Chủ Nhật, 5 tháng 1, 2014

HÀNH THIỀN TỨC LÀ SỐNG AN LẠC

                                                HÀNH THIỀN TỨC LÀ SỐNG AN LẠC
   Trong Kinh tạng Pàli, có một số văn đoạn nêu rõ kinh nghiệm hành thiền của Đức Phật, rất quan  trọng  và bổ ích cho việc hành  thiền của người Phật tử.
  Gia chủ Mahànàma đến thưa với Đức Phật:
– Bạch Thế Tôn, đã lâu rồi, con đã hiểu như thế này lời dạy của Thế Tôn: “Tham là cấu uế của tâm, sân là cấu uế của tâm, si là cấu uế của tâm”. Tuy vậy, đôi lúc các tham pháp chiếm cứ tâm con và an trú, các sân pháp chiếm cứ tâm con và an trú, các si pháp chiếm cứ tâm con và an trú. Bạch Thế Tôn, con tự suy nghĩ: “Pháp nào tự trong ta không đoạn trừ được, do vậy các tham pháp xâm nhập tâm ta và an trú, các sân pháp xâm nhập tâm ta và an trú, các si pháp xâm nhập tâm ta và an trú?”.
– Này Mahànàma, có một pháp trong Ông chưa được đoạn trừ, do vậy các tham pháp xâm nhập tâm Ông và an trú, các sân pháp xâm nhập tâm ta và an trú, các si pháp xâm nhập tâm Ông và an trú. Và này Mahànàma, pháp ấy trong Ông có thể đoạn trừ được, nếu Ông không sống trong gia đình, nếu Ông không thụ hưởng các dục vọng.
   Mẩu đối thoại trên giữa Đức Phật và gia chủ Mahànàma xác nhận một vấn đề rất thực tế, đó là đời sống người tại gia cư sĩ khó tránh khỏi các phiền não khổ đau do hệ lụy của đời sống gia đình, cụ thể là các dục vọng. Nói cách khác, dục vọng là đầu mối của mọi phiền muộn khổ đau; càng mơ hồ say đắm nó thì khổ não càng gia tăng, vì dục vọng là nguyên nhân khiến cho tham, sân, si – gốc rễ của phiền não khổ đau – dấy khởi và tăng trưởng.
  Dục vọng là ham muốn thái quá đối với các lạc thú thế gian như sắc đẹp, tiếng hay, hương thơm, vị ngon, cảm xúc êm dịu. Một cách hiểu khác, dục vọng chính là sự mê đắm đối với tiền tài vật chất (tài), danh vọng quyền lực (danh), sắc đẹp  khác phái (sắc), cao lương mỹ vị (thực), chăn gối êm ái (thùy). Nó biểu lộ qua việc khao khát tìm kiếm các khoái lạc trần tục (kàmasukha) mà khi đạt được thì tham tùy miên (ràgànusaya: lòng ham muốn tiềm ẩn trong con người) tùy tăng, và khi không đạt được hoặc có được rồi mà mất đi thì sân tùy miên (patighànusaya: tập khí giận dữ bực phiền tiềm ẩn trong con người) tùy tăng. Vì vậy, dục vọng là lý do khiến cho tham và sân không ngừng xâm chiếm và thiêu đốt tâm thức con người, làm cho con người cứ mãi quay cuồng  trong  thế  giới của những  cảm thức bấn  loạn hoặc lạc khổ hoặc vui buồn hoặc yêu ghét. Trong giáo lý đạo Phật, dục vọng được xem là con đẻ đồng thời là thức ăn của si hay vô minh. Chính vì thế mà Đức Phật đã gợi ý cho gia chủ Mahànàma cần phải hạn chế và rời xa dục vọng, vì còn thích thú thụ hưởng dục vọng thì tham, sân, si – gốc rễ của phiền não khổ đau – còn chiếm cứ tâm và an trú. Hơn thế, chính dục vọng hay sự ham muốn thái quá đối với các lạc thú thế gian là nguyên nhân của mọi rối loạn khổ đau xảy ra ở các bình diện khác nhau, từ các tranh chấp mang tính cá nhân cho đến các tranh chấp mang tính tổ chức như xung đột giữa các gia đình, giữa các đoàn thể xã hội hay giữa các cộng đồng quốc gia2.
  Chúng    ta    hiểu rằng    lòng    ham muốn   hưởng   thụ các lạc thú thế gian là  tâm  lý thường tình của con người. Nó là điều kiện sinh tồn  của  nhân  thế, nhưng  cũng chính nó là nguyên nhân khiến muôn vàn khổ  đau  nảy sinh trên cuộc đời, một khi con người không nhận ra mặt trái của lòng ham muốn và có thái độ ứng xử thích đáng. Hẳn nhiên, không ai có thể tồn tại trên cõi đời mà không dựa vào các “xúc cảm thế gian”. Nhưng con người sẽ khó tránh khỏi phiền muộn khổ đau, nếu chỉ một chiều chạy theo  lạc thú trần thế, xem đó là mục tiêu cứu cánh của nhân sinh. Dục vọng không có bến đỗ3. Càng mong  muốn  thỏa mãn thì con người càng trở nên  nghèo  đói, thiếu  thốn,  nô lệ cho dục vọng4. Chính vì vậy mà Đức Phật đã khuyến cáo: “các dục vui ít, khổ nhiều, não nhiều, sự nguy hiểm ở đây lại nhiều hơn,” và nêu rõ phương  pháp thực tập, giúp cho con người khắc phục và vượt qua sự chi phối của dục vọng.
  Theo kinh nghiệm của Đức Phật thì con người không thể khắc phục và chiến thắng dục vọng hay lòng ham muốn  các khoái lạc trần thế trừ phi có sự nhận  thức đúng đắn về nó và có sự chuyển hóa đời sống nội tâm, tức hành thiền. Ngài nêu rõ:
   “Này Mahànàma, nếu một vị Thánh đệ tử khéo thấy như vậy với như thật chánh trí tuệ: ‘Các dục, vui ít, khổ nhiều, não nhiều. Sự nguy hiểm ở đây lại nhiều hơn’, nhưng nếu vị này chưa chứng được hỷ lạc do ly dục, ly ác bất thiện pháp sanh, hay một pháp nào khác cao thượng hơn, như vậy vị ấy chưa khỏi bị các dục chi phối. Này Mahànàma, khi nào vị Thánh đệ tử khéo thấy như vậy với như thật chánh trí tuệ: ‘Các dục, vui ít, khổ nhiều, não nhiều. Sự nguy hiểm ở đây lại nhiều hơn’, và vị này chứng được hỷ lạc do ly dục, ly ác bất thiện pháp sanh hay một pháp nào cao thượng hơn, như vậy vị ấy không bị các dục chi phối. Này Mahànàma, thuở xưa, khi Ta còn là Bồ-tát, chưa chứng được Bồ-đề, chưa thành Chánh Đẳng Giác, Ta khéo thấy với như thật chánh trí tuệ: ‘Các dục vui ít, khổ nhiều, não nhiều, sự nguy hiểm ở đây lại nhiều hơn’, dầu Ta có thấy với như thật chánh trí tuệ như vậy, nhưng Ta chưa chứng được hỷ lạc do ly dục, ly ác bất thiện pháp sanh hay một pháp nào khác cao thượng hơn. Và như vậy Ta biết rằng Ta chưa khỏi bị các dục chi phối. Và này Mahànàma, khi nào Ta khéo thấy với như thật chánh trí tuệ: ‘Các dục, vui ít, khổ nhiều, não nhiều, sự nguy hiểm ở đây lại nhiều hơn’, và Ta chứng được hỷ lạc do ly dục, ly ác bất thiện pháp sanh hay một pháp nào khác cao thượng hơn, như vậy Ta khỏi bị các dục chi phối.”5
   Kinh nghiệm  của Đức Phật nói cho chúng  ta biết rằng chỉ một mình hiểu biết hay ý chí không  thôi thì không đủ để vượt qua bản năng dục vọng, mà tự thân phải thực tập nếp sống ly dục, ly các pháp  bất  thiện,  phải thực  hành thiền định, phải thực nghiệm cho được thiền lạc (hỷ lạc do ly dục sinh hay do định sinh…) thì các đòi hỏi bản năng mới được  khắc phục  và chuyển  hóa. Đây chính là bài học kinh nghiệm  hết sức quan trọng và thiết thực cho những ai mong muốn tìm kiếm con đường giải phóng khổ đau từ giáo pháp  của Đức Phật. Chúng ta hành thiền mỗi ngày nhưng chúng ta vẫn còn mơ hồ về dục vọng thì việc hành thiền của chúng ta sẽ không có kết quả. Chúng ta sẽ không thoát  khỏi phiền  muộn  khổ đau bởi chúng ta không khắc phục được sự ám ảnh và chi phối của dục vọng. Nói cách khác, chúng  ta chưa thấy hết sự tai hại của dục vọng, chưa rời bỏ được lòng đam  mê khoái lạc trần  thế, chưa thực nghiệm  được thiền lạc do ly dục sinh hay do định sinh; do đó chúng ta chưa chuyển hóa được nội tâm, chưa tìm thấy niềm hạnh  phúc tâm linh cụ thể và lớn lao để có thể thay thế hay hóa giải các ham muốn thế tục. Vì vậy,  muốn tu thiền cho có kết quả thì phải thực tập nếp sống ít ham muốn, phải hạn chế việc tìm cầu và thụ hưởng các khoái lạc trần thế. Vì căn bản của thiền là ly dục và kết quả cụ thể của hành thiền chính là thoát khỏi mọi ám ảnh và chi phối của dục vọng, thực nghiệm một đời sống thanh thản an lạc. Tiếp theo là kinh nghiệm chiến thắng  dục  vọng  của Đức Phật, nhờ  công  phu  hành thiền, thực nghiệm được hỷ lạc do ly dục sinh hay các thiền chứng cao hơn:
   “Này Magandiya, Ta thuở trước, khi còn là tại gia, Ta sống hưởng thụ một cách đầy đủ, một cách sung mãn, năm dục trưởng dưỡng, các sắc pháp do mắt nhận thức, khả ái, khả hỷ, khả lạc, khả ý, liên hệ đến dục, hấp dẫn. Các tiếng do tai nhận thức… các hương do mũi nhận thức… các vị do lưỡi nhận thức… các xúc do thân nhận thức, khả ái, khả hỷ, khả lạc, liên hệ đến dục, hấp dẫn. Này Magandiya, Ta có ba tòa lâu đài, một cho mùa mưa, một cho mùa đông, một cho mùa hạ. Này Magandiya, trong bốn tháng mùa mưa, Ta sống hưởng thụ trong lâu đài mùa mưa, được những nữ nhạc công giúp vui và không bước xuống khỏi lâu đài ấy. Rồi Ta sau một thời gian, sau khi như chơn biết được sự tập khởi, sự đoạn diệt, vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly của các dục vọng, sau khi đoạn tận dục ái, sau khi trừ diệt nhiệt não của các dục, Ta trú với khát ái được đoạn trừ, với nội tâm an tịnh. Rồi Ta thấy các chúng sanh khác, chưa xả ly tham ái đối với các dục, đang bị các dục ái nhai nghiến, đang bị dục nhiệt não thiêu đốt, đang chạy theo các dục. Ta không ước vọng được như họ; ở đây, Ta không ham thích. Vì sao vậy? Vì rằng, này Magandiya, có hỷ lạc này, ly dục, ly bất thiện pháp, sau khi chứng đạt Thiên lạc, được an trú, hoan hỷ trong hỷ lạc ấy. Ta không ao ước cái gì thấp kém; ở đây, Ta không ham thích.
   Ví như, này Magandiya, một gia chủ hay con một người gia chủ, giàu sang, tài vật nhiều, sở hữu nhiều, sống thọ hưởng một cách đầy đủ, một cách sung mãn, năm dục trưởng dưỡng, các sắc pháp do mắt nhận thức, khả ái, khả hỷ, khả lạc, khả ý, liên hệ đến dục, hấp dẫn, các tiếng do tai nhận thức… các hương do mũi nhận thức… các vị do lưỡi nhận thức… các xúc do thân nhận thức, khả ái, khả hỷ, khả lạc, khả ý, liên hệ đến dục, hấp dẫn. Vị ấy, sau khi làm thiện thân hành, sau khi làm thiện khẩu hành, sau khi làm thiện ý hành, khi thân hoại mạng chung, được sanh lên thiện thú, Thiên giới, cộng trú với chư Thiên ở cõi trời Ba mươi ba. Vị ấy ở đây, trong  rừng Nandana, được chúng Thiên nữ vây quanh, thọ hưởng năm thiên dục trưởng dưỡng một cách đầy đủ, một cách sung mãn. Vị ấy thấy người gia chủ hay con người gia chủ đang thọ hưởng năm dục trưởng dưỡng một cách đầy đủ, một cách sung mãn. Này Magandiya, Ông nghĩ thế nào? Thiên tử ấy, được chúng Thiên nữ vây quanh, thọ hưởng năm thiên dục trưởng dưỡng một cách đầy đủ, một cách sung mãn, vị ấy có ước vọng được như người gia chủ ấy, hay con người gia chủ ấy; hay năm dục trưởng dưỡng thuộc loài Người, hay trở lui về với các dục thuộc loài Người?
  – Không có vậy, thưa Tôn giả Gotama! Vì sao vậy? Vì thiên dục, thưa Tôn giả Gotama, là kỳ diệu hơn, là vi diệu hơn nhân dục.
  – Cũng vậy, này Magandiya, Ta thuở trước, khi còn là tại gia, Ta hưởng thụ một cách đầy đủ, một cách sung mãn, các dục trưởng dưỡng, các sắc pháp do mắt nhận thức, khả ái, khả hỷ, khả lạc, khả ý, liên hệ đến dục, hấp dẫn, các tiếng do tai nhận thức… các hương do mũi nhận thức… các vị do lưỡi nhận thức… các xúc do thân nhận thức, khả ái, khả hỷ, khả lạc, khả ý, liên hệ đến dục, hấp dẫn. Rồi Ta sau một thời gian, sau khi như chơn biết được sự tập khởi, sự diệt trừ, vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly của các dục, sau khi đoạn tận dục ái, sau khi trừ diệt nhiệt não của các dục, Ta trú với khát ái được đoạn trừ, với nội tâm an tịnh. Rồi Ta thấy các chúng sanh khác chưa xả ly tham ái đối với các dục, đang bị các dục ái nhai nghiến, đang bị dục nhiệt não thiêu đốt, đang chạy theo các dục. Ta không ước vọng được như họ; ở đây, Ta không ham thích. Vì sao vậy? Vì rằng, này Magandiya, có hỷ lạc này, ly dục, ly bất thiện pháp, sau khi chứng đạt Thiên lạc, được an trú, hoan hỷ trong hỷ lạc ấy. Ta không ao ước cái gì thấp kém; ở đây Ta không ham thích”6.
  Tóm lại, những  ai nỗ lực tu thiền theo  lời Phật dạy thì cần lắng nghe và nắm bắt thật kỹ kinh nghiệm  hay bí quyết đối trị và chiến thắng dục vọng này của Ngài. Vì đây chính là kinh nghiệm tu tập hết sức căn bản của Đức Phật, đã từng bước đưa Ngài rời xa các phiền muộn khổ đau, hệ quả của dục vọng hay tham-sân-si, từng bước giúp Ngài nâng cao cảm thức sáng suốt và an lạc trong cuộc sống, từng bước giúp Ngài phát  triển chánh  tinh tấn (sammà-vàyàma), chánh niệm (sammà-sati) và chánh định (sammà-samàdhi) để cuối cùng đạt đến chánh trí (sammà-nàna) và chánh giải thoát (sammà-vimutti).
                                                                                     Đạo Tâm
 

Thứ Bảy, 4 tháng 1, 2014

TỰ DO THẬT SỰ NHỜ GIẢI THOÁT KHỎI DỤC VỌNG


                                                      Tự do thật sự nhờ giải thoát khỏi dục vọng
    Có hai thứ tự do trong cuộc đời này: tự do thỏa mãn các dục vọng và tự do thoát khỏi những dục vọng. Tự do thật sự là giải thoát khỏi dục vọng chứ không bao giờ là tự do thỏa mãn dục vọng.
   Nền văn hóa phương Tây hiện đại chỉ công nhận loại tự do đầu tiên, tự do thỏa mãn dục vọng. Và nó tôn thờ loại tự do ấy bằng cách đưa lên trang đầu các bản hiến pháp và tuyên ngôn nhân quyền.
   Người ta có thể nói rằng tín điều căn bản của hầu hết các nền dân chủ phương Tây là cố hết sức bảo vệ quyền tự do thỏa mãn mọi dục vọng của con người. Nhưng điều đáng chú ý là trong những đất nước như thế người ta không cảm thấy tự do cho lắm.
  Loại tự do thứ hai là tự do thoát khỏi dục vọng, chỉ được ca ngợi trong một vài cộng đồng tôn giáo. Ở đó người ta ca ngợi sự bằng lòng, bình an, giải thoát. Điều đáng chú ý là ở những nơi thanh bần như thế, như ở tu viện của chúng tôi, người ta cảm thấy tự do.
 Các bạn mong muốn thứ tự do nào?
  Một hôm có hai vị sư người Thái được mời thọ trai ở nhà một cư sĩ. Trong phòng khách nơi họ được mời vào và ngồi chờ có một bể nuôi nhiều loại cá.

  Vị sư nhỏ tuổi hơn tỏ ý không bằng lòng vì việc nuôi cá trong bể là không hợp với giáo lý từ bi của Phật giáo. Việc ấy cũng giống như nhốt cá vào tù vậy. Lũ cá đã làm gì đáng phải bị giam giữ trong một nhà tù bằng kính như vậy? Chúng cần được tự do bơi lội trong dòng sông hay ao hồ tùy thích.
 Tuy nhiên, vị sư thứ hai không đồng ý. Vị ấy lý giải rằng, quả là những con cá ấy không được tự do theo đuổi sở thích riêng của chúng, nhưng sống trong bể thì chúng thoát khỏi nhiều mối nguy cơ. Rồi vị ấy liệt kê ra các loại tự do ấy như thế này:
  1. Có bao giờ quí vị thấy người đi câu buông câu trong một bể cá trong nhà? Chưa! Vậy thì tự do đầu tiên mà những con cá kia có được là không bị người đi câu đe dọa. Hãy tưởng tượng hoàn cảnh của cá trong tự nhiên.
  Khi chúng thấy một con sâu béo mập hay một con ruồi ngon lành chúng không thể biết chắc là đớp mồi có an toàn hay không. Chắc chắn là chúng đã từng trông thấy bà con hay bạn bè nuốt một con sâu trông ngon lành rồi đột nhiên biến mất khỏi cuộc đời của chúng vĩnh viễn.
  Đối với một con cá trong tự nhiên, việc ăn chất chứa nhiều nỗi hiểm nguy và thường kết thúc một cách bi thảm. Bữa ăn đem đến tai họa. Ắt hẳn con cá nào cũng bị chứng khó tiêu mãn tính do luôn luôn lo lắng, và con nào bị bệnh thần kinh hoang tưởng chắc là nhịn đói tới chết luôn.
  Cá trong tự nhiên có thể bị mắc bệnh tâm thần hết. Còn cá trong bể được tự do khỏi mối hiểm nguy này.
  2. Cá trong tự nhiên thường lo bị cá lớn nuốt. Thời buổi này ở nhiều sông, lội ngược dòng vào ban đêm ắt hẳn không còn an toàn như trước! Thế nhưng không có người nuôi nào lại thả những con cá lớn vào để ăn những con cá mình nuôi. Vậy thì những con cá trong bể thoát khỏi mối hiểm nguy bị cá lớn ăn thịt.
  3. Trong tự nhiên, có những lúc cá có thể không tìm được thức ăn. Còn cá trong bể thì như thử sống gần một nhà hàng vậy. Cứ ngày hai lần, bữa ăn đầy đủ chất dinh dưỡng được giao đến tận nơi, còn hơn là đặt mua bánh pizza giao tại nhà vậy vì không phải trả tiền. Cho nên những con cá trong bể không bị cái đói đe dọa.
  4. Khi bốn mùa thay đổi, sông hồ phải chịu những nhiệt độ khắc nghiệt. Vào mùa đông thì lạnh buốt, có thể bị băng tuyết che phủ. Vào mùa hè có thể rất nóng, thậm chí là nước bị cạn khô. Còn cá trong hồ thì cứ như ở trong phòng có máy điều hòa hai chiều. Nhiệt độ trong bể luôn được giữ không thay đổi và dễ chịu suốt ngày, quanh năm suốt tháng. Như thế, con cá trong bể có được tự do thoát khỏi thời tiết nóng lạnh thất thường.
  5. Trong tự nhiên, khi cá bị bệnh, chẳng có ai săn sóc, điều trị. Còn cá trong bể thì được bảo hiểm y tế. Khi có ốm đau, chủ nhà liền mời thầy thuốc đến khám bệnh, mà cũng không cần phải đi bệnh viện nữa. Như thế con cá trong bể được tự do khỏi mối nguy cơ không có bảo hiểm y tế.
  Vị sư lớn tóm tắt lại lập luận của mình. Làm thân cá trong bể được hưởng nhiều thuận lợi. Quả thật là chúng không được tự do theo đuổi các sở thích của mình và bơi đi đây đi đó, nhưng chúng thoát khỏi nhiều mối hiểm nguy và nỗi khó chịu.
  Vị sư lớn tiếp tục giải thích rằng đời sống của những người sống cuộc đời đạo hạnh cũng như thế. Quả thật là họ không được tự do theo đuổi những dục vọng và thỏa mãn những mong muốn này nọ, nhưng họ thoát khỏi nhiều mối hiểm nguy và nhiều điều khó chịu. Còn bạn muốn thứ tự do nào?
  Một hôm, một vị sư ở tu viện của chúng tôi được thỉnh đi dạy thiền ở trong một nhà tù mới gần Perth, nơi mà tình hình an ninh được kiểm soát hết sức chặt chẽ. Một nhóm tù nhân đã trở nên quen biết và kính trọng thầy ấy. Vào cuối một thời pháp thoại, họ bắt đầu hỏi thầy về nếp sống hằng ngày trong một tu viện Phật giáo.

  Thầy trả lời: “ Buổi sáng chúng tôi thức dậy lúc 4 giờ. Đôi khi cũng lạnh lắm vì phòng chúng tôi không có máy sưởi. Chúng tôi ăn mỗi ngày một bữa, tất cả thức ăn đều bỏ chung vào một bình bát. Vào buổi chiều và tối chúng tôi không ăn. Dĩ nhiên là cũng không có chuyện sex hoặc rượu chè. Chúng tôi cũng không có vô tuyến truyền hình, truyền thanh, hay âm nhạc. Chúng tôi không bao giờ xem phim, mà cũng không chơi thể thao. Chúng tôi nói ít, làm việc nhiều, và dành thời gian rảnh ngồi tọa thiền, theo dõi hơi thở. Chúng tôi ngủ trên sàn nhà.”
  Những người tù tỏ ra hết sức ngạc nhiên về sự kham khổ của nếp sống tu hành. So sánh với tu viện, thì nhà tù hết sức nghiêm nhặt này trở thành một khách sạn năm sao. Quả thật, một người tù đã quá thương cảm hoàn cảnh thanh bần của vị sư đồng môn của tôi đến độ quên khuấy là mình đang ở đâu và anh ta chợt nói, “ Sống trong tu viện cực khổ quá. Hay thầy đến ở đây với chúng con đi!”
  Mọi người trong phòng ai cũng bật cười. Tôi cũng bật cười khi nghe thầy ấy kể lại câu chuyện. Rồi tôi bắt đầu suy nghĩ: Quả thật tu viện của tôi kham khổ hơn cả nhà tù khắc nghiệt nhất, tuy nhiên nhiều người tự nguyện đến đây và họ cảm thấy hạnh phúc.
  Trong khi đó, nhiều người lại muốn thoát khỏi nhà giam kia, và không cảm thấy hạnh phúc ở đó. Tại sao như thế? Bởi vì các thầy muốn sống ở tu viện, còn phạm nhân thì không muốn ở tù. Sự khác nhau là ở chỗ đó.
  Bất cứ nơi nào mà bạn không muốn ở thì dù cho có tiện nghi đến đâu chăng nữa, đối với bạn, nó cũng là một nhà tù. Đây là ý nghĩa thật sự của chữ “tù”.
  Nếu bạn đang làm một công việc mà mình không thích thì bạn cũng đang ở tù. Nếu bạn đang có một mối quan hệ mà mình không mong muốn thì các bạn cũng đang ở tù. Nếu các bạn đang ở trong một thân thể ốm đau bệnh hoạn mà bạn không muốn thì thân thể ấy cũng là một nhà tù đối với bạn.
  Nhà tù là bất cứ một hoàn cảnh nào mà bạn không muốn mà lại dính mắc vào. Vậy thì làm thế nào chúng ta có thể thoát khỏi các nhà tù của cuộc đời?
  Dễ thôi. Hãy thay đổi quan niệm về hoàn cảnh mà bạn đang sống. Thậm chí là ở ngay nhà tù San Quentin, hay thua một chút là ở tu viện của chúng tôi đi, mà bạn thấy muốn sống ở đó thì nơi ấy không còn là một nhà tù đối với bạn nữa.
  Bằng cách thay đổi quan niệm về công việc, về mối quan hệ, về thân thể ốm đau, bằng cách chấp nhận hoàn cảnh thay vì không ưa muốn, thì nó không còn là một nhà tù nữa.
  Khi các bạn bằng lòng thì các bạn được tự do. Tự do là bằng lòng với nơi chốn mình đang ở. Nhà tù là nơi mình không muốn ở. Thế giới tự do là thế giới mà người bằng lòng sinh sống.
  Tự do thật sự là giải thoát khỏi dục vọng chứ không bao giờ là tự do thỏa mãn dục vọng.

                                                                                   Trần Ngọc Bảo trích dịch


 

Thứ Sáu, 3 tháng 1, 2014

AI DỄ ĐỘT TỬ VỀ ĐÊM ?

       Brugada còn được gọi bằng một số thuật ngữ như “hội chứng đột tử ban đêm”, “hội chứng đột tử chưa rõ nguyên nhân”... là bệnh có tính chất di truyền, với biểu hiện chủ yếu là những bất thường về hệ thống dẫn truyền của tim dẫn tới rối loạn nhịp tim.
   Hiện nay, người ta đã tìm ra nguyên nhân của những rối loạn về dẫn truyền của hệ thần kinh tim là đột biến ở gen SCN5A, nằm tại nhiễm sắc thể 3p21. Gen này điều hoà kênh natri ra vào tế bào. Khi bị đột biến, natri ra vào tế bào bị ảnh hưởng dẫn tới những rối loạn dẫn truyền trong cơ tim.
   Không dấu hiệu báo trước
   Vào những năm 1980, đột tử về đêm không giải thích được là một hội chứng có tần suất cao ở các nước Đông Nam Á, người ta phát hiện những người đàn ông trẻ di cư từ các nước này sang Mỹ bị chết đột ngột trong lúc ngủ nhưng trước đó hoàn toàn khoẻ mạnh và không có bệnh tim thực thể. Sau đó, ở đầu thập niên 1990 bệnh này được mô tả ở Thái Lan, Philippines, Nhật… Do đó, bệnh lý này có tên Lai Tai theo tiếng Thái hoặc Bangunguttheo theo ngôn ngữ Philippines, hoặc Pokkuri theo tiếng Nhật - đều mang nghĩa là “chết đột ngột khi ngủ đêm”. Hội chứng này được xem là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong ở đàn ông trẻ Thái Lan và là thách thức lớn đến nền y tế và xã hội nước này. Sau nhiều năm nghiên cứu, người ta thấy rằng đột tử về đêm xảy ra ở khắp nơi trên thế giới.
   Tần suất mắc hội chứng Brugada hiện chưa có con số chính xác nhưng theo một số báo cáo, tỷ lệ mắc hội chứng này vào khoảng 5/10.000 dân. Tỷ lệ này cao hơn ở người Nhật Bản, vùng Đông Nam Á như Lào, Thái Lan. Về giới tính, nam giới mắc hội chứng Brugada nhiều hơn nữ 8 – 10 lần.
    Nhiều người mắc hội chứng Brugada do không có triệu chứng nên không được chẩn đoán phát hiện, cho đến khi có biểu hiện loạn nhịp hoặc ngất khi làm điện tâm đồ. Biểu hiện của bệnh thường là những cơn đánh trống ngực, nhịp tim không đều. Những cơn ngất không rõ nguyên nhân, không theo một chu kỳ nào, đôi khi là những biểu hiện sớm và duy nhất khiến bệnh nhân phải đến khám bệnh. Nhiều trường hợp bệnh nhân ngừng tim đột ngột dẫn đến tử vong khi đang làm việc và cả khi nghỉ ngơi. Như vậy, hội chứng Brugada hết sức nguy hiểm nếu không được phát hiện và xử trí kịp thời.
   Cho đến nay, việc xác định xem bệnh nhân hay có những cơn ngất hoặc đánh trống ngực có phải do hội chứng này gây ra hay không thường không có gì khó khăn. Trong đa số các trường hợp, bệnh nhân sẽ được làm điện tim để xác định hình ảnh tổn thương đặc trưng của hội chứng Brugada cũng như loại trừ loạn nhịp tim do các nguyên nhân khác. Siêu âm tim cũng có thể được kết hợp để chẩn đoán các bệnh lý khác của tim có thể gây loạn nhịp. Trong trường hợp hình ảnh điện tim không rõ ràng, một số test như tiêm thuốc có thể được dùng để xác định chẩn đoán. Một số bệnh nhân có thể được chỉ định theo dõi điện tim 24 giờ liên tục để tìm kiếm những cơn loạn nhịp xuất hiện đột ngột ở bất cứ thời điểm nào trong ngày.
   Khó điều trị, không thể dự phòng
   Mặc dù cơ chế bệnh sinh đã được hiểu rõ, nhưng cho tới nay, việc điều trị triệt căn hội chứng Brugada vẫn bất khả. Bởi hội chứng này làm xuất hiện những cơn loạn nhịp tim, ngừng tim do rung thất nên các phương pháp điều trị tập trung vào việc cho các thuốc chống loạn nhịp hoặc cấy máy phá rung tự động. Máy phá rung được cấy trên ngực bệnh nhân sẽ tự nhận biết khi có hiện tượng rung thất xảy ra và phá rung bằng xung điện (sốc điện) theo một lập trình cài đặt sẵn để đưa nhịp tim về bình thường. Khi đã được cấy máy phá rung (nhất là các thế hệ máy hiện đại), hiện tượng đột tử ở bệnh nhân mắc hội chứng Brugada giảm nhiều.
   Dự phòng hội chứng Brugada là điều không thể vì đây là bệnh có tính di truyền. Việc có thể làm là kiểm tra những người có thân nhân cùng huyết thống có hội chứng Brugada hoặc đột tử không rõ nguyên nhân. Những bệnh nhân có những cơn ngất bắt buộc phải được khám, làm điện tim và các phương pháp cận lâm sàng khác nếu cần để loại trừ bệnh tim mạch trong đó có hội chứng Brugada.



TheoTS.BS Vũ Đức Định

Trưởng khoa hồi sức tích cực
Bệnh viện E Trung ương

Thứ Năm, 2 tháng 1, 2014

TỰ TỊNH KỲ Ý-THỊ CHƯ PHẬT GIÁO



                                                              Tự tịnh  kỳ ý -Thị chư Phật giáo
                                                         ( Giữ tâm trong sạch-Đó lời Phật dạy)

Giới Luật
    Giới luật được đặt ra để giúp hành giả tu tâm sửa tánh, tránh những điều lầm lỗi đưa đến đau khổ cho mình và kẻ khác. Thọ giới nhiều là điều rất tốt nhưng nhiều khi không nhớ hết để mà giữ.
Giới luật tuy nhiều nhưng ta có thể tóm tắt lại trong một giới sau đây : 

                            Không nghĩ xấu và nói xấu kẻ khác
   Không nghĩ xấu và nói xấu kẻ khác tức là tu tâm và tu miệng.
   Ở đời ai cũng muốn hạnh phúc sung sướng, nhưng sao cứ gặt hái mãi khổ đau ? Ðó chỉ vì chúng ta không chịu tu sửa tận gốc (tức là sửa tâm ý mình), mà chỉ chú trọng hình thức bề ngoài. 
      Trong Kinh Pháp Cú, phẩm Song Yếu có nói :
   "Tâm dẫn đầu các pháp và làm chủ mọi hành động. Nếu nói hay làm với tâm ô nhiễm, khổ đau sẽ theo nghiệp kéo đến như bánh xe lăn theo chân con vật kéo."

   Chúng ta muốn an vui hạnh phúc nhưng luôn phạm phải lỗi lầm to lớn nhất đó là : nghĩ xấu và nói xấu kẻ khác. Khi khởi một ý nghĩ xấu về ai thì ý nghĩ xấu đó nằm trong tâm của chính ta. Khi nói lời xấu ác thì lời nói đó nằm ngay nơi miệng của ta trước hết. Vì nghĩ xấu kẻ khác nên chúng ta nghi ngờ và xem họ là thù địch, rồi ghét bỏ họ. Vì ta nói xấu kẻ khác nên họ thù ghét lại ta. Từ nghĩ xấu và nói xấu sẽ đưa đến hành động xấu ác tức là tạo nghiệp. Do đó nếu muốn tránh tạo ác nghiệp thì ta phải tu ngay từ trong tâm, giữ tâm trong sạch vắng lặng, trau dồi bốn đức tính tốt (từ bi hỷ xả) và giữ gìn cái miệng, ít nói chuyện thị phi, tốt xấu của kẻ khác, mỗi khi mở miệng thì chỉ nói lời ái ngữ và sự thật, còn không thì nên im lặng. Giữ gìn được tâm và miệng trong sạch thì chắc chắn hành động sẽ tốt lành.
   Chúng ta hay thích thọ giới nhiều, học kinh luận cao siêu nhưng lại bỏ sót những điều rất căn bản và giản dị. Ðúng như Ô Sào Thiền Sư nói :

Chư ác mạc tác
Chúng thiện phụng hành
Tự tịnh kỳ ý
Thị chư Phật giáo.
Ðừng làm điều ác
Gắng làm việc lành
Giữ tâm trong sạch
Ðó lời Phật dạy.

"Con nít lên ba cũng biết, nhưng ông già tám mươi làm cũng không xong."
    Giới luật tuy nhiều nhưng ta hãy bắt đầu bằng giữ cho tâm và miệng trong sạch thì tất cả giới khác sẽ tự nhiên trong sạch.
                                                                                              Thích Trí Siêu
 
 

Thứ Ba, 31 tháng 12, 2013

CHÚC MỪNG NĂM MỚI


SÁU CÂU CHUYỆN CƯỜI ẨN CHỨA NHỮNG BÀI HỌC THÂM THÚY VỀ CUỘC SỐNG

                            6 câu chuyện cười ẩn chứa những bài học thâm thúy về cuộc sống
    Bài học 1:
      Anh chồng bước vào phòng tắm ngay sau khi vợ anh vừa tắm xong và có tiếng chuông cửa reo. Cô vợ vội vàng quấn khăn tắm quanh người và chạy ra mở cửa. Cửa mở và anh chàng hàng xóm Bob đang đứng đó. Cô chưa kịp nói lời nào thì Bob đã nhanh nhảu: “Tôi sẽ đưa cho cô 8 triệu nếu cô gỡ chiếc khăn tắm ra.” Sau khi suy nghĩ và đắn đo một hồi, cô vợ gỡ chiếc khăn tắm và đứng trước mặt Bob không mảnh vải che thân.
     Sau vài giây, Bob đưa cô 8 triệu và ra về. Cô vợ quấn lại chiếc khăn quanh người và bước vào phòng tắm. Anh chồng hỏi: ” Ai thế em?” “Anh Bob ở nhà kế bên đó mà” cô vợ trả lời. “Àh” anh chồng nói tiếp “Thế Bob có đem trả anh 8 triệu anh ấy nợ anh không em?”.
    Bài học rút ra từ câu truyện: Nếu bạn chia sẻ mọi thông tin quan trọng liên quan đến tiền bạc và những rủi ro với cổ đông, đồng nghiệp và người thân của bạn đúng lúc, bạn có thể sẽ tránh được những tổn thất nghiêm trọng.
    Bài học 2:
     Một nhân viên bán hàng, một thư kí và một giám đốc cùng nhau ra ngoài ăn trưa. Họ bất ngờ phát hiện ra một chiếc đèn dầu cổ. Khi họ chà xát để lau chùi bụi bám lên chiếc đèn, thì bất ngờ Thần Đèn hiện ra. Thần Đèn nói: “Ta sẽ tặng các con mỗi người một điều ước. Ai trước nào?” “Con trước, con trước” cô thư kí lanh lẹ, “Con muốn được ở Bali lướt sóng mà không cần quan tâm, lo lắng đến bất cứ việc gì trên đời này!” Bùm.. Cô biến mất. “Con kế tiếp, con kế tiếp” anh nhân viên bán hàng nôn nóng, “Con muốn được nằm dài trên bờ biển Hawaii, có nhân viên mát xa riêng, uống thỏa thích cocktail cùng với người yêu của con.” Bùm.. Anh cũng biến mất. “Còn con?” Thần Đèn hỏi anh giám đốc, anh ước: “Con muốn 2 người đó quay lại phòng làm việc sau giờ nghỉ trưa.”
     Bài học rút ra từ câu truyện: Luôn luôn để sếp của bạn phát biểu trước.
   Bài học 3:
   Một vị linh mục cho một bà sơ quá giang. Bà sơ bước vào xe và vô tình làm rách áo choàng do bất cẩn bị vướng vào cửa xe, để lộ ra phần chân trắng nõn nà. Vị linh mục gần như mất kiểm soát tay lái khi nhìn thấy cảnh đó. Sau khi chấn tĩnh lại, ông lén lút để tay mình lên đùi bà sơ. Bà sơ phản ứng lại: “Cha à, Cha nhớ đoạn Psalm 129 trong Kinh Thánh chứ?”. Nghe vậy, vị linh mục bèn rút tay lại. Một lát sau, vị linh mục lại để tay lên đùi bà sơ một lần nữa. Bà sơ một lần nữa nhắc nhở: “Cha à, xin Cha nhớ đoạn Psalm 129 trong Kinh Thánh.” Vị linh mục phân trần: “Xin lỗi sơ, thân xác thật là yếu đuối.” Về đến tu viện, bà sơ xuống xe. Khi về đến nhà thờ, vị linh mục vội vã lật Kinh Thánh tìm câu Psalm 129. Nó có nội dung như sau: “Đi tới và tìm kiếm, tiến sâu hơn, con sẽ tìm thấy vinh quang.”
   Bài học rút ra từ câu truyện: Nếu bạn không giỏi và thông thạo công việc mình làm, bạn có thể đánh mất một cơ hội tốt.
   Bài học 4:
   Một con quạ đang đậu trên một cành cây và chẳng thèm làm gì nguyên ngày. Con thỏ thấy thế bèn hỏi: “Mình có thể ngồi một chỗ và không làm gì như bạn được không nhỉ?” Con quạ trả lời: “Được chứ, sao lại không.” Thế là con thỏ ngồi bên dưới cái cây con quạ đậu và nằm ngủ. Một lát sau, con cáo vồ tới con thỏ và ăn thịt nó.
   Bài học rút ra từ câu truyện: Để ngồi chơi hưởng lợi, bạn phải “ngồi” trên một vị trí rất cao.
   Bài học 5:
    Một con gà tây tán gẫu với con bò: “Mình rất thích leo lên được ngọn của cái cây kia.” gà tây thở dài, “Nhưng không đủ sức.” Con bò góp ý: “Vậy thử “nhấm nháp” chất thải của mình xem sao? Chúng chứa rất nhiều chất dinh dưỡng!” Gà tây gặm một miếng phân bò và đúng thật là nó cung cấp cho chú nhiều chất dinh dưỡng đủ để leo lên nhánh thấp nhất của cái cây đó. Ngày kế tiếp, sau khi thưởng thức thêm phân bò, gà tây leo lên được nhánh thứ hai. Cuối cùng sau bốn đêm leo trèo, gà tây đã chễm chệ ngồi trên ngọn cây cao nhất.          Nhưng chưa tận hưởng được niềm vui chiến thắng bao lâu, gà tây đã bị bắn chết bởi người nông dân khi ông phát hiện ra nó.
   Bài học rút ra từ câu truyện: Những chuyện nhảm nhí, vô nghĩa (Bullshit) có thể đưa bạn lên đỉnh cao, nhưng nó sẽ không giữ bạn ở vị trí đó.
  Bài học 6:
  Chú chim nhỏ đang bay về miền Nam tránh rét. Trời quá lạnh đến nỗi chú lạnh cóng và rơi xuống khu đất của một nông trại. Khi chú chim đang nằm thoi thóp, một con bò đi ngang qua và vô tình thải phân của mình lên chú chim. Khi nằm trong đống phân bò, chú bắt đầu nhận ra phân bò thiệt là ấm! Chú chim nằm đó, ấm áp đầy hạnh phúc trong đống phân bò, và chú bắt đầu cất tiếng ca vì vui mừng. Một con mèo đi ngang nghe tiếng chim hót liền chạy tới thám thính. Đi theo âm thanh của tiếng hót, nó phát hiện ra chú chim trong đống phân bò. Nó kéo chú chim ra khỏi đống phân và ăn thịt.
    Bài học rút ra từ câu truyện:
1. Không phải tất cả những ai ném phân vào bạn đều là kẻ thù của bạn
2. Không phải tất cả những ai kéo bạn ra khỏi đống phân đều là bạn của bạn.
3. Và khi bạn đang ở sâu trong đống phân, điều hay nhất nên làm là khép miệng mình lại!
                                                                                             Nguồn Internet

Chủ Nhật, 29 tháng 12, 2013

Thứ Bảy, 28 tháng 12, 2013

"LIVE TOO SHORT" -CÂU NÓI CỦA NGƯỜI 90 TUỔI ĐÃ TRẢI ĐỜI


                                                                                        " Live Too Short "
                                                                         Câu nói ca người 90 tui đã tri đi
 Life is too short. Don’t waste time hating anyone.
(Cuộc đời quá ngắn ngủi. Đừng phí thì giờ ghét bỏ ai làm gì.)
  Only friends and family will be present in sickness. Stay in touch.
(Chỉ có gia đình và bạn bè bên cạnh khi đau ốm. Nhớ gần gũi.)
  You don’t need to win every argument. Agree to disagree.
(Không cần thắng trong mọi cuộc tranh luận. Hãy chấp nhận bất đồng.)
Crying is good, but it’s more healing crying with friends.
(Khóc cũng tốt, nhất là khi khóc với bạn bè.)
 Release your children when they become adults, its their life now.
(Hãy buông con cái ra khi chúng trưởng thành. Bây giờ chúng có cuộc sống riêng.)
  Make peace with your past so it won’t screw up the present.
(Hãy để yên quá khứ để hiện tại không bị xáo trộn.)
 Don’t compare your life to others. They have different journeys.
(Đừng đem đời mình so với ai đó; đời mỗi người mỗi khác)
  Everything can change in the blink of an eye.
(Mọi chuyện ở đời có thể thay đổi trong chớp mắt)
. Take a deep breath. It calms the mind.
(Hít thở sâu giúp tinh thần ổn định)
 Get rid of anything that is neither useful, beautiful, nor joyful.
(Hãy gạt bỏ những gì vô ích, xấu xa, buồn bã)
 What doesn’t kill you really makes you stronger.
(Điều gì không giết ta được sẽ giúp ta mạnh hơn)
Today is special. Enjoy it.
(Ngày hôm nay là ngày đặc biệt. Phải tận hưởng nó)
Your belief of your being right doesn’t count. Keep an open mind.
(Đừng tin rằng mình luôn luôn đúng. Phải có đầu óc cỏ̉i mỏ̉)
  Forgive everyone everything.
(Hãy tha thứ tất cả cho mọi người)
 What other people think of you is none of your business.
(Đừng bận tâm về nhận xét của ai đó về mình)
 Time heals almost everything. Give time time.
(Thời gian hàn gắn gần như mọi sự. Hãy để cho thời gian có thì giờ)
 However good or bad a situation is, it will change.
(Tình thế dù tốt hay xấu, rồi cũng thay đổi)
 Don’t take yourself so seriously. No one else does.
ừng quá nghiêm khắc với bản thân. Không ai làm như vậy)
 Believe in miracles.
(Hãy tin vào phép lạ)
It’s OK to yield.
( Nhường nhịn một chút cũng không sao)
 Friends are the family that we choose.
(Bạn bè là gia đình do chúng ta chọn) 
                                                   From Regina Brett, 90 years old…   
                                                                                  Nguồn Internet 
 

Thứ Sáu, 27 tháng 12, 2013

PHẬT Ở ĐÂU?

                                                                                     Tâm hiếu là tâm Phật
                                                                                     Hạnh hiếu là hạnh Phật
                                                                                                      Kinh Phật dạy

                                                                                                   Phật ở đâu?
  Thuở xưa, có anh chàng đọc kinh nghe nói về Phật, thích lắm, quyết định đi tìm gặp Ngài bằng được. Anh chàng khăn gói quả mướp ra đi. Sau khi trải qua không biết cơ man nào là núi sông, thành phố, hầm hố gian nguy hiểm trở... Chàng vẫn chưa gặp được Phật giống như hình dạng trong Kinh đã diễn tả.
"Thân Phật sắc vàng, cao một trượng sáu, đầy đủ ba mươi hai tướng tốt, tám mươi vẻ đẹp, hào quang chói sáng. "
   Một hôm tại một sườn non, chàng trai tình cờ gặp một cụ già râu tóc bạc phơ, cốt cách siêu phàm, mừng quá, chàng khẩn khoản:
- Thưa cụ, cụ có biết Phật đang ngụ ở đâu không... Xin chỉ dùm cho con với.
  Ông lão mĩm cười:
- Ồ! Chỗ nào mà không có Phật... Trên quãng đường vừa qua, chả lẽ con không gặp được Ngài ư...
- Thưa cụ, trên đường đi con đã từng gặp vô số người, nhưng đều là hạng phàm phu tục tử cả. Con chưa từng thấy người nào có được vài tướng tốt như trong kinh đã mô tả về Phật cả.
   Ông cụ cười ha hả:
- Cháu ngốc nghếch thật, cháu không biết rằng cái thân đầy đủ ba mươi hai tướng tốt và tám mươi vẻ đẹp đó người Ấn Độ đã đốt thành tro và chia nhau xây tháp thờ cúng cả rồi ư...
- Thưa, thế thì Phật chết rồi sao...
- Hiện giờ Đức Phật đang phân thân ở khắp mọi nơi. Ngài cũng mang thân tốt và xấu như chúng sinh vậy. Con có còn muốn gặp Ngài nữa không...
- Thưa, dù bất cứ với hình dáng nào, nếu đích thật là Ngài thì con vẫn vô cùng khát ngưỡng.
- Vậy thì, để ta mách nước cho con nhé... Con hãy quay về, trên đường về nếu con gặp người nào mang guốc trái ở chân phải, guốc phải ở chân trái thì người đó chính là một hóa thân của Phật. Hãy thừa sự và cúng dường vị Phật ấy như trong kinh đã dạy.
  Chàng trai hối hả quay về. Suốt quãng đường dài, chàng không gặp Đức Phật nào mà hình dạng như cụ già diễn tả. Chán nản, chàng đi luôn về nhà. Trời đã khuya, bà mẹ còn chong đèn ngồi đợi con. Nghe tiếng gọi cửa bà mừng quá, quờ quạng tìm đôi guốc rồi chống gậy tất tả ra mở cửa.
  Chàng trai thấy mẹ tiều tụy, nước mắt chảy dài trên đôi má nhăn nheo, mang lộn chiếc guốc trái qua chân phải, guốc phải sang chân trái. Chàng ôm chầm lấy mẹ nghẹn ngào: "Ôi Đức Phật yêu quí của con. "


Thứ Tư, 25 tháng 12, 2013

TÔN GIÁO NÀO TỐT NHẤT


  Đây là một mẫu đối thoại ngắn giữa Thần học gia người Brazil, Leonardo Boff, và Đức Đạt Lai Lạt Ma…
  Tại một cuộc hội thảo bàn tròn về “Tôn giáo và tự do” có Đức Đạt Lai Lạt Ma và tôi cùng tham dự. ...
  Lúc tạm nghỉ, tôi hỏi ngài vừa tinh nghịch vừa tò mò:
“Thưa ngài, tôn giáo nào tốt nhất? ”
  Tôi nghĩ ngài sẽ nói: “ Phật giáo Tây tạng ” hoặc “ Các tôn giáo phương Đông, lâu đời hơn Ki-tô giáo nhiều ”.
  Đức Đạt Lai Lạt Ma trầm ngâm giây lát, mỉm cười và nhìn vào mắt tôi…
  Điều này làm tôi ngạc nhiên vì tôi biết đây là một câu hỏi ranh mãnh.
  Ngài trả lời:
“ Tôn giáo tốt nhất là tôn giáo đưa anh đến gần Đấng tối cao nhất. Là tôn giáo biến anh thành con người tốt hơn ”.
  Để giấu sự bối rối của tôi trước 1 câu trả lời đầy khôn ngoan như thế, tôi hỏi:
“ Cái gì làm tôi tốt hơn? ”
  Ngài trả lời:
“ Tất cả cái gì làm anh
    Biết thương cảm hơn
    Biết theo lẽ phải hơn
    Biết từ bỏ hơn
    Dịu dàng hơn
    Nhân hậu hơn
    Có trách nhiệm hơn
    Có đạo đức hơn ”.
“ Tôn giáo nào biến anh thành như vậy
Là tôn giáo tốt nhất ”.
   Tôi thinh lặng giây lát, lòng đầy thán phục, ngay cả bây giờ, khi nghĩ đến câu trả lời đầy khôn ngoan và khó phản bác:
“ Anh bạn tôi ơi! Tôi không quan tâm đến tôn giáo của anh hoặc anh có ngoan đạo hay không.-
  Điều thật sự quan trọng đối với tôi là cách cư xử của anh đối với người đồng đẳng, gia đình, công việc, cộng đồng và đối với thế giới.
  Hãy nhớ rằng vũ trụ dội lại hành động và tư tưởng của chúng ta.
  Quy luật của hành động và phản ứng không chỉ dành riêng cho vật lý.
  Nó cũng được áp dụng cho tương quan con người.
  Nếu tôi ở hiền, thì tôi gặp lành,
  Nếu tôi gieo gió, thì tôi gặt bão.
  Những gì ông bà nói với chúng ta là sự thật thuần túy.
  Chúng ta luôn nhận được những gì chúng ta mong muốn cho người khác.
  Hạnh phúc không phải là vấn đề số mệnh.
Đó là vấn đề lựa chọn.”
  Cuối cùng Ngài nói:
“Hãy suy tư cẩn thận vì Tư tưởng sẽ biến thành Lời nói,
  Hãy ăn nói cẩn thận vì Lời nói sẽ biến thành Hành động,
  Hãy hành xử cẩn thận vì Hành động sẽ biến thành Thói quen,
  Hãy chú trọng Thói quen vì chúng hình thành Nhân cách,
  Hãy chú trọng Nhân cách vì nó hình thành Số mệnh,
  Và Số mệnh của anh sẽ là Cuộc đời của anh.
… và …
" Không có Tôn giáo nào Cao Trọng hơn Sự thật."
                                                                tustus st
                                                     (nguồn:
http://gnuhel.wordpress)

 

Chủ Nhật, 22 tháng 12, 2013

BỮA TIỆC ĐÊM TRONG NHÀ VỆ SINH


                                                        


      Chị là Oshin – người giúp việc nhà cho một ông chủ ngoại ngũ tuần, rất giàu có. Đêm xuống, xong việc, vội vàng về với đứa con trai nhỏ 5 tuổi suốt ngày ngóng đợi trong căn nhà tồi tàn..
Hôm ấy, chủ nhà có lễ lớn, mời rất nhiều bạn bè quan khách đến dự tiệc đêm. Ông chủ bảo : Hôm nay việc nhiều, chị có thể về muộn hơn không? Thưa được ạ, có điều đứa con trai nhỏ quá, ở nhà tối một mình lâu sẽ sợ hãi. Ông chủ ân cần: Vậy chị hãy mang cháu đến cùng nhé.

     Chị mang theo con trai đến. Đi đường nói với nó rằng : Mẹ sẽ cho con đi dự tiệc đêm. Thằng bé rất háo hức. Nó đâu biết là mẹ làm Oshin là như thế nào kia chứ! Vả lại, chị cũng không muốn cho trí tuệ non nớt của nó phải sớm hiểu sự khác biệt giữa người giàu kẻ nghèo. Chị âm thầm mua 2 chiếc xúc xích.

     Khách khứa đến mỗi lúc mỗi đông. Ai cũng lịch sự. Ngôi nhà rộng và tráng lệ… Nhiều người tham quan, đi lại, trò chuyện. Chị rất bận không thường xuyên để mắt được đến đứa con nhếch nhác của mình. Chị sợ hình ảnh nó làm hỏng buổi lễ của mọi người. Cuối cùng chị cũng tìm ra được cách : đưa nó vào ngồi trong phòng vệ sinh của chủ… đó có vẻ như là nơi yên tĩnh và không ai dùng tới trong buổi tiệc đêm nay. Đặt 2 miếng xúc xích vừa mua để vào chiếc đĩa sứ, chị cố lấy giọng vui vẻ nói với Con : Đây là phòng dành riêng cho con đấy, nào tiệc đêm bắt đầu! Chị dặn con cứ ngồi yên trong đó đợi chị đón về. Thằng bé nhìn “căn phòng dành cho nó” thật sạch sẽ thơm tho, đẹp đẽ quá mức mà chưa từng được biết. Nó thích thú vô cùng, ngồi xuống sàn, bắt đầu ăn xúc xích được đặt trên bàn đá có gương, và âm ư hát… tự mừng cho mình.

    Tiệc đêm bắt đầu. Người chủ nhà nhớ đến con trai chị, gặp chị đang trong bếp hỏi. Chị trả lời ấp úng: Không biết nó đã chạy đi đằng nào… Ông chủ nhìn chị làm thuê như có vẻ giấu diếm khó nói. Ông lặng lẽ đi tìm… Qua phòng vệ sinh thấy tiếng trẻ con hát vọng ra, ông mở cửa, ngây người: Cháu nấp ở đây làm gì ? Cháu biết đây là chỗ nào không ? Thằng bé hồ hởi : Đây là phòng ông chủ nhà dành riêng cho cháu dự tiệc đêm, mẹ cháu bảo thế, nhưng cháu muốn có ai cùng với cháu ngồi đây cùng ăn cơ!

    Ông chủ nhà thấy sống mũi mình cay xè, cố kìm nước mắt chảy ra, ông đã rõ tất cả, nhẹ nhàng ngồi xuống nói ấm áp: Con hãy đợi ta nhé. Rồi ông quay lại bàn tiệc nói với mọi người hãy tự nhiên vui vẻ, còn ông sẽ bận tiếp một người khác đặc biệt của buổi tối hôm nay. Ông để một chút thức ăn trên cái đĩa to, và mang xuống phòng vệ sinh. Ông gõ cửa phòng lịch sự… Thằng bé mở cửa… Ông bước vào: Nào chúng ta cùng ăn tiệc trong căn phòng tuyệt vời này nhé. Thằng bé vui sướng lắm. Hai người ngồi xuống sàn vừa ăn ngon lành vừa chuyện trò rả rích, lại còn cùng nhau nghêu ngao hát nữa chứ… Mọi người cũng đã biết. Liên tục có khách đến ân cần gõ cửa phòng vệ sinh, chào hỏi hai người rất lịch sự và chúc họ ngon miệng, thậm chí nhiều người cùng ngồi xuống sàn hát những bài hát vui của trẻ nhỏ… Tất cả đều thật chân thành, ấm áp!

    Nhiều năm tháng qua đi… Cậu bé đã rất thành đạt, trở nên giàu có, vươn lên tầng lớp thượng lưu trong xã hội. Nhưng không bao giờ quên giúp đỡ những người nghèo khó chăm chỉ. Một điều quan trọng đã hình thành trong nhân cách của anh: Ông chủ nhà năm xưa đã vô cùng nhân ái và cẩn trọng bảo vệ tình cảm và sự tự tôn của một đứa bé 5 tuổi như thế nào…
                                                                             ( Nguyên Tác: Chu Hải Lượng – TQ)

Thứ Năm, 19 tháng 12, 2013

ĐÁNH GIÁ ĐÚNG SỰ ÂN CẦN

                                                                       ĐÁNH GIÁ ĐÚNG SỰ ÂN CẦN
                                                 Khi con đói và khát, bà cho con thức ăn và uống,
                                                 khi con lạnh, là áo quần;
                                                 khi con không có gì, bà cho con mọi thứ đáng giá.
                                       - Tông Khách Ba, Đại Luận Con Đường Tiệm Tiến - Lamrim[1]
                                                                                       ***
    Các chính quyền bây giờ sử dụng những kỷ thuật phức tạp để truy tầm các kẻ có thể gây ra rắc rối, nhưng những kẻ khủng bố vẫn tiếp diễn.  Bất kể kỷ thuật là phức tạp như thế nào, phía đối kháng vẫn đáp ứng được.  Sự phòng vệ hiệu quả chỉ có thể là bên trong.  Điều này có thể nghe như ngu ngơ, nhưng phương thức duy nhất để chấm dứt khủng bố là lòng vị tha.  Vị tha có nghĩa là có một sự quan tâm căn bản đến người khác và hiểu rõ giá trị của người khác, là điều đến từ việc nhận ra lòng ân cần tử tế của họ đối với chúng ta.
   Trong bước thứ hai này chúng ta quán chiếu trên sự ân cần mà những người khác ban cho chúng ta một cách cá nhân khi qua dòng diễn biến của những kiếp sống, họ đã là cha mẹ chúng ta và ta là một đứa con.  Áp dụng sự quán chiếu này đến mỗi lần chạm trán, chúng ta sẽ thấy rằng tất cả chúng sinh đã biểu lộ lòng ân cần một cách bình đẳng đến chúng ta hoặc là trong kiếp sống này hay trong những kiếp sống khác.
                                                               Thiền quán
    Trong bước trước, chúng ta quán tưởng và nhận ra những người khác như những thân hữu của chúng ta, và bây giờ có thể trở nên chính niệm về lòng ân cần của họ khi họ là những thân hữu bậc nhất của chúng ta.  Một lần nữa, có thể dễ dàng nhất cho chúng ta bắt đầu với chính bà mẹ của chúng ta trong kiếp sống này, vì bà hầu như là người nuôi dưỡng chính yếu của chúng ta.  Nhưng nếu bà ta không làm thế, hay nếu mối quan hệ của chúng ta phức tạp, hãy liên hệ đến bất cứ  người nào có công nhất trong việc làm cho chúng ta trưởng thành trong kiếp sống này như một biểu tượng để quán chiếu, quy vào sự thiền tập theo đây như thích đáng: