Thứ Sáu, 19 tháng 2, 2016

LỜI CHÚC TẾT CỦA HÒA THƯỢNG TỊNH KHÔNG

                                                             


                                 Lời chúc Tết của Hòa Thượng Tịnh Không

          Xin chào các vị Pháp sư, các vị đại đức đang xem tiết mục của đài truyền hình vệ tinh Hoa Tạng.
         Năm Ất Mùi sắp qua rồi, năm Bính Thân sắp đến. Ở trên thềm bắt đầu một năm mới này, kính chúc mọi người:
                   “Năm mới an lạc,
                    Kiết tường như ý,
                    Đạo nghiệp tăng trưởng,
                    Quang thọ vô lượng.”

          Mỗi năm khi chúc mừng năm mới với mọi người, tôi đều dùng bốn câu nói này:
                   “ĐỪNG LÀM CÁC VIỆC ÁC - MỖI NĂM BÌNH AN
                   VÂNG LÀM CÁC VIỆC THIỆN - HÀNG NĂM NHƯ Ý.”
          Đây là nói lời thành thật.  Mọi người đều mong muốn đạt được kiết tường an vui thì cần phải đừng làm các việc ác, vâng giữ các việc thiện, mới có thể đạt được ‘kiết tường an vui’ chân thật.

         Vậy làm thế nào để có thể thực hiện được việc “đừng làm các việc ác”?
          Các ác do đâu mà có? – Từ trong phiền não tập khí sinh ra. 
          Vậy làm thế nào để khắc phục phiền não tập khí? – Không gì bằng niệm Phật!

         Cho nên Đại sư Ngẫu Ích đã nói: “Thật có thể niệm Phật, buông xả thân tâm thế giới, chính là Đại Bố Thí. Thật có thể niệm Phật, không để khởi tham sân si, chính là Đại Trì Giới. Thật có thể niệm Phật, không màng phải quấy nhân ngã, chính là Đại Nhẫn Nhục. Thật có thể niệm Phật, không mảy may gián đoạn xen tạp, chính là Đại Tinh Tấn. Thật có thể niệm Phật, không khởi vọng tưởng phóng túng, chính là Đại Thiền Định. Thật có thể niệm Phật, không bị cám dỗ dẫn dụ, chính là Đại Trí Tuệ!”

         Thật vậy, người chân thật niệm Phật tức đã nhìn thấu, buông xả. Thân tâm thế giới, trần sa phiền não, đều có thể bỏ qua một bên thì còn có thể tính toán phải quấy nhân ngã với người được nữa hay sao? – Đương nhiên không thể nào!
          Người chân thật niệm Phật, chính là tu ‘Giới, Định, Tuệ,’ sẽ có năng lực hàng phục phiền não, thậm chí có thể đoạn trừ phiền não. Người không có phiền não thì không còn tạo tác việc ác nữa, tức đã thật sự thực hiện đến tột cùng “đừng làm các việc ác!”
         Như thế chúng ta phải làm thế nào để có thể thực hiện được việc vâng giữ các việc thiện?  – Không gì hơn niệm Phật!
        
                    Phật là phước huệ viên mãn, vạn đức trang nghiêm.
                    A Di Đà Phật là “Quang Trung Cực Tôn, Phật Trung Chi Vương!”
         Cho nên Đại Sư Ngẫu Ích mới nói: “Niệm danh hiệu NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT thuần thục thì tất cả tinh hoa của Tam Tạng kinh điển đều nằm trong ấy. Một ngàn bảy trăm (1,700) công án, những việc hướng thượng cũng nằm trong ấy. Ba ngàn (3,000) oai nghi, tám muôn tế hạnh, tam tụ tịnh giới cũng là trong ấy”.
        
          Trên kinh đã dạy: “Thị tâm tác Phật, thị tâm thị Phật”. Chúng ta niệm Phật thì ngay nơi cái tâm này đã chính là Phật. Vì thế mới nói: “Một niệm tương ưng một niệm Phật. Niệm niệm tương ưng niệm niệm Phật!”
          Một câu A Di Đà  Phật đã hàm chứa hết thảy thiện pháp của thế xuất thế gian. Thế nên có thể chân thật niệm Phật chính là thực hiện được “chúng thiện phụng hành” đến tột cùng.

         Đặc biệt trong thời đại hiện nay, xã hội càng ngày càng động loạn, tai nạn dường như cũng mỗi ngày cũng một nhiều hơn. Nếu muốn tiêu tai miễn nạn, luôn được bình an thì phải thường xuyên niệm Phật. Nếu muốn hóa giải oán khí của thế gian, giảm nhẹ tai biến trên địa cầu thì phải thường xuyên niệm Phật. Nếu muốn cứu cánh lìa khổ được vui, một đời viên mãn thành Phật thì phải thường xuyên niệm Phật.

         Vì thế trong năm mới này, làm việc gì sẽ là việc tốt nhất? — Niệm Phật là tốt nhất!
        
          Hy vọng mọi người thường nhớ niệm A Di Đà Phật, một lòng hướng về thế giới Cực Lạc. Đây chính là sự an lạc, may mắn, và cát tường nhất.

Sau cùng, kính chúc tất cả mọi người: “Không làm các việc ác, tuổi tuổi được bình an. Vâng giữ các điều lành, mỗi năm được như ý.”
NIỆM PHẬT SẼ THÀNH PHẬT!

               Cảm ơn tất cả mọi người.

               Sau cùng, kính chúc tất cả mọi người:

              ☀KHÔNG LÀM CÁC VIỆC ÁC, TUỔI TUỔI ĐƯỢC BÌNH AN
                 VÂNG LÀM CÁC VIỆC LÀNH, MỖI NĂM ĐƯỢC NHƯ Ý


                  NIỆM PHẬT SẼ THÀNH PHẬT!

                  CẢM ƠN MỌI NGƯỜI!

               ☀NĂM MỚI NHƯ Ý


TRI KỶ

                                                                   
 

Ngày xưa có một phú ông rất thích trà, phàm là người đến nhà dùng trà, dù là người nghèo hay giàu thì ông đều sẽ sai gia nhân chiêu đãi.
Một hôm, có một tên ăn mày rách rưới đứng trước cửa, không xin cơm, chỉ xin bát trà. Gia nhân cho hắn vào nhà, đun trà cho hắn. Tên ăn mày nhìn nhìn rồi nói: “Trà không ngon”. Gia nhân nhìn hắn lấy làm lạ, rồi cũng đổi một bát trà khác ngon hơn.
Tên ăn mày ngửi ngửi, nói: “Trà này ngon, nhưng nước vẫn chưa được, phải dùng nước suối trong.” Gia nhân ngạc nhiên nhìn hắn, liền vội đi lấy nước suối cất trữ từ sáng sớm ra để pha trà.
Tên ăn mày nhấp thử một ngụm, nói: “Nước rất tốt, nhưng củi sao trà không được, củi phải dùng củi sau danh sơn. Bởi vì củi phía đón nắng của núi chất củi xốp, còn sau danh sơn kia chất củi chắc cứng.”
Gia nhân thấy người này không hề tầm thường, rất tinh thông trà đạo, liền dùng loại củi tốt đun nước pha lại trà, rồi mời lão gia ra tiếp.
Sau khi trà được mang lên, phú ông và tên ăn mày đối ẩm một bát. Tên ăn mày nói: “Ừm, bát trà lần này, nước, củi, lửa đều tốt, chỉ có ấm pha trà không ổn”. Phú ông nói: “Đây là chiếc ấm tốt nhất của ta”.
Tên ăn mày lắc đầu, cẩn thận lấy từ trong tay áo ra một ấm trà bằng đất tử sa đen bóng cao trà, đưa gia nhân pha lại trà. Phú ông vừa nhấp thử, kinh ngạc trước mùi vị ngào ngạt, mê hoặc của trà, lập tức chắp tay thi lễ: “Kính nể, ta xin mua lại chiếc ấm này. Lão cho giá đi, bao nhiêu cũng được”.
Gã ăn mày nhất định không bán, dứt khoát trả lời: “Không được, chiếc ấm này là cuộc sống của ta, ta không thể bán” rồi vội vàng rót trà ra, cất lại chiếc ấm, vội vàng bước đi
Phú ông ngăn lại, nói: “Ta đổi một nửa gia sản để lấy chiếc ấm của ngươi” Tên ăn mày vẫn bước tiếp. Phú ông nôn nóng: “Ta xin đổi toàn bộ tài sản để lấy chiếc ấm của ngươi.” Tên ăn mày nghe vậy, mỉm cười nói: “Nếu không phải tôi tiếc chiếc ấm này thì cũng không lâm vào bước đường như hôm nay.” Nói xong quay mặt bỏ đi.
Phú ông sốt ruột: “Như vầy đi, ấm là của ngươi, ngươi hãy ở lại nhà ta , ta ăn gì ngươi ăn đó, nhưng có một điều kiện, chính là ngày nào cũng phải cho ta nhìn chiếc ấm, thế nào?”. Giật mình trước lời đề nghị, lão nhíu mày: cũng vì miếng ăn qua ngày mà túng quẫn, chuyện tốt như vậy sao lại không nhỉ?
Vậy là hắn ở lại. Ngày qua ngày tên ăn mày ăn cùng ở cùng phú ông, ngày ngày cùng nâng niu chiếc ấm trà, chia sẻ với nhau tâm tư, thưởng trà ẩm rượu vô cùng ăn ý. Cứ thế hơn mười năm qua đi, hai người trở thành hai lão già tri kỷ thấu hiểu nhau.
Thời gian trôi mau, phú ông và tên ăn mày cũng ngày càng già đi. Một hôm phú ông nói: “Ông già hơn tôi, không có con cháu nối dõi, không có ai thừa kế chiếc ấm trà, chi bằng một mai, khi ông khuất núi, để tôi giúp ông bảo quản, ông thấy thế nào?” Lão ăn mày rưng rưng đồng ý.
Không lâu sau, lão ăn mày thanh thản ra đi, phú ông thỏa ao ước có được chiếc ấm tử sa. Lúc đầu, ông chìm trong cảm giác vui sướng, cho đến một ngày, lúc phú ông đang ngắm nghía trên dưới trước sau chiếc ấm, đột nhiên cảm thấy bản thân như thiếu thứ gì đó, cảm thấy lẻ loi. Lúc này trước mắt ông hiện lên hình ảnh ngày trước cùng lão ăn mày vui vẻ thưởng trà. Chợt hiểu, lão lạnh lùng ném mạnh chiếc ấm xuống đất...
Theo dòng thời gian, có rất nhiều thứ đổi thay, tình nghĩa giữa lão và tên ăn mày đã vượt qua cái giá trị ban đầu của ấm trà, thứ dù có tốt đến đâu nếu không có ai cùng thưởng thức thì cũng mất đi ý nghĩa của nó, thứ đáng giá đến đâu cũng không đáng giá bằng tri kỷ.
Trong cuộc sống có được một người bạn tri kỷ là quá đủ! Đây là điều mà bao người từng trải đúc kết được! Tình tri kỷ, như một thứ ấm áp không lời, một sự đồng hành vô hình.
Tri kỷ thật sự, là hiểu, là thân thiết, là đồng điệu. Giống như một chén trà xanh, chan chát mà thấm vào tận trong tim. Có những khi chỉ cần một cái ôm, một ánh mắt, là hiểu tất cả mà không cần dùng đến lời nói; có những khi chỉ cần một đoạn tin nhắn là có thể cảm động mãi sau này.
Tri kỷ, không cần che đậy, cũng không cần giải thích, tự nó đã hiểu, tự nó cảm nhận. Không cần dốc hết sức, cũng không cần chuẩn bị, tự nó sẽ đem đến niềm vui, tự nó sẽ như ý thơ. Không tác động vào thế giới mỗi người, chỉ đồng hành trong tâm hồn; không trở ngại cuộc sống mỗi người, chỉ mang cùng tiếng nói tâm hồn.
                                                                                (Sưu tầm)



Thứ Ba, 16 tháng 2, 2016

NHÂN SINH TỨ TỰ




                                                                       
Nhân Sinh Tứ Tự
                                                                (Đời Người Trong 4 Chữ)
         Ngày xửa, ngày xưa, có một ông vua. Như bao nhiêu vì vua khác trong chuyện cổ tích, đức vua của chúng ta làm chủ một giang sơn gấm vóc, có một đám đông đình thần giỏi giang và hằng hà sa số thần dân gương mẫu.
Điều đáng nói là đức vua rất sáng suốt, nhìn xa thấy rộng, đáng làm gương cho hết thảy các ông vua khác trong sách vở. Người ta có thể minh chứng điều đó bằng một sắt luật của đức vua khi mới leo lên ngôi cửu ngũ: cho sưu tầm hết tất cả sách vở có trong trời đất, tập trung về hoàng cung cho đức vua tham học.
Hàng trăm quan lớn, hàng nghìn quan nhỏ cùng hàng vạn phu khuân vác đã làm việc cật lực suốt 10 năm dài mới tải hết được số sách của nhân loại đem về kinh đô. Đứng trước một trăm căn phòng chứa đầy nhóc các thủ bản viết tay, đức vua gãi đầu, ra lệnh cho quan tể tướng phải cấp tốc thiết lập một ban quản thủ thư viện, kiêm nhiệm việc phân loại, tóm tắt các văn kiện rồi hãy đem đệ trình cho mắt rồng ngự lâm.
Ban quản thủ thư viện lại làm việc ráo riếc bất kể ngày đêm để đạt yêu cầu của đức hoàng thượng họ... Và sau 10 năm dài không ngơi nghỉ, tốn hết 7 tỷ 368 triệu 456,321 kg bạch lạp, họ mới tóm tắt thâu gọn cái thư viện đồ sộ từ 100 gian phòng xuống còn một giang duy nhất, rồi hân hoan đệ trình lên đức vua của họ.
Đứng trước những tủ sách gọn gàng, ngăn nắp, trình bày vô cùng mỹ thuật ấy, đức vua rất ư là cảm động. Sau khi vò tời vò lui... làm rối núi chòm râu đã lấm tấm bạc, đức vua lại truyền lệnh :
- “Phải tóm tắt nữa, thu gọn nữa... làm sao để trẫm có thể đọc hết tất cả tinh hoa của nhân loại, thâu thái hết những ý kiến khôn ngoan... chỉ trong khoảng 10 cuốn sách mà thôi... Các khanh đã làm việc thật hoàn hảo, nhưng trẫm không có thì giờ... các khanh hiểu chứ?”
Dĩ nhiên là ban quản thủ thư viện gật đầu lia lịa và lại đốt nến bắt tay vào công việc mới.
Mười năm dài trôi qua, toàn thể sách vở được cô đọng lại trong mười quyển dày cộm, đóng bìa da, gáy mạ vàng, đầy chi chít những chữ. Lần này, đức vua không tiếc lời khen ngợi đám đình thần mẫn cán, bốc vàng bạc ban thưởng cho họ từng nắm lớn, rồi dõng dạc ra lệnh:
- Hãy tóm tắt thêm nữa… Hãy làm cách nào để chúng chỉ còn vỏn vẹn có một quyển thôi, cho trẫm gối đầu giường mỗi khi rỗi rảnh. Các khanh hiểu ý trẫm chứ?
Đám đình thần lại tranh nhau tung hô và gật đầu lia lịa.
Lại 10 năm dài trôi qua. Quyển sách được hoàn thành thể theo lời yêu cầu của người cần đọc. Quan tể tướng long trọng đặt nó lên một cái mâm bằng vàng, dâng lên đức vua của họ, bây giờ đang hấp hối trên long sàng. Đức vua nhìn quyển sách, rơi lệ, thều thào nói:
- Muộn mất rồi, các khanh hãy tóm tắt đại ý của quyển sách, trong chỉ một câu thôi, để trẫm nghe đọc được lần cuối.
Một cuộc đại hội được khẩn cấp triệu tập. Ban quản thủ thư viện lại làm việc ròng rã suốt ba ngày đêm… Sau cùng, quan tể tướng vội vã đến quỳ mọp bên long sàng, dâng lên một mãnh giấy đỏ, có viết mấy dòng chữ vàng bằng kim nhũ óng ánh.
Đức vua gật đầu, ra dấu cho quan tể tướng đọc lớn lên. Vị trung thần lão thành này cố nén nỗi thương tâm, quẹt nước mắt, hít mũi, hắng giọng, lớn tiếng đọc bằng một giọng rõ ràng và trang trọng.
- Sinh… a… Già… a… Bệnh… a… và Chết.
Người bệnh lắng tai nghe xong, gục gật đầu rối khép mắt, trút hơi thở sau cùng. Những người chung quanh đồng rống lên khóc, quan tể tướng vật vã đập đầu vào long sàng, các đình thần đấm ngực bứt cúc áo… Đám ngự lâm quân hối hả dìu các vị lão thần, ngăn cản các vị trung niên đang nhổ râu sừn sựt.
Trong khung cảnh hỗn loạn đó, tờ giấy đỏ có viết kim nhũ vàng lặng lẽ chao mình theo một cơn gió, bay vèo qua cửa sổ và âm thầm chui vào một cái hốc chứa đầy nước trong máng xối…
Toàn thể công lao của ban quản thủ thư viện đều trôi theo những giọt kim nhũ vàng óng ánh, chầm chậm nhỏ từng giọt xuống bức tường phủ đầy rêu xanh.

                                Con kiến bé có bao giờ lận đận
                              Lối đi về trên cổ lục chiêm bao?  BG


                                                                              (NS Huệ Hạnh)



Thứ Hai, 15 tháng 2, 2016

SÁN LÁ GAN


san-3-1452501122866-21-0-139-232-crop-1452501145381
                                                       Bị sán tưởng ung thư
 Hình ảnh sán lá gan.
Hình ảnh sán lá gan.
.
Rau cải xoong được phát hiện có sán.
Rau cải xoong được phát hiện có sán.
Đã có bệnh nhân có khối u rất lớn trong gan, khi cắt 1 phần lá gan thấy bò ra con vật to bằng đầu ngón tay. Đó chính lá sán lá gan lớn.
 Bị sán tưởng ung thư
   Trường hợp của ông Nguyễn Văn Cảnh trú tại Thanh Trì, Hà Nội đến khám tại một Bệnh viện lớn ở Hà Nội, sau khi chụp CT và làm các xét nghiệm, bác sĩ chẩn đoán ông bị ung thư gan và khối y rất lớn.
   Ngay sau đó, bác sĩ khuyên ông nên làm phẫu thuật cắt bỏ khối u điều trị theo phác đồ trị ung thư gan.
  Sua khi cắt một phần lá gan, bác sĩ để lên bàn để mang đi làm mẫu bệnh phẩm thì thấy xuất hiện một con sán bò ra từ mẫu bệnh phẩm. Như thế, bệnh nhân bị sán lá gan lớn chứ không phải là bị ung thư gan.
  Bệnh viện đó đã mời Giáo sư Nguyễn Văn Đề – Nguyên chủ nhiệm bộ môn Ký sinh trùng lên để hội chẩn và kết quả sau khi làm xét nghiệm có kết quả bạch cầu ái toan, bác sĩ kết luận bệnh nhân bị sán lá gan lớn chứ không phải là bệnh ung thư.
  Sau đó, con sán được bắt lại. Cả con sán to bằng ngón tay vẫn còn đang ngọ nguậy. Bác sĩ cho thuốc điều trị sán lá gan, bệnh nhân khỏe lại và tăng cân.
  Trường hợp của bà Nguyễn Thị Ninh trú tại Hà Nam cũng tương tự. Bà Ninh bị đau bụng, vàng da và khi đến bệnh viện khám siêu âm ổ bụng bác sĩ phát hiện có khối u gan và yêu cầu làm chụp CT làm phẫu thuật để lấy xét nghiệm tế bào học.
  Bác sĩ nghi ngờ ung thư gan. Cả gia đình bà Ninh như ngồi trên đống lửa vì khi mắc ung thư gan tiên lượng rất thấp. Tuy nhiên, khi phẫu thuật, bác sĩ mổ ra thấy gan phải bị ung thư mà đó là một tổ sán, bác sĩ lại đóng vết mổ và cho điều trị bệnh
 Bác sĩ Đề cho biết ông gặp rất nhiều trường hợp bị ung thư gan đã được bác sĩ chẩn đoán và tiến hành phẫu thuật nhưng khi đến gặp ông sau khi làm lại các xét nghiệm ký sinh trùng thì đó là bệnh sán lá gan chứ không phải ung thư gan.
Hiện nay, thói quen ăn rau cần tái, dưa cần, rau cải xoong cũng như các loại rau thủy sinh khác chưa được nấu chín là nguyên nhân dẫn đến bệnh sán lá gan.
    Không được ăn rau thủy sinh tái, sống
Bác sĩ Đề cho biết ban đầu sán lá gan lớn là loại bệnh của các loài động vật ăn cỏ (còn gọi là động vật nhai lại) như trâu, bò, dê, cừu, hươu… (gọi là vật chủ cuối cùng hay vật chủ chính).
  Còn người và một số động vật khác như lợn, chó, mèo là các đối tượng không may mắc bệnh.
Khi trâu bò thải chất cặn bã ra môi trường kèm theo trứng sán, trong môi trường nước, trứng sán tiếp tục phát triển thành phôi, sau đó tự giải phóng ra ngoài dưới dạng  ấu trùng lông.
   điều kiện thời tiết mùa hè thích hợp, thời gian này mất khoảng 2 tuần. Trùng lông di chuyển trong nước, tìm đến và xâm nhập vào vật chủ trung gian thích hợp là các loài ốc.
Ở trong ốc, ấu trùng lông phát triển qua các giai đoạn thành bào ấu trùng và ấu trùng. Để tiếp tục chu kỳ các ấu trùng của sán lá gan lớn rời khỏi ốc bám vào bề mặt của các cây thủy sinh như các loại rau, cỏ…
Lúc này các loại động vật ăn cỏ ăn phải cỏ có chứa ấu trùng hoặc người không may ăn phải các loại rau, củ thủy sinh có chứa ấu trùng thì sẽ mắc bệnh sán lá gan lớn. Sau khi xâm nhập qua đường miệng, ấu trùng tới ruột non và thoát vỏ.
Từ đây ấu trùng xâm nhập vào các khoang của cơ thể bằng cách xuyên qua thành ruột và nhập vào đường mật bằng cách xuyên qua nhu mô gan. Đôi khi ấu trùng tới gan bằng đường máu hoặc đường bạch huyết ở thành ruột.
  Ngoài gan và đường mật, ấu trùng sán lá gan lớn còn có thể xâm nhập vào phổi, tử cung, hoặc một số tổ chức liên kết. Khi đã tới được các cơ quan hay tổ chức, ấu trùng sẽ phát triển thành sán trưởng thành gây bệnh, đẻ trứng để bắt đầu chu kỳ tiếp theo.
Sán thường tạo nên tổ chức viêm và xơ hóa, ký sinh trùng có thể canxi hóa hoặc trở thành mảnh vụ trong các hạt nhỏ. Sán là gan lớn ký sinh trong gan tạo nên những ổ áp xe nhỏ, làm sung huyết gan, ống mật dày lên biến dạng gây viêm và xơ hóa.
Những hình ảnh này quan sát rõ trên siêu âm là những ổ âm hỗn hợp. Khi sán là gan lớn ký sinh ở các cơ quan khác trên cơ thể, chúng gây nên những ổ áp xe tại đó.
Qua siêu âm, CT bác sĩ khó nhận biết đó là ổ áp xe mà thường thấy hình ảnh khối u nên chẩn đoán u gan hoặc ung thư gan.
  Để phòng sán lá gan lớn, bác sĩ khuyên người bệnh không nên ăn rau thủy sinh sống, tái. Nhiều địa phương có thói quen làm dưa cần, nhúng cần qua nước nóng là ăn luôn như thế rất nguy hiểm. Về nguyên tắc phải nấy chín kỹ để diệt các loại trứng, nang trùng sán.
                                                                                   Nguồn internet



Chủ Nhật, 14 tháng 2, 2016

GIÀ LAM



                                                                                 GIÀ LAM 
 
                                                                Chiều lên sương trắng cảnh non ngàn,  
                                                                Mái lá chùa nghiêng ngụ thế gian.  
                                                                Lữ khách dạo quanh tìm cõi tịnh,  
                                                                Sư ông thiền tọa thả tâm an.  
                                                                Có không danh lợi thôi phân biệt,  
                                                                Được mất thị phi chẳng nghĩ bàn.  
                                                                Ý diệu đường về nương đạo tổ,  
                                                                Trừ mê khai ngộ khấn hương đàn.

                                                                                                         Minh Đạo  

  

Thứ Bảy, 13 tháng 2, 2016

10 ĐIỀU KIÊNG KỴ NHẤT KHI DÙNG TRÀ: BẠN ĐÃ BIẾT?

  - Đồ uống trà, như chè xanh, trà dược… được xem là thứ giải khát quen thuộc, có nhiều lợi ích cho sức khỏe. Tuy nhiên để phát huy tác dụng cao nhất và hạn chế những bất lợi, khi dùng cần chú ý những điều kiêng kỵ dưới đây. 
                                                     

1. Không nên uống trà khi đói Trà là đồ uống được người Trung Quốc tìm ra nhưng người Trung Quốc cũng khuyên không nên uống khi đói, việc làm này chẳng khác nào “rước hổ vào nhà”, bởi uống trà khi đói nó gây những phản ứng bất lợi cho dạ dày, lá lách làm cho hai bộ phận này bị “mát”, xuất hiện hiện tượng cồn cào, khó chịu.


2. Không nên uống trà nóng bỏng (trên 62 độ C) Điều này chắc ai cũng biết, bởi nó làm bỏng môi, bỏng lưỡi, miệng, dạ dày và nếu dùng lâu dài sẽ vô hiệu hóa các bộ phận nói trên, dẫn đến mất cảm giác mùi vị, phong bế các chức năng vốn có, làm tê liệt mô dạ dày và dẫn đến mắc chứng uxơ. Vì vậy người ta khuyến cáo chỉ nên uống trà dưới 56oC
                

3. Không nên uống trà lạnh Ngược lại, nếu uống trà lạnh cũng không tốt bởi nhiệt độ lạnh sẽ gây tích tụ đờm rãi trong miệng.
 

4. Không nên dùng trà quá đặc: Trà quá đặc không tốt cho sức khỏe bởi nó giàu hàm lượng caffein và tannin, gây đau đầu và mất ngủ, nếu dùng lâu dài sẽ không tốt cho sức khỏe con người.


5. Không nên pha ngâm trà quá lâu Pha trà ngâm quá lâu làm cho chè tiết ra polyphenyles và các loại dầu quan trọng, tạo ra quá trình ôxy hóa tự nhiên. Điều này không chỉ làm giảm độ trong của trà mà còn làm giảm hàm lượng dưỡng chất có trong trà. Nếu trà hãm trong nước ấm quá lâu còn làm tăng số lượng vi sinh vật (vi khuẩn và nấm), dễ sinh bệnh cho con người.

6. Không nên pha trà quá nhiều lần: Pha trà quá nhiều lần, đun đi đun lại quá nhiều không chỉ giảm chất lượng mà còn để lại những tác dụng xấu cho sức khỏe. Theo nhiều thử nghiệm các nhà khoa học phát hiện thấy, lần pha trà đầu tiên triết được khoảng 50% các hợp chất hữu ích, lần 2 là 30%, lần 3 là 10% và lần thứ 4 thì chỉ còn 1-3%. Nếu cứ đun đi đun lại, pha nhiều lần thì các chất độc sẽ tiết ra vì vậy không nên pha trà “quá tam” ba bận.

7. Không nên uống trà trước bữa ăn Các chuyên gia dinh dưỡng khuyến cáo trước các bữa ăn không nên uống trà vì nó “làm mềm” nước bọt, giảm tính ngon miệng và làm cho thức ăn trở nên vô vị. Ngoài ra, nó còn làm sự đồng hóa protein của cơ quan tiêu hóa. Lý do này mà trước bữa ăn 20-30 phút không nên uống trà.


8. Không nên uống trà ngay sau bữa ăn: Giống như uống trà trước bữa ăn, nếu uống sau bữa ăn cũng không tốt, nó làm giảm các chức năng tiêu hóa cũng như các bộ phận có liên quan đến tiêu hóa. Tốt nhất nên uống sau khi ăn khoảng 20-30 phút.


9. Không nên dùng nước trà để uống thuốc Một số người có thói quen dùng nước trà để uống thuốc, việc làm này thiếu khoa học và làm giảm tác dụng của thuốc, bởi tannin có trong trà sẽ làm giảm tác dụng của thuốc, thậm chí còn phong bế chức năng và làm cho thuốc trở nên hết tác dụng.


10. Không nên uống trà của ngày hôm trước Trà của ngày hôm trước không chỉ giảm hương vị mà các dưỡng chất cũng bị cạn kiệt, môi trường tốt để cho khuẩn sinh sôi nảy nở. Nếu sau 24 giờ không bị thiu chỉ nên dùng để vệ rửa, vệ sinh ngoài da, vì nó giàu axít và flo có tác dụng ngăn ngừa chảy máu, viêm nhiễm. Cũng có thể dùng trà đã pha hôm trước để kháng viêm, chữa bệnh răng lợi, thậm chí có thể dùng để rửa mắt, hoặc dùng để xúc miệng vào buổi sáng trước khi đánh răng sẽ có tác dụng vệ sinh răng, tăng cường cảm giác

                                                                                        Theo tredeponline.com.

Thứ Sáu, 12 tháng 2, 2016

TÂM BÌNH



                                                                             TÂM BÌNH 

                                                               Bình tâm thanh thản giữa đời này,  
                                                               Thương giận buồn vui chẳng tỏ bày,  
                                                               Độ lượng từ bi nguồn phước tuệ,
                                                               An nhiên tự tại quả lành thay.

                                                                                                      Minh Đạo
 


SƠ LƯỢT VÀ Ý NGHĨA 18 VỊ LA HÁN TRONG PHẬT GIÁO

A la hán chỉ là phiên âm từ tiếng Phạn Arahat. Chữ Arahat hay A la hán có 3 nghĩa: Sát tặc, Vô sanh và Ứng cúng. a) Sát tặc là giết sạch hết giặc phiền não trong tâm. Bọn giặc phiền não chúng nó hung tợn dữ dằn lắm. Những thứ phiền não gốc ngọn gì, các Ngài cũng đều giết sạch hết, nên gọi là sát tặc.

b) Vô sanh đồng nghĩa với Niết bàn. Nghĩa là các Ngài đã đạt được một trạng thái tâm lý yên tịnh không còn sanh diệt nữa. Nói rõ, là các Ngài không còn sanh tử luân hồi.

c) Ứng cúng là các Ngài thật xứng đáng cho trời người cúng dường. A la Hán có 3 nghĩa như thế.


1. La Hán Ba Tiêu
2. La Hán Bố Đại
3. La Hán Cử Bát
4. La Hán Hàng Long
5. La Hán Khai Tâm
6. La Hán Kháng Môn
7. La Hán Khánh Hỷ
8. La Hán Khoái Nhĩ
9. La Hán Kỵ Tượng
10. La Hán Phục Hổ
11. La Hán Quá Giang
12. La Hán Thác Tháp
13. La Hán Thám Thủ
14. La Hán Tiếu Sư
15. La Hán Tĩnh Tọa
16. La Hán Tọa Lộc
17. La Hán Trầm Tư
18. La Hán Trường Mi

1. La Hán Ba Tiêu

Tên của Ngài là Phạt-na-bà-tư 伐那婆斯 (Vanavāsin). Theo truyền thuyết khi mẹ Ngài vào rừng viếng cảnh, mưa to dữ dội và bà hạ sanh Ngài trong lúc ấy. Sau khi xuất gia với Phật, Ngài thích tu tập trong núi rừng, thường đứng dưới các cây chuối nên còn được gọi là La-hán Ba Tiêu.

Có lần, đức Phật hàng phục con yêu long trong một cái đầm sâu. Cảm phục ân đức của Phật, yêu long xin Ngài lưu lại chỗ của mình để được gần gũi cúng dường. Phật dạy Ngài không thể ở một nơi lâu, nên cử năm vị Đại A-la-hán đến, đó là các vị Xá-lợi-phất, Mục-kiền-liên, Nhân-kiệt-đà, Tô-tần-đà và Phạt-na-bà-tư. Khi tôn giả Phạt-na-bà-tư đến tiếp nhận lễ vật cúng dường, Ngài thường thích tọa thiền trên phiến đá lớn bên cạnh đầm, khi thì ngồi suốt tuần, lúc ngồi cả nửa tháng.

Theo lời phó chúc của đức Phật, Tôn giả lưu tâm hóa độ vua Ca-nị-sắc-ca. Nhân dịp nhà vua đi săn, Tôn giả hóa làm con thỏ trắng dẫn đường cho vua đến gặp một mục đồng đang lấy bùn đất nặn tháp Phật. Mục đồng nói rằng Phật thọ ký 400 năm sau vua Ca-ni-sắc-ca sẽ xây tháp thờ Phật tại đây. Mục đồng ấy cũng chính là Phạt-na-bà-tư hóa hiện. Từ đó, vua trở nên bậc đại quân vương hoằng dương Phật pháp, xây chùa tháp tự viện, ủng hộ cúng dường Tăng chúng, tổ chức kiết tập kinh điển Phật giáo lần thứ tư tại thủ đô Ca-thấp-di-la. Tất cả những thành tựu này đều nhờ thâm ân giáo hóa của tôn giả Phạt-na-bà-tư.

Theo Pháp Trụ Ký, tôn giả Phạt-na-bà-tư là vị La-hán thứ mười bốn, ngài và 1.400 vị La-hán thường ở trong núi Khả Trụ.

2. La Hán Bố Đại

 [photo]Tên của Ngài là Nhân-yết-đà 因羯陀 Nhân-kiệt-đà (Angada). Theo truyền thuyết Ngài là người bắt rắn ở Ấn Độ, xứ này nhiều rắn độc hay cắn chết người, Ngài bắt chúng, bẻ hết những răng nanh độc rồi phóng thích lên núi. Hành động ấy phát xuất bởi lòng từ cao độ, nên Ngài được xem như biểu trưng của từ bi. Sau khi đắc đạo, Ngài thường mang một túi vải bên mình để đựng rắn, cũng trùng hợp như Hòa thượng Bố Đại ở Trung Hoa.


Nhân có một người nước Ô-trượng-na muốn tạc tượng Bồ-tát Di-lặc, nhưng chưa được thấy diện mạo Bồ-tát nên không dám làm. Ông lập hương án trong vườn hoa chí thành khấn nguyện, cung thỉnh một vị Hiền Thánh đến để giúp ông. Khấn xong thì có một vị La-hán xuất hiện xưng tên là Nhân-yết-đà, đến đưa ông lên cung trời Đâu-suất để gặp Bồ-tát Di-lặc. Tôn giả đã đưa người này lên cung trời trước sau cả thảy ba lần để chiêm ngưỡng chân tướng trang nghiêm của Bồ-tát. Tượng Bồ-tát tạo xong được bảo tồn tại thủ đô nước Ô-trượng-na, đó là nhờ công ơn của Tôn giả.

La-hán là bậc bất sanh bất diệt, đến đi tự tại, các Ngài du hóa nhân gian dưới mọi hình thức. La-hán Bố Đại có hình tướng mập mạp, bụng to, túi vải lớn bên mình như là hiện thân của Bồ-tát Di-lặc, trong câu chuyện trên đã có ít nhiều liên hệ.

Theo Pháp Trụ Ký, Ngài là vị La-hán thứ mười ba, thường cùng 1.300 vị A-la-hán trụ trong núi Quảng Hiếp.

3. La Hán Cử Bát

 Tên của Ngài là Ca-nặc-ca-bạt-ly-đọa-xà 迦諾迦跋釐墮蛇 (Kanakabharadvāja). Ngài là vị Đại đệ tử được đức Phật giao phó giáo hóa vùng Đông Thắng Thần Châu.Quốc vương nước Tăng-già-la ở Nam Hải không tin Phật pháp, Tôn giả Ca-nặc-ca tìm cách hóa độ. Một sớm mai, khi đang cầm gương soi mặt, quốc vương giật mình kinh sợ vì trong gương không có mặt mình mà có hình dáng vị đại sĩ Bạch Y. Đây là do phép thần biến của Tôn giả. Theo lời khuyên của quần thần, nhà vua cho tạc tượng Bồ-tát Quan Thế Âm để thờ phụng và từ đó hết lòng tin Phật.


Ngài Huyền Trang khi sang Ấn Độ, trú tại chùa Na-lan-đà nghe kể câu chuyện sau: Sau khi Phật Niết-bàn vài trăm năm, quốc vương nước Ma-kiệt-đà làm lễ lạc thành ngôi chùa Đại Phật, thỉnh mấy ngàn vị Hòa thượng đến cúng dường. Khi mọi người bắt đầu thọ trai, bỗng nhiên có hai vị Hòa thượng từ không trung bay xuống. Cả hội chúng kinh ngạc, vua hỏi lai lịch thì một vị xưng là Tân-đầu-lô ở Tây-cù-da-ni châu, một vị xưng là Ca-nặc-ca ở Đông Thắng Thần Châu. Vua vui mừng thỉnh hai Tôn giả chứng minh trai phạn. Thọ trai xong, hai vị cười nói:

- Này các vị, 16 La-hán chúng tôi sẽ mãi mãi lưu lại thế gian, cùng tu tập với tất cả Phật tử chí thành đời sau.

Tôn giả Ca-nặc-ca thường mang một cái bát sắt bên mình khi du hành khất thực, nên được gọi là La-hán Cử Bát.

Theo Pháp Trụ Ký ngài là vị La-hán thứ ba, thường cùng 600 vị A-la-hán trú tại Đông Thắng Thần Châu.

4. La Hán Hàng Long

Ngài tên là Nan-đề-mật-đa-la 難提密多 (Nandimitra), Trung Hoa dịch Khánh Hữu, ra đời sau Phật diệt độ 800 năm, cư trú tại nước Sư Tử.


Ngài là vị Đại La-hán thần thông quảng đại, đạo hạnh trang nghiêm. Tương truyền có một lần cả đảo Sư Tử bị Long Vương dâng nước nhận chìm, Tôn giả ra tay hàng phục rồng nọ và được tặng hiệu La-hán Hàng Long. Khi Ngài sắp thị tịch, mọi người buồn thương lo sợ vì thế gian sẽ không còn bậc La-hán. Ngài cho biết có 16 vị La-hán vâng lệnh Phật lưu trụ cõi Ta-bà để ủng hộ Phật pháp. Lời dạy của Ngài được ghi chép lại thành bộ “Pháp Trụ Ký”. Nói “Pháp Trụ Ký” xong, tôn giả Khánh Hữu bay lên không trung hóa hiện vô số thần biến, rồi dùng chơn hỏa tam-muội thiêu thân. Xá-lợi ngũ sắc rơi xuống như mưa, mọi người tranh nhau lượm mang về tôn thờ cúng dường.

Tuy đã thiêu thân, nhưng Tôn giả không rời nước Sư Tử, Ngài bay về động đá trên núi để tọa thiền. Thời gian thoáng chốc đã hơn 400 năm, khi Tôn giả xuất định Ngài ôm bát xuống núi khất thực thì thấy phong cảnh đã đổi khác. Ngài nhẫm tính lại và khám phá ra mình đã tọa thiền hơn 400 năm bèn bật cười ha hả. Sau đó Ngài thường xuất hiện khắp nơi, khi thì trì bát, lúc thì giảng kinh… Mọi người vẫn còn tin rằng Ngài vĩnh viễn không rời thế gian mà luôn luôn cùng 16 vị La-hán kia tiếp tục hoằng hóa.

* Dị bản: Tôn giả Nan-đề-mật-đa-la là vị La-hán thứ 17, do mọi người tưởng nhớ công ơn ngài nói ra Pháp Trụ Ký.

5. La Hán Khai Tâm

Hình tượng vạch áo bày ngực để hiển lộ tâm Phật. Ngài tên là Thú-bác-ca 戍博迦 (Jivaka). Thú-bác-ca vốn là một Bà-la-môn nổi danh, nghe nói thân Phật cao một trượng sáu, Thú-bác-ca không tin nên chặt một cây trúc dài đúng một trượng sáu để đích thân đo Phật. Lạ thay, dù đo bất cứ cách nào, thân Phật vẫn cao hơn một chút. Thú-bác-ca tìm một cây thang dài rồi leo lên thang đo lại, kết quả cũng vậy. Đo đến mười mấy lần, không còn cây thang nào dài hơn mà thân Phật vẫn cao hơn. Lúc này ông thiệt tình khâm phục và xin quy y làm đệ tử.


Sau khi xuất gia, trải qua bảy năm khổ hạnh, Ngài chứng quả A-la-hán. Vì muốn kỷ niệm nhân duyên đo Phật mà xuất gia ngộ đạo, Ngài lấy cây sào lúc trước, đi đến chỗ cũ nói:

- Nếu Phật pháp là chân lý ngàn đời thì xin cây sào này mọc lại và sinh trưởng ở đây.

Nói xong, Ngài cắm cây sào xuống đất. Cây sào bỗng nẩy chồi ra lá. Thời gian sau từ chỗ đó mọc lên một rừng trúc tốt tươi lan rộng cả vùng, người ta gọi nơi ấy là Trượng Lâm. Quần chúng Phật tử kéo đến chiêm bái chứng tích mầu nhiệm của cây gậy đo Phật. Nơi đây rừng núi khô cằn hoang dã, thiếu nước uống nghiêm trọng, tôn giả Thú-bác-ca liền vận thần thông biến ra hai suối nước một nóng, một lạnh để mọi người tha hồ sử dụng. Hai suối này nằm cách mười dặm về phía Tây Nam của Trượng Lâm. Dân chúng vùng này mãi nhớ ơn đức của Tôn giả.

Theo Pháp Trụ Ký, ngài Thú-bác-ca là vị La-hán thứ  chín, thường cùng 900 vị La-hán trụ trong núi Hương Túy.

6. La Hán Kháng Môn

Tên của Ngài là Chú-trà-bán-thác-ca, hay Châu-lợi-bàn-đặc 周利槃特 (Cullapatka). Truyền thuyết Phật giáo nhắc đến Ngài như một tấm gương cần cù nhẫn nại. Vì không thông minh như anh nên khi xuất gia Ngài không tiếp thu được Phật pháp, kể cả xếp chân ngồi thiền cũng không xong. Về sau được sự chỉ dạy lân mẫn của Thế Tôn, Ngài thực hành pháp môn quét rác với cây chổi trên tay. Nhờ sự kiên trì, dốc tâm thực hành lời dạy của Phật, quét sạch mọi cấu uế bên trong lẫn bên ngoài, Ngài đã chứng Thánh quả.

Một hôm đại thần Kỳ-bà thành Vương Xá thỉnh Phật và các vị A-la-hán đến nhà thọ trai. Tôn giả Bán-thác-ca không biết em mình đã chứng quả nên không phát thẻ tham dự. Đến khi chuẩn bị thọ trai, Phật bảo Bán-thác-ca về tinh xá xem có sót người nào. Tôn giả về Trúc Lâm thì thấy cả ngàn vị Hòa thượng đang tọa thiền rải rác trong vườn. Ngạc nhiên và dùng thiên nhãn quán sát, mới vỡ lẽ ra đó là trò đùa của em mình, Tôn giả mừng rỡ xúc động, tán thán công phu của Châu-lợi-bàn-đặc.

Theo truyền thuyết, khi đi khất thực Tôn giả gõ cửa một nhà nọ và làm ngã cánh cửa cũ hư. Điều này cũng gây bối rối! Về sau, Phật trao cho Tôn giả một cây gậy có treo những chiếc chuông nhỏ để khỏi phải gõ cửa nhà người. Nếu chủ nhân muốn bố thí thì sẽ bước ra khi nghe tiếng chuông rung. Cây gậy gõ cửa trở thành biểu tượng của Tôn giả, và là hình ảnh quen thuộc trong sinh hoạt Phật giáo.

Theo Pháp Trụ Ký, Tôn giả là vị La-hán thứ mười sáu, cùng với 1.600 vị A-la-hán thường trú tại núi Trì Trục.

7. La Hán Khánh Hỷ

Ngài tên là Ca-nặc-ca-phạt-tha 迦諾 迦伐磋 (Kanakavatsa), còn gọi là Yết-nặc-ca-phược-sa. Đức Phật thường khen Ngài là vị La-hán phân biệt thị phi rõ ràng nhất. Khi chưa xuất gia Ngài là người rất tuân thủ khuôn phép, giữ gìn từ lời nói đến hành động, một ý nghĩ xấu cũng không cho phát khởi. Sau khi xuất gia, Ngài càng nỗ lực tinh tấn tu tập, nhờ thiện căn sâu dày Ngài chứng quả A-la-hán rất mau.

Ngài thường đi du hóa khắp nơi với gương mặt tươi vui và dùng biện tài thuyết pháp để chiêu phục chúng sanh. Thấy mọi người thường vô ý tạo nhiều nghiệp ác hằng ngày, tương lai bị quả khổ địa ngục nên khi thuyết pháp Ngài thường xiển minh giáo lý nhân quả thiện ác, giúp chúng sanh phân biệt rõ ràng để sửa đổi. Một lần nọ đi ngang qua thôn trang, thấây một gia đình đang giết vô số trâu dê gà vịt để làm lễ mừng thọ. Ngài ghé lại, thuyết giảng một hồi về phương pháp chúc thọ, về cách mừng sinh nhật để được sống lâu hạnh phúc, đền đáp ơn sinh thành. Ngài dạy rằng, ngày sinh nhật là ngày khó khăn khổ nhọc của mẹ, nên phận làm con không được ăn uống vui chơi, trái lại nên tịnh tâm suy niệm ân đức cha mẹ, quyết chí tu tập thành tựu đạo nghiệp.

Bằng cách giảng dạy chân thật, Tôn giả suốt đời như ngọn hải đăng đem ánh sáng Phật pháp soi rọi nhân sinh.

Theo Pháp Trụ Ký, Ngài là vị La-hán thứ hai, thường cùng 500 vị La-hán trụ tại nước Ca-thấp-di-la (Kashmir).

Thứ Tư, 10 tháng 2, 2016

ĐỐI PHÓ VỚI HÔN TRẦM VÀ TRẠO CỬ


 Đối Phó với Hôn Trầm và Trạo Cử
(c)) Làm gì sau khi quý vị tập trung lên đối tượng thiền
(1)) Làm gì khi hôn trầm và trạo cử xảy ra.
(a’)) Sử dụng phương thuốc trị sự thất bại trong việc nhận biết hôn trầm và trạo cử
(1’)) Xác định các đặc tính của hôn trầm và trạo cử
(2’)) Phương pháp phát triển tỉnh thức nhận biết được hôn trầm và trạo cử
(b’)) Sử dụng phương thuốc trị việc thất bại trong nỗ lực loại trừ chúng ngay cả khi nhận ra chúng.
(1’)) Sự chú tâm và cách ngưng hôn trầm và trạo cử
(2’)) Các nguyên nhân sâu xa của hôn trầm và trạo cử
(2)) Làm gì khi hôn trầm và trạo cử không hiện 
 (c)) Làm gì sau khi quý vị tập trung lên đối tượng thiền
Phần này có hai phân mục:
1. Làm gì khi hôn trầm và trạo cử xảy ra
2. Làm gì khi hôn trầm và trạo cử không hiện diện
(1)) Làm gì khi hôn trầm và trạo cử xảy ra
Mục này có hai bộ phận
1. Sử dụng liều thuốc trị thất bại trong việc nhận biết hôn trầm và trạo cử
2. Sử dụng liều thuốc trị thất bại trong nỗ lực loại trừ chúng ngay cả khi nhận ra chúng
(a’)) Sử dụng liều thuốc trị thất bại trong nhận biết hôn trầm và trạo cử
Ở đây có hai tiểu mục: (1) Xác định các đặc tính của hôn trầm và trạo cử và (2) Phương pháp phát triển tỉnh thức nhận biết được hôn trầm và trạo cử trong khi thiền.
(1’)) Xác định các đặc tính của hôn trầm và trạo cử
Trong Vi Diệu Pháp Tập Luận của Vô Trước định nghĩa trạo cử[1]:
Trạo cử là gì? Đó là trạng thái không yên ổn của tâm, được xem là một dẫn xuất của tham chấp, vốn theo đuổi các đối tượng dễ chịu và tác động như là một trở ngại cho định từ thiền.
Có ba khía cạnh trong định nghĩa này: (1) Đối tượng của nó là một thứ hấp dẫn và dễ chịu. (2) Khía cạnh chủ quan của nó là ở chỗ tâm quý vị không yên ổn và phân tán ra ngoài. Vì là một dẫn xuất của tham chấp, nó khởi tác lên đối tượng của mình với một ý tưởng thèm muốn. (3) Chức năng của nó là cản trở sự bình ổn của tâm quý vị lên đối tượng của tâm.
Khi sự chú ý của quý vị hướng nội được giữ nguyên lên đối tượng của nó, thì trạo cử – tức là tính bám chấp vào sắc, thanh, và v.v... – kéo sự chú tâm của quý vị một cách không cưỡng được về hướng các đối tượng này và gây ra sự phân tán. Như được nói đến trong Tuyên Nhập Tụng của Nguyệt Quan[2]:
Chỉ như ngươi tập trung vào định từ thiền,
Hãy hướng sự chú tâm của mình đến đó lập đi lập lại.
Mối ràng buộc của phiền não kéo sự chú tâm của ngươi
Một cách không cưỡng nổi bằng dây tham chấp vào các đối tượng. [515]
Vấn: Phải chăng trạo cử là khi có sự phân tán trong đó các phiền não làm phân tâm quý vị ra khỏi đối tượng – hay, điều đó là khi có sự phân tán hướng đến các đối tượng đức hạnh khác?
Đáp: Trạo cử là một dẫn xuất của tham chấp, nên việc bị phân tâm bởi các phiền não khác thì không phải là trạo cử; mà đúng hơn đó là một tiến trình tinh thần của sự phân tâm thuộc về một trong hai mươi phiền não thứ cấp[3]. Việc phân tâm hướng đến các đối tượng thiện đức có thể liên hệ đến một tâm thiện đức nào đó hay đến tiến trình tinh thần, cho nên không phải tất cả sự phân tâm đều là trạo cử.
Nhiều bản dịch nêu rằng hôn trầm (bying ba) như là sự “chểnh mảng” (zhum pa), nhưng sự “chểnh mảng” này không nên được phân tích như là ý nghĩa về sự chán nản (zhum pa). Về định nghĩa đó, hầu hết các thiền giả trên các đỉnh tuyết sơn này dường như xem hôn trầm là một trạng thái thờ ơ của tâm mà nó lưu lại trên đối tượng thiền của tâm không có sự phân tán vào nơi nào khác nhưng chỉ thiếu sự rõ ràng thấu suốt. Điều này không đúng, vì sự thờ ơ được nói là nguyên nhân gây ra hôn trầm, vậy nên hai trạng thái khác nhau, như đề xuất của Liên Hoa Giới trong phần thứ nhì Giai Trình Thiền[4]:
Nếu bị áp lực bởi thờ ơ và buồn ngủ, ngươi thấy tâm mình trở nên lỏng lẻo, hay đang trong nguy cơ của hôn trầm…
Cũng vậy, Kinh Giải Thâm Mật có dạy[5]:
Nếu có hôn trầm do sự thờ ơ và buồn ngủ, hay nếu ngươi đang đau khổ bởi những phiền não thứ cấp nào đó trong trạng thái thiền sâu, thì đó là một trường hợp của sự phân tâm bên trong.
Điều này khẳng định rằng khi tâm quý vị trở nên lỏng lẻo do thờ ơ và buồn ngủ, đó chính là phân tán vào bên trong. Trong Vi Diệu Pháp Tập Luận, ngài Vô Trước cũng bàn thảo về hôn trầm trong khuôn khổ của phiền não thứ cấp của sự phân tán, nhưng sự phân tán theo như ngài giải thích cũng có thể là công hạnh, không nhất thiết là phiền não.
Sau đó, Vô Trước nói về sự thờ ơ trong Vi Diệu Pháp Tập Luận [6]:
Thờ ơ là gì? Một trạng thái bất khả dụng {không hữu ích} của tâm được phân lớp như là một dẫn xuất của ảo tưởng, nó tác động hỗ trợ cho tất cả các phiền não nguồn và các phiền não thứ cấp.
Vậy nên loại dẫn xuất này của ảo tưởng là sự nặng nề và bất khả dụng của tâm và thân. Trong Vi Diệu Pháp Báu Luận, Thế Thân dạy[7]: [516]
Thờ ơ là gì? Sự nặng nề của thân và sự nặng nề của tâm mà chúng là sự bất khả dụng của thân và sự bất khả dụng của tâm.
Hôn trầm nghĩa là cách nắm bắt của tâm quý vị lên đối tượng thiền chểnh mảng và nó không nắm bắt được đối tượng một cách mạnh mẽ hay rắn chắc. Nên ngay cả khi có sự thấu suốt, nếu cách tâm quý vị nắm bắt đối tượng không mạnh mẽ thì hôn trầm đã tham dự. Liên Hoa Giới dạy trong phần thứ nhì Giai Trình Thiền[8]: