Thứ Sáu, 12 tháng 2, 2016

SƠ LƯỢT VÀ Ý NGHĨA 18 VỊ LA HÁN TRONG PHẬT GIÁO

A la hán chỉ là phiên âm từ tiếng Phạn Arahat. Chữ Arahat hay A la hán có 3 nghĩa: Sát tặc, Vô sanh và Ứng cúng. a) Sát tặc là giết sạch hết giặc phiền não trong tâm. Bọn giặc phiền não chúng nó hung tợn dữ dằn lắm. Những thứ phiền não gốc ngọn gì, các Ngài cũng đều giết sạch hết, nên gọi là sát tặc.

b) Vô sanh đồng nghĩa với Niết bàn. Nghĩa là các Ngài đã đạt được một trạng thái tâm lý yên tịnh không còn sanh diệt nữa. Nói rõ, là các Ngài không còn sanh tử luân hồi.

c) Ứng cúng là các Ngài thật xứng đáng cho trời người cúng dường. A la Hán có 3 nghĩa như thế.


1. La Hán Ba Tiêu
2. La Hán Bố Đại
3. La Hán Cử Bát
4. La Hán Hàng Long
5. La Hán Khai Tâm
6. La Hán Kháng Môn
7. La Hán Khánh Hỷ
8. La Hán Khoái Nhĩ
9. La Hán Kỵ Tượng
10. La Hán Phục Hổ
11. La Hán Quá Giang
12. La Hán Thác Tháp
13. La Hán Thám Thủ
14. La Hán Tiếu Sư
15. La Hán Tĩnh Tọa
16. La Hán Tọa Lộc
17. La Hán Trầm Tư
18. La Hán Trường Mi

1. La Hán Ba Tiêu

Tên của Ngài là Phạt-na-bà-tư 伐那婆斯 (Vanavāsin). Theo truyền thuyết khi mẹ Ngài vào rừng viếng cảnh, mưa to dữ dội và bà hạ sanh Ngài trong lúc ấy. Sau khi xuất gia với Phật, Ngài thích tu tập trong núi rừng, thường đứng dưới các cây chuối nên còn được gọi là La-hán Ba Tiêu.

Có lần, đức Phật hàng phục con yêu long trong một cái đầm sâu. Cảm phục ân đức của Phật, yêu long xin Ngài lưu lại chỗ của mình để được gần gũi cúng dường. Phật dạy Ngài không thể ở một nơi lâu, nên cử năm vị Đại A-la-hán đến, đó là các vị Xá-lợi-phất, Mục-kiền-liên, Nhân-kiệt-đà, Tô-tần-đà và Phạt-na-bà-tư. Khi tôn giả Phạt-na-bà-tư đến tiếp nhận lễ vật cúng dường, Ngài thường thích tọa thiền trên phiến đá lớn bên cạnh đầm, khi thì ngồi suốt tuần, lúc ngồi cả nửa tháng.

Theo lời phó chúc của đức Phật, Tôn giả lưu tâm hóa độ vua Ca-nị-sắc-ca. Nhân dịp nhà vua đi săn, Tôn giả hóa làm con thỏ trắng dẫn đường cho vua đến gặp một mục đồng đang lấy bùn đất nặn tháp Phật. Mục đồng nói rằng Phật thọ ký 400 năm sau vua Ca-ni-sắc-ca sẽ xây tháp thờ Phật tại đây. Mục đồng ấy cũng chính là Phạt-na-bà-tư hóa hiện. Từ đó, vua trở nên bậc đại quân vương hoằng dương Phật pháp, xây chùa tháp tự viện, ủng hộ cúng dường Tăng chúng, tổ chức kiết tập kinh điển Phật giáo lần thứ tư tại thủ đô Ca-thấp-di-la. Tất cả những thành tựu này đều nhờ thâm ân giáo hóa của tôn giả Phạt-na-bà-tư.

Theo Pháp Trụ Ký, tôn giả Phạt-na-bà-tư là vị La-hán thứ mười bốn, ngài và 1.400 vị La-hán thường ở trong núi Khả Trụ.

2. La Hán Bố Đại

 [photo]Tên của Ngài là Nhân-yết-đà 因羯陀 Nhân-kiệt-đà (Angada). Theo truyền thuyết Ngài là người bắt rắn ở Ấn Độ, xứ này nhiều rắn độc hay cắn chết người, Ngài bắt chúng, bẻ hết những răng nanh độc rồi phóng thích lên núi. Hành động ấy phát xuất bởi lòng từ cao độ, nên Ngài được xem như biểu trưng của từ bi. Sau khi đắc đạo, Ngài thường mang một túi vải bên mình để đựng rắn, cũng trùng hợp như Hòa thượng Bố Đại ở Trung Hoa.


Nhân có một người nước Ô-trượng-na muốn tạc tượng Bồ-tát Di-lặc, nhưng chưa được thấy diện mạo Bồ-tát nên không dám làm. Ông lập hương án trong vườn hoa chí thành khấn nguyện, cung thỉnh một vị Hiền Thánh đến để giúp ông. Khấn xong thì có một vị La-hán xuất hiện xưng tên là Nhân-yết-đà, đến đưa ông lên cung trời Đâu-suất để gặp Bồ-tát Di-lặc. Tôn giả đã đưa người này lên cung trời trước sau cả thảy ba lần để chiêm ngưỡng chân tướng trang nghiêm của Bồ-tát. Tượng Bồ-tát tạo xong được bảo tồn tại thủ đô nước Ô-trượng-na, đó là nhờ công ơn của Tôn giả.

La-hán là bậc bất sanh bất diệt, đến đi tự tại, các Ngài du hóa nhân gian dưới mọi hình thức. La-hán Bố Đại có hình tướng mập mạp, bụng to, túi vải lớn bên mình như là hiện thân của Bồ-tát Di-lặc, trong câu chuyện trên đã có ít nhiều liên hệ.

Theo Pháp Trụ Ký, Ngài là vị La-hán thứ mười ba, thường cùng 1.300 vị A-la-hán trụ trong núi Quảng Hiếp.

3. La Hán Cử Bát

 Tên của Ngài là Ca-nặc-ca-bạt-ly-đọa-xà 迦諾迦跋釐墮蛇 (Kanakabharadvāja). Ngài là vị Đại đệ tử được đức Phật giao phó giáo hóa vùng Đông Thắng Thần Châu.Quốc vương nước Tăng-già-la ở Nam Hải không tin Phật pháp, Tôn giả Ca-nặc-ca tìm cách hóa độ. Một sớm mai, khi đang cầm gương soi mặt, quốc vương giật mình kinh sợ vì trong gương không có mặt mình mà có hình dáng vị đại sĩ Bạch Y. Đây là do phép thần biến của Tôn giả. Theo lời khuyên của quần thần, nhà vua cho tạc tượng Bồ-tát Quan Thế Âm để thờ phụng và từ đó hết lòng tin Phật.


Ngài Huyền Trang khi sang Ấn Độ, trú tại chùa Na-lan-đà nghe kể câu chuyện sau: Sau khi Phật Niết-bàn vài trăm năm, quốc vương nước Ma-kiệt-đà làm lễ lạc thành ngôi chùa Đại Phật, thỉnh mấy ngàn vị Hòa thượng đến cúng dường. Khi mọi người bắt đầu thọ trai, bỗng nhiên có hai vị Hòa thượng từ không trung bay xuống. Cả hội chúng kinh ngạc, vua hỏi lai lịch thì một vị xưng là Tân-đầu-lô ở Tây-cù-da-ni châu, một vị xưng là Ca-nặc-ca ở Đông Thắng Thần Châu. Vua vui mừng thỉnh hai Tôn giả chứng minh trai phạn. Thọ trai xong, hai vị cười nói:

- Này các vị, 16 La-hán chúng tôi sẽ mãi mãi lưu lại thế gian, cùng tu tập với tất cả Phật tử chí thành đời sau.

Tôn giả Ca-nặc-ca thường mang một cái bát sắt bên mình khi du hành khất thực, nên được gọi là La-hán Cử Bát.

Theo Pháp Trụ Ký ngài là vị La-hán thứ ba, thường cùng 600 vị A-la-hán trú tại Đông Thắng Thần Châu.

4. La Hán Hàng Long

Ngài tên là Nan-đề-mật-đa-la 難提密多 (Nandimitra), Trung Hoa dịch Khánh Hữu, ra đời sau Phật diệt độ 800 năm, cư trú tại nước Sư Tử.


Ngài là vị Đại La-hán thần thông quảng đại, đạo hạnh trang nghiêm. Tương truyền có một lần cả đảo Sư Tử bị Long Vương dâng nước nhận chìm, Tôn giả ra tay hàng phục rồng nọ và được tặng hiệu La-hán Hàng Long. Khi Ngài sắp thị tịch, mọi người buồn thương lo sợ vì thế gian sẽ không còn bậc La-hán. Ngài cho biết có 16 vị La-hán vâng lệnh Phật lưu trụ cõi Ta-bà để ủng hộ Phật pháp. Lời dạy của Ngài được ghi chép lại thành bộ “Pháp Trụ Ký”. Nói “Pháp Trụ Ký” xong, tôn giả Khánh Hữu bay lên không trung hóa hiện vô số thần biến, rồi dùng chơn hỏa tam-muội thiêu thân. Xá-lợi ngũ sắc rơi xuống như mưa, mọi người tranh nhau lượm mang về tôn thờ cúng dường.

Tuy đã thiêu thân, nhưng Tôn giả không rời nước Sư Tử, Ngài bay về động đá trên núi để tọa thiền. Thời gian thoáng chốc đã hơn 400 năm, khi Tôn giả xuất định Ngài ôm bát xuống núi khất thực thì thấy phong cảnh đã đổi khác. Ngài nhẫm tính lại và khám phá ra mình đã tọa thiền hơn 400 năm bèn bật cười ha hả. Sau đó Ngài thường xuất hiện khắp nơi, khi thì trì bát, lúc thì giảng kinh… Mọi người vẫn còn tin rằng Ngài vĩnh viễn không rời thế gian mà luôn luôn cùng 16 vị La-hán kia tiếp tục hoằng hóa.

* Dị bản: Tôn giả Nan-đề-mật-đa-la là vị La-hán thứ 17, do mọi người tưởng nhớ công ơn ngài nói ra Pháp Trụ Ký.

5. La Hán Khai Tâm

Hình tượng vạch áo bày ngực để hiển lộ tâm Phật. Ngài tên là Thú-bác-ca 戍博迦 (Jivaka). Thú-bác-ca vốn là một Bà-la-môn nổi danh, nghe nói thân Phật cao một trượng sáu, Thú-bác-ca không tin nên chặt một cây trúc dài đúng một trượng sáu để đích thân đo Phật. Lạ thay, dù đo bất cứ cách nào, thân Phật vẫn cao hơn một chút. Thú-bác-ca tìm một cây thang dài rồi leo lên thang đo lại, kết quả cũng vậy. Đo đến mười mấy lần, không còn cây thang nào dài hơn mà thân Phật vẫn cao hơn. Lúc này ông thiệt tình khâm phục và xin quy y làm đệ tử.


Sau khi xuất gia, trải qua bảy năm khổ hạnh, Ngài chứng quả A-la-hán. Vì muốn kỷ niệm nhân duyên đo Phật mà xuất gia ngộ đạo, Ngài lấy cây sào lúc trước, đi đến chỗ cũ nói:

- Nếu Phật pháp là chân lý ngàn đời thì xin cây sào này mọc lại và sinh trưởng ở đây.

Nói xong, Ngài cắm cây sào xuống đất. Cây sào bỗng nẩy chồi ra lá. Thời gian sau từ chỗ đó mọc lên một rừng trúc tốt tươi lan rộng cả vùng, người ta gọi nơi ấy là Trượng Lâm. Quần chúng Phật tử kéo đến chiêm bái chứng tích mầu nhiệm của cây gậy đo Phật. Nơi đây rừng núi khô cằn hoang dã, thiếu nước uống nghiêm trọng, tôn giả Thú-bác-ca liền vận thần thông biến ra hai suối nước một nóng, một lạnh để mọi người tha hồ sử dụng. Hai suối này nằm cách mười dặm về phía Tây Nam của Trượng Lâm. Dân chúng vùng này mãi nhớ ơn đức của Tôn giả.

Theo Pháp Trụ Ký, ngài Thú-bác-ca là vị La-hán thứ  chín, thường cùng 900 vị La-hán trụ trong núi Hương Túy.

6. La Hán Kháng Môn

Tên của Ngài là Chú-trà-bán-thác-ca, hay Châu-lợi-bàn-đặc 周利槃特 (Cullapatka). Truyền thuyết Phật giáo nhắc đến Ngài như một tấm gương cần cù nhẫn nại. Vì không thông minh như anh nên khi xuất gia Ngài không tiếp thu được Phật pháp, kể cả xếp chân ngồi thiền cũng không xong. Về sau được sự chỉ dạy lân mẫn của Thế Tôn, Ngài thực hành pháp môn quét rác với cây chổi trên tay. Nhờ sự kiên trì, dốc tâm thực hành lời dạy của Phật, quét sạch mọi cấu uế bên trong lẫn bên ngoài, Ngài đã chứng Thánh quả.

Một hôm đại thần Kỳ-bà thành Vương Xá thỉnh Phật và các vị A-la-hán đến nhà thọ trai. Tôn giả Bán-thác-ca không biết em mình đã chứng quả nên không phát thẻ tham dự. Đến khi chuẩn bị thọ trai, Phật bảo Bán-thác-ca về tinh xá xem có sót người nào. Tôn giả về Trúc Lâm thì thấy cả ngàn vị Hòa thượng đang tọa thiền rải rác trong vườn. Ngạc nhiên và dùng thiên nhãn quán sát, mới vỡ lẽ ra đó là trò đùa của em mình, Tôn giả mừng rỡ xúc động, tán thán công phu của Châu-lợi-bàn-đặc.

Theo truyền thuyết, khi đi khất thực Tôn giả gõ cửa một nhà nọ và làm ngã cánh cửa cũ hư. Điều này cũng gây bối rối! Về sau, Phật trao cho Tôn giả một cây gậy có treo những chiếc chuông nhỏ để khỏi phải gõ cửa nhà người. Nếu chủ nhân muốn bố thí thì sẽ bước ra khi nghe tiếng chuông rung. Cây gậy gõ cửa trở thành biểu tượng của Tôn giả, và là hình ảnh quen thuộc trong sinh hoạt Phật giáo.

Theo Pháp Trụ Ký, Tôn giả là vị La-hán thứ mười sáu, cùng với 1.600 vị A-la-hán thường trú tại núi Trì Trục.

7. La Hán Khánh Hỷ

Ngài tên là Ca-nặc-ca-phạt-tha 迦諾 迦伐磋 (Kanakavatsa), còn gọi là Yết-nặc-ca-phược-sa. Đức Phật thường khen Ngài là vị La-hán phân biệt thị phi rõ ràng nhất. Khi chưa xuất gia Ngài là người rất tuân thủ khuôn phép, giữ gìn từ lời nói đến hành động, một ý nghĩ xấu cũng không cho phát khởi. Sau khi xuất gia, Ngài càng nỗ lực tinh tấn tu tập, nhờ thiện căn sâu dày Ngài chứng quả A-la-hán rất mau.

Ngài thường đi du hóa khắp nơi với gương mặt tươi vui và dùng biện tài thuyết pháp để chiêu phục chúng sanh. Thấy mọi người thường vô ý tạo nhiều nghiệp ác hằng ngày, tương lai bị quả khổ địa ngục nên khi thuyết pháp Ngài thường xiển minh giáo lý nhân quả thiện ác, giúp chúng sanh phân biệt rõ ràng để sửa đổi. Một lần nọ đi ngang qua thôn trang, thấây một gia đình đang giết vô số trâu dê gà vịt để làm lễ mừng thọ. Ngài ghé lại, thuyết giảng một hồi về phương pháp chúc thọ, về cách mừng sinh nhật để được sống lâu hạnh phúc, đền đáp ơn sinh thành. Ngài dạy rằng, ngày sinh nhật là ngày khó khăn khổ nhọc của mẹ, nên phận làm con không được ăn uống vui chơi, trái lại nên tịnh tâm suy niệm ân đức cha mẹ, quyết chí tu tập thành tựu đạo nghiệp.

Bằng cách giảng dạy chân thật, Tôn giả suốt đời như ngọn hải đăng đem ánh sáng Phật pháp soi rọi nhân sinh.

Theo Pháp Trụ Ký, Ngài là vị La-hán thứ hai, thường cùng 500 vị La-hán trụ tại nước Ca-thấp-di-la (Kashmir).

Thứ Tư, 10 tháng 2, 2016

ĐỐI PHÓ VỚI HÔN TRẦM VÀ TRẠO CỬ


 Đối Phó với Hôn Trầm và Trạo Cử
(c)) Làm gì sau khi quý vị tập trung lên đối tượng thiền
(1)) Làm gì khi hôn trầm và trạo cử xảy ra.
(a’)) Sử dụng phương thuốc trị sự thất bại trong việc nhận biết hôn trầm và trạo cử
(1’)) Xác định các đặc tính của hôn trầm và trạo cử
(2’)) Phương pháp phát triển tỉnh thức nhận biết được hôn trầm và trạo cử
(b’)) Sử dụng phương thuốc trị việc thất bại trong nỗ lực loại trừ chúng ngay cả khi nhận ra chúng.
(1’)) Sự chú tâm và cách ngưng hôn trầm và trạo cử
(2’)) Các nguyên nhân sâu xa của hôn trầm và trạo cử
(2)) Làm gì khi hôn trầm và trạo cử không hiện 
 (c)) Làm gì sau khi quý vị tập trung lên đối tượng thiền
Phần này có hai phân mục:
1. Làm gì khi hôn trầm và trạo cử xảy ra
2. Làm gì khi hôn trầm và trạo cử không hiện diện
(1)) Làm gì khi hôn trầm và trạo cử xảy ra
Mục này có hai bộ phận
1. Sử dụng liều thuốc trị thất bại trong việc nhận biết hôn trầm và trạo cử
2. Sử dụng liều thuốc trị thất bại trong nỗ lực loại trừ chúng ngay cả khi nhận ra chúng
(a’)) Sử dụng liều thuốc trị thất bại trong nhận biết hôn trầm và trạo cử
Ở đây có hai tiểu mục: (1) Xác định các đặc tính của hôn trầm và trạo cử và (2) Phương pháp phát triển tỉnh thức nhận biết được hôn trầm và trạo cử trong khi thiền.
(1’)) Xác định các đặc tính của hôn trầm và trạo cử
Trong Vi Diệu Pháp Tập Luận của Vô Trước định nghĩa trạo cử[1]:
Trạo cử là gì? Đó là trạng thái không yên ổn của tâm, được xem là một dẫn xuất của tham chấp, vốn theo đuổi các đối tượng dễ chịu và tác động như là một trở ngại cho định từ thiền.
Có ba khía cạnh trong định nghĩa này: (1) Đối tượng của nó là một thứ hấp dẫn và dễ chịu. (2) Khía cạnh chủ quan của nó là ở chỗ tâm quý vị không yên ổn và phân tán ra ngoài. Vì là một dẫn xuất của tham chấp, nó khởi tác lên đối tượng của mình với một ý tưởng thèm muốn. (3) Chức năng của nó là cản trở sự bình ổn của tâm quý vị lên đối tượng của tâm.
Khi sự chú ý của quý vị hướng nội được giữ nguyên lên đối tượng của nó, thì trạo cử – tức là tính bám chấp vào sắc, thanh, và v.v... – kéo sự chú tâm của quý vị một cách không cưỡng được về hướng các đối tượng này và gây ra sự phân tán. Như được nói đến trong Tuyên Nhập Tụng của Nguyệt Quan[2]:
Chỉ như ngươi tập trung vào định từ thiền,
Hãy hướng sự chú tâm của mình đến đó lập đi lập lại.
Mối ràng buộc của phiền não kéo sự chú tâm của ngươi
Một cách không cưỡng nổi bằng dây tham chấp vào các đối tượng. [515]
Vấn: Phải chăng trạo cử là khi có sự phân tán trong đó các phiền não làm phân tâm quý vị ra khỏi đối tượng – hay, điều đó là khi có sự phân tán hướng đến các đối tượng đức hạnh khác?
Đáp: Trạo cử là một dẫn xuất của tham chấp, nên việc bị phân tâm bởi các phiền não khác thì không phải là trạo cử; mà đúng hơn đó là một tiến trình tinh thần của sự phân tâm thuộc về một trong hai mươi phiền não thứ cấp[3]. Việc phân tâm hướng đến các đối tượng thiện đức có thể liên hệ đến một tâm thiện đức nào đó hay đến tiến trình tinh thần, cho nên không phải tất cả sự phân tâm đều là trạo cử.
Nhiều bản dịch nêu rằng hôn trầm (bying ba) như là sự “chểnh mảng” (zhum pa), nhưng sự “chểnh mảng” này không nên được phân tích như là ý nghĩa về sự chán nản (zhum pa). Về định nghĩa đó, hầu hết các thiền giả trên các đỉnh tuyết sơn này dường như xem hôn trầm là một trạng thái thờ ơ của tâm mà nó lưu lại trên đối tượng thiền của tâm không có sự phân tán vào nơi nào khác nhưng chỉ thiếu sự rõ ràng thấu suốt. Điều này không đúng, vì sự thờ ơ được nói là nguyên nhân gây ra hôn trầm, vậy nên hai trạng thái khác nhau, như đề xuất của Liên Hoa Giới trong phần thứ nhì Giai Trình Thiền[4]:
Nếu bị áp lực bởi thờ ơ và buồn ngủ, ngươi thấy tâm mình trở nên lỏng lẻo, hay đang trong nguy cơ của hôn trầm…
Cũng vậy, Kinh Giải Thâm Mật có dạy[5]:
Nếu có hôn trầm do sự thờ ơ và buồn ngủ, hay nếu ngươi đang đau khổ bởi những phiền não thứ cấp nào đó trong trạng thái thiền sâu, thì đó là một trường hợp của sự phân tâm bên trong.
Điều này khẳng định rằng khi tâm quý vị trở nên lỏng lẻo do thờ ơ và buồn ngủ, đó chính là phân tán vào bên trong. Trong Vi Diệu Pháp Tập Luận, ngài Vô Trước cũng bàn thảo về hôn trầm trong khuôn khổ của phiền não thứ cấp của sự phân tán, nhưng sự phân tán theo như ngài giải thích cũng có thể là công hạnh, không nhất thiết là phiền não.
Sau đó, Vô Trước nói về sự thờ ơ trong Vi Diệu Pháp Tập Luận [6]:
Thờ ơ là gì? Một trạng thái bất khả dụng {không hữu ích} của tâm được phân lớp như là một dẫn xuất của ảo tưởng, nó tác động hỗ trợ cho tất cả các phiền não nguồn và các phiền não thứ cấp.
Vậy nên loại dẫn xuất này của ảo tưởng là sự nặng nề và bất khả dụng của tâm và thân. Trong Vi Diệu Pháp Báu Luận, Thế Thân dạy[7]: [516]
Thờ ơ là gì? Sự nặng nề của thân và sự nặng nề của tâm mà chúng là sự bất khả dụng của thân và sự bất khả dụng của tâm.
Hôn trầm nghĩa là cách nắm bắt của tâm quý vị lên đối tượng thiền chểnh mảng và nó không nắm bắt được đối tượng một cách mạnh mẽ hay rắn chắc. Nên ngay cả khi có sự thấu suốt, nếu cách tâm quý vị nắm bắt đối tượng không mạnh mẽ thì hôn trầm đã tham dự. Liên Hoa Giới dạy trong phần thứ nhì Giai Trình Thiền[8]:

Thứ Ba, 9 tháng 2, 2016

HỌC THIỀN

                                                                         






Một bác sĩ trẻ ở Ðông kinh tên là Kusuda gặp một người bạn đang học thiền. Anh bác sĩ trẻ hỏi thiền là gì.
"Tôi không thể nói được," người bạn trả lời, "nhưng có một điều chắc chắn là nếu anh ngộ được thiền thì anh không còn sợ chết nữa."
"Ðược," Kusuda nói. "Tôi sẽ thử xem. Vậy tìm thiền sư ở đâu?"
"Ðến thầy Nan-in," người bạn bảo.
Thế là Kusuda tìm đến Nan-in, mang theo con dao bén để xem thiền sư có thực không sợ chết. Khi Nan-in trông thấy Kusuda, ngài lên tiếng: "Chào ông bạn. Khỏe không? Chúng ta đã lâu không gặp!"
Kusuda sửng sốt, bảo: "Chúng ta không từng biết nhau mà."
"Ồ! đúng thế," Nan-in trả lời "Tôi nhầm ông với một vị bác sĩ khác thường đến đây học thiền."
Với sự khởi đầu như vậy, Kusuda mất cơ hội thử thách vị thiền sư, anh ngập ngừng hỏi xem nếu anh ta có thể học thiền được không?
Nan-in bảo "Thiền chẳng khó. Nếu ông là thầy thuốc, hãy chửa trị bệnh nhân với từ tâm. Ðó là Thiền. Kusuda trở lại viếng Nan-in ba lần và mỗi lần đều được dạy cùng một câu. "Một người thầy thuốc chớ nên phí thì giờ ở đây. Hãy trở về chăm sóc bệnh nhân."
Kusuda vẫn chưa hiểu tại sao lối dạy như vậy có thể giúp cho người học đạo không sợ chết. Ðến lần thứ tư anh phàn nàn: "Bạn tôi bảo tôi rằng khi học thiền người ta không còn sợ chết nữa. Mỗi lần tôi đến đây ngài đều bảo tôi phải về chăm sóc bệnh nhân. Việc đó thì tôi rành lắm rồi. Nếu thiền chỉ có vậy thì tôi sẽ không đến thăm ngài nữa."
Nan-in mĩm cười và vỗ vai người bác sĩ. "Tôi đã quá khắc khe với ông. Ðể tôi cho ông một công án." Ngài dạy Kusuda quán tưởng về KHÔNG của Joshu (Triệu Châu), bài đốn ngộ đầu tiên trong cuốn Vô Môn Quan.
Hai năm liền, Kusuda quán tưởng đến công án KHÔNG. Khá lâu anh tưởng chừng đã ngộ được chân tâm, nhưng thiền sư vẫn bảo: "Ông chưa đạt đến."
Kusuda tiếp tục quán chiếu thêm một năm rưỡi nữa. Tâm bắt đầu định. Các vấn nạn được giải tỏa. KHÔNG trở thành chân lý. Anh ta chăm sóc bệnh nhân tốt hơn, mà chính anh cũng chẳng hề biết đến, anh đã không còn bận tâm đến sự sống và chết nữa. Từ đó mỗi khi anh đến thăm Nan-in, vị sư già chỉ mĩm cười.

                                                                                                                                                Sưu tầm


Chủ Nhật, 7 tháng 2, 2016

ĐƯỜNG HOA



                                                                                              ĐƯỜNG HOA

                                                                   Chào xuân phố thị tại đường hoa,
                                                                   Rạng sáng đầu năm dạo khắp qua.
                                                                   Ngõ trúc lều tranh in nắng rọi,
                                                                   Bờ đê ruộng lúa giả sương pha.
                                                                   Người thăm rảo bước tình vời vợi,
                                                                   Khách viếng dừng chân cảnh thiết tha.
                                                                   Tống cựu nghinh tân lòng hối hả,
                                                                   Giàu sang phú quí thoảng hương nhà.


                                                                                                              Minh Đạo
                                                                            ( Mồng 1 Tết Bính Thân – 2016 )

Thứ Năm, 4 tháng 2, 2016

CHÚC MỪNG NĂM MỚI



                                                                        CHÚC MỪNG NĂM MỚI
                                                                              ( Dĩ đề vi thủ - Liên hoàn )      
                      
                                                                 Chúc xuân như ý với dòng thơ, 
                                                                 Mừng tuổi duyên trần đẹp bến mơ.
                                                                 Năm hết dừng chân bao ước vọng,
                                                                 Mới sang tiếp bước những thời cơ.
                                                                 An nhiên chuyện đến  không mong đợi,
                                                                 Bình thản việc qua chẳng vướng chờ.
                                                                 Hạnh nguyện qui đường về đạo lớn,
                                                                 Phúc điền rộng mở tiến lên bờ.

                                                                 Bờ  ruộng vườn nương trải rộng ra   
                                                                 Mừng xuân như ý chốn làng xa
                                                                 Chưng xanh xanh thắm lòng chân thực
                                                                 Đối đỏ đỏ tươi nghĩa mặn mà
                                                                 Con cháu bình an nhờ đất tổ
                                                                 Gia đình hạnh phúc cậy quê cha
                                                                 Trước sau luôn nghĩ về nguồn cội
                                                                 Tết đến tri ân những chuyện qua
      
                                                                 Tết đến tri ân những chuyện qua,   
                                                                 Quê Cha ký ức dạ chưa nhòa.
                                                                 Xóm giềng in dấu ngày trai trẻ,
                                                                 Phố xá khắc tâm lúc tuổi già.
                                                                 Lối nhỏ mai vàng nghe quạnh vắng,
                                                                 Nhà cao đào thắm khó phôi pha.
                                                                 Hương lòng xin gởi phương trời ấy,  
                                                                 Cũng để tạ ơn tới chốn xa.

                                                                 Chốn xa thấp thoáng ánh mây hồng   
                                                                 Cánh én bay về tựa cửa trông
                                                                 Hoa thắm đón xuân chờ trước ngõ
                                                                 Đối xinh chúc tết dán bên song
                                                                 Bà con trọn nghĩa không phai nhạt
                                                                 Khách chủ đầy duyên thấy sáng trong
                                                                 Sum họp nhà vui thêm phước báu,
                                                                 Cầu mong vạn sự thảy hanh thông.

                                                                 Hanh thông mọi chuyện tựa ngàn hoa,   
                                                                 Thắm nghĩa tình xuân nhớ thuở xa.
                                                                 Áo mới hằng mơ thời có Mẹ,
                                                                 Trà thơm luôn tưởng lúc bên Cha.
                                                                 Quê nhà ngó lại bao vò võ,
                                                                 Đất khách trông về lắm thiết tha.
                                                                 Đón tết Bính Thân xin khấn nguyện,
                                                                 Công ơn tạc dạ chẳng phôi pha.

                                                                 Phôi pha năm cũ dạ còn vương, 
                                                                 Những phút bình yên giữa cõi thường.
                                                                 Con cháu quây quần nhà chỗ dựa,
                                                                 Bạn bè xích lại cảnh nơi nương.
                                                                 Chuyện qua suy vấn càng am hiểu,
                                                                 Việc đến cảm thông xét tỏ tường.
                                                                 Thịnh vượng công thành như ước nguyện,
                                                                 Hoa tươi quả ngọt ngát trầm hương.


                                                                                    Minh Đạo - Bính Thân( 2016 )


SUY NGHĨ TỪ LỜI KINH "THÂN NGƯỜI KHÓ ĐƯỢC, PHẬT PHÁP KHÓ NGHE"



Dù là người xuất gia hay tại gia, con đường duy nhất để tránh được “thân người khó được” là con đường tu thân, tích đức, là thực hiện được những phương pháp tu tập từ đơn giản đến những phương pháp cao siêu hơn
Là người học Phật, không ai là không nghe thấy câu “Thân người khó được, Phật pháp khó nghe”. Lời kinh đó nguyên văn chữ Hán là “Nhân thân nan đắc, Phật pháp nan văn” xuất hiện trên nhiều bản kinh mà đức Phật đã dạy. Ngoài ra, ta có thể kể đến trong Kinh Tứ thập nhị chương, Chương 12 cũng đã có nói đến điều này. Kinh Phạm Võng cũng nói: “Nhất thất nhân thân, vạn kiếp bất phục”, nghĩa là “Một phen mất thân người, vạn kiếp khó có lại được”. Kinh Niết Bàn cũng đã nói: “Nhân thân nan đắc như Ưu Đàm hoa” tức là “Thân người khó được như hoa Ưu Ðàm”. 
Trong bài viết này, xin được nói những suy nghĩ về ý nghĩa vế trên lời kinh, đó là: “thân người khó được”.
Vì sao đức Thế Tôn lại dạy “thân người khó được”? Chúng ta đã là người rồi, tại sao lại còn khó được. Do đó, ở đây cần phải hiểu rằng khó được không phải là khó cho thân hiện nay mà là khó cho thân mai sau của chúng ta, khi thân đời này không còn nữa thì liệu kiếp sau ta có còn được là thân người nữa hay không, hay lại bị đọa vào các đường ác. Đó là điều ta cần suy nghĩ.
Theo giáo lý của đức Phật: thân con người ta tồn tại trên cuộc đời này chỉ là một giai đoạn rất ngắn ngủi, nhiều lắm chỉ trong khoảng 100 năm so với toàn bộ cuộc sống của người đó từ vô thủy kiếp trước đây và còn mãi mãi về sau này.

Theo giáo lý Mười hai nhân duyên, hết một chu trình tuần hoàn từ thức, danh sắc, lục nhập, xúc, thọ là quả của đời hiện tại do nhân của đời trước là vô minh và hành gây nên, đến ái, thủ, hữu là nhân của đời hiện tại gây ra quả của đời vị lai và cứ như thế con người phải trải qua vô lượng vô biên kiếp sống. Nhưng những kiếp sống ấy có phải mãi mãi đều là kiếp sống của con người hay không? Không phải là như vậy. đạo Phật đã chỉ ra rằng trong mười cõi giới, có sáu cõi còn trong vòng sinh tử luân hồi hay còn gọi là lục đạo luân hồi, đó là các cõi Trời, Người, A tu la, Súc sinh, Ngạ quỹ và Địa ngục mà cõi Người và Trời là cõi lành. Chúng sinh trong các cõi sinh tử luân hồi, có chết đi sống lại cũng còn tùy theo nghiệp lực dẫn dắt của các kiếp sống. Con người sau khi chết đi, tùy theo hành động tạo tác trong suốt cuộc đời, gây nên các nghiệp thiện hay ác, sẽ thác sinh vào các cõi khác nhau.

Các nghiệp lực ấy đưa ta vào một trong sáu cõi luân hồi, điều đó lại còn tùy thuộc vào cận tử nghiệp, tức là cái nghiệp xuất hiện trong lúc lâm chung. Đạo Phật cũng chỉ ra rằng có hai loại người có thể đi thẳng tới hai cõi mà không cần phải qua giai đoạn thân trung ấm trong 49 ngày. Đó là loại người gây nhiều tội ác nặng như các tội Tứ trọng, Ngũ nghịch, Thập ác, thì sau khi chết, bị đọa thẳng vào cõi Địa ngục và thứ hai là những người tạo nhiều nghiệp lành và đủ cơ duyên thì sau khi chết, được vãng sinh vào cõi Cực lạc. Còn lại tất cả mọi con người sau khi chết đi, tùy theo nghiệp lực tạo tác trong đời, có thể tái sinh vào một trong các cõi luân hồi khác là Ngạ quỷ, Súc sinh, A tu la, Người và cõi Trời.

Đạo Phật có nói đến Lục đạo luân hồi, đó là sáu cõi trầm luân của các chúng sinh chưa giải thoát. Một chúng sinh nói chung, hay một con người nói riêng có thể trải qua một trong sáu cõi đó. Trong đó được làm người trong cõi Người là rất quan trọng vì con người có thể có cơ hội tu tập để giải thoát khỏi kiếp sinh tử luân hồi, vì nếu ở trong cõi khác thì không dễ dàng tu tập để giải thoát. Do vậy, con người sau khi chết đi muốn trở lại làm người không phải là dễ.
Trong “Lương Hoàng Bảo Sám” có nói đến bà hoàng hậu của vua Lương Võ Đế (502 – 550) tên là Hy Thị. Vì được vua yêu quý nên lòng đố kỵ của bà ngày càng lên cao, nên bà đã tạo ra nhiều tội ác đến nỗi ai ai cũng biết bà là một “Quái phi”. Vì gây nhiều tôi ác nên khi từ trần bà phải đọa làm thân rắn mãng xà, ngày đêm đau khổ, thân thể tanh hôi, vi vẩy bị sâu trùng rúc rỉa, nhức nhối không thể chịu được. Trong các chuyện Phật giáo có rất nhiều câu chuyện kể về con người sau khi chết bị đọa vào các đường ác làm thân súc sinh, ngạ quỷ vì trong cuộc sống họ đã gây ra nhiều tội ác.

Trong kinh Bách Duyên có ghi câu chuyện khi đức Phật ở vườn tre Ca Lan Đà tạithành Vương Xá, trong thành có một vị trưởng giả tên là Hiền Diện rất giàu có, của báu vô số không thể kể hết, nhưng tính tình xấu xa, tham lam, ghen tị, nịnh hót, không có tâm làm bố thí, ngay đến các loài chim, ông cũng đuổi không cho đến gần nhà mình. Một hôm, có các vị sa môn và Bà la môn nghèo khổ đến nhà ông khất thực, ông dùng những lời độc ác chửi mắng và đuổi đi. Về sau, khi chết, ông bị đọa làm thân rắn, trở lại giữ tài sản.

Cuốn “Thiện ác nghiệp báo” tức “Chư kinh yếu tập” của Pháp sư Đạo Thế đã nêu rất rõ vấn đề này bằng những câu chuyện khác nhau về con người vì tạo nhiều nghiệp ác nên sau khi chết bị đọa vào cõi súc sinh. Vậy, đã là con người thì kiếp sau được trở lại làm thân người không phải là dễ, hay nói khác đi, như Phật đã nói là “thân người khó được”.
Để nói lên điều đó, đức Phật còn dùng một hình ảnh ví như có một con rùa mù nằm dưới đáy biển, cứ một trăm năm mới nổi lên một lần để tìm cách chui đầu vào một cái lỗ trên một khúc cây đang bồng bềnh trôi trên mặt biển. Việc một con rùa mù như thế mà cứ một trăm năm mới nổi lên để đưa đầu vào lỗ cây thật quả là quá hiếm hoi như thế nào? Được làm kiếp người cũng hiếm hoi như vậy.
Tuy nhiên, đức Phật cũng chỉ ra rằng, từ vô thủy đến nay, tất cả chúng sinh không phải chỉ có mặt trên thế gian này một lần mà đã có mặt vô số lần rồi kể từ vô lượng vô biên kiếp trước, vì vậy một chúng sinh có thể là cha, mẹ, là bà con anh em của ta từ trong nhiều kiếp trước. Đức Phật còn dạy mọi con người đều có Phật tính và những người có căn cơ tu hành cao cho tới khi thành Phật đã phải trải qua vô số kiếp. Ngay Đức Thế tôn cũng đã trải qua vô số kiếp tu hành mới thành đạo quả, mới đạt đến Vô thượng, Chánh đẳng, Chánh giác. Vì vậy, con người ta để trở lại kiếp người cũng phải là người có vô lượng kiếp tu hành mới có thể đạt được.
Về mặt khoa học, hiện nay dân số thế giới có khoảng trên 7 tỷ người (theo thống kê ngày 10.4.2011 là 7 tỷ) và đến năm 2040 dự đoán sẽ đạt ngưỡng 9 tỷ người. Số lượng con người trong cõi thế này là con số có thể thống kê được. Nhưng thử hỏi có ai thống kê được số lượng các loài súc sinh trên quả địa cầu này là bao nhiêu không, không thể nào thống kê cho được.

Ta hãy tưởng tượng chỉ trong một ngôi làng nhỏ, số lượng dân trong ngôi làng có thể thống kê biết được, nhưng trong làng đó có bao nhiêu con trâu, bò, dê, chó, mèo, lợn, gà, vịt v.v.., đó mới chỉ là các loại con vật nuôi trong nhà. Nhưng cũng trong ngôi làng đó có ai đếm được có bao nhiêu tổ kiến, tổ ong, và mỗi tổ kiến và tổ ong đó có bao nhiêu con kiến, con ong, và trong làng có bao nhiêu ruồi, muỗi, bọ, rệp, giun, dế…hết thảy chúng cũng đều là súc sinh. Và còn nữa, có ai đếm được trong các ao làng và trên dòng sông chảy qua ngôi làng đó có bao nhiêu loại cá, ốc, lươn, cua ba ba, tôm, chạch v.v… và mỗi loại có bao nhiêu con.

Nhiều không thể nào đếm được. Đấy là chỉ nói trong một ngôi làng. Thế còn trên những dãy núi, trong rừng sâu, ngoài biển cả, trên bầu trời còn có biết bao loài vật như hổ, báo, hươu, nai, gấu, sư tử…, loài thủy sản như cá voi, cá mập, bạch tuộc…, loài sâu bướm cùng các loại chim bay. Thật là nhiều, không thể nào đếm được và những con số tỷ tỷ tỷ cũng không thể nào biểu thị được số lượng súc sinh trên quả đất này. Tóm lại số lượng 7 tỷ con người trong cõi Người thật là quá ít ỏi so với số lượng súc sinh trong cõi Súc sinh. Như vậy chứng tỏ rằng trong thế giới sinh tử luân hồi, được vào cõi Người không phải là dễ, còn đọa vào đường Súc sinh là chuyện có thể sảy ra rất nhiều, do đó đức Phật nói “thân người khó được” là vì thế. 
Bây giờ, vấn đề đặt ra là làm thế nào con người ta có thể tái sinh để được lại làm thân người khi kết thúc kiếp người hiện tại. Không có cách nào khác là phải biết tu thân tích đức. Đạo Phật là con đường đưa ta đi đến cõi lành nếu ta biết tu thân. Đạo Phật như một cơn mưa rừng của tự nhiên thấm xuống muôn loài chúng sinh hữu tình. Đạo Phật khuyến khích con người tìm kiếm chân lý trong chính mình thông qua sự tu tập và nuôi dưỡng sự hiểu biết về tự tính của chúng ta. Đạo Phật không phải là một phép màu làm cho ta trở nên tốt nếu ta không chịu tu tập. Đạo Phật là ánh sáng chỉ cho ta con đường tâm linh để phát triển sự hiểu biết, từ đó chuyển hóa nội tâm giúp chúng ta vững bước trên con đường Giác ngộ.
Chúng ta thấy rằng trong sáu cõi luân hồi, cõi Atula gồm những chúng sinh hay giận giữ, lòng sân hận rất lớn, hay gây sự, gây chiến tranh, vì vậy không thể yên ổn để tu hành. Cõi Trời tuy là cõi tốt đẹp nhất trong sáu cõi, những chúng sinh trong cõi Trời do có nhiều phước báu mới được sinh lên trên đó, họ chỉ biết hưởng thụ là chính nên rất khó khởi tâm tu tập.

Dù sống trên cõi Trời hàng trăm, nghìn năm, hay triệu năm, đến khi phúc hết mà không biết tạo dựng điều lành, cũng bị đọa lại vào các cõi thấp, ví như Trư Bát Giới nguyên là Thiên Bồng Nguyên soái ở cõi Trời bị đọa xuống trần gian làm kiếp con lợn trong cõi Súc sinh. Mà cõi Súc sinh là cõi mê mờ, ngu si không có tri thức, không thể học hỏi được bất cứ điều gì.

Duy chỉ có con người là có nhiều cơ hội để phát tâm tu hành giải thoát. Bởi vì con người với cái thân ngũ uẩn có thức uẩn phát triển cao, có lý trí, có tri thức, có nhận thức cao mới có thể tiếp thu được Phật pháp. Như thế đạt được thân người, được làm thân người là điều quí báu không hề dễ dàng gì. 
Dù là người xuất gia hay tại gia, con đường duy nhất để tránh được “thân người khó được” là con đường tu thân, tích đức, là thực hiện được những phương pháp tu tập từ đơn giản đến những phương pháp cao siêu hơn. Trên thực tế, có tới 84.000 pháp môn khác nhau đã được đức Phật chỉ dạy cho chúng ta con đường chuyển hóa tâm thức nhằm giải thoát hết thảy chúng sinh hữu tình từ trạng thái đau khổ đến trạng thái giác ngộ.

Tất cả những pháp môn đó, nếu ai được trang bị sẽ có sức mạnh giải thoát cho chính bản thân mình. Bởi vì toàn bộ mục đích của sự thực hành Phật pháp là nhằm giúp con người giải thoát khỏi khổ đau, sự chấp ngã và tất cả những phiền não, nhiễm ô để cuối cùng đạt được giác ngộ.

Đạo Phật dạy chúng ta rằng nếu cứ tham luyến, bám chấp vào cái “ta” hay cái “của ta” thì điều đó sẽ trở thành một dây xích trói chặt ta trong vòng sinh tử luân hồi. Chính con người tự trói buộc chính mình chứ không có cái gì khác trói buộc ta cả.

Và vì vậy, nếu thực hành tu tập tốt, bắt nguồn từ động cơ đúng đắn, dù có trở ngại đến đâu thì ta cũng vẫn an định, bình tĩnh bởi vì ta đã chuẩn bị tinh thần và với phương pháp đúng đắn, với niềm tin sâu sắc và hạnh nguyện đầy đủ để đi đến giác ngộ và ít nhất cũng tạo được nhiều nghiệp lành để tái sinh vào cõi Người.
Điều mà đức Phật dậy “Thân người khó được” nhắc nhở con người chúng ta phải mau mau tỉnh giác và nhận ra con đường đi đến Phật pháp để tự cứu mình, trên đường đi đến bờ Giác ngộ.

                                                                Phạm Đình Nhân, Pháp danh Chánh Tuệ Định


Thứ Ba, 2 tháng 2, 2016

CHỜ TẾT

                                                                                                     

                                                                                       CHỜ TẾT

                                                                   Hương tỏa khói  lan cứ chuyển vần,
                                                                   Lao xao cây lá thoảng chuông ngân.
                                                                   Bên thềm hoa nở chờ mừng tuổi,
                                                                   Ngoài ngõ én bay sắp đón xuân.
                                                                   Khách đến trà thơm bàn nghĩa đạo,
                                                                   Bạn sang rượu ngọt hiểu tình chân.
                                                                   Lộc tràn phúc ngập chào năm mới,                                                                                                    Trọn vẹn đời vui giữa cõi trần.

                                                                                                              Minh Đạo