Thứ Hai, 7 tháng 8, 2017

GIÁO LÝ ĐẠO PHẬT VỀ TÁI SANH

                                               

Giáo lý về sự Tái Sanh chẳng phải là một lý thuyết, người Phật tử xem nó như là một sự thật, không chối cãi được. Nó là căn bản của Phật giáo.
Mục Lục
1. Quan niệm về tái sanh
2. Đâu là nguồn gốc tường tận của sự sống?
3. Do đâu chúng ta tin có sự tái sanh?
4. Nghiệp báo và tái sanh biện minh những chi?
5. Triều lưu diễn tiến của sự tái sanh.
6. Hình thức của sanh tử .
7. Sự tái sanh xuất hiện cách nào?
8. Cái gì đi tái sanh?
9. Có người nào tạo tác trong đời này, và một người khác phải gặt quả trong kiếp sống sau chăng?
10. Nếu không có linh hồn, như vậy có một trách nhiệm nào về tinh thần đạo đức chăng?
11. Có thể nào một người kia sẽ tái sanh lại làm thú vật không?

-ooOoo-

Từ đây ta sẽ đi về đâu ?... nào biết!
Chừng nào đi ?... nào biết!
Ta chỉ biết một điều và biết chắc như vậy,
là ngày nào đây nhất định ta phải ra đi.

1. Quan niệm về tái sanh
Giáo lý về sự Tái Sanh chẳng phải là một lý thuyết, người Phật tử xem nó như là một sự thật, không chối cãi được. Nó là căn bản của Phật giáo.
Hạnh nguyện của chư vị Bồ Tát và chủ trương tự do tiến hóa đến nơi tận thiện, tận mỹ đều căn cứ trên giáo lý tái sanh này.
Sách vở có ghi chép rằng Chúa Jésus, nhiều bậc hiền triết như Pythagore, Platon, nhiều thi sĩ như Shelly, Tennyton, Wordsworth và một số người Âu Châu, Á Châu đều thừa nhận và tin tưởng có sự Luân Hồi, hoặc có linh hồn đi đầu thai.
Giáo lý về sự tái sanh của Phật giáo khác hẳn với quan niệm Luân Hồi và đầu thai của linh hồn bởi Phật giáo không nhìn nhận có một linh hồn trường tồn bất diệt để chuyển sanh từ kiếp này qua kiếp khác, dầu là linh hồn do Thượng Ðế sanh ra, hay từ trong cái Ðại Hồn (Paramàtama) tách ra.
Chỉ có nghiệp quả mới cấu tạo được sự tái sanh. Do nghiệp quá khứ mới có sự tái sanh hiện tại. Do nghiệp hiện tại hiệp với nghiệp quá khứ mới có sự tái sanh vị lai. Hiện tại là con đẻ của quá khứ và trở thành thân sinh của vị lai.
Hiện hữu của hiện tại không cần có bằng chứng vì nó rất rõ rệt.
Hiện hữu của quá khứ căn cứ trên trí nhớ và tục truyền.
Hiện hữu của vị lai căn cứ trên tiên đoán và suy luận.
Nếu có sự sống quá khứ, hiện tại và vị lai, thì tức nhiên phải đương đầu với một nan đề: Ðâu là nguồn cội của sự sống? 
Có tôn giáo cho rằng sự sống sanh ra bởi một bản nguyên, một năng lực thiêng liêng hay một đấng Toàn Năng. Có tôn giáo khác thì lại nói rằng trong vòng nhân sanh quả, quả sanh nhân, không thể biết được nhân nào là nhân đầu tiên.
Theo giới hạn hiện thời của khoa học, con người sanh ra do tinh trùng và noãn bào của cha mẹ; nhưng khoa học lại không giải rõ rệt được sự phát triển của tinh thần, là phần quan trọng hơn thể xác. Các nhà khoa học vừa nói rằng sự sống sanh ra bởi sự sống mà cũng vừa xác nhận rằng tinh thần và sự sống sanh ra từ chỗ không có sự sống. khoa học chỉ biết nội cái giới hạn cha mẹ sanh ra con, nghĩa là trước phải có sự sống của cha mẹ rồi sau mới có sự sống của con. khoa học chưa tìm ra cái khởi thủy của sự sống.
Vài tôn-giáo khác cho rằng bản chất của con người là linh hồn sanh ra bởi Ông Trời. Cha mẹ chỉ giúp phần cấu tạo cái bọc thô sơ bên ngoài cho linh hồn mà thôi.
Theo Phật giáo thì chúng ta sanh ra từ cái khuôn đúc (kammayoni) của các hành động của chúng ta, cha mẹ chỉ cho ta cái nền tảng vật chất mà thôi. Như thế ấy thì trước phải có chúng sanh (cha mẹ), rồi sau mới có chúng sanh (con). Lúc thọ thai, nghiệp tạo ra cái thức đầu tiên, thức tái sanh, để dưỡng sanh thai bào. Năng lực vô hình của nghiệp đã tạo ra trong kiếp quá khứ sanh ra một hiện tượng tinh thần kết hợp hiện tượng sinh khí trong một hiện tượng thể xác đã sẵn có, để có đủ ba yếu tố Thức, Sinh Khí và Thai. Chính ba yếu tố này tạo thành con người.
Nói đến quan niệm về chúng sanh, Ðức Phật có thuyết trong bộ Kinh MAJJHIMA NIKAYA, quyển AHATANHAKHAYA, số 38, như vầy: ở nơi nào Tam-Nguyên được cấu tạo chung thì mầm sống được gieo trồng nơi ấy. Trong sự giao hợp của cha mẹ, nếu không nhằm lúc thọ thai của người mẹ, và không có chúng sanh đầu thai (Gandhabba), thì mầm sống không thể gieo trồng được. Nếu nhằm lúc thọ thai của người mẹ mà không có chúng sanh đầu thai thì mầm sống cũng không gieo trồng được. Nếu nhằm lúc thọ thai của người mẹ và chúng sanh đi đầu thai cũng có mặt trong lúc giao hợp, nếu hội đủ ba nhân: tinh-trùng, noãn bào và thức, thì mầm sống được gieo trồng.
Danh từ Gandhabba hay Gantabba không phải tên của Mụ Bà hay Ðức Thầy chi chi đó có phận sự bảo hộ thai bào, theo sự tin tưởng của nhiều người. Ðây chỉ nói về một chúng sanh đủ điều kiện, sẵn sàng đến thọ sanh trong bụng của một chúng sanh. Danh từ Gandhabba chỉ dùng trong trường hợp đặc biệt này thôi, chớ nên lầm tưởng là một linh hồn bất diệt.
Nếu có một chúng sanh sắp thọ sanh nơi đây, thì phải có một chúng sanh sắp chết ở một nơi nào khác. Sự sanh của một chúng sanh, tức là sự kết hợp (Khandaman Patubhavo) hai cái hiện tượng về tinh thần và vật lý, tương hợp với sự diệt của một chúng sanh trong quá khứ, giống như sự xuất hiện của mặt trời vậy. Mặt trời mọc một nơi nào, có nghĩa là mặt trời lặn một chốn khác. Muốn cho dễ hiểu hơn, chúng ta tưởng tượng đời sống như một lượn sóng. Sanh và diệt là hai giai đoạn của sự diễn tiến sống chết, chết sống. Sự liên tục tiếp nối mãi của sống chết, chết sống và nguồn sinh lực của mỗi cá nhân, được gọi là Luân Hồi (samsàra).

2. Ðâu là nguồn gốc tường tận của sự sống?

Ðức Phật đã nói rằng: Luân Hồi ở bên ngoài ranh giới cuối cùng của sự hiểu biết.
Chúng ta không thể biết được cái khởi thủy của chúng sanh, vì vô minh và phiền não của lòng ham muốn làm lôi kéo luân chuyển triền miên.
Triều lưu của sự sống cuộn chảy mãi mãi, do các dòng nước nhơ đục của vô minh và ái dục bồi dưỡng không ngừng nghỉ. Khi nào hai nhân này bị cắt đứt, thì triều lưu của sự sống mới ngưng chảy, sự tái sanh sẽ chấm dứt, y như trường hợp của Chư Phật và Chư A-La-Hán. Khởi thủy của triều lưu sự sống không thể biết được vì nó phát sanh do một mãnh lực đầy vô minh và ái dục.
Nơi đây Ðức Phật chỉ nói về triều lưu sơ khởi của sự sống loài người thôi và không đề cập đến những huyền học hay đạo lý nào có thể làm cho con người hoang mang, luôn cả những lý thuyết không có tánh cách xây dựng hay giải thoát, nhứt là những nghiên cứu biện luận về nguồn gốc và sự tiến triển của vũ trụ. Ðức Phật cũng không bắt buộc môn đệ Ngài phải tin tưởng một cách mù quáng về những gì liên quan đến nhân khởi thủy. Ngài đặc biệt chú trọng vấn đề Khổ và Diệt Khổ thôi, ngoài mục đích xác thực duy nhứt ấy, Ngài không muốn đá động đến vấn đề nào khác.

3. Do đâu chúng ta tin có sự tái sanh?

Ðức Phật là bậc thông suốt về vấn đề tái sanh. Chính trong đêm chứng đạo quả Niết-Bàn, trọn canh đầu, Ngài dùng tuệ-giác rọi xem trở lại các đời dĩ vãng của Ngài, từ một, hai, ba đến trăm ngàn muôn kiếp quá khứ. Trong canh hai, Ðức Phật dùng thiên nhãn, xem thấy chúng sanh chết ở kiếp này, tái sanh lại kiếp khác, kẻ hèn người sang, kẻ đẹp người xấu, kẻ được hạnh phúc, người bị khốn khổ, tùy theo hành vi của họ (Majjhima Nikàya, Maha Accaka Sutta, 36)
Các đoạn kinh giải về thuyết tái sanh cho chúng ta biết rằng Ðức Phật không dựa vào một nguồn gốc nào đã sẵn có để giải thích vấn đề ấy. Ngài chỉ nói theo nhận thức siêu phàm của chính Ngài mà chúng ta cũng có thể đạt được nếu biết trau giồi đúng mức.
Trong kinh DHAMMAPÀDA (Pháp Cú), Ðức Phật có nói: " Trải qua vô lượng kiếp Luân Hồi (Anekajàti), Như Lai đã phải đi lạc đường, trong khi muốn tìm cho ra người thợ cất nhà này; khốn khổ thay, Như Lai đã phải sanh đi, sanh lại triền miên (Dukkha jàti puna punam) ".
Trong kinh DHAMMACAKKA SUTTA có ghi lời giảng đầu tiên của Ðức Phật về cái chân lý thứ hai như vầy:

"Yàyam Tanhà Ponobhavikà", nghiã là sự ham muốn quá độ (Ái Dục) đem lại sự tái sanh; và câu kết luận:

"Ayamantimà jàti Natthidam Punhabavo" , nghiã là kiếp này là kiếp sống cuối cùng của Như Lai.
Trong kinh Majjhima Nikàya có ghi rằng vì lòng Từ Bi Bác-Ái đối với chúng sanh, Ðức Phật thường rọi thiên nhãn tìm người hữu duyên để tế-độ. Ngài thấy chúng sanh đương tạo nhiều tội lỗi có ảnh hưởng đến kiếp vị lai của họ. (Paraloka Vajja Bhaya Dassàvino).
Trong nhiều thời pháp, Ðức Phật thường nói rằng chúng sanh nào làm dữ, sau khi chết (Parammarana) sẽ tái sanh trong cảnh khổ; chúng sanh nào làm lành sẽ tái sanh trong cảnh vui.
Trong kinh GHANTIKARA SUTTA , Ðức Phật thuật lại cho Ðại đức ANANDA biết rằng vào thời kỳ Phật Tổ KASSAPA (Ca Diếp), Ngài sanh làm một vị Bà-La-Môn, tên Jotipãla , thông suốt ba bộ kinh Phệ Ðà. Khi vào xuất gia theo Phật Tổ KASSAPA, Ngài siêng năng thọ trì Tam Học, thuộc nằm lòng trọn bộ Tam Tạng, và được Phật Tổ KASSAPA thọ ký.
Trong kinh ANÀTHAPINDIKAVADA SUTTA có ghi truyện nhà trưởng giả Cấp Cô Ðộc, sau khi chết liền tái sanh vào cảnh Trời, có về viếng thăm Ðức Phật trong đêm sau.

Trong kinh Anguttara Nikàya , Ðức Phật có nói đến kiếp quá khứ của Ngài, khi Ngài sanh lên làm PACETANA.
Trong kinh PARANIBBÀNA SUTTA, Ðại đức ANANDA có xin Ðức Phật cho biết kiếp vị lai của vài người vừa chết trong làng nọ. Ðức Phật đã cắt nghiã rõ rệt cho Ngài ÀNANDA biết những người ấy đã đi tái sanh nơi đâu.
Còn rất nhiều sự tích trong Tam Tạng chỉ cho mọi người biết rằng Ðức Phật đã xác nhận sự tái sanh là một sự thật không thể chối cãi được.
Thực hành đúng theo giáo lý của Ðức Phật, các đệ tử Ngài có thể mở mang sự hiểu biết về quá khứ và có thể biết ít nhiều về tiền kiếp của họ. Riêng về Ðức Phật, Ngài thấu rõ vô số kiếp quá khứ của Ngài.
Trước thời Ðức Phật ra đời, một số người Ấn Độ Rishis được nổi tiếng nhờ họ có thần thông về thiên nhãn, thiên nhĩ, thần giao cách cảm, viên giác, v.v....
Mặc dầu khoa học chưa tiến tới mức ấy, nhưng trong Phật giáo, người ta có thể đạt được các pháp thần thông bằng cách chuyên tu về thiền định, minh sát. Năng lực thiền định không xuyên qua ngũ căn, có thể đem lại sự giao cảm bằng tư tưởng và tri giác với các cảnh giới khác.
Cũng có nhiều người khác thường, nhất là các trẻ em, do luật phối hợp bất ngờ, sực nhớ lại kiếp quá khứ, hoặc vài chi tiết về đời trước của họ. Các trường hợp ít có này, đủ làm cho người học giả tin nơi kiếp quá khứ. Người ta thuật lại rằng ông PYTHAGORE đã nhớ lại tường tận một cái thuẫn trong một đền thờ Hy Lạp, là vật mà ông đã dùng trong một tiền kiếp lúc vây hãm thành TROIE.
Do thí-nghiệm của các nhà tâm linh học, những hiện tượng ma quỉ, những giao cảm tư tưởng giữa hai cảnh âm dương, những thiên tư khác thường đã đem lại ít nhiều sáng tỏ trong vấn đề tái sanh.
Có lúc tình cờ, chúng ta gặp những người xa lạ, mà chúng ta lại có cảm giác như quen biết họ từ lâu. Ðôi khi trước những cảnh vật xa lạ, thình lình chúng ta có cảm tưởng đã quen thuộc với cảnh vật ấy. Những sự khêu gợi bất ngờ này không ngoài chứng tích đã kinh nghiệm trong thời gian quá khứ.
Sự thông suốt mọi lẽ của các bậc Siêu Phàm, các bậc Toàn Giác như Ðức Phật chẳng phải là chuyện phi thường tình cờ, cũng chẳng phải là kết quả của những kinh nghiệm trong một kiếp sống mà thôi.
Ngoài các lý do kể trên, chúng ta không thể giải thích cách nào về thiên tài xuất chúng của các ông Homère, Platon, Shakespeare, của những thần đồng như Pascal, Mozart, Beethoven, v.v ...
Vài bác-sĩ cho rằng sự thông minh của các thần đồng là kết quả của những hạch tuyến khác thường, nhứt là hạch màng mũi, tùng quả tuyến và thận tuyến.
Nếu không tin sự giải thích theo nghiệp quả mà chỉ căn cứ nơi sự phát triển khác thường của các thứ hạch nói trên, thì không biết khoa học giải thích thế nào về trường hợp của ông Christian Heinecken. Vài giờ sau khi ông ra đời, ông đã nói chuyện được; khi ông được một tuổi, ông trả thuộc lòng vài đoạn Thánh Giáo trong cuốn Sấm truyền; đến hai tuổi, ông trả lời tất cả những câu hỏi về địa dư; đến ba tuổi, ông nói tiếng Pháp, tiếng La tinh; đến bốn tuổi, ông có thể theo học các lớp triết học.
Ông Stuart Mill vừa ba tuổi đã đọc chữ Hy Lạp. Ông Macaulay, lúc sáu tuổi, viết sử ký thế giới. Ông William James Sidis vừa mới lên hai đã đọc và viết chữ mẹ đẻ (Hoa Kỳ), đến tám tuổi đã nói các thứ tiếng Pháp, Nga, Anh, Ðức và chút ít tiếng La Tinh và Hy Lạp.
Khoa học không thể giải thích tại sao các hạch tuyến chỉ phát triển trong một vài người, mà không trổ sanh cho tất cả. Vấn đề chánh này không thể giải quyết được. Cũng không thể đổ cho sự di truyền, bởi các thần đồng nói trên không phải người thừa hưởng nơi ông cha và cũng không thể nối truyền lại cho con cháu được. Cũng không thể nói rằng những kết quả tốt đẹp ấy do nơi công trình thu thập trong thời gian đôi ba chục năm, trong đời sống hiện tại ngắn ngủi này. Mà đó là bao nhiêu cố gắng, tập sự trong nhiều kiếp người, để tiến lần hồi đến sự tận thiện, tận mỹ trong những kiếp sau.
Nếu ta tin tưởng nơi hiện tại và vị lai, lẽ tất nhiên ta không thể không nhìn nhận có quá khứ. Và nếu có đủ lý lẽ cho ta tin rằng ta đã có sống trong quá khứ, thì không lý do nào ta không tin rằng ta sẽ còn phải sống trong vị lai sau khi hiện tại này chấm dứt.

4. Nghiệp báo và tái sanh biện minh những chi?

1) Vấn đề khổ mà chính ta phải chịu trách nhiệm;
2) Sự chênh lệch gần như bất công giữa nhân loại;
3) Tại sao có những vĩ nhân và thần đồng;
4) Sự khác nhau về tinh thần tính nết của hai trẻ sanh đôi, mặc dầu giống nhau y hệt về thể xác và được nuôi dưỡng y như nhau;
5) Sự khác nhau về tánh tình, xu hướng của các trẻ trong một gia đình;
6) Sự khác nhau về đạo đức và trí huệ giữa cha mẹ và con cái;
7) Tật xấu tự nhiên của trẻ thơ, như tham lam, sân hận và ganh ghét;
8) Mối thiện cảm hoặc ác cảm của chúng sanh đối với nhau trong khi gặp gỡ lần đầu tiên;
9) Ðiều lành và điều dữ đã sẵn có trong mỗi người;
10) Sự thay đổi bất ngờ của một người thiện trí thức ra một kẻ tầm thường, hoặc một kẻ sát nhân thành bực thánh nhân;
11) Cha mẹ đạo đức sanh con hung ác, cha mẹ hung ác sanh con hiền từ;
12) Tại sao có khi ta là kết quả của hành vi quá khứ và sẽ là kết quả của hành vi hiện tại, hoặc có khi ta không phải là kết quả hoàn toàn của hành vi quá khứ, mà cũng sẽ không phải là kết quả nguyên vẹn của hành vi hiện tại;
13) Tại sao có những cái chết bất đắc kỳ tử và sự thay đổi tài sản sự nghiệp một cách bất ngờ;
14) Những đặc tính xuất chúng, tinh thần đạo đức trí tuệ viên mãn của các bậc toàn giác như Ðức Phật.

5. Triều-lưu diễn tiến của sự tái sanh

Bài pháp PATICCA SAMUPPÀDA đã giải thích đầy đủ cách diễn tiến của sự tái sanh. Paticca nghĩa là do nơi hay vì lẽ. Samuppàda nghĩa là phát sanh hay nguồn gốc. Paticca Samuppàda là "sự phát sanh tùy thuộc" hay "nguồn gốc liên quan" hay "nhân quả tương quan".
Pháp Paticca Samuppàda chỉ giải thích về sanh tử khổ và không đề cập đến sự tiến triển vũ trụ từ thể chất nguyên thủy, cùng những bí ẩn về nguồn gốc tuyệt đối của sự sống.
Vô minh (Avijjà) là không hiểu biết thật tướng của sự vật, là mối dây đầu tiên, hay là nhân khởi thủy của bánh xe Luân Hồi. Nó che đậy tất cả sự hiểu biết chân chánh.
Do nơi Vô Minh mới phát sanh hành vi tạo tác (Sankhàrà), gồm cả tư tưởng, lời nói và việc làm, lành dữ. Các hành động phát khởi từ Vô Minh hay nhuộm mầu sắc Vô Minh, sớm muộn sẽ đem lại kết quả để cột trói ta trong vòng Luân Hồi. Những việc lành dầu không do lòng tham sân si, cũng phải dứt tuyệt bợn nhơ, mới mong giải thoát Luân Hồi. Vì thế nên Ðức Phật ví Pháp Bảo của Ngài như con thuyền bát nhã chở đưa khách lữ-hành qua khỏi sông mê biển khổ.
Hành động của Chư Phật và Chư A La Hán không được coi như là Sankhàrà , vì nó không bị Vô Minh chi phối.
Do nơi Hành mới phát sanh cái Thức (Patisandi Vinnàna). Người ta gọi là thức tái sanh vì nó nối liền quá khứ với hiện tại. Chính nó đã phát sanh trong lúc thọ thai.
Danh Sắc hay Tinh-Thần và Vật-Chất (Nàma-Rùpa) cũng đồng thời phát sanh một lượt với cái Thức.
Lục Căn (Salàyatana) phát sanh do hiện tượng thuộc về tinh thần vật lý.
Do Lục Căn mà có sự Tiếp Xúc (Phassa).

Sự Tiếp Xúc đem lại cảm giác, tức là Thọ (Vedanà).
Do sự cảm giác mới phát sanh sự ham muốn ái Dục (Tanhà).

Ham muốn sinh ra sự bám víu, tức là Thủ (Upàdàna).

Thủ gây ra Nghiệp Quả, tức là Hữu (Bhava).

Nghiệp Quả gây ra kiếp vị lai , tức là SANH (Jàti)

Già và chết (Jàti-marana) là kết quả không tránh được của sự Sanh.
Do một nhân có một quả phát sanh. Nhân dứt thì quả cũng dứt. Muốn dễ hiểu nên diễn ngược lại pháp PATICCA SAMUPPÀDA.

Sự già và chết chỉ có thể có được trong một bộ máy có lục căn, gọi là thân thể. Thân thể ấy có do nơi sự Sanh. Sự Sanh sản lại là cái quả của những hành vi quá khứ. Hành vi được sanh ra bởi sự bám víu, đã phát sanh do sự Tham Muốn. Những Tham Muốn có do nơi cảm giác. Cảm giác có do sự Tiếp Xúc giữa Giác quan và Sự vật. Giác quan này có không ngoài tâm và thân thể. Thân Tâm lại phát sanh do nơi Thức. Thức phát sanh do nơi không hiểu biết tánh chất thiệt thọ của sự vật.
Sự diễn tiến của Sống và Chết cứ xảy ra mãi mãi không cùng tận. Manh mối đầu tiên của sự diễn tiến ấy không thể biết được; cũng như ta không thể biết đến lúc nào sự tiến triển ấy hết bị Vô Minh chi phối. Chừng nào sự mê lầm của ta đuợc thay thế bằng sự sáng suốt thấu rõ Niết Bàn; chừng ấy sự diễn tiến của Tái Sanh mới chấm dứt.

6. Hình thức của sanh tử

Dùng những danh từ riêng biệt tinh tế giải thích sơ lược diễn tiến của sự Tái Sanh, Phật Giáo cho rằng cái chết là do một trong bốn nguyên nhân sau đây:
1) Tận Nghiệp (Kammakhaya): sự suy kiệt năng lực tái tạo của Nghiệp (hết Nghiệp). Theo Phật Giáo, cái tư tưởng, tác ý hoặc ái dục, là một năng lực vô cùng mạnh mẽ trong lúc sinh thời; đến lúc chết, năng lực lại còn mạnh hơn muôn phần. Chính tư tưởng cuối cùng ấy định đoạt điều kiện cho kiếp sống vị lai. Ðến lúc lâm chung, tư tưởng biểu xuất một tiềm lực đặc biệt. Khi tiềm lực của Tận Nghiệp này (của kiếp hiện tại) tắt mất, thì những hoạt động của cơ thể và nguồn sinh khí liền chấm dứt trước phút cuối cùng ấy. Ðiều này thường xảy đến cho những chúng sanh trong cảnh khổ (Apàya), nhưng cũng có khi xảy đến cho những người thuộc cảnh giới khác.
2) Mãn Kỳ Hạn của Kiếp Sống (Àyukhaya), kỳ hạn này khác nhau tùy cảnh giới, như trường hợp của người chết vì tuổi già, hết tuổi thọ.
3) Năng lực tái tạo của Nghiệp và kỳ hạn kiếp Sống đồng chấm dứt một lượt (Ubhayakhaya), vừa hết nghiệp, vừa hết tuổi thọ.
4) Sự phát động đối ứng của một nghiệp lực khác mạnh hơn, làm cắt đứt thình lình triều lưu của nghiệp Tái tạo, trước kỳ hạn của kiếp Sóng. Chết bất đắc kỳ tử hay chết yểu đều do nhân này.
Chết do ba nhân đầu, thường gọi chung là chết hợp thời (Kàlamarana). Chết do nhân thứ tư gọi là chết không hợp thời (Akàlamarana).

Tử có bốn nhân, Sanh cũng có bốn cách:
1) Sanh từ trong trứng (Andaja: noãn sanh);
2) Sanh từ trong thai (Jalapuja: thai sanh);
3) Sanh từ chỗ ẩm thấp (Samsadeja: thấp sanh);
4) Sanh từ sự đột biến (Upapatika: hóa sanh).
Những ấu trùng lấy nơi ẩm thấp làm tổ để nảy nở, như nhiều loại vi sinh vật gọi là thấp sanh. Những chúng sanh tự hóa sanh, thường mắt phàm tục không nhìn thấy được. Do điều kiện của nghiệp quá khứ, chúng sanh ấy tự nhiên xuất hiện, không phải đi ngang qua giai đoạn phát triển trong phôi thai. Hạng chúng sanh như Ngạ Quỉ (Preta), Trời (Deva) và Phạm Thiên (Brahma) đều thuộc giới hóa sanh.


7. Sự tái sanh xuất hiện cách nào?

Ví dụ như một người sắp chết. Giai đoạn nguy biến này chẳng khác nào những sự giao động chập chờn của một ngọn đèn sắp tắt. Trong tâm người hấp hối này đã hiện ra một nghiệp tướng (Kamma nimitta) hoặc một biểu tượng thọ mạng (Gati nimitta). Những hiện tượng nghiệp này phát sanh do hành động tốt xấu trong lúc sanh tiền, hoặc tức khắc trước giờ cuối cùng.
Nghiệp tướng (Kamma nimitta) là những biểu tượng xuất hiện trong tâm thức của người hấp hối, hoặc bằng sự thấy, bằng tiếng, bằng vị, bằng tư tưởng, mà trước kia nó là chủ yếu mạnh nhứt, trong một hành động lành hoặc dữ của người sắp chết; ví như thấy một con dao và những thú chết trong trường hợp anh đồ tể; hoặc là thấy bịnh nhân, nếu là một vị y sĩ dễ thương; hoặc là thấy vật sùng bái, nếu là một người mộ đạo,...
Biểu tượng thọ mạng (gati nimitta) có nghiã là một dấu hiệu của cảnh giới sắp tái sanh vào. Những cảnh tượng hạnh phúc hay khổ não thường hay biểu hiện trên sắc diện của người hấp hối. Khi triệu chứng của kiếp vị lai phát sanh, nếu thấy xấu có thể sửa chữa kịp thời, bằng ảnh hưởng cảm hóa tư tưởng của người sắp chết. Dấu hiệu báo trước những điều sẽ đến cho thọ mạng thường là lửa, rừng núi, vú mẹ, thiên cung, v.v...
Theo Phật Giáo cái chết là sự đình chỉ của đời sống tinh thần vật lý của một cá nhân. Chết phát sanh bởi sự diệt tắt của tuổi thọ (àyu), mạng căn (Jivitindriya), chất hỏa (Usma) và tâm thức (Vinnàna).
Cái chết chẳng phải là sự tiêu diệt hoàn toàn của một chúng sanh, bởi mặc dầu chập sống cuối cùng đã chấm dứt, nhưng năng lực thúc đảy chập sống ấy vẫn còn nguyên vẹn. Cũng như ánh sáng đèn điện là cái biểu hiện bề ngoài của điện lực vô hình . Bóng đèn có thể bể, ánh sáng có thể tắt, nhưng luồng điện vẫn còn, và ánh sáng có thể xuất hiện lại trong một bóng đèn khác.
Cũng như thế ấy, năng lực của nghiệp không bị lay chuyển bởi sự tan rã của xác thân. Cái thức hiện tại khuất đi, để nhường chỗ cho một thức tươi tắn mới mẻ sanh lên trong một đời sống khác. Tuy nhiên, không có cái chi gọi là bất di bất dịch, như một thực thể đơn thuần, trường tồn bất biến (hiểu như một linh hồn), chuyển tiếp từ kiếp hiện tại qua kiếp vị lai. Vành tròn bánh xe chấm trên mặt đất từng điểm một như thế nào, thì đúng vậy, chúng ta sống cũng từng chập một, như thế ấy. Chúng ta luôn luôn ở trong hiện tại, và hiện tại ấy luôn luôn nó trợt về quá khứ, không trở lại nữa.
Mỗi chập tâm thức của triều lưu sinh hóa thay đổi, tiêu tán, chuyển năng lực và mọi kinh nghiệm một cách không phai lạc cho chập tâm thức kế tiếp. Vì đó mà mỗi chập tâm thức hiện tại, chẳng những gồm cả năng lực tiềm tàng của các chập tâm quá khứ, lại còn thêm những gì khác nữa. Ðến lúc chết, tâm thức diệt, cũng như nó diệt từng chập, để cho một tâm thức mới khác sanh lên. Tâm thức đổi mới ấy thọ hưởng cả một gia tài kinh nghiệm quá khứ. Những kỷ niệm ghi nhận sâu xa trong tâm thức thay đổi liên tiếp, những tiềm lực chuyển sang từ chập sống này qua chập sống khác, không liên hệ đến sự tan rã nhứt thời của phần vật chất, nên người ta có thể sực nhớ lại những tiền kiếp hoặc các điều đã xảy ra trong quá khứ. Nếu sự ghi nhớ chỉ tùy thuộc nơi tế bào của bộ óc, thì không có sự hồi ức về quá khứ được.
Tính chất liên tục của nguồn sống, đến lúc lâm chung, bị gián đoạn trong thời gian, nhưng triều lưu của tâm chẳng bao giờ bị ngưng trệ. Một tư tưởng này chuyển sang một tư tưởng khác, trong giờ sống cũng như trong lúc chết, vẫn in nhau; có khác là tại người nhìn vào xác chết mà tưởng tượng rằng khác đó thôi.
Sự tái sanh xuất hiện tức khắc, bất kể chỗ nào, như một làn sóng điện được phát ra trong không gian, tức khắc được thâu vào một máy vô tuyến điện.
Triều lưu của tâm cũng được tái sanh tức khắc khỏi phải trải qua một giai đoạn trung gian nào khác (Antarabhava).
Phật Giáo chính tông không công nhận rằng tâm thức của người quá vãng phải tạm trú một nơi nào, để chờ lựa chỗ đi luân hồi.
Bác sĩ Evens Wentz, chiếu theo tài liệu khảo cứu ở Tây Tạng, có viết rằng có một cảnh trạng trung gian cho chúng sanh tạm trú từ 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7 tuần (49 ngày); lập trường tạm trú này trái hẳn với giáo lý của Ðức Phật.
Có một điều đáng hỏi: Vậy chớ tinh trùng và minh châu có sẵn sàng chờ đợi để tiếp rước cái tư tưởng đi tái sanh ấy chăng?
Theo Phật Giáo, chúng sanh nhiều vô lượng. Hơn nữa hột minh châu chẳng phải là con đường duy nhứt đem lại sự tái sanh. Quả Ðịa Cầu, một điểm vi tế trong sa bà thế giới, chẳng phải là chỗ sanh sản duy nhứt, mà loài người cũng không phải là loài chúng sanh duy nhứt, thì cũng có thể tin rằng không còn chỗ nào thích hợp để rước những làn sóng dao động cuối cùng của nguồn tư tưởng. Một điểm nào chẳng hạn, luôn luôn chực rước một viên đá từ không trung rớt xuống.

Thứ Bảy, 5 tháng 8, 2017

HỮU VÔ

                                                                              Kết quả hình ảnh cho hoa sen đẹp

                                                              Cái vô cái hữu vốn là không,
                                                              Hiểu được duyên sanh chớ nặng lòng.
                                                              Đông đến tuyết rơi, sương giá lạnh,
                                                              Hè qua phượng trổ, cảnh trời trong.
                                                              Trần đời thấy sắc còn phân ý,
                                                              Đạo pháp qui tâm phải dụng công.
                                                              Thấu rõ nhị biên nơi thánh giáo,
                                                              Trừ mê khai ngộ chỉ đường tông.

                                                                                                 Minh Đạo

ttp://poem.tkaraoke.com/14891/TP_Minh_Dao/
https://minhdao1160.wordpress.com/
http://www.daophatngaynay.com/vn/author/minhdao/
https://quangduc.com/author/post/10951/1/minh-dao
https://hoavouu.com/author/post/4215/1/minh-dao
https://thuvienhoasen.org/p98/tho-nhac-phap-am
http://www.saimonthidan.com/?c=author&a=1114
http://www.hoalinhthoai.com/poetry/Tho-Van.html

Thứ Sáu, 4 tháng 8, 2017

HỔ BỐ GẶP CHÓ ĐIÊN LIỀN TRÁNH MẶT, HỔ CON HỎI TẠI SAO, CÂU TRẢ LỜI THẬT SÂU SẮC


                                                                    Hổ bố hễ gặp chó điên là tránh mặt, hổ con không hiểu, hổ bố trả lời thật sâu sắc

Dưới đây là hai câu chuyện nhỏ chứa đựng đạo lý, mang đến những cảm nhận khác nhau.

 Câu chuyện thứ nhất. 

 Một con hổ nhìn thấy một con chó điên, nó vội vã tránh ra thật xa. Hổ con nói với bố: “Bố ơi, bố dám đấu với sư tử, dám tranh hùng với báo săn, vậy mà lại phải tránh một con chó điên, thật mất mặt quá!

Hổ bố hỏi: “Theo con, đánh bại một con chó điên có vinh quang không?

Hổ con lắc đầu.

Để con chó điên cắn cho một nhát, có đen đủi không?

Hổ con gật gật đầu.

Như vậy, chúng ta trêu trọc chó điên làm gì?

Lời bình: Không cần phải thể hiện mình là kẻ mạnh trong mọi tình huống. Người thông minh không muốn tranh luận với những người không có tố chất. Nếu họ không xứng làm đối thủ của bạn, thì chỉ cần mỉm cười và rời xa họ, đừng để họ tấn công và gây cho bạn những vết thương không đáng có.

Câu chuyện thứ hai.

Có một con thiên lý mã trẻ tuổi đợi Bá Nhạc đến phát hiện ra nó.

Thương gia đến, nói: “Ngươi có sẵn lòng đi theo ta không?

Ngựa lắc đầu nói: “Ta là một chiến mã tốt, làm sao có thể đi theo chở hàng cho ngươi được chứ?”

Binh lính đến, nói: “Ngươi có bằng lòng đi theo ta không?”

Ngựa lắc đầu nói: “Ta là thiên lý mã, một binh sĩ bình thường sao có thể phát huy hết khả năng của ta?”

Thợ săn đến, nói: “Ngươi có bằng lòng đi theo ta không?”

Ngựa lắc đầu nói: “Ta là thiên lý mã, sao có thể đi theo hầu thợ săn?

Ngày qua ngày, năm qua năm, con ngựa vẫn chưa tìm được cơ hội lý tưởng cho mình.

Rồi một ngày, khâm sai đại thần phụng mệnh đến nhân gian tìm kiếm thiên lỹ mã. Thiên lý mã gặp được khâm sai đại thần, nói: “Tôi chính là thiên lý mã mà ông muốn tìm.

Khâm sai hỏi: “Vậy ngươi có thuộc đường đi của nước chúng ta không?”, ngựa lắc đầu.

Vậy ngươi đã từng ra trận, có kinh nghiệm tác chiến chưa?”, ngựa lắc đầu.

Khâm sai lại hỏi: “Vậy ta muốn biết ngươi có thể làm được gì?”

Ngựa trả lời: “Ta có thể ngày đi nghìn dặm, ban đêm đi tám trăm dặm mà không mệt mỏi” 

Khâm sai đại thần cho ngựa chạy thử một đoạn đường. Ngựa cố gắng hết sức chạy tiến lên phía trước, nhưng chỉ được vài bước nó đã thở hồng hộc, mồ hôi chảy đầm đìa.

“Ngươi già rồi, không dùng được!”, nói xong khâm sai liền bỏ đi.

Lời bình: Ngày nay, nếu như bạn vẫn còn phàn nàn, không cố gắng thì đến một lúc nào đó bạn sẽ thấy hối hận. Bạn không làm, người khác sẽ đến làm. Bạn không phát triển, không có ai sẽ chờ đợi bạn! Những nỗ lực dường như bình thường của bạn đều là tích lũy cho tương lai. Mỗi một lần vấp ngã, mỗi một lần thất bại đều là để đặt nền móng cho thành công sau này.

                                                                              Huy Hoàng

                                                                                Theo ĐKN

Thứ Năm, 3 tháng 8, 2017

THU VẮNG

cung-ngam-bo-anh-hoa-cuc-tuyet-dep-va-y-nghia-hinh-8


                                                             (Ảnh: phunudep)

                                                                                                               Đóa hoa vàng bên nắng,
                                                                                Rung rinh đón thu về.
                                                                                Bên hiên nhà vắng lặng.
                                                                                Trình tự chuổi dài lê.
 
                                                                               Đến đi chưa từng hẹn,
                                                                                Nhưng chẳng là ngẫu nhiên.
                                                                                Trùng trùng theo duyên khởi
                                                                                Giữa khoảng trời vô biên.
 
                                                                                Nhìn tuần hoàn sinh diệt,
                                                                                Vạn vật mãi đổi thay,
                                                                                Cho đi rồi lấy lại.
                                                                                Thong thả bước từng ngày.
 
                                                                                Vạn pháp vốn hiển bày,
                                                                                Tập tính nguyện đổi thay,
                                                                                Theo chân về nguồn cội,
                                                                                Gọt bỏ bao lớp dày.
 
                                                                                                          Minh Đạo

ttp://poem.tkaraoke.com/14891/TP_Minh_Dao/
https://minhdao1160.wordpress.com/
http://www.daophatngaynay.com/vn/author/minhdao/
https://quangduc.com/author/post/10951/1/minh-dao
https://hoavouu.com/author/post/4215/1/minh-dao
https://thuvienhoasen.org/p98/tho-nhac-phap-am
http://www.saimonthidan.com/?c=author&a=1114
http://www.hoalinhthoai.com/poetry/Tho-Van.html

Thứ Tư, 2 tháng 8, 2017

TỬ VONG VÌ 1 VẾT XƯỚC Ở TAY: CẢNH BÁO CĂN BỆNH ‘GIẾT’ NHIỀU NGƯỜI HƠN UNG THƯ VÀ AIDS

                           Kết quả hình ảnh cho vết xước trên da
 
Chỉ vài ngày sau khi bị một vết xước nhỏ ở tay, bà mẹ 2 con ở Anh đã nhanh chóng qua đời. Các bác sĩ đang cảnh báo căn bệnh gây tử vong hơn cả 2 căn bệnh ung thư và Aids cộng lại.

Bà mẹ 2 con tử vong vì nhiễm trùng máu từ một vết xước nhỏ ở tay

Trong một lần làm vườn, chị Lucinda Smith, 43 tuổi vô tình bị xước trên tay. Cứ tưởng đó là vết thương bình thường nên chị vẫn đi làm và chăm con mà không mảy may quan tâm đến nó.
 
Nhưng vài ngày sau, chị cảm thấy bị đau ở vai nên quyết định đi khám bác sĩ. Chị được chẩn đoán bị chèn dây thần kinh và được kê thuốc giảm đau, yêu cầu thư giãn đồng thời nên trị liệu vật lý.
 
Tuy nhiên, 3 ngày sau đó, tình trạng bệnh tình cũng không cải thiện, nếu không muốn nói là tồi tệ hơn. Các ngón tay và cánh tay tấy đỏ, chị bị nôn mửa và bị đau nhiều hơn.
 
Bà mẹ 2 con này tiếp tục đi khám và bác sĩ yêu cầu làm xét nghiệm máu. Kết quả cho thấy chị bị nhiễm trùng máu, một dạng ngộ độc máu.

Ngay sau đó, chị nhập viện và được điều trị tiêm kháng sinh vào tĩnh mạch. Thế nhưng, chỉ sau 1 đêm, sức khỏe của Smith yếu hơn, phải chuyển sang khoa chăm sóc đặc biệt, thở bằng máy và tiêm kháng sinh liều cực nặng.

Đến ngày hôm sau, chị bắt đầu bị suy tạng và đến buổi tối ngày hôm đó, chị bị suy tim, suy thận, suy hô hấp rồi qua đời. Bác sĩ kết luận chị Smith đã chết vì sốc độc tố gây ra bởi nhiễm trùng máu.

“Đừng bao giờ đánh giá thấp kẻ giết người thầm lặng này“, Caroline, em gái nạn nhân cảnh báo.
 
Sau sự ra đi đột ngột của chị Lucinda Smith, gia đình đã tham gia các buổi tuyên truyền về sự nguy hiểm của nhiễm trùng máu.

Báo động về bệnh nhiễm trùng máu có thể gây tử vong sau vài giờ

Cách đây chưa đầy 1 tuần, tờ Daily Mail đưa tin anh Michael Berger (46 tuổi, sống tại New Jersey, Mỹ) đã phải trải qua 3 tuần hôn mê và cơ hội sống sót giảm xuống chỉ còn 50/50 sau khi bị đứt tay do giấy cứa.
 
May mắn, sau nhiều tuần chạy chữa, Berger đã được cứu chữa kịp thời, thoát khỏi căn bệnh nhiễm trùng máu, có thể dẫn đến tình trạng suy giảm chức năng hoạt động của các cơ quan nội tạng trong một thời gian ngắn.
 
Trước sự nguy hiểm của căn bệnh có thể cướp đi mạng sống của con người chỉ sau vài giờ, cơ quan chức năng ở Mỹ và Anh liên tiếp kêu gọi mọi người hãy cảnh giác cao độ với những vết xước ngoài da, dù là nhỏ nhất.

“Với một số ca bệnh bị nhiễm trùng máu, sự sống của bệnh nhân được đếm từng giờ.Thậm chí nếu bạn không có một dấu hiệu cảnh báo đặc trưng nào, nhưng cứ thấy người ngày càng mệt mỏi và không thể kiểm soát ý thức, bạn hãy đi khám ngay“, Ron Daniels, Chủ tịch Quỹ Nhiễm trùng máu của Anh cảnh báo.

Dịch vụ Y tế Quốc gia Anh (NHS) đã khuyến cáo đội ngũ y tế phải điều trị bệnh nhân nhiễm trùng máu cấp bách giống như với bệnh nhân bị đau tim.

Họ phải tự hỏi: Đây có phải là ca nhiễm trùng máu không nếu thấy bệnh nhân có triệu chứng phát ban, sốt cao hoặc mạch đập nhanh.

Bất cứ ai bị nghi ngờ mắc căn bệnh chết người này phải được chuyển cấp cứu ở bệnh viện và được các bác sĩ, y tá có kinh nghiệm theo dõi.
 
“Với những bệnh nhân bị nhiễm trùng máu, bước đầu tiên là phải tiêm thuốc kháng sinh và dịch IV ngay lập tức, để tránh rơi vào tình trạng sốc độc tố”, bác sĩ Marianne Kraemer, người trực tiếp điều trị cho anh Michael Berger nhấn mạnh.

Ở Anh mỗi năm có khoảng 150.000 ca, trong đó 44.000 trường hợp tử vong, nhiều hơn số ca chết do ung thư ruột, ung thư vú và ung thư tuyến tiền liệt cộng lại.

Còn Mỹ hàng năm cũng tiếp nhận khoảng 1 triệu người mắc bệnh nhiễm trùng máu và 258.000 người tử vong, nhiều hơn cả số người chết vì ung thư vú, ung thư tuyến tiền liệt và AIDS cộng lại.

Dấu hiệu nhận biết để cấp cứu kịp thời

Nhiễm trùng máu do tình trạng nhiễm trùng liên quan đến tiểu đường, ung thư hoặc vết thương ngoài da. Nếu không điều trị kịp thời, người bệnh có thể bị suy tạng và dẫn đến tử vong.

Bất kỳ ai cũng có thể bị nhiễm trùng máu nhưng người già và người có hệ miễn dịch yếu như trẻ em dễ mắc hơn nhiều.

Từ một vết thương ngoài da, sau đó xuất hiện những biểu hiện như thở nhanh, sốt cao hoặc cảm lạnh, người run lẩy bẩy, đau người, đổ mồ hôi, hôn mê sâu, không đi tiểu trong vòng 12 giờ thì đi khám bác sĩ ngay.

Một khi bị nhiễm trùng máu, việc điều trị bằng thuốc kháng sinh cần thực hiện càng sớm càng tốt, tốt nhất là trong vòng 1 giờ sau khi được chẩn đoán.

                                                                                                                                                                                                   Theo Soha
 
 

Thứ Ba, 1 tháng 8, 2017

TẠI SAO CÁC CON SÔNG ĐỀU UỐN KHÚC?

Kết quả hình ảnh cho dòng sông uốn khúc

                                                                                            (Ảnh: BaoMoi)

Trong giờ học, một vị thiền sư chỉ vào một bản đồ và hỏi: “Các dòng sông trên hình ảnh này có đặc điểm gì?”. Các môn đồ trả lời: “Chúng luôn lượn vòng thay vì chảy theo một đường thẳng”.


Vị thiền sư lại tiếp tục hỏi: “Tại sao như vậy? Nói cách khác, tại sao những con sông này không đi thẳng mà cứ phải đi đường vòng?”.
Mọi người bắt đầu thảo luận: “Vì khi đi đường vòng, sông sẽ được kéo dài nên chứa được nhiều nước hơn. Hoặc nhờ thế mà khi lũ mùa hè kéo đến, nước sông sẽ không bị dâng quá cao và tràn ra ngoài”.
Một người khác lại nói: “Bởi vì con sông trải dài nên lưu lượng nước trên mỗi khúc sông tương đối thấp, áp lực dưới đáy sông cũng giảm đi. Điều này góp phần quan trọng trong việc bảo vệ bờ sông,…”

“Tất cả mọi người nói đều đúng”, vị thiền sư nói, “còn bản thân tôi thì cho rằng sông không đi đường thẳng mà phải đi đường vòng, đơn giản chỉ vì đi đường vòng là chuyện bình thường, đi đường thẳng mới là chuyện khác thường. Bởi trên hành trình của mình, các con sông sẽ phải gặp nhiều và đa dạng trở ngại, có cái vượt qua được, có cái không. Nên con sông chỉ có thể đi vòng để tránh các chướng ngại. Mục đích cuối cùng là hòa vào biển khơi”.
Ông thiền sư đột nhiên trầm mặc hơn: “Cuộc sống của chúng ta cũng như vậy. Khó khăn, trắc trở trong cuộc sống là chuyện bình thường. Không bi quan, tuyệt vọng, không thở dài, buồn phiền hay bỏ cuộc mới là thái độ sống đúng đắn. Như dòng sông kia không khuất phục trước gian nan, thử thách, luôn kiên trì tiến về phía trước, tiến về biển khơi bao la”.
Không có con đường dễ dàng  trong mọi hành trình, gian nan và thử thách chính là thước đo ý nghĩa của điểm đến, chỉ cần kiên trì vượt qua, chúng ta sẽ đến được nơi cần phải đến.

                                                                                    Theo Sound of Hope                                                                                                                                       Phương Quế 

VỀ ĐÂU

                                                               đức Phật, tu luyện, dục vọng, chính quả,
                                                                                                  (Ảnh: Wallpapercraft)

                                                                                 Trần gian như thể cuộc rong chơi,
                                                           Vạn ngã về đâu gốc chẳng rời.
                                                           Bao kiếp lang thang qua khắp nẻo,
                                                           Nhiều năm lăn lộn đến cùng nơi.
                                                           Hiểu ra lối khổ tìm nguồn đạo,
                                                           Biết được đường mê thấu cõi đời.
                                                           Vượt thoát trầm luân nương pháp Phật,
                                                           Công phu tinh tấn nguyện không lơi.
 
                                                                                                Minh Đạo

ttp://poem.tkaraoke.com/14891/TP_Minh_Dao/
https://minhdao1160.wordpress.com/
http://www.daophatngaynay.com/vn/author/minhdao/
https://quangduc.com/author/post/10951/1/minh-dao
https://hoavouu.com/author/post/4215/1/minh-dao
https://thuvienhoasen.org/p98/tho-nhac-phap-am
http://www.saimonthidan.com/?c=author&a=1114
http://www.hoalinhthoai.com/poetry/Tho-Van.html

BÁT PHONG

Kết quả hình ảnh cho HOA SEN


Trong kinh sách, những bước thăng trầm của cuộc đời được gọi là "Bát Phong". Bát phong gồm có bốn điều phước lành và bốn điều bất trắc như sau: "thịnh và suy, hủy và dự, xưng và cơ, khổ và lạc". Tức là bát phong có bốn cặp: Một là hưng thịnh, lợi lộc và suy sụp, điêu tàn. Hai là hủy báng, gièm pha và danh dự, tiếng thơm. Ba là xưng dương, tán tụng và cơ bài, chỉ trích. Bốn là phiền não, khổ đau và an lạc, hạnh phúc. Ðó là tám ngọn gió thường tình của thế gian, lúc nào cũng không ngừng thổi, hết cơn gió này rồi đến cơn gió khác, có lúc gió thổi hiu hiu, nhẹ nhàng, mát mẽ, có khi gió thổi mãnh liệt, khủng khiếp, tàn khốc, như trong các cơn giông bão.
Trên thế gian này, trong cuộc sống đầy bon chen, tranh đấu, vất vả để sống còn, con người thường than khổ, thường kêu khổ, thường rên khổ: khổ quá, khổ quá và khổ quá! Con người, dù là thường dân hay quan chức, dù là da trắng, da đen, hay da màu, dù là chủ nhân hay công nhân, dù là bình dân hay học thức, dù là nam phụ lão ấu, dù theo bất cứ tôn giáo nào, ai ai cũng đều công nhận rằng: cuộc đời này khổ nhiều vui ít. Tại sao vậy? Bởi vì cuộc sống của con người luôn luôn có những bước thăng trầm, kể từ khi mở mắt chào đời cho đến lúc nhắm mắt giã từ thế giới ta bà khổ này. Tất cả mọi người trên thế gian, ai ai cũng đều phải đối diện và đương đầu với những bước thăng trầm của cuộc đời, không một ai có thể tránh khỏi.

Sách có câu: "Phước bất trùng lai, họa vô đơn chí". Nghĩa là trên cõi đời này những việc may mắn, những việc hên, còn gọi là có phước, được phước, hưởng phước, thường không đến hai lần, không đến một lượt. Ngược lại, những tai họa, những chuyện không may, bất trắc, bất như ý, thường gọi là xui xẻo, lại đến dồn dập, liên miên, liên tua bất tận. Chuyện này vừa xong thì chuyện khác xảy ra. Có khi chuyện này chưa dứt thì nhiều chuyện khác đã ập đến. Nhiều khi những chuyện như vậy xảy ra tới tấp, làm chúng ta tối tăm mặt mũi, choáng váng mặt mày, trở tay không kịp. Với những người tinh thần yếu đuối, bạc nhược, cầu an, hoang mang, sợ sệt, những bước thăng trầm của cuộc đời sẽ nhận chìm họ trong biển khổ đau, ngập tràn nước mắt, đầy tiếng kêu than. Trái lại, với những người tinh thần mạnh mẽ, dũng kiệt, tìm hiểu đạo lý, thực tâm tu học, những bước thăng trầm của cuộc đời chính là những thử thách, những rèn luyện, để nâng cao cuộc sống nội tâm của họ ngày một sung mãn hơn, nghị lực của họ ngày một vững vàng hơn, dũng tiến trên bước đường tu học. Sự giác ngộ và giải thoát chắc chắn sẽ đến với những người như vậy một ngày không xa. Ích lợi của việc tìm hiểu đạo lý, thực tâm tu học, chính là chỗ này vậy.
* * *
Trong kinh sách, những bước thăng trầm của cuộc đời được gọi là "Bát Phong". Bát phong gồm có bốn điều phước lành và bốn điều bất trắc như sau: "thịnh và suy, hủy và dự, xưng và cơ, khổ và lạc". Tức là bát phong có bốn cặp: Một là hưng thịnh, lợi lộc và suy sụp, điêu tàn. Hai là hủy báng, gièm pha và danh dự, tiếng thơm. Ba là xưng dương, tán tụng và cơ bài, chỉ trích. Bốn là phiền não, khổ đau và an lạc, hạnh phúc. Ðó là tám ngọn gió thường tình của thế gian, lúc nào cũng không ngừng thổi, hết cơn gió này rồi đến cơn gió khác, có lúc gió thổi hiu hiu, nhẹ nhàng, mát mẽ, có khi gió thổi mãnh liệt, khủng khiếp, tàn khốc, như trong các cơn giông bão.

Trong đời sống của mọi người trên thế gian, không ai không gặp những bước thăng trầm, lúc được lúc thua, lúc vinh lúc nhục, lúc vui lúc khổ, lúc sướng lúc cực, lúc lên voi lúc xuống chó, lúc danh dự lúc nhục nhằn, lúc lạc quan lúc bi quan, lúc bước lên xe lúc ngã xuống ngựa, lúc được làm vua lúc thua làm giặc, lúc lên đài danh vọng lúc xuống tận bùn đen, lúc cười tươi hỷ hạ lúc cười ra nước mắt, lúc hân hoan ra mặt lúc khóc thầm trong tâm, lúc muốn sống dai với đời lúc muốn chết phứt cho rồi. Những bước thăng trầm như vậy sở dĩ làm cho con người phải phiền não khổ đau, bởi vì khi gặp phải bất cứ cảnh ngộ nào, dù vừa ý hay không vừa ý, tâm trí của con người luôn luôn xáo động, bất an. Cho nên, nếu chịu khó tìm hiểu đạo lý, thực tâm tu học, hạ thủ công phu, quán chiếu tự tâm, thì chắc chắn chúng ta sẽ có an lạc và hạnh phúc. Nếu không, con người "còn sống là còn động, còn động là còn khổ" , vì cuộc đời sống động sôi nổi, vì những bước thăng trầm đó vậy.

*1) Thịnh và Suy: 

Trước hết, chúng ta thử xét cặp thăng trầm mà người đời phải thường xuyên đối phó, đó là lúc hưng thịnh, hưởng lợi lộc và lúc suy sụp, lãnh nợ đời. Thịnh và suy là hai ngọn gió thường xuyên trên thế gian, trong cuộc đời của bất cứ người nào.

Ở trên trần đời, con người thường gặp phải cả hai điều: được và thua, lời và lỗ, thắng và bại. Dĩ nhiên, lúc hưng thịnh, khi được lợi thì con người vui mừng, khoái chí, thích thú, hả hê. Ðiều này không có gì là lạ, nên được gọi là thường tình thế gian. Những mối lợi dù to hay nhỏ, dù chánh đáng hay không, cũng đều đem lại niềm vui mà ai cũng ước mong, ai cũng tìm kiếm. Nếu không có những giờ phút vui vẻ, dù là ngắn ngủi tạm bợ, cuộc đời quả thực không đáng sống. Trong thế gian đầy tranh chấp và bon chen này, con người rất ít được cơ hội hưởng những giây phút làm tâm trí vui tươi, phấn khởi, nhẹ nhàng. Những lạc thú như vậy, dù là vật chất hay tinh thần, chắc chắn sẽ giúp con người thêm sức khỏe và tăng tuổi thọ.

Nhưng đến khi thất bại, thua thiệt, lỗ lã, mất mát, sa sút, suy sụp, điêu tàn, thì phiền não và khổ đau bắt đầu phát khởi. Con người có thể mỉm cười dễ dàng lúc hưng thịnh, khi đắc thời được thế hay khi lợi lộc đến, nhưng đến lúc thua lỗ, suy sụp, mạt vận thì không, khó lắm. Nhiều trường hợp thua thiệt nặng nề, lỗ lã lớn lao, mất mát quan trọng có thể làm cho con người cuồng loạn tâm trí. Thí dụ như khi bị phá sản, cơ nghiệp suy sụp, gia đình tan nát, thân bại danh liệt, thường đưa đến cảnh quyên sinh mạng sống, bởi vì con người không còn chịu đựng được nữa.

Ðạo Phật chính là đạo cứu khổ nhân loại. Cho nên, chính trong những trường hợp này, con người cần áp dụng, phát huy sự học hiểu giáo lý của đạo Phật, để tinh thần dũng kiệt và cố gắng giữ tâm trí bình thản, không để quá chao động. Trong lúc vật lộn với đời sống, tất cả mọi người ai ai cũng đều phải gặp những lúc thăng, lúc trầm. Cho nên con người phải sẵn sàng chấp nhận, sẵn sàng chịu đựng, sẵn sàng đối phó, nhứt là khi sống trong nghịch cảnh. Chúng ta có niềm tin nơi Ðức Phật, nên cố gắng tìm hiểu Phật Pháp, đó là những lời dạy vô cùng quí báu được ghi trong các kinh điển, để có thể áp dụng trong cuộc sống hằng ngày và chịu đựng được bát phong đến bất cứ lúc nào, dưới bất cứ hình thức nào. Ðược như vậy, nỗi thất vọng, niềm đau thương sẽ giảm thiểu rất nhiều.

Mười điều tâm niệm, trong Luận Bảo Vương Tam Muội, có dạy: "Ở đời đừng cầu không hoạn nạn, vì không hoạn nạn thì kiêu xa nổi dậy. Hãy lấy hoạn nạn làm giải thoát". Tại sao vậy? Bởi vì van xin cầu khẩn thực sự có được gì đâu. Con người kiếp trước tạo ít phước báo, gây nhiều nghiệp báo, cho nên cuộc sống kiếp này mới gặp nhiều tai nạn, bất trắc, bất như ý. Muốn cuộc sống bớt tai nạn, vui nhiều hơn khổ, con người cần tích cực tu tâm dưỡng tánh, làm phước nhiều hơn, đừng làm người khác đau khổ, dù bằng hành động, lời nói hay ngay cả trong ý nghĩ cũng vậy. Người nào sống ở trên đời không gặp hoạn nạn, làm việc gì cũng thành công dễ dàng, thường sanh tâm kiêu căng, ngạo mạn, phách lối, tiêu xài xa xỉ, khinh thường thế nhân, nghi kỵ mọi người, khiến mọi người xa lánh, không ai muốn gần gũi. Khi gặp hoạn nạn, con người thường không còn tâm kiêu căng, vì kiêu căng thì gặp nạn, không còn xa hoa phung phí, tâm không còn duyên theo cảnh trần, không còn dễ nổi lòng tham lam, không còn dễ sân hận, không còn si mê lầm lạc, bởi vì tham lam thì dễ gặp nạn, sân hận thì dễ gặp nạn, si mê thì dễ gặp nạn! Nói cách khác, hoạn nạn giúp cho con người sớm giải thoát khỏi những trói buộc, triền phược của tham lam, sân hận, si mê, ngã mạn, nghi kỵ đó vậy.

Khi mất một vật gì, dù quí giá hay nhỏ mọn, nhưng là vật thường dùng hằng ngày, tức nhiên chúng ta cũng sẽ cảm thấy bực bực trong lòng. Chính cái buồn bực đó làm cho tâm trí chúng ta xao xuyến, giao động, bất an, chứ không giúp tìm lại được vật đã mất. Chúng ta có thể tự an ủi: Ðây chỉ là một sự mất mát nhỏ nhen, không đáng quan tâm. Nhiều người trên đời còn mất nhiều thứ to tát, lớn lao hơn nhiều. Cái sự mất mát lớn lao nhứt, hầu hết mọi người đều sợ, đó chính là: "mất mạng!" , nghĩa là mất cái mạng sống của chính mình. Con người thường quan niệm lấy của che thân, có mất mát vật gì cũng thường tự an ủi: cái mạng này còn là tốt rồi, là có phước rồi, còn người thì còn làm ra của, lo gì! Chỉ có ít người chịu chết thay cho của cải mà thôi. Ðạo Phật chính là đạo giúp chúng ta bớt đi sự sợ hãi, giúp chúng ta dứt trừ những ưu tư, lo lắng trên đây, giúp chúng ta đạt được sự bình tĩnh, thản nhiên, tự tại, điềm đạm, trước mọi bát phong.
Chúng ta nên quán chiếu rằng: Ngay cái thân tứ đại của chúng ta nhứt định cũng có ngày phải bị mất đi, tan rã và trở về với cát bụi, huống gì là bất cứ vật gì khác có hình tướng, trên thế gian này. Bất cứ vật gì trên thế gian này cũng đều trải qua các giai đoạn: "sinh, trụ, dị, diệt". Nghĩa là mọi vật sinh ra, hình thành, tồn tại trụ thế một thời gian nào đó, rồi cũng biến dị, hư hỏng, cho đến khi hoàn toàn bị hủy diệt. Hiểu được"lý vô thường" do Ðức Phật dạy một cách sâu sắc như vậy, chúng ta sẽ giảm bớt nhiều phiền não và khổ đau trong cuộc đời và có thể giữ tâm trí được bình thản trước những sự mất mát trên thế gian, dù lớn hay nhỏ, dù là vật chất hay tinh thần, dù là tiền bạc hay người thân. Ngoài ra, giáo lý đạo Phật còn giúp chúng ta tìm được "con người chân thật" của chính mình, ngoài cái thân giả tạm này.

Trong gia đình, nếu người vợ có lỡ tay đập bể một món đồ nào đó, dù cho quan trọng và quí giá đến đâu đi nữa, đức phu quân cũng không nên nặng lời vì tiếc của, làm cho gia đạo bất an, huống gì những chuyện lặt vặt nhỏ mọn khác. Ðược như vậy, những cặp vợ chồng này khỏi cần phải đi coi bói xem chừng nào hết tiểu hạn, hết đại hạn, chừng nào tai qua nạn khỏi, chừng nào mới được bình yên. An lạc và hạnh phúc ở ngay trong gia đạo của họ rồi, khỏi phải tìm kiếm nhọc công, mệt sức. Thực ra đại hạn hay tiểu hạn là tùy ở mình hết trơn, bao lâu mình còn lầu bầu tiếc của thì bấy lâu mình còn phải xức dầu cù là cho bớt nhức đầu, cho đở đau bụng. Cũng vậy, khi ông chồng có thất bại trong công việc hùn hạp làm ăn, thua lỗ, thậm chí có đứt vốn, vỡ nợ đi chăng nữa, vị hiền thê cũng không nên nặng lời vì tiếc của, không nên đay nghiến, phải chi ông để tiền cho tôi mua hột xoàn, mua cẩm thạch đeo, vừa chưng diện được đẹp đẽ, vừa để dành làm của sau này. Ðược như vậy, gia đạo sẽ bình yên, cuộc sống được an lạc và hạnh phúc chắc chắn, không nghi.

Ai ai cũng hiểu rằng dù có than trời trách đất, la lối om sòm chăng nữa thì cũng không có cách nào bù lại những sự mất mát vật chất cũng như tinh thần. Chuyện gì đã qua hãy để cho nó qua đi, đừng nhắc tới, đừng than van, đừng suy tư nghĩ tưởng. Trong Kinh Kim Cang, Ðức Phật có dạy: "Quá khứ tâm bất khả đắc". Nghĩa là tâm nhớ nghĩ đến chuyện đã qua, tiếc nuối chuyện quá khứ chẳng được ích lợi gì cả, chính là nghĩa đó vậy. Có lần, Ðức Phật và các môn đệ an cư kiết hạ trong một làng nọ. Những người có trách nhiệm lo chuyện lương thực hoàn toàn lãng quên bổn phận. Suốt trọn thời gian ba tháng hạ, Ðức Phật và chư tăng vẫn bình thản dùng những thức ăn do một người lái ngựa mang đến dâng, không một lời than van hay phiền trách. Trong mọi hoàn cảnh, dù trái ngang như vậy, Ðức Phật luôn luôn sống trong chánh định, tâm trí luôn luôn bình tĩnh, thản nhiên trước bát phong của cuộc đời.

Một câu chuyện khác: Vào thời Ðức Phật, có một nữ thí chủ thường đến chùa chăm lo các nhu cầu cần thiết, tứ sự cúng dường. Một hôm, bà mặc một cái áo choàng rất quí giá đến chùa. Lúc ra về, người tỳ nữ vô ý, bỏ quên cái áo đó lại. Về đến nhà, bà bảo người tỳ nữ quay trở lại tìm. Sau đó, bà quyết định bán cái áo này để làm việc phước thiện. Vì cái áo choàng rất đắt giá, không ai có đủ tiền mua, nên chính bà mua lại và dùng số tiền ấy xây dựng một ngôi tịnh xá đẹp đẽ, dâng đến chư tăng. Sau khi làm lễ dâng cúng xong, bà ngỏ lời tri ân người tỳ nữ như sau: " Nếu con không lỡ bỏ quên cái áo choàng, chắc ta không có cơ hội tạo nên phước báu nầy. Như vậy ta xin chia phước nầy cho con". Thay vì buồn rầu hay phiền giận vì mất một vật quí giá, và la rầy người tỳ nữ vô ý, bà cám ơn người ấy đã giúp cho bà có cơ hội tạo phước. Thái độ đáng kính của người thiếu phụ này quả là một bài học xứng đáng cho những ai dễ nóng giận vì lỗi lầm của người giúp việc dưới quyền. Chúng ta phải dũng cảm chấp nhận, chịu đựng đương đầu với những lỗ lã, thua thiệt, phải điềm tĩnh đối phó, với tâm xả hoàn toàn. Chúng ta nên nghĩ rằng: đây chính là cơ hội ngàn vàng để thực hành đức tánh cao thượng nầy.

Trong Kinh Pháp Cú, Ðức Phật có dạy:

Thắng lợi sinh thù oán.
Thất bại chịu khổ đau.
Không quan tâm thắng bại.
Sống an lạc hạnh phúc.

Hơn nữa, điều quan trọng trong đạo Phật chính là "giáo lý vô ngã", dạy rằng không có cái gì thực là "Ta", cho nên không có cái gì thực là "của Ta". Ðó chính là triết lý cao thượng vô cùng mà chúng ta cần phải nghiên cứu, tìm hiểu, học hỏi, suy tư cho thấu đáo, để khi gặp chuyện thịnh suy, được thua, lợi hại, thắng bại, nên hư, trên thế gian này, chúng ta vẫn giữ được tâm trí bình thản.