Thứ Tư, 8 tháng 1, 2014

TRƯỜNG ĐẠI HỌC TỐT NHẤT ĐÓ LÀ SỰ NGHÈO ĐÓI


                                                             Trường đại học tốt nhất đó là sự nghèo đói
    Câu chuyện về ý chí phấn đấu, vươn lên đầy hoài bão này đã thực sự lay động lòng người. Và hơn hết, đó còn là câu chuyện về đức hi sinh của người mẹ. Đã có rất nhiều website đăng tải lại câu chuyện cảm động mà tiến sĩ An Kim Bằng (Jinpeng An), người Trung Quốc, tốt nghiệp toán học tại Đại học Harvard, kể về người mẹ nghèo của mình.
   “Mẹ ít văn hoá, nhưng mẹ nhớ khi nhỏ được thầy giáo dạy là, Golgi có nói một câu: Nghèo đói là trường đại học tốt nhất. Nếu con có thể tốt nghiệp trường đại học này, thì những trường đại học như Thiên Tân, Bắc Kinh con chắc chắn đều đỗ…”.
   Ngày 5/9/1997, là ngày tôi rời gia đình đi nhập học ở Đại học Bắc Kinh, khoa Toán. Ngọn khói bếp dài cất lên từ trên nóc ngôi nhà nông dân cũ nát gia đình tôi. Người mẹ chân thập thễnh của tôi đang nấu mì sợi cho tôi, những bột mì này có được nhờ mẹ đổi năm quả trứng gà cho hàng xóm, chân mẹ bị thương vì mấy hôm trước, để thêm tí tiền cho tôi nhập học, mẹ đẩy một xe chất đầy rau từ thôn ra thị trấn, trên đường bị trật chân.
   Bưng bát mì, tôi đã khóc. Tôi buông đũa quỳ xuống đất, xoa nắn chỗ chân sưng phồng lên to hơn cả cái bánh bao của mẹ, nước mắt rơi xuống đất… Nhà tôi ở Thiên Tân, làng Đại Hữu Đới, huyện Vũ Thanh, tôi có một người mẹ tốt nhất thế gian tên là Lý Diệm Hà. Nhà tôi vô cùng nghèo khó.
   Khi tôi ra đời, bà nội ngã bệnh ngay trên giường sưởi, tôi bốn tuổi, ông nội lại mắc bệnh hẹp khí quản và bán thân bất toại, những món nợ trong nhà lớn dần theo năm. Khi bảy tuổi, tôi được đi học, học phí là mẹ vay người khác. Tôi thường đi nhặt những mẩu bút chì bạn bè vứt đi, dùng dây buộc nó lên một cái que rồi viết tiếp, hoặc dùng một cái dây chun xoá sạch những cuốn vở bài tập đã viết, rồi viết lại lên đó, mẹ thương tôi đến mức, cũng có lúc đi vay vài hào của hàng xóm để mua vở và bút chì cho tôi. Nhưng cũng có những khi mẹ vui vẻ, là khi bất kể bài kiểm tra nhỏ hay kỳ thi lớn, tôi luôn đứng đầu, toán thường được 100/100 điểm. Dưới sự khích lệ của mẹ, tôi càng học càng thấy ham thích. Tôi thực sự không hiểu trên đời còn có gì vui sướng hơn được học hành.
   Chưa đi học lớp một tôi đã thông thạo cộng trừ nhân chia và phân số, số phần trăm; khi học Tiểu học tôi đã tự học để nắm vững Toán Lý Hoá của bậc Trung học Phổ thông; Khi lên trung học, thành phố Thiên Tân tổ chức kỳ thi vật lý của bậc Trung học, tôi là đứa học trò nông thôn duy nhất của cả năm huyện ngoại thành Thiên Tân được giải, một trong ba người đỗ đầu. Tháng 6 năm đó, tôi được đặc cách vào thẳng trường Trung học số 1 danh tiếng của Thiên Tân, tôi vui sướng chạy như bay về nhà.
   Nào ngờ, khi tôi báo tin vui cho cả nhà, mặt bố mẹ chất chứa toàn những đau khổ; bà nội vừa mất nửa năm, ông nội đang gần kề cái chết, nhà tôi đã mắc nợ tới hơn mười nghìn Nhân dân tệ rồi. Tôi lặng lẽ quay về bàn học, nước mắt như mưa suốt một ngày. Đến tối, tôi nghe thấy ở ngoài nhà có tiếng ồn ào. Thì ra mẹ tôi đang định dắt con lừa con của nhà đi bán, cho tôi đi học, nhưng ba tôi không chịu. Tiếng ồn ào làm ông nội nghe thấy, ông đang bệnh nặng, trong lúc buồn bã ông đã lìa đời. Sau lễ an táng ông nội, nhà tôi lại mắc thêm vài nghìn tệ tiền nợ nữa.
   Tôi không còn dám nhắc đến việc đi học nữa, tôi cất “Giấy báo nhập học” thật kỹ vào vỏ gối, hàng ngày tôi ra đồng làm việc cùng mẹ. Sau hai hôm, tôi và ba tôi cùng lúc phát hiện ra: con lừa con biến mất rồi. Ba tôi sắt mặt lại, hỏi mẹ tôi:
  - Bà bán con lừa con rồi à? Bà bị thần kinh à? Sau này lấy gì kéo, lương thực hoa màu bà đẩy xe tay nhé, bà tự cõng nhé? Bà bán lừa một hai trăm bạc liệu cho nó học được một học kỳ hay là hai học kỳ?
   Hôm đó mẹ tôi khóc, mẹ tôi dùng một giọng rất dữ dội rất hung dữ để gào lại ba tôi:
   - Con cái mình đòi đi học thì có gì sai? Nó thi lên được trường số 1 của thành phố nó là đứa duy nhất của cả huyện này đấy, tôi không thể để cho tiền đồ của nó bị lỡ dở được. Tôi sẽ dùng tay đẩy, dùng lưng vác, để cho nó đi học…
   Cầm sáu trăm tệ mẹ vừa bán lừa, tôi thật sự chỉ muốn quỳ xuống dập đầu trước mẹ. Tôi đã thích được học quá rồi, mà còn học tiếp, thì mẹ sẽ khổ sở bao nhiêu, vất vả bươn chải thêm bao nhiêu? Mùa thu năm đó tôi quay về nhà lấy áo lạnh, thấy mặt ba tôi vàng như sáp, gầy da bọc xương đang nằm trên giường sưởi. Mẹ bình thản bảo: “Có gì đâu, bị cảm, sắp khỏi rồi”. Ai ngờ, hôm sau tôi xem vỏ lọ thuốc của ba, thì thấy đó là thuốc ngăn ngừa tế bào ung thư phát triển. Tôi kéo mẹ ra ngoài nhà, khóc hỏi mẹ mọi chuyện là thế nào, mẹ bảo, từ sau khi tôi đi học, ba bắt đầu đi ngoài ra máu, ngày càng nặng lên.
   Mẹ va sáu nghìn tệ đưa ba lên Thiên Tân, Bắc Kinh đi khắp nơi, cuối cùng xác định là u nhu ruột bowel polyps, bác sĩ yêu cầu ba phải mổ gấp. Mẹ chuẩn bị đi vay tiền tiếp, nhưng ba kiên quyết không cho. Ông nói, bạn bè họ hàng đã vay khắp lượt rồi, chỉ vay mà không trả thì còn ai muốn cho mình vay nữa!
  Hàng xóm kể với tôi: Mẹ dùng một phương pháp nguyên thuỷ và bi tráng nhất để gặt lúa mạch. Mẹ không đủ sức gánh lúa mạch ra sân kho để tuốt hạt, mẹ cũng không có tiền thuê người giúp, mẹ bèn gặt dần, lúa mạch chín chỗ nào gặt chỗ đó, sau đó dùng xe cải tiến chở về nhà, tối đến mẹ trải một tấm vải nhựa ra sân, dùng hai tay nắm từng nắm lúa mạch đập lên một hòn đá to…Lúa mạch trồng trên ba mẫu đất của nhà, một mình mẹ làm, mệt đến mức không đứng dậy nổi nữa thì mẹ ngồi xổm xuống cắt, đầu gối quỳ còn chảy máu, đi đường cứ cà nhắc…Không đợi hàng xóm kể hết, tôi chạy như bay về nhà, khóc to gọi mẹ: “Mẹ, mẹ, con không thể đi học nữa đâu…”.
    Kết quả, mẹ vẫn tống tôi lên trường. Tiền sinh hoạt phí mỗi tháng của tôi chỉ 60 đến 80 tệ, thật thảm hại nếu so với những người bạn học khác mỗi tháng có 200-240 tệ. Nhưng chỉ mình tôi biết, món tiền nhỏ này mẹ tôi cũng phải tằn tiện lắm, từ ngày đầu tháng đã dành từng hào từng hào, bán từng quả trứng gà, rau xanh lấy từng đồng từng đồng, có lúc dành dụm không đủ đã phải giật tạm vài đôi chục. Mà cha tôi, em trai tôi, dường như chẳng bao giờ có thức ăn, nếu nhà ăn rau cũng chẳng dám xào mỡ, chỉ chan tí nước dưa muối ăn qua bữa. Mẹ không muốn tôi đói, mỗi tháng mẹ chăm chỉ đi bộ hơn mười cây số mua mì tôm với giá bán buôn.
   Rồi mỗi cuối tháng, mẹ vất vả cõng một túi nặng lên Thiên Tân thăm tôi. Trong túi ấy ngoài những gói mì tôm ra, còn có nhiều xếp giấy loại mẹ phải đi bộ ra một xưởng in ngoài thị trấn cách nhà 6km để xin cho tôi (đó là giấy để tôi làm nháp toán), cả một chai tương cay rất to, cải bẹ muối thái sợi, và cả một cái tông đơ để cắt tóc. (Cắt tóc nam rẻ nhất Thiên Tân cũng phải 5 tệ, mẹ muốn tôi dành tiền cắt tóc để mua thêm lấy vài cái bánh bao mà ăn).
   Khi nói, mẹ không nhìn tôi, mẹ nhìn xa xăm ra con đường đất ngoài kia, như thể con đường ấy dẫn tới tận Thiên Tân, tới Bắc Kinh.
   Tôi là học sinh cấp 3 duy nhất của Thiên Tân đến cả rau ở bếp ăn nhà trường cũng không mua nổi, chỉ có thể mua vài cái bánh bao, mang về ký túc ăn cùng mì sợi khô hoặc chấm với tương ớt, kẹp dưa muối để ăn qua bữa. Tôi cũng là học sinh duy nhất không có giấy kiểm tra, chỉ có thể tận dụng giấy một mặt của xưởng in để viết bài. Tôi là đứa học sinh duy nhất chưa bao giờ dùng xà phòng, khi giặt quần áo tôi thường đi nhà bếp xin ít bột kiềm nấu ăn (alkali - chất kiềm, dùng để hấp bánh bao, làm bánh nướng, làm nước sôđa) là xong. Nhưng tôi chưa bao giờ tự ti, tôi cảm thấy mẹ tôi khổ cực cả đời, như người anh hùng chống lại đói khổ, làm con của người mẹ như thế tôi rất tự hào. Hồi mới lên Thiên Tân, tiết học tiếng Anh đầu tiên khiến tôi ù cạc. Khi mẹ lên, tôi kể cho mẹ nghe tôi sợ tiếng Anh thế nào, ai ngờ mẹ chỉ cười bảo: “Mẹ chỉ biết con là đứa trẻ con khổ cực nhất, mẹ không thích con kêu khó, vì chịu khổ được thì chả còn gì khó nữa".
   Tôi hơi bị nói lắp, có người bảo, học tiếng Anh đầu tiên cần làm chủ được cái lưỡi của mình, bởi vậy tôi thường kiếm một hòn sỏi ngậm vào miệng mình, rồi gắng đọc tiếng Anh. Hòn sỏi cọ xát vào lưỡi tôi, có lúc máu chảy ra bên mép, nhưng tôi cố gắng để kiên trì. Nửa năm trôi qua, hòn sỏi nhỏ đã bị mài tròn đi, lưỡi tôi cũng đã nhẵn, tiếng Anh đã thành người giỏi thứ 3 của lớp. Tôi vô cùng cảm ơn mẹ, lời mẹ khích lệ tôi vượt qua khó khăn lớn trong học tập. Năm 1996, lần đầu tiên tôi được tham gia cuộc thi Olympic tri thức toàn quốc khu vực Thiên Tân, đoạt giải Nhất môn Vật lý và giải Nhì môn Toán học, tôi được đại diện Thiên Tân đi Hàng Châu tham gia Cuộc thi Olympic toàn Trung quốc môn Vật lý. “Đoạt lấy chiếc Cup giải Nhất toàn Trung quốc tặng mẹ, rồi lên đường dự Olympic Vật lý Thế giới!”.
   Tôi không ngăn được nỗi khao khát trong lòng, tôi viết thư báo cho mẹ tin vui và mơ ước của tôi. Kết quả, tôi chỉ được giải Nhì, tôi nằm vật ra giường, không ăn không uống. Dù tôi là người đạt thành tích cao nhất trong đoàn Thiên Tân đi thi, nhưng nếu tính cả những khốn khổ của mẹ tôi vào, thì thành tích này không xứng đáng! Tôi về trường, các thầy ngồi phân tích nguyên nhân thất bại cho tôi thấy: Tôi những muốn phát triển toàn diện cả Toán Lý Hoá, những mục tiêu của tôi quá nhiều nên sức lực tinh thần tôi phải phân tán rộng.
   Nếu giờ tôi chỉ chọn một mục tiêu trước mắt là kỳ thi Toán, nhất định tôi thắng. Tháng 1 năm 1997, tôi cuối cùng đã giành chiến thắng tại kỳ thi Olympic Toán toàn Trung Quốc với điểm số tuyệt đối, lọt vào đội tuyển Quốc gia, cả mười kỳ thi kiểm tra ở đội tuyển tôi đều là người đứng đầu. Với thành tích đó, tôi được sang Argentina tham gia kỳ thi Olympic Toán quốc tế. Nộp xong phí báo danh, tôi gói những sách vở cần chuẩn bị và tương đậu cay của mẹ lại, chuẩn bị lên đường. Giáo viên chủ nhiệm và thầy giáo dạy Toán thấy tôi vẫn mặc bộ quần áo thải của người khác cho, những thứ áo quần màu sắc chả đâu vào đâu, kích cỡ khác nhau, bèn mở tủ áo của tôi ra, chỉ vào những áo trấn thủ vá, những áo bông tay đã phải nối hai lần, vạt đã phải chắp ba phân, hỏi tôi:
   “Kim Bằng, đây là tất cả quần áo của em ư?
   Tôi chả biết nói sao, vội đáp: “Thầy ơi, em không sợ người khác chê cười! Mẹ em thường bảo, Phúc Hữu Thi Thư Khí Tự Hoa - trong lòng có sách vở tất mặt mũi sáng sủa, em mặc những thứ đồ này đi Mỹ gặp tổng thống Clintơn em cũng chẳng thấy ngượng".
   Ngày 27/7, Olympic Toán học Thế giới lần thứ 38 chính thức khai mạc. Chúng tôi thi liên tục suốt năm tiếng rưỡi, từ 8 giờ 30 phút sáng tới 2h chiều. Ngày hôm sau công bố kết quả, đầu tiên công bố Huy chương Đồng, tôi không muốn nghe thấy tên mình; Sau đó công bố Huy chương Bạc, cuối cùng, công bố Huy chương Vàng, người đầu tiên, người thứ hai, người thứ ba là tôi. Tôi khóc lên vì sung sướng, trong lòng tự nói: “Mẹ ơi, con mẹ thành công rồi!
   Tin tôi và một người bạn nữa đoạt Huy chương Vàng kỳ thi Olympic Toán học ngay chiều hôm đó đã được Đài phát thanh Nhân dân Trung ương TQ và Đài truyền hình Trung ương TQ đưa. Ngày 1/8, chúng tôi vinh quang trở về, lễ đón long trọng được Hiệp hội khoa học Trung Quốc và Hội Toán học Trung Quốc tổ chức. Khi đó, tôi muốn về nhà, tôi muốn sớm gặp mẹ, tôi muốn chính tay tôi đeo tấm huy chương vàng chói lọi lên cổ mẹ… Hơn mười giờ đêm tối hôm đó, tôi cuối cùng đã đội trời đêm về đến nhà. Người mở cửa là ba tôi, nhưng người một tay ôm chặt lấy tôi vào ngực trước lại chính là mẹ tôi.
    Dưới trời sao vằng vặc, mẹ tôi ôm tôi rất chặt…
   Tôi lấy tấm huy chương vàng đeo lên cổ mẹ, khóc một cách nhẹ nhõm và sung sướng. Ngày 12/8, trường Trung học số Một của Thiên Tân chật ních người, mẹ được ngồi lên bàn Chủ tịch danh dự cùng với các quan chức Cục giáo dục Thiên Tân và các giáo sư toán học hàng đầu. Hôm đó, tôi đã phát biểu thế này:
   “Tôi muốn dùng cả sự sống của tôi để cảm tạ một người, là người mẹ đã sinh và nuôi nấng tôi. Mẹ tôi là một người phụ nữ nông dân bình thường, nhưng những đạo lý mẹ dạy tôi nên người đã khích lệ tôi cả đời. Năm tôi học lớp 10, tôi muốn mua cuốn sách “Đại từ điển Anh-Trung” để học tiếng Anh, mẹ tôi không có tiền, nhưng mẹ vẫn nghĩ cách giúp tôi. Sau bữa cơm sáng, mẹ tôi mượn một chiếc xe cải tiến, chất một xe rau cải trắng, hai mẹ con tôi đẩy ra chợ huyện cách hơn bốn mươi km bán rau. Đến được chợ đã gần trưa, buổi sáng đó tôi và mẹ chỉ ăn hai bát cháo ngô nấu với khoai lang đỏ, lúc đó bụng đói cồn cào, chỉ mong có ai tới mua cho cả xe rau ngay.
   Nhưng mẹ vẫn nhẫn nại mặc cả từng bó, cuối cùng bán với giá 1 hào một cân. Hai trăm cân rau đáng lẽ 21 tệ, nhưng người mua chỉ trả 20 tệ. Có tiền rồi tôi muốn ăn cơm, nhưng mẹ bảo nên đi mua sách trước, đó là việc chính của ngày hôm nay. Chúng tôi đến hiệu sách hỏi, giá sách là 8 tệ 2 hào 5 xu, mua sách rồi còn lại 1 tệ 7 hào 5 xu. Nhưng mẹ chỉ cho tôi 7 hào rưỡi đi mua hai cái bánh bột nướng, một tệ kia còn phải cất đi để dành cho tôi làm học phí. Tuy ăn hết hai cái bánh nướng, nhưng đi bộ tiếp 40km về nhà, tôi vẫn đói tới mức hoa mắt chóng mặt, lúc này tôi mới nhớ ra tôi đã quên không phần cho mẹ ăn một miếng bánh nướng nào, mẹ tôi chịu đói cả ngày, vì tôi mà kéo xe suốt 80km đường xa. Tôi hối hận tới mức chỉ muốn tát cho mình một cái, nhưng mẹ tôi chỉ bảo: “Mẹ ít văn hoá, nhưng mẹ nhớ khi nhỏ được thầy giáo dạy là, Golgi có nói một câu: Nghèo đói là trường đại học tốt nhất. Nếu con có thể tốt nghiệp trường đại học này, thì những trường đại học như Thiên Tân, Bắc Kinh con chắc chắn đều đỗ".
   Khi mẹ nói thế mẹ không nhìn tôi, mẹ nhìn ra con đường đất xa xôi, cứ như thể con đường đất đó có thể thông tới tận Thiên Tân, đi thẳng tới Bắc Kinh. Tôi nghe mẹ bảo thế, tôi không thấy đói nữa, chân tôi không mỏi nữa…Nếu nghèo đói là trường đại học tốt nhất, thì tôi muốn nói rằng, "người mẹ nông dân của tôi chính là người thầy giáo giỏi nhất của đời tôi".
   Dưới khán đài, không biết có bao nhiêu đôi mắt đã ướt đẫm, tôi quay về phía người mẹ tóc hoa râm của tôi, cúi người xuống kính cẩn…
                                                                                                        Nguồn Internet

 

Thứ Ba, 7 tháng 1, 2014

GANDHI NÓI VỀ ĐỨC PHẬT

                                                                       GANDHI NÓI VỀ ĐỨC PHẬT
     Mohandas Karamchand Gandhi
              [1869-1948]
     Thường được tôn kính là Mahatma tức đại hồn hoặc thánh Gandhi.
    “Những thế hệ tương lai sẽ khó tin rằng có một con người như thế đã từng bước đi trên trái đất này bằng thịt xương máu mủ” .
                                                          Albert Einstein
   Tôi không ngần ngại tuyên bố rằng tôi mắc nợ rất nhiều cho niềm hứng khởi mà tôi đã rút ra được từ đời sống của đấng Giác Ngộ. Quan niệm trí tuệ không làm tôi thỏa mãn… Ngài là một đức Phật cầu nguyện. Hãy nhìn xem những pho tượng về Ngài. Đạo Phật là một bài cầu nguyện dài.
   Theo ý tôi, lời dạy của đức Phật Gautama (Cồ Đàm) không phải là một tôn giáo mới. Trong chừng mực mà tôi có thể nghiên cứu những giáo huấn cao cả đó, tôi đã đi đến kết luận, và kết luận đó tôi đã đạt được trước đây rất lâu, rằng Cồ Đàm là một trong những nhà cải cách lớn nhất của đạo Hindu, và Ngài đã để lại cho nhân dân đương thời của Ngài và cho những thế hệ tương lai một dấu ấn không thể phai mờ của sự cải cách đó.
   Trong văn hóa Hindu, tôi xin mạn phép đưa ra, văn hóa Phật giáo thiết yếu được bao gồm trong đó, bởi lí do đơn giản rằng chính đức Phật là một người Ấn Độ, không chỉ là một người Ấn Độ, mà còn là một người theo đạo Hindu giữa những tín đồ Hindu. Tôi chưa bao giờ thấy bất cứ điều gì trong đời đức Cồ Đàm củng cố cho niềm tin rằng Ngài đã từ bỏ đạo Hindu và theo một tín ngưỡng mới.
   Ý kiến có suy nghĩ chín chắn của tôi là phần thiết yếu trong giáo lí của đức Phật ngày nay hình thành một phần trọn vẹn trong đạo Hindu. Nước Ấn Độ theo đạo Hindu bây giờ không thể đi lại những bước chân của mình và lùi lại sau cuộc cách mạng lớn mà đức Cồ Đàm đã thực hiện trong đạo Hindu. Bằng sự hi sinh bao la của Ngài, bằng sự từ bỏ vĩ đại của Ngài, và bằng sự tinh khiết không bợn nhơ của cuộc đời mình, Ngài đã để lại một dấu ấn không thể phai mờ trong đạo Hindu, và đạo Hindu mang một món nợ tri ân vĩnh hằng đối với bậc Đại Đạo Sư đó.
   Ý kiến đinh ninh của tôi là đạo Phật hoặc nói đúng hơn sự giáo huấn của đức Phật đã tìm thấy kết quả tròn đầy ở Ấn Độ. Ngài chan chứa những thứ tinh hoa trong đạo Hindu, và Ngài làm sống lại một số những giáo lý đã bị chôn vùi trong kinh Vệ đà (Veda), đã bị cỏ dại mọc khuất lấp. Tinh thần đạo Hindu vĩ đại của Ngài cắt xuyên qua rừng rậm từ ngữ, những từ ngữ vô nghĩa, đã che phủ chân lý vàng ròng vốn nằm trong kinh Vệ đà. Ngài làm cho một số những từ ngữ trong kinh Vệ đà mang lại một ý nghĩa mà những người cùng thời với Ngài đã hoàn toàn lãng quên và Ngài tìm được ở Ấn Độ mảnh đất phù hợp nhất. Và bất cứ nơi nào Ngài tới, Ngài đều được những người thuộc đạo Hindu, những người bản thân thấm nhuần giáo luật Vệ đà đi theo và bao quanh chứ không phải là những người không thuộc đạo Hindu.
   Những lời dạy của đức Phật, giống như tâm của Ngài, mở rộng khắp và ôm choàng lấy tất cả, vì vậy mà nó đã tồn tại sau thân xác của Ngài và lan khắp trên địa cầu… Đức Phật chẳng bao giờ từ bỏ đạo Hindu, mà Ngài mở rộng nền tảng của nó, Ngài ban cho nó một đời sống mới và một sự thông giải mới.
   Tôi đã nghe tranh chấp rất nhiều lần và tôi đã đọc trong những sách tự nhận là biểu lộ tinh thần của đạo Phật, rằng đức Phật không tin vào thượng đế. Trong ý kiến khiêm tốn của tôi, một niềm tin như thế mâu thuẫn với sự kiện quả là trung tâm giáo lý của đức Phật. Sự hoang mang đã dấy lên từ việc Ngài bác bỏ, và bác bỏ một cách chính đáng, những điều thấp hèn mà trong thế hệ của Ngài được thông qua dưới tên của thượng đế. Không hồ nghi gì, Ngài bác bỏ quan niệm rằng một hữu thể gọi là thượng đế có thể hoạt động bằng ác ý, có thể sám hối về hành vi của mình, cũng giống như các vua chúa trên trái đất có thể mở lòng ra với các cám dỗ, hối lộ và có thể có những ưa chuộng riêng.
   Những luật của thượng đế là vĩnh hằng, không thể biến cải và không thể tách lìa với tự thân thượng đế. Đó là điều kiện không thể thiếu cho chính sự toàn hảo của Ngài. Vì vậy mà có sự hoang mang lớn về việc đức Phật không tin vào thượng đế và chỉ tin vào luật đạo đức.
   Vì sự hoang mang về tự thân thượng đế này mà nảy sinh sự hoang mang về cách hiểu chính đáng từ ngữ lớn lao là niết bàn (Nirvana). Niết bàn, không hồ nghi gì, đó chẳng phải là sự hủy diệt hoàn toàn. Trong chừng mực tôi hiểu được sự kiện trung tâm về cuộc đời đức Phật, niết bàn là sự hủy diệt hoàn toàn tất cả những gì thấp hèn trong chúng ta, tất cả những gì xấu xa trong chúng ta, tất cả những gì hủ bại và có thể hủ bại trong chúng ta. Niết bàn không giống như cái hòa bình chết chóc đen ngòm của nấm mồ, mà là cái hòa bình sống động, cái hạnh phúc sống động của một linh hồn tự thức và ý thức được việc đã tìm được nơi an trú cho chính mình trong tâm của cái vĩnh hằng.
   Sự đóng góp của đức Phật cho loài người rất là lớn lao ở việc Ngài phục hồi thượng đế vào vị trí vĩnh hằng của Ngài. Nhưng theo ý kiến của tôi, đóng góp còn lớn lao hơn nữa của đức Phật cho loài người là việc Ngài yêu cầu coi trọng toàn thể đời sống, dù có thấp hèn đến đâu.  
   Toàn thể tâm linh Ngài bừng lên chống đối với tín ngưỡng cho rằng một hữu thể gọi là thượng đế đòi hỏi thỏa mãn bằng máu tươi của động vật để Ngài có thể hài lòng, những động vật do chính Ngài tạo ra.
   Điều duy nhất mà đức Phật phô bày cho Ấn Độ là thượng đế không phải là một thượng đế có thể xoa dịu bằng cách hiến tế những con vật vô tội. Ngược lại, Ngài chủ trương những kẻ nào hiến tế thú vật với hi vọng làm đẹp lòng thượng đế là mắc một tội kép.
   Tôi sẵn sàng tuyên bố chống lại toàn thể người dân nước Ấn Độ theo đạo Hindu, làm như thế là sai trái, là tội lỗi, là tội ác khi hi sinh một con vật duy nhất với mục đích kiếm được bất cứ mục tiêu gì, hoặc vì ý đồ chuộc tội với thượng đế.
    Quý vị sẽ thấy rằng khi đức Đạo Sư nói: “Ta không cấm quý vị ăn thịt”, Ngài đang giảng cho những người dân, nói theo thuật ngữ Kitô giáo, bị cứng lòng. Chính vì Ngài muốn tránh chạm đến sự yếu đuối của họ mà Ngài cho phép họ ăn thịt, chứ không phải vì Ngài không hiểu tính luận lý trong lời dạy của chính Ngài. Nếu như có một vị thầy nào trên thế giới tha thiết với quy luật nghiêm khắc về nhân và quả, thì đó là đức Cồ Đàm.
    Đức Cồ Đàm dạy thế gian đối xử bình đẳng ngay cả với những sinh linh thấp bé nhất như với chính mình. Ngài chủ trương đời sống của những sinh vật bò, bay, máy, cựa trên trái đất cũng quý giá như chính đời sống của Ngài. Thật là kiêu mạn khi nói rằng con người là chúa tể và là chủ nhân của các tạo vật thấp kém hơn. Ngược lại, được phú bẩm cho những điều lớn hơn trong đời sống, con người là kẻ được giao phó chăm lo cho thế giới động vật thấp kém hơn. Và vị hiền nhân vĩ đại đã sống với chân lí ấy trong chính cuộc đời của Ngài. Khi tôi còn thiếu niên, tôi có đọc một đoạn văn trong cuốn Light of Asia (Ánh sáng châu Á) [tác giả là Edwin Arnold, thi hóa đời sống đức Phật, năm 1879], mô tả việc đức Thầy khoác con chiên lên vai đối diện với những vị bà la môn ngạo mạn và ngu dốt cứ ngỡ rằng bằng cách hiến tế máu của những con chiên vô tội này là họ làm đẹp lòng thượng đế. Và đức Phật đã thách thức họ hiến tế duy nhất một người nào trong bọn họ. Chính sự hiện diện của Ngài làm mềm lòng những trái tim cứng như đá của đám người bà la môn. Họ nhìn lên đức Phật, họ liệng những con dao chết chóc của họ đi và mọi con vật kia được cứu thoát.
   Đức Phật nói, nếu quý vị muốn làm bất cứ hiến tế nào, thì hãy hiến tế chính bản thân mình, lòng tham dục của mình, tất cả những ham muốn vật chất, tất cả những ham muốn thế gian. Đó sẽ là một sự hiến tế làm ta trở thành cao quý.
   Đường lối của Ngài là chính đạo, chính ngữ, chính tư duy, và chính hạnh. Ngài cho chúng ta luật từ bi không bị hạ thấp. Và như Ngài xác định phạm vi của luật này, vượt khỏi loài người. Tấm lòng từ ái của Ngài vô hạn, đi tới cả những loài vật thấp hèn nhất, tới đời sống hèn mọn nhất cũng giống như tới loài người. Và Ngài nhấn mạnh về sự tịnh khiết của đời sống.
   Một điều khác mà đức Cồ Đàm dạy là tất cả giai cấp thế tục theo nghĩa vào thời Ngài hay theo nghĩa ngày hôm nay, là hoàn toàn sai trái. Tức là nói rằng, Ngài hủy bỏ mọi sự phân biệt về thượng đẳng và hạ đẳng đã ăn sâu vào ruột gan của đạo Hindu. Nhưng Ngài không hủy bỏ Varnashramadharma [quy luật cư xử của người theo đạo Hindu, tuỳ theo địa vị lúc sinh ra đời, trong đó varna tức sắc tướng; ashrama tức giai đoạn trong đời hay; và dharma tức đạo pháp, cả từ này có nghĩa là đạo pháp cư xử theo trật tự xã hội lý tưởng] - Varna dharma không phải là giai cấp thế tục, gọi tắt là thế cấp. Tôi chủ trương rằng không có gì chung giữa thế cấp và Varna. Trong khi Varna đem lại đời sống thì thế cấp hủy diệt nó và tiện dân (paria) tức những kẻ không ai được đụng chạm tới (untouchable) là biểu hiện đáng khinh thường nhất của thế cấp. Vì vậy, các bạn phải trục xuất ý nghĩ không được chạm tới này khỏi chung quanh bạn. Tôi mong mỏi các bạn sẽ đi đúng những bước này để công bố rằng mọi người đều tuyệt đối bình đẳng với tất cả những người còn lại. Bạn đang chối bỏ đạo Phật, bạn đang chối bỏ nhân tính, chừng nào bạn còn coi một người độc nhất là một người không thể chạm tới.  
    Tôi xin mạn phép đề nghị với các bạn là việc học hỏi của các bạn về đạo Phật còn chưa trọn vẹn trừ khi các bạn học hỏi những nguồn gốc nguyên thủy mà đức Thầy đã rút ra hứng khởi, tức là, trừ khi bạn học chữ Sanskrit  và các kinh điển viết bằng chữ Sanskrit. Nhưng bổn phận của các bạn, nếu các bạn muốn hiểu tinh thần của đức Phật chứ không phải con chữ của đạo Phật, không chấm dứt ở đó. Sự học hỏi đó có những điều kiện mà tôi xin mô tả cho các bạn. Những điều kiện đó là một người đàn ông hoặc một người đàn bà tiếp cận việc học hỏi một tôn giáo thì việc đầu tiên là phải tuân thủ năm giới răn (yama). Đó là năm quy luật tự kiềm chế tôi xin nhắc lại: thứ nhất là brahmacharya, sự tịnh khiết; thứ hai là satya, sự thật; thứ ba là ahimsa, tuyệt đối vô hại, không làm thương tổn đến cả một con ruồi; điều kiện kế tiếp là asteya, không trộm cắp, không phải chỉ hiểu theo nghĩa thông thường, mà ngay cả khi bạn chiếm hữu hoặc đưa con mắt tham lam lên bất cứ thứ gì không phải của riêng mình, thì điều đó cũng trở thành trộm cắp. Cuối cùng là aparigraha tức là không muốn chiếm hữu sự giàu sang thế gian hoặc những thứ khác; một người muốn như thế không thực sự thích nghi để hiểu tinh thần của đức Phật.
    Không cần thiết cho tôi việc giải thích về một người dân đã cảm hứng với tinh thần đời sống đức Phật, rằng cuộc sống không phải là một chùm sự hưởng lạc, mà là một chùm bổn phận. Điểm tách biệt con người khỏi loài thú thiết yếu là ở việc con người nhìn nhận sự cần thiết phải đặt ra một chuỗi những giới răn cho việc hưởng thụ thế gian.
   Chớ bị hoa mắt bởi sự huy hoàng đến với các bạn từ phương Tây. Đừng bị ngã ngửa vì màn phô bày phù du này. Đấng Giác Ngộ đã nói với các bạn bằng những lời không bao giờ có thể quên được, rằng tuổi thọ của đời này chỉ là một cái bóng thoáng qua, một thứ chóng tàn, và nếu bạn có thể nhận thức được tính chất hư vô của tất cả những gì xuất hiện trước mắt bạn, thì tính không của trường hợp vật chất mà bạn thấy phía trước chúng ta luôn luôn là vô thường. Khi đó sẽ có những kho báu cho bạn ở bên trên, và hòa bình cho bạn ở dưới này, hòa bình vượt khỏi mọi hiểu biết và hạnh phúc mà chúng ta là những kẻ hoàn toàn xa lạ. Nó cần một niềm tin rất đỗi ngạc nhiên, một niềm tin thiêng liêng, và sự buông bỏ tất cả những thứ chúng ta thấy phía trước chúng ta.
   Những gì đức Phật đã làm, đức Kitô đã làm, và cả đức Mahomed đã làm? Đời họ là những cuộc đời hi sinh tự thân và buông bỏ. Đức Phật đã buông bỏ mọi hạnh phúc thế tục vì Ngài muốn san sẻ với toàn thế giới niềm hạnh phúc của Ngài, cũng là của những ai hi sinh và chịu đựng để kiếm tìm chân lý.
   Nếu một điều tốt là leo lên đỉnh núi Himalaya hi sinh những cuộc sống quý giá để có thể lên đến đó và làm một số điều tuân thủ nhỏ nhoi, nếu một điều vinh quang là từ bỏ kiếp này đến kiếp khác để cắm một ngọn cờ trên những đỉnh xa nhất của trái đất, thì còn vinh quang đến đâu nếu cho không phải là một cuộc đời, buông bỏ không phải một triệu cuộc đời mà là một tỉ cuộc đời để đi tìm kiếm chân lý có hiệu lực và không thể hư hoại? Vậy, đừng bị nghiêng ngả, đừng bị cuốn xa khỏi sự đơn sơ của tổ tiên các bạn. Một thời đang tới khi những ai đang điên cuồng rượt đuổi ngày hôm nay để nhân lên gấp bội các ham muốn của họ, suy nghĩ một cách vô bổ rằng họ làm tăng thêm bản chất có thật, hiểu biết có thật về thế giới, rồi sẽ lui bước và nói rằng chúng ta đã làm chi vậy? Các nền văn minh đã đến rồi đi và mặc dù tất cả sự tiến bộ được khoa trương của chúng ta, tôi muốn xin lập lại nhiều lần câu hỏi: “Với mục đích gì?”
   Những người làm tốt khi có đức Phật là đạo sư sẽ làm tốt để thăm dò những khả tính vô giới hạn của sự bất bạo động (ahimsa). Nó vô cùng lớn lao so với những châu ngọc và hột xoàn mà người ta hết sức quý báu. Nếu bạn sử dụng sự bất bạo động một cách khôn ngoan, nó có thể trở thành sự cứu giúp chính bạn và cứu giúp loài người.
   Bất bạo động là một sức mạnh vô cùng năng động khi được hiểu và sử dụng đúng đắn. Hoạt động của một con người bạo động thì nhìn rõ nhất, trong lúc nó thể hiện. Nhưng nó luôn luôn là thoáng qua, cũng thoáng qua như những sự chém giết của Thành Cát Tư Hãn. Nhưng những hiệu quả của hành động bất bạo động của đức Phật còn lại mãi và hẳn là sẽ tăng trưởng cùng với thời gian. Hành động bất bạo động càng được thực hành thì càng mang lại hiệu quả và càng không thể cạn kiệt; rốt cuộc cả thế giới sẽ đứng sững sờ và la lên: “một phép mầu đã xảy ra.”
   Châu Á có một thông điệp cho toàn thế giới, chỉ cần sống đúng với thông điệp đó. Có dấu ấn của ảnh hưởng Phật giáo trên toàn thể châu Á, bao gồm Ấn Độ, Trung Quốc, Nhật Bản, Miến Điện, Sri Lanka, và các nước Mã Lai. Để châu Á không phải hiện hữu chỉ cho châu Á mà cho toàn thế giới, thì châu Á cần phải học lại thông điệp của đức Phật và trao truyền thông điệp ấy cho toàn thế giới.
                                   The Way of the Buddha(Con đường của đức Phật)
                              Cục Xuất bản, Bộ Thông tin và Truyền bá, Chính phủ Ấn Độ
                                                                       Nguyễn Tiến Văn dịch

Thứ Hai, 6 tháng 1, 2014

BỐN NGỌN NẾN

 
Bốn ý tưởng hay cho cuộc sống:
   Nhìn lại phía sau & Có kinh nghiệm!
   Nhìn lên phía trước & Thấy hy vọng!
   Nhìn ra xung quanh & Tìm được thực tại!
   Nhìn vào bên trong & Tìm thấy chính mình!

Four beautiful thoughts of life:
   Look back & Get experience!
   Look forward & See hope!
   Look around & Find reality!
   Look within & Find yourself.

                                                                 Bốn ngọn nến
    Trong 1 căn phòng thing lặng có 4 ngọn nến đang cháy.
     Ngọn nến thứ nhất nói :
+Tôi là biểu tượng của hòa bình thế giới này rất cần tôi
     Ngọn nến thứ 2 nói:
+Tôi là biểu tượng của lòng trung thành hơn tất cả mọi người đều cần đến tôi.
     Ngọn nến thứ 3 lên tiếng:
+Tôi là biểu tượng của tình yêu,hãy tưởng tượng xem thế giới này sẽ ra sao nếu ko có tình yêu,thế giới thật sự rất cần đến tôi.
    Đột nhiên cánh cửa căn phòng mở tung 1 làn gió lùa vào thổi tắt cả 3 ngọn nến,câu bé chạy vào ngạc nhiên hỏi:
+Tại sao 3 ngọn nến lại tắt?
    Cậu bé òa lên khóc,lúc này ngọn nến thứ 4 mới lên tiếng:
+Đừng khóc cậu bé,khi nào tôi còn cháy sáng thì cậu vẫn còn có thể thắp sáng cả 3 ngọn nến kia lại bởi vì tôi chính là: HIỆN THÂN CỦA HY VỌNG
   Chúng ta có thể mất: hòa bình, lòng trung thành thậm chí cả tình yêu, nhưng chỉ cần còn giữ lại được niềm hy vọng thì ta vẫn có thể lấy lại được tất cả những thứ đã mất.
   Đừng bao giờ từ bỏ hy vọng.
   Lúc này cậu bé ko khóc nữa và cầm ngọn nến thứ 4 lần lượt thắp sáng cả 3 ngọn nến còn lại.
   Vậy mỗi chúng ta hãy cùng nhau thắp sáng niềm hy vọng trong thế giới đầy bóng tối của ích kỷ, ghen ghét, chiến tranh ,bất hòa, chia rẽ ,và thiếu vắng tình người này nhé, chúng ta hãy thắp lên ngọn nến chứ đừng ngồi đó mà nguyền rủa bóng tối.

                                                                             Nguồn Internet

 

 

Chủ Nhật, 5 tháng 1, 2014

HÀNH THIỀN TỨC LÀ SỐNG AN LẠC

                                                HÀNH THIỀN TỨC LÀ SỐNG AN LẠC
   Trong Kinh tạng Pàli, có một số văn đoạn nêu rõ kinh nghiệm hành thiền của Đức Phật, rất quan  trọng  và bổ ích cho việc hành  thiền của người Phật tử.
  Gia chủ Mahànàma đến thưa với Đức Phật:
– Bạch Thế Tôn, đã lâu rồi, con đã hiểu như thế này lời dạy của Thế Tôn: “Tham là cấu uế của tâm, sân là cấu uế của tâm, si là cấu uế của tâm”. Tuy vậy, đôi lúc các tham pháp chiếm cứ tâm con và an trú, các sân pháp chiếm cứ tâm con và an trú, các si pháp chiếm cứ tâm con và an trú. Bạch Thế Tôn, con tự suy nghĩ: “Pháp nào tự trong ta không đoạn trừ được, do vậy các tham pháp xâm nhập tâm ta và an trú, các sân pháp xâm nhập tâm ta và an trú, các si pháp xâm nhập tâm ta và an trú?”.
– Này Mahànàma, có một pháp trong Ông chưa được đoạn trừ, do vậy các tham pháp xâm nhập tâm Ông và an trú, các sân pháp xâm nhập tâm ta và an trú, các si pháp xâm nhập tâm Ông và an trú. Và này Mahànàma, pháp ấy trong Ông có thể đoạn trừ được, nếu Ông không sống trong gia đình, nếu Ông không thụ hưởng các dục vọng.
   Mẩu đối thoại trên giữa Đức Phật và gia chủ Mahànàma xác nhận một vấn đề rất thực tế, đó là đời sống người tại gia cư sĩ khó tránh khỏi các phiền não khổ đau do hệ lụy của đời sống gia đình, cụ thể là các dục vọng. Nói cách khác, dục vọng là đầu mối của mọi phiền muộn khổ đau; càng mơ hồ say đắm nó thì khổ não càng gia tăng, vì dục vọng là nguyên nhân khiến cho tham, sân, si – gốc rễ của phiền não khổ đau – dấy khởi và tăng trưởng.
  Dục vọng là ham muốn thái quá đối với các lạc thú thế gian như sắc đẹp, tiếng hay, hương thơm, vị ngon, cảm xúc êm dịu. Một cách hiểu khác, dục vọng chính là sự mê đắm đối với tiền tài vật chất (tài), danh vọng quyền lực (danh), sắc đẹp  khác phái (sắc), cao lương mỹ vị (thực), chăn gối êm ái (thùy). Nó biểu lộ qua việc khao khát tìm kiếm các khoái lạc trần tục (kàmasukha) mà khi đạt được thì tham tùy miên (ràgànusaya: lòng ham muốn tiềm ẩn trong con người) tùy tăng, và khi không đạt được hoặc có được rồi mà mất đi thì sân tùy miên (patighànusaya: tập khí giận dữ bực phiền tiềm ẩn trong con người) tùy tăng. Vì vậy, dục vọng là lý do khiến cho tham và sân không ngừng xâm chiếm và thiêu đốt tâm thức con người, làm cho con người cứ mãi quay cuồng  trong  thế  giới của những  cảm thức bấn  loạn hoặc lạc khổ hoặc vui buồn hoặc yêu ghét. Trong giáo lý đạo Phật, dục vọng được xem là con đẻ đồng thời là thức ăn của si hay vô minh. Chính vì thế mà Đức Phật đã gợi ý cho gia chủ Mahànàma cần phải hạn chế và rời xa dục vọng, vì còn thích thú thụ hưởng dục vọng thì tham, sân, si – gốc rễ của phiền não khổ đau – còn chiếm cứ tâm và an trú. Hơn thế, chính dục vọng hay sự ham muốn thái quá đối với các lạc thú thế gian là nguyên nhân của mọi rối loạn khổ đau xảy ra ở các bình diện khác nhau, từ các tranh chấp mang tính cá nhân cho đến các tranh chấp mang tính tổ chức như xung đột giữa các gia đình, giữa các đoàn thể xã hội hay giữa các cộng đồng quốc gia2.
  Chúng    ta    hiểu rằng    lòng    ham muốn   hưởng   thụ các lạc thú thế gian là  tâm  lý thường tình của con người. Nó là điều kiện sinh tồn  của  nhân  thế, nhưng  cũng chính nó là nguyên nhân khiến muôn vàn khổ  đau  nảy sinh trên cuộc đời, một khi con người không nhận ra mặt trái của lòng ham muốn và có thái độ ứng xử thích đáng. Hẳn nhiên, không ai có thể tồn tại trên cõi đời mà không dựa vào các “xúc cảm thế gian”. Nhưng con người sẽ khó tránh khỏi phiền muộn khổ đau, nếu chỉ một chiều chạy theo  lạc thú trần thế, xem đó là mục tiêu cứu cánh của nhân sinh. Dục vọng không có bến đỗ3. Càng mong  muốn  thỏa mãn thì con người càng trở nên  nghèo  đói, thiếu  thốn,  nô lệ cho dục vọng4. Chính vì vậy mà Đức Phật đã khuyến cáo: “các dục vui ít, khổ nhiều, não nhiều, sự nguy hiểm ở đây lại nhiều hơn,” và nêu rõ phương  pháp thực tập, giúp cho con người khắc phục và vượt qua sự chi phối của dục vọng.
  Theo kinh nghiệm của Đức Phật thì con người không thể khắc phục và chiến thắng dục vọng hay lòng ham muốn  các khoái lạc trần thế trừ phi có sự nhận  thức đúng đắn về nó và có sự chuyển hóa đời sống nội tâm, tức hành thiền. Ngài nêu rõ:
   “Này Mahànàma, nếu một vị Thánh đệ tử khéo thấy như vậy với như thật chánh trí tuệ: ‘Các dục, vui ít, khổ nhiều, não nhiều. Sự nguy hiểm ở đây lại nhiều hơn’, nhưng nếu vị này chưa chứng được hỷ lạc do ly dục, ly ác bất thiện pháp sanh, hay một pháp nào khác cao thượng hơn, như vậy vị ấy chưa khỏi bị các dục chi phối. Này Mahànàma, khi nào vị Thánh đệ tử khéo thấy như vậy với như thật chánh trí tuệ: ‘Các dục, vui ít, khổ nhiều, não nhiều. Sự nguy hiểm ở đây lại nhiều hơn’, và vị này chứng được hỷ lạc do ly dục, ly ác bất thiện pháp sanh hay một pháp nào cao thượng hơn, như vậy vị ấy không bị các dục chi phối. Này Mahànàma, thuở xưa, khi Ta còn là Bồ-tát, chưa chứng được Bồ-đề, chưa thành Chánh Đẳng Giác, Ta khéo thấy với như thật chánh trí tuệ: ‘Các dục vui ít, khổ nhiều, não nhiều, sự nguy hiểm ở đây lại nhiều hơn’, dầu Ta có thấy với như thật chánh trí tuệ như vậy, nhưng Ta chưa chứng được hỷ lạc do ly dục, ly ác bất thiện pháp sanh hay một pháp nào khác cao thượng hơn. Và như vậy Ta biết rằng Ta chưa khỏi bị các dục chi phối. Và này Mahànàma, khi nào Ta khéo thấy với như thật chánh trí tuệ: ‘Các dục, vui ít, khổ nhiều, não nhiều, sự nguy hiểm ở đây lại nhiều hơn’, và Ta chứng được hỷ lạc do ly dục, ly ác bất thiện pháp sanh hay một pháp nào khác cao thượng hơn, như vậy Ta khỏi bị các dục chi phối.”5
   Kinh nghiệm  của Đức Phật nói cho chúng  ta biết rằng chỉ một mình hiểu biết hay ý chí không  thôi thì không đủ để vượt qua bản năng dục vọng, mà tự thân phải thực tập nếp sống ly dục, ly các pháp  bất  thiện,  phải thực  hành thiền định, phải thực nghiệm cho được thiền lạc (hỷ lạc do ly dục sinh hay do định sinh…) thì các đòi hỏi bản năng mới được  khắc phục  và chuyển  hóa. Đây chính là bài học kinh nghiệm  hết sức quan trọng và thiết thực cho những ai mong muốn tìm kiếm con đường giải phóng khổ đau từ giáo pháp  của Đức Phật. Chúng ta hành thiền mỗi ngày nhưng chúng ta vẫn còn mơ hồ về dục vọng thì việc hành thiền của chúng ta sẽ không có kết quả. Chúng ta sẽ không thoát  khỏi phiền  muộn  khổ đau bởi chúng ta không khắc phục được sự ám ảnh và chi phối của dục vọng. Nói cách khác, chúng  ta chưa thấy hết sự tai hại của dục vọng, chưa rời bỏ được lòng đam  mê khoái lạc trần  thế, chưa thực nghiệm  được thiền lạc do ly dục sinh hay do định sinh; do đó chúng ta chưa chuyển hóa được nội tâm, chưa tìm thấy niềm hạnh  phúc tâm linh cụ thể và lớn lao để có thể thay thế hay hóa giải các ham muốn thế tục. Vì vậy,  muốn tu thiền cho có kết quả thì phải thực tập nếp sống ít ham muốn, phải hạn chế việc tìm cầu và thụ hưởng các khoái lạc trần thế. Vì căn bản của thiền là ly dục và kết quả cụ thể của hành thiền chính là thoát khỏi mọi ám ảnh và chi phối của dục vọng, thực nghiệm một đời sống thanh thản an lạc. Tiếp theo là kinh nghiệm chiến thắng  dục  vọng  của Đức Phật, nhờ  công  phu  hành thiền, thực nghiệm được hỷ lạc do ly dục sinh hay các thiền chứng cao hơn:
   “Này Magandiya, Ta thuở trước, khi còn là tại gia, Ta sống hưởng thụ một cách đầy đủ, một cách sung mãn, năm dục trưởng dưỡng, các sắc pháp do mắt nhận thức, khả ái, khả hỷ, khả lạc, khả ý, liên hệ đến dục, hấp dẫn. Các tiếng do tai nhận thức… các hương do mũi nhận thức… các vị do lưỡi nhận thức… các xúc do thân nhận thức, khả ái, khả hỷ, khả lạc, liên hệ đến dục, hấp dẫn. Này Magandiya, Ta có ba tòa lâu đài, một cho mùa mưa, một cho mùa đông, một cho mùa hạ. Này Magandiya, trong bốn tháng mùa mưa, Ta sống hưởng thụ trong lâu đài mùa mưa, được những nữ nhạc công giúp vui và không bước xuống khỏi lâu đài ấy. Rồi Ta sau một thời gian, sau khi như chơn biết được sự tập khởi, sự đoạn diệt, vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly của các dục vọng, sau khi đoạn tận dục ái, sau khi trừ diệt nhiệt não của các dục, Ta trú với khát ái được đoạn trừ, với nội tâm an tịnh. Rồi Ta thấy các chúng sanh khác, chưa xả ly tham ái đối với các dục, đang bị các dục ái nhai nghiến, đang bị dục nhiệt não thiêu đốt, đang chạy theo các dục. Ta không ước vọng được như họ; ở đây, Ta không ham thích. Vì sao vậy? Vì rằng, này Magandiya, có hỷ lạc này, ly dục, ly bất thiện pháp, sau khi chứng đạt Thiên lạc, được an trú, hoan hỷ trong hỷ lạc ấy. Ta không ao ước cái gì thấp kém; ở đây, Ta không ham thích.
   Ví như, này Magandiya, một gia chủ hay con một người gia chủ, giàu sang, tài vật nhiều, sở hữu nhiều, sống thọ hưởng một cách đầy đủ, một cách sung mãn, năm dục trưởng dưỡng, các sắc pháp do mắt nhận thức, khả ái, khả hỷ, khả lạc, khả ý, liên hệ đến dục, hấp dẫn, các tiếng do tai nhận thức… các hương do mũi nhận thức… các vị do lưỡi nhận thức… các xúc do thân nhận thức, khả ái, khả hỷ, khả lạc, khả ý, liên hệ đến dục, hấp dẫn. Vị ấy, sau khi làm thiện thân hành, sau khi làm thiện khẩu hành, sau khi làm thiện ý hành, khi thân hoại mạng chung, được sanh lên thiện thú, Thiên giới, cộng trú với chư Thiên ở cõi trời Ba mươi ba. Vị ấy ở đây, trong  rừng Nandana, được chúng Thiên nữ vây quanh, thọ hưởng năm thiên dục trưởng dưỡng một cách đầy đủ, một cách sung mãn. Vị ấy thấy người gia chủ hay con người gia chủ đang thọ hưởng năm dục trưởng dưỡng một cách đầy đủ, một cách sung mãn. Này Magandiya, Ông nghĩ thế nào? Thiên tử ấy, được chúng Thiên nữ vây quanh, thọ hưởng năm thiên dục trưởng dưỡng một cách đầy đủ, một cách sung mãn, vị ấy có ước vọng được như người gia chủ ấy, hay con người gia chủ ấy; hay năm dục trưởng dưỡng thuộc loài Người, hay trở lui về với các dục thuộc loài Người?
  – Không có vậy, thưa Tôn giả Gotama! Vì sao vậy? Vì thiên dục, thưa Tôn giả Gotama, là kỳ diệu hơn, là vi diệu hơn nhân dục.
  – Cũng vậy, này Magandiya, Ta thuở trước, khi còn là tại gia, Ta hưởng thụ một cách đầy đủ, một cách sung mãn, các dục trưởng dưỡng, các sắc pháp do mắt nhận thức, khả ái, khả hỷ, khả lạc, khả ý, liên hệ đến dục, hấp dẫn, các tiếng do tai nhận thức… các hương do mũi nhận thức… các vị do lưỡi nhận thức… các xúc do thân nhận thức, khả ái, khả hỷ, khả lạc, khả ý, liên hệ đến dục, hấp dẫn. Rồi Ta sau một thời gian, sau khi như chơn biết được sự tập khởi, sự diệt trừ, vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly của các dục, sau khi đoạn tận dục ái, sau khi trừ diệt nhiệt não của các dục, Ta trú với khát ái được đoạn trừ, với nội tâm an tịnh. Rồi Ta thấy các chúng sanh khác chưa xả ly tham ái đối với các dục, đang bị các dục ái nhai nghiến, đang bị dục nhiệt não thiêu đốt, đang chạy theo các dục. Ta không ước vọng được như họ; ở đây, Ta không ham thích. Vì sao vậy? Vì rằng, này Magandiya, có hỷ lạc này, ly dục, ly bất thiện pháp, sau khi chứng đạt Thiên lạc, được an trú, hoan hỷ trong hỷ lạc ấy. Ta không ao ước cái gì thấp kém; ở đây Ta không ham thích”6.
  Tóm lại, những  ai nỗ lực tu thiền theo  lời Phật dạy thì cần lắng nghe và nắm bắt thật kỹ kinh nghiệm  hay bí quyết đối trị và chiến thắng dục vọng này của Ngài. Vì đây chính là kinh nghiệm tu tập hết sức căn bản của Đức Phật, đã từng bước đưa Ngài rời xa các phiền muộn khổ đau, hệ quả của dục vọng hay tham-sân-si, từng bước giúp Ngài nâng cao cảm thức sáng suốt và an lạc trong cuộc sống, từng bước giúp Ngài phát  triển chánh  tinh tấn (sammà-vàyàma), chánh niệm (sammà-sati) và chánh định (sammà-samàdhi) để cuối cùng đạt đến chánh trí (sammà-nàna) và chánh giải thoát (sammà-vimutti).
                                                                                     Đạo Tâm
 

Thứ Bảy, 4 tháng 1, 2014

TỰ DO THẬT SỰ NHỜ GIẢI THOÁT KHỎI DỤC VỌNG


                                                      Tự do thật sự nhờ giải thoát khỏi dục vọng
    Có hai thứ tự do trong cuộc đời này: tự do thỏa mãn các dục vọng và tự do thoát khỏi những dục vọng. Tự do thật sự là giải thoát khỏi dục vọng chứ không bao giờ là tự do thỏa mãn dục vọng.
   Nền văn hóa phương Tây hiện đại chỉ công nhận loại tự do đầu tiên, tự do thỏa mãn dục vọng. Và nó tôn thờ loại tự do ấy bằng cách đưa lên trang đầu các bản hiến pháp và tuyên ngôn nhân quyền.
   Người ta có thể nói rằng tín điều căn bản của hầu hết các nền dân chủ phương Tây là cố hết sức bảo vệ quyền tự do thỏa mãn mọi dục vọng của con người. Nhưng điều đáng chú ý là trong những đất nước như thế người ta không cảm thấy tự do cho lắm.
  Loại tự do thứ hai là tự do thoát khỏi dục vọng, chỉ được ca ngợi trong một vài cộng đồng tôn giáo. Ở đó người ta ca ngợi sự bằng lòng, bình an, giải thoát. Điều đáng chú ý là ở những nơi thanh bần như thế, như ở tu viện của chúng tôi, người ta cảm thấy tự do.
 Các bạn mong muốn thứ tự do nào?
  Một hôm có hai vị sư người Thái được mời thọ trai ở nhà một cư sĩ. Trong phòng khách nơi họ được mời vào và ngồi chờ có một bể nuôi nhiều loại cá.

  Vị sư nhỏ tuổi hơn tỏ ý không bằng lòng vì việc nuôi cá trong bể là không hợp với giáo lý từ bi của Phật giáo. Việc ấy cũng giống như nhốt cá vào tù vậy. Lũ cá đã làm gì đáng phải bị giam giữ trong một nhà tù bằng kính như vậy? Chúng cần được tự do bơi lội trong dòng sông hay ao hồ tùy thích.
 Tuy nhiên, vị sư thứ hai không đồng ý. Vị ấy lý giải rằng, quả là những con cá ấy không được tự do theo đuổi sở thích riêng của chúng, nhưng sống trong bể thì chúng thoát khỏi nhiều mối nguy cơ. Rồi vị ấy liệt kê ra các loại tự do ấy như thế này:
  1. Có bao giờ quí vị thấy người đi câu buông câu trong một bể cá trong nhà? Chưa! Vậy thì tự do đầu tiên mà những con cá kia có được là không bị người đi câu đe dọa. Hãy tưởng tượng hoàn cảnh của cá trong tự nhiên.
  Khi chúng thấy một con sâu béo mập hay một con ruồi ngon lành chúng không thể biết chắc là đớp mồi có an toàn hay không. Chắc chắn là chúng đã từng trông thấy bà con hay bạn bè nuốt một con sâu trông ngon lành rồi đột nhiên biến mất khỏi cuộc đời của chúng vĩnh viễn.
  Đối với một con cá trong tự nhiên, việc ăn chất chứa nhiều nỗi hiểm nguy và thường kết thúc một cách bi thảm. Bữa ăn đem đến tai họa. Ắt hẳn con cá nào cũng bị chứng khó tiêu mãn tính do luôn luôn lo lắng, và con nào bị bệnh thần kinh hoang tưởng chắc là nhịn đói tới chết luôn.
  Cá trong tự nhiên có thể bị mắc bệnh tâm thần hết. Còn cá trong bể được tự do khỏi mối hiểm nguy này.
  2. Cá trong tự nhiên thường lo bị cá lớn nuốt. Thời buổi này ở nhiều sông, lội ngược dòng vào ban đêm ắt hẳn không còn an toàn như trước! Thế nhưng không có người nuôi nào lại thả những con cá lớn vào để ăn những con cá mình nuôi. Vậy thì những con cá trong bể thoát khỏi mối hiểm nguy bị cá lớn ăn thịt.
  3. Trong tự nhiên, có những lúc cá có thể không tìm được thức ăn. Còn cá trong bể thì như thử sống gần một nhà hàng vậy. Cứ ngày hai lần, bữa ăn đầy đủ chất dinh dưỡng được giao đến tận nơi, còn hơn là đặt mua bánh pizza giao tại nhà vậy vì không phải trả tiền. Cho nên những con cá trong bể không bị cái đói đe dọa.
  4. Khi bốn mùa thay đổi, sông hồ phải chịu những nhiệt độ khắc nghiệt. Vào mùa đông thì lạnh buốt, có thể bị băng tuyết che phủ. Vào mùa hè có thể rất nóng, thậm chí là nước bị cạn khô. Còn cá trong hồ thì cứ như ở trong phòng có máy điều hòa hai chiều. Nhiệt độ trong bể luôn được giữ không thay đổi và dễ chịu suốt ngày, quanh năm suốt tháng. Như thế, con cá trong bể có được tự do thoát khỏi thời tiết nóng lạnh thất thường.
  5. Trong tự nhiên, khi cá bị bệnh, chẳng có ai săn sóc, điều trị. Còn cá trong bể thì được bảo hiểm y tế. Khi có ốm đau, chủ nhà liền mời thầy thuốc đến khám bệnh, mà cũng không cần phải đi bệnh viện nữa. Như thế con cá trong bể được tự do khỏi mối nguy cơ không có bảo hiểm y tế.
  Vị sư lớn tóm tắt lại lập luận của mình. Làm thân cá trong bể được hưởng nhiều thuận lợi. Quả thật là chúng không được tự do theo đuổi các sở thích của mình và bơi đi đây đi đó, nhưng chúng thoát khỏi nhiều mối hiểm nguy và nỗi khó chịu.
  Vị sư lớn tiếp tục giải thích rằng đời sống của những người sống cuộc đời đạo hạnh cũng như thế. Quả thật là họ không được tự do theo đuổi những dục vọng và thỏa mãn những mong muốn này nọ, nhưng họ thoát khỏi nhiều mối hiểm nguy và nhiều điều khó chịu. Còn bạn muốn thứ tự do nào?
  Một hôm, một vị sư ở tu viện của chúng tôi được thỉnh đi dạy thiền ở trong một nhà tù mới gần Perth, nơi mà tình hình an ninh được kiểm soát hết sức chặt chẽ. Một nhóm tù nhân đã trở nên quen biết và kính trọng thầy ấy. Vào cuối một thời pháp thoại, họ bắt đầu hỏi thầy về nếp sống hằng ngày trong một tu viện Phật giáo.

  Thầy trả lời: “ Buổi sáng chúng tôi thức dậy lúc 4 giờ. Đôi khi cũng lạnh lắm vì phòng chúng tôi không có máy sưởi. Chúng tôi ăn mỗi ngày một bữa, tất cả thức ăn đều bỏ chung vào một bình bát. Vào buổi chiều và tối chúng tôi không ăn. Dĩ nhiên là cũng không có chuyện sex hoặc rượu chè. Chúng tôi cũng không có vô tuyến truyền hình, truyền thanh, hay âm nhạc. Chúng tôi không bao giờ xem phim, mà cũng không chơi thể thao. Chúng tôi nói ít, làm việc nhiều, và dành thời gian rảnh ngồi tọa thiền, theo dõi hơi thở. Chúng tôi ngủ trên sàn nhà.”
  Những người tù tỏ ra hết sức ngạc nhiên về sự kham khổ của nếp sống tu hành. So sánh với tu viện, thì nhà tù hết sức nghiêm nhặt này trở thành một khách sạn năm sao. Quả thật, một người tù đã quá thương cảm hoàn cảnh thanh bần của vị sư đồng môn của tôi đến độ quên khuấy là mình đang ở đâu và anh ta chợt nói, “ Sống trong tu viện cực khổ quá. Hay thầy đến ở đây với chúng con đi!”
  Mọi người trong phòng ai cũng bật cười. Tôi cũng bật cười khi nghe thầy ấy kể lại câu chuyện. Rồi tôi bắt đầu suy nghĩ: Quả thật tu viện của tôi kham khổ hơn cả nhà tù khắc nghiệt nhất, tuy nhiên nhiều người tự nguyện đến đây và họ cảm thấy hạnh phúc.
  Trong khi đó, nhiều người lại muốn thoát khỏi nhà giam kia, và không cảm thấy hạnh phúc ở đó. Tại sao như thế? Bởi vì các thầy muốn sống ở tu viện, còn phạm nhân thì không muốn ở tù. Sự khác nhau là ở chỗ đó.
  Bất cứ nơi nào mà bạn không muốn ở thì dù cho có tiện nghi đến đâu chăng nữa, đối với bạn, nó cũng là một nhà tù. Đây là ý nghĩa thật sự của chữ “tù”.
  Nếu bạn đang làm một công việc mà mình không thích thì bạn cũng đang ở tù. Nếu bạn đang có một mối quan hệ mà mình không mong muốn thì các bạn cũng đang ở tù. Nếu các bạn đang ở trong một thân thể ốm đau bệnh hoạn mà bạn không muốn thì thân thể ấy cũng là một nhà tù đối với bạn.
  Nhà tù là bất cứ một hoàn cảnh nào mà bạn không muốn mà lại dính mắc vào. Vậy thì làm thế nào chúng ta có thể thoát khỏi các nhà tù của cuộc đời?
  Dễ thôi. Hãy thay đổi quan niệm về hoàn cảnh mà bạn đang sống. Thậm chí là ở ngay nhà tù San Quentin, hay thua một chút là ở tu viện của chúng tôi đi, mà bạn thấy muốn sống ở đó thì nơi ấy không còn là một nhà tù đối với bạn nữa.
  Bằng cách thay đổi quan niệm về công việc, về mối quan hệ, về thân thể ốm đau, bằng cách chấp nhận hoàn cảnh thay vì không ưa muốn, thì nó không còn là một nhà tù nữa.
  Khi các bạn bằng lòng thì các bạn được tự do. Tự do là bằng lòng với nơi chốn mình đang ở. Nhà tù là nơi mình không muốn ở. Thế giới tự do là thế giới mà người bằng lòng sinh sống.
  Tự do thật sự là giải thoát khỏi dục vọng chứ không bao giờ là tự do thỏa mãn dục vọng.

                                                                                   Trần Ngọc Bảo trích dịch


 

Thứ Sáu, 3 tháng 1, 2014

AI DỄ ĐỘT TỬ VỀ ĐÊM ?

       Brugada còn được gọi bằng một số thuật ngữ như “hội chứng đột tử ban đêm”, “hội chứng đột tử chưa rõ nguyên nhân”... là bệnh có tính chất di truyền, với biểu hiện chủ yếu là những bất thường về hệ thống dẫn truyền của tim dẫn tới rối loạn nhịp tim.
   Hiện nay, người ta đã tìm ra nguyên nhân của những rối loạn về dẫn truyền của hệ thần kinh tim là đột biến ở gen SCN5A, nằm tại nhiễm sắc thể 3p21. Gen này điều hoà kênh natri ra vào tế bào. Khi bị đột biến, natri ra vào tế bào bị ảnh hưởng dẫn tới những rối loạn dẫn truyền trong cơ tim.
   Không dấu hiệu báo trước
   Vào những năm 1980, đột tử về đêm không giải thích được là một hội chứng có tần suất cao ở các nước Đông Nam Á, người ta phát hiện những người đàn ông trẻ di cư từ các nước này sang Mỹ bị chết đột ngột trong lúc ngủ nhưng trước đó hoàn toàn khoẻ mạnh và không có bệnh tim thực thể. Sau đó, ở đầu thập niên 1990 bệnh này được mô tả ở Thái Lan, Philippines, Nhật… Do đó, bệnh lý này có tên Lai Tai theo tiếng Thái hoặc Bangunguttheo theo ngôn ngữ Philippines, hoặc Pokkuri theo tiếng Nhật - đều mang nghĩa là “chết đột ngột khi ngủ đêm”. Hội chứng này được xem là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong ở đàn ông trẻ Thái Lan và là thách thức lớn đến nền y tế và xã hội nước này. Sau nhiều năm nghiên cứu, người ta thấy rằng đột tử về đêm xảy ra ở khắp nơi trên thế giới.
   Tần suất mắc hội chứng Brugada hiện chưa có con số chính xác nhưng theo một số báo cáo, tỷ lệ mắc hội chứng này vào khoảng 5/10.000 dân. Tỷ lệ này cao hơn ở người Nhật Bản, vùng Đông Nam Á như Lào, Thái Lan. Về giới tính, nam giới mắc hội chứng Brugada nhiều hơn nữ 8 – 10 lần.
    Nhiều người mắc hội chứng Brugada do không có triệu chứng nên không được chẩn đoán phát hiện, cho đến khi có biểu hiện loạn nhịp hoặc ngất khi làm điện tâm đồ. Biểu hiện của bệnh thường là những cơn đánh trống ngực, nhịp tim không đều. Những cơn ngất không rõ nguyên nhân, không theo một chu kỳ nào, đôi khi là những biểu hiện sớm và duy nhất khiến bệnh nhân phải đến khám bệnh. Nhiều trường hợp bệnh nhân ngừng tim đột ngột dẫn đến tử vong khi đang làm việc và cả khi nghỉ ngơi. Như vậy, hội chứng Brugada hết sức nguy hiểm nếu không được phát hiện và xử trí kịp thời.
   Cho đến nay, việc xác định xem bệnh nhân hay có những cơn ngất hoặc đánh trống ngực có phải do hội chứng này gây ra hay không thường không có gì khó khăn. Trong đa số các trường hợp, bệnh nhân sẽ được làm điện tim để xác định hình ảnh tổn thương đặc trưng của hội chứng Brugada cũng như loại trừ loạn nhịp tim do các nguyên nhân khác. Siêu âm tim cũng có thể được kết hợp để chẩn đoán các bệnh lý khác của tim có thể gây loạn nhịp. Trong trường hợp hình ảnh điện tim không rõ ràng, một số test như tiêm thuốc có thể được dùng để xác định chẩn đoán. Một số bệnh nhân có thể được chỉ định theo dõi điện tim 24 giờ liên tục để tìm kiếm những cơn loạn nhịp xuất hiện đột ngột ở bất cứ thời điểm nào trong ngày.
   Khó điều trị, không thể dự phòng
   Mặc dù cơ chế bệnh sinh đã được hiểu rõ, nhưng cho tới nay, việc điều trị triệt căn hội chứng Brugada vẫn bất khả. Bởi hội chứng này làm xuất hiện những cơn loạn nhịp tim, ngừng tim do rung thất nên các phương pháp điều trị tập trung vào việc cho các thuốc chống loạn nhịp hoặc cấy máy phá rung tự động. Máy phá rung được cấy trên ngực bệnh nhân sẽ tự nhận biết khi có hiện tượng rung thất xảy ra và phá rung bằng xung điện (sốc điện) theo một lập trình cài đặt sẵn để đưa nhịp tim về bình thường. Khi đã được cấy máy phá rung (nhất là các thế hệ máy hiện đại), hiện tượng đột tử ở bệnh nhân mắc hội chứng Brugada giảm nhiều.
   Dự phòng hội chứng Brugada là điều không thể vì đây là bệnh có tính di truyền. Việc có thể làm là kiểm tra những người có thân nhân cùng huyết thống có hội chứng Brugada hoặc đột tử không rõ nguyên nhân. Những bệnh nhân có những cơn ngất bắt buộc phải được khám, làm điện tim và các phương pháp cận lâm sàng khác nếu cần để loại trừ bệnh tim mạch trong đó có hội chứng Brugada.



TheoTS.BS Vũ Đức Định

Trưởng khoa hồi sức tích cực
Bệnh viện E Trung ương

Thứ Năm, 2 tháng 1, 2014

TỰ TỊNH KỲ Ý-THỊ CHƯ PHẬT GIÁO



                                                              Tự tịnh  kỳ ý -Thị chư Phật giáo
                                                         ( Giữ tâm trong sạch-Đó lời Phật dạy)

Giới Luật
    Giới luật được đặt ra để giúp hành giả tu tâm sửa tánh, tránh những điều lầm lỗi đưa đến đau khổ cho mình và kẻ khác. Thọ giới nhiều là điều rất tốt nhưng nhiều khi không nhớ hết để mà giữ.
Giới luật tuy nhiều nhưng ta có thể tóm tắt lại trong một giới sau đây : 

                            Không nghĩ xấu và nói xấu kẻ khác
   Không nghĩ xấu và nói xấu kẻ khác tức là tu tâm và tu miệng.
   Ở đời ai cũng muốn hạnh phúc sung sướng, nhưng sao cứ gặt hái mãi khổ đau ? Ðó chỉ vì chúng ta không chịu tu sửa tận gốc (tức là sửa tâm ý mình), mà chỉ chú trọng hình thức bề ngoài. 
      Trong Kinh Pháp Cú, phẩm Song Yếu có nói :
   "Tâm dẫn đầu các pháp và làm chủ mọi hành động. Nếu nói hay làm với tâm ô nhiễm, khổ đau sẽ theo nghiệp kéo đến như bánh xe lăn theo chân con vật kéo."

   Chúng ta muốn an vui hạnh phúc nhưng luôn phạm phải lỗi lầm to lớn nhất đó là : nghĩ xấu và nói xấu kẻ khác. Khi khởi một ý nghĩ xấu về ai thì ý nghĩ xấu đó nằm trong tâm của chính ta. Khi nói lời xấu ác thì lời nói đó nằm ngay nơi miệng của ta trước hết. Vì nghĩ xấu kẻ khác nên chúng ta nghi ngờ và xem họ là thù địch, rồi ghét bỏ họ. Vì ta nói xấu kẻ khác nên họ thù ghét lại ta. Từ nghĩ xấu và nói xấu sẽ đưa đến hành động xấu ác tức là tạo nghiệp. Do đó nếu muốn tránh tạo ác nghiệp thì ta phải tu ngay từ trong tâm, giữ tâm trong sạch vắng lặng, trau dồi bốn đức tính tốt (từ bi hỷ xả) và giữ gìn cái miệng, ít nói chuyện thị phi, tốt xấu của kẻ khác, mỗi khi mở miệng thì chỉ nói lời ái ngữ và sự thật, còn không thì nên im lặng. Giữ gìn được tâm và miệng trong sạch thì chắc chắn hành động sẽ tốt lành.
   Chúng ta hay thích thọ giới nhiều, học kinh luận cao siêu nhưng lại bỏ sót những điều rất căn bản và giản dị. Ðúng như Ô Sào Thiền Sư nói :

Chư ác mạc tác
Chúng thiện phụng hành
Tự tịnh kỳ ý
Thị chư Phật giáo.
Ðừng làm điều ác
Gắng làm việc lành
Giữ tâm trong sạch
Ðó lời Phật dạy.

"Con nít lên ba cũng biết, nhưng ông già tám mươi làm cũng không xong."
    Giới luật tuy nhiều nhưng ta hãy bắt đầu bằng giữ cho tâm và miệng trong sạch thì tất cả giới khác sẽ tự nhiên trong sạch.
                                                                                              Thích Trí Siêu