MẬT TÔNG VÀ SỰ HƯỞNG LẠC
Vai trò của mật tông là
chuyển hóa tất cả lạc thú thành kinh nghiệm siêu việt có tỉnh giác bén nhạy sâu
xa. Thay vì khuyên ta tránh xa lạc thú thế tục như nhiều truyền thống tôn giáo
khác, mật tông nhấn mạnh rằng tốt hơn con người ta nên cứ hưởng lạc tự nhiên,
nhưng chuyển cái năng lượng của lạc thú thành con đường nhanh chóng hiệu nghiệm
đưa đến sự toại ý và giác ngộ hoàn toàn. Đây là cách thiện xảo nhất để xử dụng
tiềm năng con người quý báu của chúng ta.
Qua phương pháp chuyển
hóa sâu xa, mật tông chứng minh rằng con người vốn có khả năng thưởng thức hạnh
phúc vô hạn mà đồng thời thoát khỏi những mê vọng vốn thường nhiễm độc lạc thú.
Trái với những gì một số người có thể tưởng, vui thú khoái lạc chẳng có gì là
sai quấy. Điều sai quấy là cái cách ngu si ta bám víu lạc thú, biến nó từ một
nguồn vui trở thành nguyên nhân của khổ đau bất hạnh. Khoái lạc tự chúng không
là vấn đề, mà vấn đề chính là sự bám víu chấp thủ vào khoái lạc. Bởi thế, nếu
có thể thoát ly thói quen bám víu, thì ta có thể tha hồ vui thú mà không bị
những rắc rối vẫn thường kèm theo sự tìm kiếm khoái lạc.
Nếu hiểu đúng nghĩa sự
chuyển hóa, thì bất cứ gì ta làm trong một ngày 24 giờ, đều có thể mang ta tiến
gần hơn đến mục tiêu giác ngộ. Tất cả mọi hành động của ta- đi bộ, ăn uống, và
ngay cả tiểu tiện- đều có thể đưa vào con đường tu tập. Ngay cả giấc ngủ ta, mà
thông thường chỉ là bóng đen của vô thức hay sự hỗn mang của mộng mị, cũng có
thể được chuyển thành kinh nghiệm quang sắc của trí giác vi tế sâu xa.
Có lẽ những điều trên
đây nghe thực vô lý. Cố nhiên những phương pháp tiệm tu, kể cả lối tu theo kinh
điển trong đạo Phật, đều nhấn mạnh rằng những vọng tưởng như ham muốn, ganh
tị...trong đời sống hàng ngày của ta luôn luôn là xấu, cần xem như chất độc.
Chúng ta luôn được nhắc nhở về những hậu quả nguy hiểm của chúng, và được chỉ
dẫn phải tránh ảnh hưởng chúng càng xa càng tốt. Nhưng như trên đã nói, mật
tông lại theo đường lối khác. Mặc dù cũng nhấn mạnh tham ái chấp thủ là nguồn
gốc khổ đau bất mãn, và do thế cần được khắc phục, mật tông lại dạy một phương
pháp thiện xảo là sử dụng năng lượng của chính những vọng tưởng ấy để đào sâu
sự tỉnh thức trong ta, thúc nhanh tiến trình tu tập. Như lương y có thể lấy cây
độc để chế thuốc, cũng vậy hành giả mật tông thiện xảo có thể xử dụng năng
lượng của tham sân một cách có lợi. Chắc chắn điều này có thể làm được lắm.
NHỮNG HÌNH ẢNH CỦA SỰ
TOÀN VẸN
Mật tông không những dạy
ta tận dụng những kinh nghiệm khoái lạc thường nhật, mà còn chỉ cho ta làm thế
nào để khởi động một kinh nghiệm lạc thú sâu xa nồng nàn hơn, đem lại thỏa mãn
nhiều hơn là những khoái lạc mà giác quan thông thường có thể đem lại.
Hiện tại mỗi khi tìm
khoái lạc, chúng ta thường chỉ hướng đến những đối tượng bên ngoài mà ta ham
muốn. Khi không thể tìm được hay không nắm giữ được đối tượng, thì ta đâm ra
bất mãn sầu khổ. Ví dụ nhiều người đang đi tìm người yêu trong mộng tưởng của
mình - một kẻ nào có thể làm suối nguồn hạnh phúc bất tận - nhưng dù có sưu tập
nhiều bồ bịch đến đâu, họ cũng không bao giờ thực hiện được giấc mộng về người
yêu lý tưởng.
Cái điều ta không nhận
ra là, trong mỗi con người chúng ta đều sẵn có một suối nguồn vô biên đầy đủ
năng lượng thuộc nam tính và nữ tính. Bao nhiêu vấn đề rắc rối xảy đến cho
chúng ta chỉ vì hoặc chúng ta không biết đến, hoặc chúng ta đè nén những gì ta
sẵn có trong mình. Đàn ông cố che giấu khía cạnh nữ tính nơi mình, còn phụ nữ
thì lại sợ bộc lộ năng lượng nam tính trong họ. Kết quả là ta luôn luôn cảm
thấy mình bị tách rời khỏi một cái gì mình rất cần đến. Ta thấy mình không còn
nguyên vẹn, và do đó ta quay sang người khác, mong tìm những đức tính mà ta
không có, để có được cảm giác toàn vẹn. Do vậy nhiều lối hành xử của ta bị
nhiễm tính bất an, chiếm hữu. Quả thế, tất cả vấn đề trên thế giới, từ nỗi lo
sợ của một cá nhân cho đến chiến tranh giữa các quốc gia, đều có thể nói đã bắt
nguồn từ cảm giác thiếu thốn này.
Khi cần, những thiền gia
vĩ đại có thể sống biệt lập hàng nhiều năm mà không cảm thấy cô đơn. Vậy mà
chúng ta có thể vô cùng khó chịu nếu phải xa người bạn gái hay bạn trai của
mình dù chỉ một ngày! Tại sao có sự khác biệt lớn lao ấy giữa chúng ta và thiền
giả? Điều này có quan hệ đến những năng lượng nam tính và nữ tính trong ta. Khi
những năng lượng này còn mất quân bình, bị phân chia manh mún, thì chúng ta vẫn
còn mãi khát khao tụ hội với người khác, và không bao giờ được thỏa mãn. Nhưng
nếu năng lượng âm dương bên trong ta được đầy đủ, thì không bao giờ ta cảm thấy
cô đơn.
Mật tông cung ứng nhiều
phương pháp thần diệu để tiếp xúc với tính toàn vẹn nguyên ủy trong ta. Nghệ
thuật mật tông có đầy những biểu tượng hợp nhất và toàn vẹn, diễn tả tiềm năng
của ta để đạt đến viên mãn. Những hình ảnh chư thần giao hợp -mà một số người
nghiên cứu Phật giáo Tây tạng cho là dấu hiệu suy đồi - kỳ thực là một biểu
tượng của sự hợp nhất những năng lượng âm dương trong mỗi con người. Ở bình
diện sâu xa hơn, sự giao hợp của họ còn biểu trưng mục đích của pháp hành trì
cao nhất trong mật tông, là phát sinh đại lạc vi tế nhất, một tâm trạng vô cùng
thích hợp để thâm nhập thực tại tuyệt đối giải thoát ta vĩnh viễn khỏi đau khổ
mê mờ. Ở bình diện này, nam thần tượng trưng cho đại lạc và nữ thần là trí bất
nhị. Vậy sự giao hợp của họ hoàn toàn không dính đến chuyện thỏa mãn giác quan,
mà ám chỉ trạng thái trí tuệ đầy hỉ lạc toàn vẹn, vượt ngoài ham muốn giác quan
thường tình.
Với những người đã thuần
thục, chỉ cần chiêm ngưỡng hình tượng ấy cũng đủ giúp họ phục hồi sự liên lạc
hai năng lượng âm dương trong bản thể. Nhưng muốn tái lập mối liên lạc ấy, điều
tối cần là phải đoạn tuyệt ảnh hưởng của cái tâm phân biệt nhị nguyên, vì chính
tâm phân biệt này đã khiến ta trở thành xa lạ với thực thể sâu xa trong mình.
Chính vì vậy mà những biểu tượng và hình ảnh xử dụng trong mật tông có thể hữu
hiệu hơn danh từ suông, để đưa ta đi vào bản chất nguyên ủy.
BỐN LOẠI MẬT ĐIỂN
Có bốn loại hay trình độ
mật điển Phật giáo : mật điển thiên về hành động, mật điển thiên về tư duy, mật
điển du già và tối thượng du già. Mỗi hạng dành cho một loại hành giả đặc biệt;
và điều khác biệt giữa hạng này hạng kia là mức độ năng lượng ham muốn mà hành
giả có đủ thiện xảo để hướng nó vào con đường tu tập. Theo truyền thống, những
trình độ khác nhau về năng lượng lạc được ví dụ với mức thân mật tính dục trong
quan hệ nam nữ. Hành giả mật tông bậc hạ có thể xử dụng để chuyển hóa năng
lượng lạc khởi lên nơi một người lúc nhìn người yêu. Ở mức độ hai, năng lượng
trao nhau nụ cười có thể được chuyển hóa. Ở mức độ ba, năng lượng cầm tay nhau
được xử dụng để chuyển hóa, trong khi hành giả thuộc mật điển tối thượng du già
thì có được cái thiện xảo để hướng ngay cả năng lượng của sự giao hợp tính dục
vào con đường tu tập. Hình ảnh vô cùng mãnh liệt này cho ta một khái niệm về
tầm mức càng lúc càng tăng của cái năng lượng có thể được chuyển hóa nhờ thực
hành mật tông.
Một câu hỏi thực tế là,
làm thế nào kỹ thuật chuyển hóa mật tông được vận hành có hiệu lực cho mỗi
người. Nói rằng "mật tông xem ham muốn là con đường đến giác ngộ"
chẳng có ý nghĩa gì lắm. Điều quan trọng là, sau khi quan sát kỹ những khả năng
và kinh nghiệm của chính mình, phải tìm cách xác định trong hiện tại, ta xử lý
cái năng lượng ham muốn của mình như thế nào. Ta phải tự hỏi mình có thể
"quản lý" bao nhiêu lạc thú giác quan mà không trở thành điên dại.
Hành trì mật tông cuối cùng có thể đánh thức trạng thái tâm sâu xa vi tế, nguồn
phúc lạc kỳ diệu, song điều ấy không có nghĩa hiện tại ta nên lăn xả vào các
ham muốn không cần phân biệt, chỉ vì chúng cũng có thể đưa đến một thứ lạc thú
nào đó. Ta phải thành thực nhận ra những giới hạn của mình, và phải thực tế tự
xét khả năng nếu muốn tu mật tông có chút nào kết quả.
Một trong những chướng
ngại lớn nhất cho việc tu hành là sự kiêu căng hợm hĩnh. Mối nguy này lại đặc
biệt lớn lao trong sự thực hành mật tông. Khi nghe nói mật tông xử dụng ngay
dục vọng để tu, ta có thể tưởng mình chỉ việc tự nhiên lăn xả vào những thèm
khát bất trị, hoặc gia tăng số lượng ham muốn có sẵn, thế là ta đã thành một
hành giả chân chính. Một số người quả có thái độ như vậy, thực hoàn toàn sai
lạc. Ta không bao giờ nên quên rằng, nếu ngụp lặn trong dục vọng mà đồng nghĩa
với hành trì mật tông, thì tất cả chúng ta đã thành những hành giả mật tông
thượng thặng từ khuya! Mặc dù đời chúng ta đầy dẫy những ham muốn đủ thứ không
bao giờ được thỏa mãn, điều duy nhất ta có được là sự bất mãn càng ngày càng
tăng.
Tại sao ra cơ sự ấy? Tại
sao những ham muốn của ta luôn dẫn đến bất mãn và tuyệt vọng? Nếu không hiểu
được điều này, thì tất cả cuộc nói chuyện về xử dụng ham muốn làm con đường
giác ngộ, chỉ là chuyện đùa.







