn một chút hơi ấm ở tim.  Sự sống chấm dứt.
Tuy nhiên, theo các Lạt Ma Tây Tạng, nhất là những ghi chép, trong Tử Thư, thì lúc này thật sự , vẫn chưa Chết, vì Tâm Thức, còn có thể nghe, nhận biết, những gì về chung quanh . Do đó, mới có lời căn dặn rằng, thân nhân người mới Chết, không nên gây huyên náo, khóc lóc kể lễ, hay làm những điều gì, có thể gây đau khổ, buồn phiền, thất vọng cho người vừa mới qua đời .
Lúc này, là lúc mà thân nhân, nên thay phiên nhau, tụng kinh, đọc kinh cầu nguyện, ít nhất là, trong vòng 49 ngày.
Khi Chết, cái thân xác, thì nằm bất động, chỉ có phần, như sương khói, là Thần Thức thoát ra khỏi cơ thể.
Theo tài liệu, trong Tử thư ,thì lúc bấy giờ, người Chết đang ở trong cõi Trung ấm, chưa nhận Thức được, là mình đã thực sự chết rồi, mà cứ nghĩ, là mình đang còn sống bình thường. Giai đoạn này, quả thật là phức tạp, khó khăn.
Vì cứ nghĩ là mình còn sống tự nhiên, nên vẫn đi lại, cũng ra vào nhà, cũng tiếp xúc gần gũi với vợ con, bạn, hàng xóm láng giềng. 
Nhưng có điều, là không ai trông thấy họ, dù họ làm đủ mọi cách, như xô đẩy, cản đường, kêu gọi... họ vẫn không thể, làm cho bất cứ ai, thấy được họ.
Họ cũng thấy gia đình, bà con nói về họ, nhắc nhở họ. 
Lý do lúc bấy giờ, họ không còn, cái thân vật chất, vật lý và hoá học như trước đây nữa. Rồi khi họ thấy, trong nhà bày biện bàn thờ, khói hương nghi ngút, có ảnh của họ phóng lớn, đặt lên đó nữa, thì họ rất phân vân, tưởng như là mơ, nhưng rồi thấy người thân, vật vã khóc lóc, khiến dần dần họ hiểu ra rằng, mình đã chết .
Mặc dầu vậy, họ vẫn trong tình trạng mơ hồ, phân vân không nhận định hoàn toàn rõ rệt, tình huống của họ, lúc ấy.
Sự phân vân mê mờ, của người đã mất, không biết rõ tình trạng, hoàn cảnh của mình như vậy, rất tai hại, vì trong vòng 49 ngày, nếu Tâm Thức họ, cứ mơ mơ màng màng không rõ rệt, thì họ lại càng khó phản ứng, thích hợp thuận lợi, với những gì đang chờ đợi họ, bên kia của tử. 
 Do đó, các vị Đại sư, thường căn dặn các đệ tử, khi ở cạnh người sắp qua đời, hãy tế nhị, cho họ biết rõ, là họ sẽ phải từ giã, cõi thế gian , đó là điều, mà bất cứ ai, cũng đều phải trải qua, không sớm thì muộn .
Biết được chắc chắn như thế, thì họ sẽ mạnh dạn và dứt khoát ra đi, với ý thức là mình đã thực sự chết rồi.
Điều đó, sẽ giúp họ đối phó với, những tình huống bất ngờ sẽ xuất hiện, khi họ ở vào giai đoạn Trung ấm, giai đoạn mà những gì xuất hiện, thường sẽ rất lạ lùng, hiếm thấy khi họ còn đang sống như:  ánh sáng lạ, toả ra chiếu vào họ, và cả âm thanh nữa: 
 Về ánh sáng, thì có nhiều loại ánh sáng, đủ mọi cấp độ sáng tối và màu sắc khác nhau.  Lúc bấy giờ, họ nên tránh xa, loại ánh sáng nào, nên vào với ánh sáng nào... 
Chính lúc này, là lúc quan trọng, phải biết rõ, âm thanh nào nên tới, ánh sáng nào nên lìa xa..để khỏi đi vào 6 đường lục đạo, xấu xa tai hại, do Tâm Thức mơ hồ lầm lạc.
    3-3/PHÁP TÍNH(giai đoạn Trung ấm Pháp tính) kéo dài 14 ngày, kể từ khi thần thức của người chết, vào Trung giới với thân trung ấm.
   Đây là lúc, chư Phật và Thánh Chúng ,hiện đến tiếp dẫn . Nhưng chỉ những vong linh nào có duyên, mới nhận ra các Ngài và được các Ngài cứu độ :
  a/Từ ngày 1 đến ngày 5,có 5 Phương Phật, là Đại Nhật, A Súc, Bảo Sinh, Di Đà và Bất Không, lần lượt xuất hiện, phóng quang chiếu soi vong linh .
  b/Trong ngày thứ 6, cả năm vị Phật nói trên, đều đồng thời thị hiện phóng quang, chiếu soi vong linh .
  c/Trong ngày thứ 7, có 42 thiện thần (thần ôn hòa) từ trái tim và yết hầu của vong linh xuất ra, phóng quang chiếu soi thân nó .
Theo Tử thư Tây Tạng, những vị thần này, đều là hóa thân của Trời Đại Hắc (Mahakala).
  d/Từ ngày thứ 8 đến ngày thứ 14, có 58 hung thần (thần phẫn nộ)chia thành 7 nhóm, từ trong đầu của vong linh, tuần tự xuất ra ,phóng quang chiếu soi thân nó.
Theo Tử thư Tây Tạng , những vị thần này, đều là hóa thân, của vua Diêm Vương (Yamaraja).
   Cũng theo Tử thư Tây Tạng , trong lúc chư Phật và Thánh Chúng phóng quang chiếu soi, nếu vong linh nào khi sống, đã tu tập và Thấy Tánh, mới có thể hợp nhất vào Trí Quang của Chư Phật, hay sắc thân của Thánh Chúng, thì liền thoát khỏi, vòng sinh tử luân hồi .
   Trên đây, là quan niệm của Mật Tông, còn theo những người thanh tu-tịnh Nghiệp, thì “Chư Phật và Thánh Chúng phóng quang, không phải chỉ để chiếu soi, mà là để tiếp dẫn Thần Thức, của người niệm Phật”.
3-4/TÁI SINH bắt đầu từ tuần lễ thứ 3,khi Chư Phật và Thánh Chúng đều đã biến đi. 
Giai đoạn này, có thể dài hay ngắn,tùy theo Tâm trạng và Nghiệp báo, của mỗi vong linh .Có những vong linh, không qua giai đoạn này, vì họ đã vãng sinh hoặc tái sinh trước đó .Có những vong linh, chỉ ghé qua vài giờ .
Nhưng cũng có những vong linh, phải lưu lại tới 49 ngày hay lâu hơn.
  Thân trung ấm của con người, có hình người bằng đứa bé 8 tuổi, lành lặn hoàn toàn, nhưng nếu người ấy, bị đọa vào loài thú, thì thân ấy, sẽ chuyển thành thân thú, trước khi tái sinh .
                             Bài nầy trích trong TÌM HIỂU VỀ CÁI CHẾT của BS Nguyễn Quý Khoáng                                                                                                        Tài liệu tham khảo chính: The Tibetan Book of Living and Dying của Sogyal Rinpoche.


Thứ Hai, 23 tháng 6, 2014

TIẾNG VỌNG RỪNG SÂU


     Có một cậu bé ngỗ nghịch thường bị mẹ khiển trách. Ngày nọ, giận mẹ nhưng không thể xúc phạm một cách trực tiếp, cậu chạy đến một thung lũng cạnh một khu rừng rậm. Cậu lấy hết sức mình và thét lên: “Tôi ghét người”. Cậu ngạc nhiên vô cùng vì từ khu rừng có tiếng vọng lại: “Tôi ghét người”. Cậu hoảng hốt quay về với mẹ và khóc nức nở. Cậu không thể hiểu được từ trong rừng đã có người thù ghét cậu.
    Người mẹ nắm tay đưa cậu trở lại khu rừng và bảo cậu hãy hét lên: “Tôi yêu người”. Lạ lùng thay, cậu vừa dứt tiếng thì cũng có người nói vọng lại: “Tôi yêu người”. Lúc đó người mẹ mới giải thích cho cậu như sau: “Con ơi, đó là định luật trong cuộc sống của chúng ta. Con cho điều gì, con sẽ nhận điều đó. Ai gieo gió thì người đó gặt bão. Nếu con thù ghét người, thì người cũng sẽ thù ghét con. Nếu con yêu thương người, thì người cũng sẽ yêu thương con”.

     Hận thù lúc nào cũng kéo theo hận thù, bạo động lúc nào cũng sinh ra bạo động. Chỉ có tình yêu mới làm phát sinh tình yêu. Bạo động và hận thù không thể là phương thế để cải tạo xã hội. Chỉ có tình yêu đích thực mới cải đổi được lòng người. Bạn hãy sống cao thượng. Bạn hãy lấy tình yêu để đáp trả lại hận thù. Tiếng vọng cao đẹp nhất của một nghĩa cử yêu thương lúc nào cũng là tiếng vọng của bình an tự trong đáy tâm hồn chúng ta.
                                                                           Trích sách Lẽ Sống