Thứ Năm, 4 tháng 2, 2016

SUY NGHĨ TỪ LỜI KINH "THÂN NGƯỜI KHÓ ĐƯỢC, PHẬT PHÁP KHÓ NGHE"



Dù là người xuất gia hay tại gia, con đường duy nhất để tránh được “thân người khó được” là con đường tu thân, tích đức, là thực hiện được những phương pháp tu tập từ đơn giản đến những phương pháp cao siêu hơn
Là người học Phật, không ai là không nghe thấy câu “Thân người khó được, Phật pháp khó nghe”. Lời kinh đó nguyên văn chữ Hán là “Nhân thân nan đắc, Phật pháp nan văn” xuất hiện trên nhiều bản kinh mà đức Phật đã dạy. Ngoài ra, ta có thể kể đến trong Kinh Tứ thập nhị chương, Chương 12 cũng đã có nói đến điều này. Kinh Phạm Võng cũng nói: “Nhất thất nhân thân, vạn kiếp bất phục”, nghĩa là “Một phen mất thân người, vạn kiếp khó có lại được”. Kinh Niết Bàn cũng đã nói: “Nhân thân nan đắc như Ưu Đàm hoa” tức là “Thân người khó được như hoa Ưu Ðàm”. 
Trong bài viết này, xin được nói những suy nghĩ về ý nghĩa vế trên lời kinh, đó là: “thân người khó được”.
Vì sao đức Thế Tôn lại dạy “thân người khó được”? Chúng ta đã là người rồi, tại sao lại còn khó được. Do đó, ở đây cần phải hiểu rằng khó được không phải là khó cho thân hiện nay mà là khó cho thân mai sau của chúng ta, khi thân đời này không còn nữa thì liệu kiếp sau ta có còn được là thân người nữa hay không, hay lại bị đọa vào các đường ác. Đó là điều ta cần suy nghĩ.
Theo giáo lý của đức Phật: thân con người ta tồn tại trên cuộc đời này chỉ là một giai đoạn rất ngắn ngủi, nhiều lắm chỉ trong khoảng 100 năm so với toàn bộ cuộc sống của người đó từ vô thủy kiếp trước đây và còn mãi mãi về sau này.

Theo giáo lý Mười hai nhân duyên, hết một chu trình tuần hoàn từ thức, danh sắc, lục nhập, xúc, thọ là quả của đời hiện tại do nhân của đời trước là vô minh và hành gây nên, đến ái, thủ, hữu là nhân của đời hiện tại gây ra quả của đời vị lai và cứ như thế con người phải trải qua vô lượng vô biên kiếp sống. Nhưng những kiếp sống ấy có phải mãi mãi đều là kiếp sống của con người hay không? Không phải là như vậy. đạo Phật đã chỉ ra rằng trong mười cõi giới, có sáu cõi còn trong vòng sinh tử luân hồi hay còn gọi là lục đạo luân hồi, đó là các cõi Trời, Người, A tu la, Súc sinh, Ngạ quỹ và Địa ngục mà cõi Người và Trời là cõi lành. Chúng sinh trong các cõi sinh tử luân hồi, có chết đi sống lại cũng còn tùy theo nghiệp lực dẫn dắt của các kiếp sống. Con người sau khi chết đi, tùy theo hành động tạo tác trong suốt cuộc đời, gây nên các nghiệp thiện hay ác, sẽ thác sinh vào các cõi khác nhau.

Các nghiệp lực ấy đưa ta vào một trong sáu cõi luân hồi, điều đó lại còn tùy thuộc vào cận tử nghiệp, tức là cái nghiệp xuất hiện trong lúc lâm chung. Đạo Phật cũng chỉ ra rằng có hai loại người có thể đi thẳng tới hai cõi mà không cần phải qua giai đoạn thân trung ấm trong 49 ngày. Đó là loại người gây nhiều tội ác nặng như các tội Tứ trọng, Ngũ nghịch, Thập ác, thì sau khi chết, bị đọa thẳng vào cõi Địa ngục và thứ hai là những người tạo nhiều nghiệp lành và đủ cơ duyên thì sau khi chết, được vãng sinh vào cõi Cực lạc. Còn lại tất cả mọi con người sau khi chết đi, tùy theo nghiệp lực tạo tác trong đời, có thể tái sinh vào một trong các cõi luân hồi khác là Ngạ quỷ, Súc sinh, A tu la, Người và cõi Trời.

Đạo Phật có nói đến Lục đạo luân hồi, đó là sáu cõi trầm luân của các chúng sinh chưa giải thoát. Một chúng sinh nói chung, hay một con người nói riêng có thể trải qua một trong sáu cõi đó. Trong đó được làm người trong cõi Người là rất quan trọng vì con người có thể có cơ hội tu tập để giải thoát khỏi kiếp sinh tử luân hồi, vì nếu ở trong cõi khác thì không dễ dàng tu tập để giải thoát. Do vậy, con người sau khi chết đi muốn trở lại làm người không phải là dễ.
Trong “Lương Hoàng Bảo Sám” có nói đến bà hoàng hậu của vua Lương Võ Đế (502 – 550) tên là Hy Thị. Vì được vua yêu quý nên lòng đố kỵ của bà ngày càng lên cao, nên bà đã tạo ra nhiều tội ác đến nỗi ai ai cũng biết bà là một “Quái phi”. Vì gây nhiều tôi ác nên khi từ trần bà phải đọa làm thân rắn mãng xà, ngày đêm đau khổ, thân thể tanh hôi, vi vẩy bị sâu trùng rúc rỉa, nhức nhối không thể chịu được. Trong các chuyện Phật giáo có rất nhiều câu chuyện kể về con người sau khi chết bị đọa vào các đường ác làm thân súc sinh, ngạ quỷ vì trong cuộc sống họ đã gây ra nhiều tội ác.

Trong kinh Bách Duyên có ghi câu chuyện khi đức Phật ở vườn tre Ca Lan Đà tạithành Vương Xá, trong thành có một vị trưởng giả tên là Hiền Diện rất giàu có, của báu vô số không thể kể hết, nhưng tính tình xấu xa, tham lam, ghen tị, nịnh hót, không có tâm làm bố thí, ngay đến các loài chim, ông cũng đuổi không cho đến gần nhà mình. Một hôm, có các vị sa môn và Bà la môn nghèo khổ đến nhà ông khất thực, ông dùng những lời độc ác chửi mắng và đuổi đi. Về sau, khi chết, ông bị đọa làm thân rắn, trở lại giữ tài sản.

Cuốn “Thiện ác nghiệp báo” tức “Chư kinh yếu tập” của Pháp sư Đạo Thế đã nêu rất rõ vấn đề này bằng những câu chuyện khác nhau về con người vì tạo nhiều nghiệp ác nên sau khi chết bị đọa vào cõi súc sinh. Vậy, đã là con người thì kiếp sau được trở lại làm thân người không phải là dễ, hay nói khác đi, như Phật đã nói là “thân người khó được”.
Để nói lên điều đó, đức Phật còn dùng một hình ảnh ví như có một con rùa mù nằm dưới đáy biển, cứ một trăm năm mới nổi lên một lần để tìm cách chui đầu vào một cái lỗ trên một khúc cây đang bồng bềnh trôi trên mặt biển. Việc một con rùa mù như thế mà cứ một trăm năm mới nổi lên để đưa đầu vào lỗ cây thật quả là quá hiếm hoi như thế nào? Được làm kiếp người cũng hiếm hoi như vậy.
Tuy nhiên, đức Phật cũng chỉ ra rằng, từ vô thủy đến nay, tất cả chúng sinh không phải chỉ có mặt trên thế gian này một lần mà đã có mặt vô số lần rồi kể từ vô lượng vô biên kiếp trước, vì vậy một chúng sinh có thể là cha, mẹ, là bà con anh em của ta từ trong nhiều kiếp trước. Đức Phật còn dạy mọi con người đều có Phật tính và những người có căn cơ tu hành cao cho tới khi thành Phật đã phải trải qua vô số kiếp. Ngay Đức Thế tôn cũng đã trải qua vô số kiếp tu hành mới thành đạo quả, mới đạt đến Vô thượng, Chánh đẳng, Chánh giác. Vì vậy, con người ta để trở lại kiếp người cũng phải là người có vô lượng kiếp tu hành mới có thể đạt được.
Về mặt khoa học, hiện nay dân số thế giới có khoảng trên 7 tỷ người (theo thống kê ngày 10.4.2011 là 7 tỷ) và đến năm 2040 dự đoán sẽ đạt ngưỡng 9 tỷ người. Số lượng con người trong cõi thế này là con số có thể thống kê được. Nhưng thử hỏi có ai thống kê được số lượng các loài súc sinh trên quả địa cầu này là bao nhiêu không, không thể nào thống kê cho được.

Ta hãy tưởng tượng chỉ trong một ngôi làng nhỏ, số lượng dân trong ngôi làng có thể thống kê biết được, nhưng trong làng đó có bao nhiêu con trâu, bò, dê, chó, mèo, lợn, gà, vịt v.v.., đó mới chỉ là các loại con vật nuôi trong nhà. Nhưng cũng trong ngôi làng đó có ai đếm được có bao nhiêu tổ kiến, tổ ong, và mỗi tổ kiến và tổ ong đó có bao nhiêu con kiến, con ong, và trong làng có bao nhiêu ruồi, muỗi, bọ, rệp, giun, dế…hết thảy chúng cũng đều là súc sinh. Và còn nữa, có ai đếm được trong các ao làng và trên dòng sông chảy qua ngôi làng đó có bao nhiêu loại cá, ốc, lươn, cua ba ba, tôm, chạch v.v… và mỗi loại có bao nhiêu con.

Nhiều không thể nào đếm được. Đấy là chỉ nói trong một ngôi làng. Thế còn trên những dãy núi, trong rừng sâu, ngoài biển cả, trên bầu trời còn có biết bao loài vật như hổ, báo, hươu, nai, gấu, sư tử…, loài thủy sản như cá voi, cá mập, bạch tuộc…, loài sâu bướm cùng các loại chim bay. Thật là nhiều, không thể nào đếm được và những con số tỷ tỷ tỷ cũng không thể nào biểu thị được số lượng súc sinh trên quả đất này. Tóm lại số lượng 7 tỷ con người trong cõi Người thật là quá ít ỏi so với số lượng súc sinh trong cõi Súc sinh. Như vậy chứng tỏ rằng trong thế giới sinh tử luân hồi, được vào cõi Người không phải là dễ, còn đọa vào đường Súc sinh là chuyện có thể sảy ra rất nhiều, do đó đức Phật nói “thân người khó được” là vì thế. 
Bây giờ, vấn đề đặt ra là làm thế nào con người ta có thể tái sinh để được lại làm thân người khi kết thúc kiếp người hiện tại. Không có cách nào khác là phải biết tu thân tích đức. Đạo Phật là con đường đưa ta đi đến cõi lành nếu ta biết tu thân. Đạo Phật như một cơn mưa rừng của tự nhiên thấm xuống muôn loài chúng sinh hữu tình. Đạo Phật khuyến khích con người tìm kiếm chân lý trong chính mình thông qua sự tu tập và nuôi dưỡng sự hiểu biết về tự tính của chúng ta. Đạo Phật không phải là một phép màu làm cho ta trở nên tốt nếu ta không chịu tu tập. Đạo Phật là ánh sáng chỉ cho ta con đường tâm linh để phát triển sự hiểu biết, từ đó chuyển hóa nội tâm giúp chúng ta vững bước trên con đường Giác ngộ.
Chúng ta thấy rằng trong sáu cõi luân hồi, cõi Atula gồm những chúng sinh hay giận giữ, lòng sân hận rất lớn, hay gây sự, gây chiến tranh, vì vậy không thể yên ổn để tu hành. Cõi Trời tuy là cõi tốt đẹp nhất trong sáu cõi, những chúng sinh trong cõi Trời do có nhiều phước báu mới được sinh lên trên đó, họ chỉ biết hưởng thụ là chính nên rất khó khởi tâm tu tập.

Dù sống trên cõi Trời hàng trăm, nghìn năm, hay triệu năm, đến khi phúc hết mà không biết tạo dựng điều lành, cũng bị đọa lại vào các cõi thấp, ví như Trư Bát Giới nguyên là Thiên Bồng Nguyên soái ở cõi Trời bị đọa xuống trần gian làm kiếp con lợn trong cõi Súc sinh. Mà cõi Súc sinh là cõi mê mờ, ngu si không có tri thức, không thể học hỏi được bất cứ điều gì.

Duy chỉ có con người là có nhiều cơ hội để phát tâm tu hành giải thoát. Bởi vì con người với cái thân ngũ uẩn có thức uẩn phát triển cao, có lý trí, có tri thức, có nhận thức cao mới có thể tiếp thu được Phật pháp. Như thế đạt được thân người, được làm thân người là điều quí báu không hề dễ dàng gì. 
Dù là người xuất gia hay tại gia, con đường duy nhất để tránh được “thân người khó được” là con đường tu thân, tích đức, là thực hiện được những phương pháp tu tập từ đơn giản đến những phương pháp cao siêu hơn. Trên thực tế, có tới 84.000 pháp môn khác nhau đã được đức Phật chỉ dạy cho chúng ta con đường chuyển hóa tâm thức nhằm giải thoát hết thảy chúng sinh hữu tình từ trạng thái đau khổ đến trạng thái giác ngộ.

Tất cả những pháp môn đó, nếu ai được trang bị sẽ có sức mạnh giải thoát cho chính bản thân mình. Bởi vì toàn bộ mục đích của sự thực hành Phật pháp là nhằm giúp con người giải thoát khỏi khổ đau, sự chấp ngã và tất cả những phiền não, nhiễm ô để cuối cùng đạt được giác ngộ.

Đạo Phật dạy chúng ta rằng nếu cứ tham luyến, bám chấp vào cái “ta” hay cái “của ta” thì điều đó sẽ trở thành một dây xích trói chặt ta trong vòng sinh tử luân hồi. Chính con người tự trói buộc chính mình chứ không có cái gì khác trói buộc ta cả.

Và vì vậy, nếu thực hành tu tập tốt, bắt nguồn từ động cơ đúng đắn, dù có trở ngại đến đâu thì ta cũng vẫn an định, bình tĩnh bởi vì ta đã chuẩn bị tinh thần và với phương pháp đúng đắn, với niềm tin sâu sắc và hạnh nguyện đầy đủ để đi đến giác ngộ và ít nhất cũng tạo được nhiều nghiệp lành để tái sinh vào cõi Người.
Điều mà đức Phật dậy “Thân người khó được” nhắc nhở con người chúng ta phải mau mau tỉnh giác và nhận ra con đường đi đến Phật pháp để tự cứu mình, trên đường đi đến bờ Giác ngộ.

                                                                Phạm Đình Nhân, Pháp danh Chánh Tuệ Định


Thứ Ba, 2 tháng 2, 2016

CHỜ TẾT

                                                                                                     

                                                                                       CHỜ TẾT

                                                                   Hương tỏa khói  lan cứ chuyển vần,
                                                                   Lao xao cây lá thoảng chuông ngân.
                                                                   Bên thềm hoa nở chờ mừng tuổi,
                                                                   Ngoài ngõ én bay sắp đón xuân.
                                                                   Khách đến trà thơm bàn nghĩa đạo,
                                                                   Bạn sang rượu ngọt hiểu tình chân.
                                                                   Lộc tràn phúc ngập chào năm mới,                                                                                                    Trọn vẹn đời vui giữa cõi trần.

                                                                                                              Minh Đạo

SỐNG VỚI HAI CHỮ "TÙY DUYÊN"





Khi tâm mình còn phân biệt nặng nề, còn thích ngon chán dở, còn thích đẹp chán xấu mà bảo là tùy duyên không ngại gì thì coi chừng bệnh hoạn, phải hiểu được cái ý đó. Như vậy một ý nghĩa tùy duyên này mà thấu cho thật suốt có dễ dàng không? Không dễ dàng, cho nên phải thật sống chớ không phải bắt chước được.


Về ý nghĩa tùy duyên, thì đây là một chỗ sống, không phải là chỗ lý luận hay chỗ bắt chước, bởi vì khi chúng ta bắt chước thì nó không còn là tùy duyên nữa, bởi khi bắt chước là nó có cái khuôn rồi. Cho nên ý nghĩa này rất quan trọng mà lâu nay nhiều người lại hiểu lầm rồi cũng dễ lạm dụng nó nữa.

Như vậy muốn tùy duyên thì thế nào là biết tùy duyên cho đúng ý nghĩa?

1- Thứ nhất là phải thấy đúng lý mới tùy duyên được, còn chưa thấy đúng lý mà nói tùy duyên thì chỉ là lạm dụng, là hiểu lầm vậy thôi. Nghe nói tùy duyên, rồi mặc tình buông thả theo duyên thì tùy duyên kiểu đó là chạy theo cảnh chớ không phải tùy duyên, đó là bị duyên nó cuốn, nó lôi đi. Tùy duyên theo kiểu đó gọi là "tùy duyên tiêu sự nghiệp", tiêu tan sự nghiệp hết, rất nguy hiểm !

Cho nên muốn sống, muốn thấy được đúng ý nghĩa tùy duyên thì phải thấy đúng lý. Trong cái thấy đúng lý này, thứ nhất là cần rõ lý Tánh không của Bát-nhã.

Tánh không là sao? Bát-nhã dạy tất cả các pháp trên đời này "không có một pháp gì là thật cố định", nghĩa là từ bản thân của mình cho đến sự vật bên ngoài đều là duyên khởi. Duyên khởi tạm có cho nên gọi là Tánh không, là không có tánh cố định, không có Thể thật của nó. Chính vì Tánh không mới tùy duyên mà hiện khởi tất cả được, chớ nó cố định thì đâu còn tùy duyên. Ví dụ cố định là một khối cứng thì đâu thể tùy duyên mà biến thành các vật khác được.

Cũng giống như cái gương, nó không có một hình gì trong đó, cho nên nó có thể hiện đủ tất cả mọi hình bóng, nếu nó có một cái hình gì cố định bên trong, thí dụ hình tròn, thì nó không thể hiện được hình vuông, mà vuông tròn đẹp xấu gì cũng hiện được hết, là vì nó không có một cái gì trong đó, không cố định là cái gì.

Hoặc như hư không, hư không không phải là cái gì hết, cho nên nó cũng hiện được đủ mọi thứ. Rồi gần nhất là cái gì? Tâm của mình. Tâm mình không là một cái gì hết, cho nên nó mới nghĩ được đủ tất cả, nếu nó cố định là một cái gì rồi, chắc chắn nó không thể nghĩ tất cả được. Mà nó nghĩ đủ hết, cái gì nó cũng nghĩ tới, kể cả những cái gọi là không có, nó cũng nghĩ ra được nữa bởi vì nó không có gì hết.

Qua điểm nữa là, ngay thân mình là thân năm uẩn thì Tâm kinh Bát-nhã nói “ngũ uẩn giai không”, năm uẩn đều Tánh không, không thật, cho nên nó mới tùy duyên hiện được lớn được nhỏ, được tốt được xấu, mập ốm vui buồn, trời người nó cũng hiện được đủ hết, chính vì nó Tánh không, không cố định là gì. 

Nếu nó cố định, thí dụ năm uẩn này cố định là người rồi, tức nhiên nó không thể hiện thành trời được, cũng như nó cố định là mập rồi thì không thể hiện ốm được. Do nó không cố định gì, nên nó hiện được tất cả. Bởi vậy Bồ-tát Quán Thế Âm có ba mươi hai Ứng thân, có khi hiện nam hiện nữ, rồi hiện Tỳ-kheo, hiện Tỳ-kheo ni, hiện vua hiện quan, hiện đủ hết, làm sao hiện được như vậy ?

Do đó xét cho kỹ, rõ ràng không có một cái gì cố định, vậy thì mình bám chặt một chỗ, một cái làm gì để chịu khổ ? Như vậy cho thấy, hiểu được tùy duyên thì phải thấy lý Tánh không. Rõ được Tánh không của các pháp rồi thì tùy duyên, lúc đó luôn luôn có ánh sáng Bát-nhã đi theo, nên tùy duyên mà không có lầm lẫn. Còn nhắm mắt tùy duyên là đi xuống hố, mình phải thấy rõ cái ý nghĩa đó, thí dụ như người mù nhắm mắt đi bừa là phải lọt hố thôi.

Nhớ lại câu chuyện của ngài Tăng Triệu khi bị án tử hình, Ngài xin phép hoãn lại bảy bữa để viết cho xong bộ Luận Bảo Tạng rồi Ngài sẽ chết. Thử hỏi tới lúc đó còn tâm hồn gì ngồi để mà viết luận! Nhưng mà Ngài thấy chuyện đó như là chuyện chơi thôi, và đến trước khi chết Ngài còn đọc bài kệ :

                   Ngũ ấm nguyên phi hữu
                   Tứ đại bản lai không
                   Tương đầu lâm bạch nhẫn
                   Nhất tự trảm xuân phong.

Tức là:

                    Năm ấm nguyên chẳng có
                    Bốn đại xưa nay không
                    Đem đầu đến dao bén
                    Giống hệt chém gió xuân.


Có ai bị chém bị chết trong đó đâu? Cho nên Ngài thản nhiên coi như không có chuyện gì. Nếu mình thì lúc đó rụng rời tay chân, còn tâm hồn đâu mà ngồi viết sách, huống nữa là tới khi sắp chết còn nói kệ nữa! Như vậy đó mới thật sự là biết tùy duyên. Và tùy duyên kiểu đó dễ bắt chước không ?

Bởi vì Ngài thấy rõ năm uẩn bốn đại đều là không, đều là vô ngã hết, không có cái ta thật, thì trong đó cái gì chết, cái gì bị chém? Không thấy có cái gì bị chém thì đâu có gì mà khổ ? Còn mình vì thấy có “cái ta” bị chém bị chết, cho nên mới có khổ.

Do Ngài thấy rõ không có gì thật hết, bởi vậy hễ còn duyên thì làm Phật sự tiếp, hết duyên thì thôi ra đi, chớ không cố ghì lại một chỗ để chịu khổ. Còn mình vì thấy có cái ta trong đó cho nên cố ghì lại để sống, ghì không được thì phải kiếm cái ta mới ráp vào, chính cái ta mới đó lại đi trong sanh tử. Hiểu như vậy, thấy được cái lý như vậy thì mới khéo biết tùy duyên. Đó là điểm thứ nhất là phải thấy rõ được Tánh không.

2- Thứ hai, tiến bước nữa là nhận ra Bản tánh chân thật của mình, nghĩa là thấy được, nhận rõ được Bản tánh chân thật luôn luôn hiện hữu nơi mình, cho nên mình tùy duyên là để chi? Tùy duyên là để sống trở về Bản tánh chân thật đó chớ không sanh những niệm, những tâm hoặc lấy hoặc bỏ, chỉ thuận với tánh để sống, làm sao không để mất nó, đó là chỗ sống của mình rồi.

Như bài kệ của vua Trần Nhân Tông, nhiều người nghe quen quá thành ra xem thường:

                    Ở đời vui đạo hãy tùy duyên 
                    Đói đến thì ăn, mệt ngủ liền
                    Trong nhà có báu thôi tìm kiếm
                    Đối cảnh vô tâm chớ hỏi thiền.


Nghĩa là sao? Nghĩa là ở đây nhận ra Bản tánh chân thật của mình hay của báu sẵn có trong mình rồi, thì khỏi cần phải chạy, phải tìm kiếm đeo đuổi cái gì bên ngoài nữa, nghĩa là không để cho cảnh nó lôi mình, nó làm mất mình. Như vậy mình sống ngay trong lòng đời này, ở giữa thế gian này mà vẫn vui với đạo, đó là biết tùy duyên, mà tùy duyên như vậy là để làm chi? Là để sống với Bản tánh của mình, sống trở về với Bản tánh chân thật, ngoài ra không có gì quan trọng. Đó gọi là tùy duyên sống với Bản tánh, tiêu nghiệp cũ mà không tạo thêm nghiệp mới.

Thứ Hai, 1 tháng 2, 2016

BỐN MẪU CHUYỆN HAY




1. Người mù thắp đèn lồng
  
Anh học trò nọ đang gấp rút về nhà lúc nửa đêm, nhìn thấy một người mù đang thắp đèn lồng, anh này cảm thấy rất kì lạ, bèn tiến đến hỏi: “Anh là một người mù, vậy tại sao còn thắp đèn lồng?”
Người mù nói: “Tôi nghe người ta nói, mỗi lần đến tối nếu không có đèn lồng, mọi người sẽ không nhìn thấy gì cả, sẽ biến thành một người mù giống như tôi. Vì vậy, mỗi buổi tối tôi đều thắp đèn lồng”.
Anh học trò ngạc nhiên nói: “Hóa ra anh làm vậy vì muốn mang lại ánh sáng cho mọi người!”.
Người mù thành thật trả lời: “Thật ra phải nói là tôi vì chính mình thì đúng hơn!”.
Người học trò càng mơ hồ, không hiểu là thế nào, người mù vội giải thích: “Tôi là một người mù, không nhìn thấy gì cả, nhưng tôi thắp đèn lồng chiếu sáng đường đi lối về giúp mọi người, cũng đồng thời giúp họ nhìn thấy tôi, như thế họ sẽ không vì không nhìn thấy mà đụng tôi té ngã nữa”.

    Với người mù đó, thắp đèn chiếu sáng cho mọi người chính là thắp sáng cho bản thân, điều đó cũng gần với việc quan tâm người khác thật ra là quan tâm chính mình. Trong cuộc sống, nhiều lúc con người ta rất ích kỉ, luôn không muốn cho đi bất kì thứ gì hoặc giả có cũng là rất ít. Tuy nhiên, họ không biết rằng, thật ra cho đi vì người khác, cũng là vì chính bản thân mình, cho nhiều bao nhiêu sẽ được nhận lại bấy nhiêu.

2. Câu chuyện về trái khổ qua
  
Ở ngôi chùa nọ, có một lần chúng đệ tử cùng nhau xuống núi hành hương. Lúc này, sư phụ mang đến một trái khổ qua và nói: “Mang trái khổ qua này theo bên mình, nhớ là ngâm nó vào mỗi con sông thánh mà các con đi qua. Hơn nữa, nhớ mang chúng vào thánh điện nơi các con thờ phụng, đặt lên bàn cúng bái, thờ cúng nó, lúc quay về, thì đem theo cùng về”.
Chúng đệ tử đi viếng qua rất nhiều sông thánh và thánh điện, cũng luôn theo lời sư phụ dặn dò mà làm. Sau khi quay về, họ đem trái khổ qua đưa lại cho sư phụ. Và rồi, sư phụ lại bảo họ đem khổ qua nấu chín, lúc ăn tối sẽ dùng. Đến bữa cơm tối, sư phụ cắn một miếng khổ qua, sau đó nhẹ nhàng nói: “Kì lạ thật! Ngâm qua nhiều sông thánh như thế, tiến vào nhiều thánh điện như thế, trái khổ qua vậy mà vẫn không trở nên ngọt.”
Chúng đệ tử nghe xong, lập tức đều tỉnh ngộ. Đắng là bản chất của khổ qua, nó sẽ không vì ngâm nước thánh hay vào thánh điện mà thay đổi
     Cuộc sống của con người cũng giống như vậy, sẽ không vì bạn đạt được địa vị gì, giành được học vị gì hay là tôn thờ một vị thần nào đó mà thay đổi.
Con người sống ở đời, không nên trông mong cuộc sống sẽ không có “bi ai thống khổ”, mà việc thật sự nên làm là luôn luôn sẵn sàng chịu khổ, việc nên trông mong là bản thân có thể từ cái khổ đó mà trưởng thành, thấu hiểu… như vậy cái “khổ” đó sẽ không còn nữa.


3. Người khác là tấm gương phản chiếu của chính mình

Tô Đông Pha và thiền sư Phật Ấn là bạn tốt của nhau. Có một hôm, ông ấy và thiền sư Phật Ấn cùng nhau đàm thiền. Tô Đông Pha muốn đùa giỡn một chút với đại sư nên nói: “Đại sư, ngài xem, tôi ngồi ở chỗ này nhìn giống cái gì?”.
“Nhìn giống một pho tượng Phật”, đại sư Phật Ấn nói.
Tô Đông Pha chế giễu cười nói: “Nhưng tôi lại thấy ngài giống một đống phân trâu”. Đại sư Phật Ấn chỉ mỉm cười không nói gì.
Sau khi về nhà, Tô Đông Pha đem chuyện này kể lại cho Tô tiểu muội nghe. Tô tiểu muội chỉ nhẹ nhàng nói: “Vì bản thân là Phật nên nhìn người khác cũng sẽ thấy giống Phật, còn như bản thân là phân trâu, nhìn người khác đương nhiên sẽ thấy giống phân trâu”.
     Người khác chính là tấm gương phản chiếu bản thân. Bạn dùng ánh mắt như thế nào nhìn họ, cũng chính là dùng ánh mắt đó nhìn bản thân. 
Chúng ta đối với cuộc sống này, đối với người khác nên có suy nghĩ tích cực, khoan dung và lạc quan hơn. Khi bạn bao dung người khác cũng chính là đang bao dung chính mình, làm cho nhân cách của mình thêm “đẹp”, thêm đáng quý, cũng như cách mà đại sư Phật Ấn đã làm vậy.


4. Cùng một sự việc, mỗi người lại có cách nhìn khác nhau

Hai người phụ nữ ngồi trò chuyện với nhau, trong đó có một người nói: “Con trai bà thế nào rồi!”.
Đừng nhắc nữa, thiệt là xui xẻo, đứa con này làm tôi lo lắng chết đi được!”, người còn lại trả lời.
Người phụ nữ nói tiếp: “Nó thiệt là quá xúi quẩy, lấy phải một người vợ cực kì lười biếng, không nấu cơm, không quét dọn, không giặt quần áo, không chăm con, cả ngày chỉ ngủ. Bữa sáng, con tôi còn đem tới tận giường kìa!”.
“Vậy thế còn con gái bà thì sao?”, người kia lại hỏi tiếp.
“Nó thì tốt số rồi”. Người phụ nữ cười tươi nói: “Nó được gả cho một tấm chồng tốt, trước giờ không phải làm việc nhà, một tay đều do chồng nó lo hết, nấu cơm, giặt đồ, quét dọn, chăm trẻ, hơn nữa mỗi sáng còn đem thức ăn sáng tới tận giường cho nó ăn đó!”.
       Qua câu chuyện này, chúng ta có thể thấy rằng, cùng một trường hợp, nhưng khi đứng từ những góc độ khác nhau để nhìn nhận, xem xét, thì sẽ có cách nhìn không giống nhau. Do vậy nhìn phiến diện, một chiều, vì điều này sẽ tạo nên rất nhiều hiểu lầm không đáng có. 
       Đối với bất kì việc gì, chúng ta cũng nên có cái nhìn khách quan, đứng ở lập trường của người khác mà xem xét, hoặc đổi một góc độ khác mà nghĩ, khi đó, mọi chuyện sẽ có chiều hướng tích cực hơn.

                                                              Sưu tầm


VIẾNG MỘ


                                                                              VIẾNG MỘ
            

                                                         Tấp nập nghĩa trang dưới nắng hồng,
                                                         Cháu con đến viếng thỏa chờ trông.
                                                         Nơi nầy Mẹ nghỉ gia đình đủ,
                                                         Chốn ấy Cha nằm nhánh họ đông.
                                                         Đa Phước quê người nương tấc dạ,
                                                         Cồn Già đất tổ cạnh bên lòng.
                                                         Sinh thành dưỡng dục ơn trời biển,
                                                         Khấn nguyện song thân cõi lạc bồng.

                                                                                                        Minh Đạo
            


Thứ Sáu, 29 tháng 1, 2016

QUAN NIỆM CỦA PHẬT GIÁO VỀ CUỘC ĐỜI VÀ HẠNH PHÚC

                             
                                               



Cũng cùng một đời sống, cùng hít thở không khí, cùng ăn uống ngủ nghỉ, cùng một sinh hoạt của cuộc sống con người, thế mà chúng ta thấy có một sự khác biệt lớn lao giữa một người sống được đạo Phật và một người thường tục.
Người sống được đạo Phật thì mãn nguyện, không lo sầu, thảnh thơi, thanh tịnh, tự do và an lạc:
Này ông, tâm không khổ
Với người không kỳ vọng
Mọi sợ hãi không còn
Với người kiết sử đoạn
Nhờ đoạn nhân sinh hữu
Pháp được thấy như thật
Đối chết, không sợ hãi
Nhờ gánh nặng đặt xuống
Đạo Phật ta khéo hành
Con đường khéo tu tập
Ta không có sợ chết
Khi gốc lão, bệnh diệt
Bờ kia đến, không thủ
Việc làm xong, sạch trong
Bằng lòng, thọ mạng diệt
Như thoát lò sát sinh
Pháp tính đạt, tối thượng
Ở đời, không sở hữu
Như thoát ngôi nhà cháy
Sống chết không sầu muộn
Quá khứ, ta không có
Tương lai hiện tại, không
Các hành không thực hữu
Ở đây, than khóc gì?
Thanh tịnh pháp sinh khởi
Thanh tịnh hành tương tục
Bậc thấy được như thật
Không sợ hãi, thưa ngài.
(Trưởng lão Adhimutta)
Trong khi đó, thì cũng cùng một trời đất ấy, đất nước gió lữa ấy, mà người bình phàm thì luôn luôn tương tục mọi điều phiền não, bất loại nguyện, lo sợ, khổ đau, than khóc.
Sự khác biệt lớn lao ấy có thể nói là sự khác biệt giữa sinh tử và Niết bàn. Cũng cùng một đời sống, cũng cùng những nguyên liệu dưỡng chất trần gian, mà người thì hưởng thọ Niết bàn an lạc, người thì hưởng thọ sinh tử khổ đau. Khởi điểm cùng truy tìm cuộc đời chân thật, cùng truy tìm hạnh phúc, mà người thì đạt đến an vui vĩnh cửu, người thì loay hoay với món nợ khổ đau, đó là do sự đúng sai trong cách đặt vấn đề về cuộc sống, do sự đúng sai trong quan niệm về hạnh phúc. Đức Phật đề cập đến 3 loại quan niệm sai lầm (tà kiến). Đó là tri giác sai lầm, suy tư sai lầm và kiến thức sai lầm. Chính do sự sai lầm này dẫn dắt con người đến với khổ đau.
Chúng ta thấy muôn loài đều đi tìm hạnh phúc. Đạo Phật cũng thế, cùng chung với mọi người, đạo Phật đi tìm hạnh phúc. Và nếu dùng chữ 'tu hành' theo cái nghĩa để chỉ cuộc đi tìm hạnh phúc, thực hiện hạnh phúc, thì quả thật, cả nhân loại không ai mà không tu hành. Người thì tu hành thực hiện tiền tài, người thì tu hành thực hiện dục lạc, người thì tu hành thực hiện danh vọng, người thì tu hành thực hiện trí thức ... là những thứ mà người đời cho là hạnh phúc.
Nhưng tiếc thay, vì không thấy trước tất cả những cái đó đều vô thường, vô ngã; tất cả những thứ đó đều vô nghĩa trước sự vận hành không ngừng nghỉ của cuộc đời, nghĩa là sự vận hành không ngừng nghỉ của cái chết, cho nên khổ đau, tiếc hận, không thể nắm giữ là điều tất yếu.
Chúng ta nhớ lại, đức Phật Thích Ca đã từ bỏ mọi thứ (những thứ mà Ngài có hơn người đời rất nhiều kể về số lượng lẫn chất lượng) không phải vì Ngài từ bỏ hạnh phúc để đi tìm khổ hạnh (nếu nghĩ đạo Phật là sự chối bỏ hạnh phúc, tìm kiếm khổ hạnh thì chắc là đạo Phật đã không còn đến ngày nay; trái lại đạo Phật tích cực rốt ráo, là đạo diệt khổ, thực hiện an vui vĩnh cửu) mà vì Ngài thấy rằng những thứ hạnh phúc mà Ngài đang có chỉ là hạnh phúc tạm bợ đặt căn bản trên sự vô thường và vô ngã của thế gian, bởi thế Ngài bỏ tất cả để tu hành, thực hiện cái hạnh phúc tối thượng và vĩnh cửu, gọi là Niết bàn.
Sự từ bỏ của đức Phật là một bài học vô giá cho thế gian, cho mỗi một thân phận con người, rằng: Hạnh phúc thì không có ở kia, ở nơi những sự vật rỗng không và tiêu hoại, mà chỉ có ở đây, trong sự thực hiện cái An Vui không còn bị điều kiện, cái mục đích tối thượng của đời người mà chúng ta có thể gọi là gì tùy theo sở thích, khuynh hướng, căn cơ: Niết bàn, Pháp thân, tính giác, Bi Trí toàn mãn, Phật tính, khuôn mặt xưa nay ...
Trở lại với 3 sự sai lầm ở trên, tri giác sai lầm, suy tư sai lầm và kiến thức sai lầm thì kinh điển thường đề cập đến 4 phương diện của cái thấy sai lầm:
Vô thường mà cho là Thường
Bất toại nguyện, khổ mà cho là tọai nguyện, vui
Vô ngã mà cho là ngã
Bất tịnh, xấu dơ mà cho là thanh tịnh, đẹp sạch.
Do chạy đuổi theo cái thấy sai lầm đó mà có sinh tử khổ đau. Thế gian đã đặt vấn đề sai, rồi không biết giải quyết vấn đề hay giải quyết sai, từ đó duyên khởi ra một chuỗi mắt xích sai lầm vô tận. Vì không thấy được bất toại nguyện, Khổ, Không, Vô thường, Vô ngã cho nên đi tìm Vui trong cái Khổ, đi tìm cái có trong cái không có, đi tìm cái thường còn trong cái niệm niệm sinh diệt, đi tìm cái ngã trong chỗ không thể nào có ngã, bèn đuổi bắt ảo vọng, rốt cuộc chỉ thấy có khổ, rỗng không, hoại diệt và bất an.
Trong khi đạo Phật thì giản dị mà sâu sắc vô cùng: ta cảm thấy đau khổ, bất an, buồn chán ư? (Khổ đế). Phải đi tìm nguyên nhân thực sự của cái khổ đó (Tập đế). Và khi thấy rõ nguyên nhân của nỗi khổ, nỗi khổ liền tan, vì không còn đất để mọc rễ. Khi thấy được nguyên nhân của khổ, thì không ai tiếp tục tự làm mình khổ, khi đã thấy cái nóng, cái bỏng là do tự mình lấy lữa châm mình thì không ai tiếp tục châm đốt mình nữa cả (Diệt đế). Quá trình giải quyết nỗi khổ, nỗi đau bấy giờ đã rõ ràng, tùy ta có thực hiện và thực hiện đến mức nào hay không (Đạo đế).
Khổ, bất toại nguyện, không làm cách gì có thể thỏa mãn, vô ích (như kinh Lăng Nghiêm nói là làm sao có thể nấu cát thành cơm; hay kinh Viên Giác nói là làm sao có thể ngồi chờ hoa đốm kết thành trái), thì đã làm người, ai cũng từng phải cảm nghiệm thấy. Nhưng nhìn thấy nỗi khổ, bất toại nguyện ở nơi bản chất của chúng chớ không hời hợt nơi hiện tượng bề mặt thì ít người thấy. Có lẽ ít trường phái triết lý nào tiếp cận được với chân lý thứ nhất của đạo Phật là Khổ đế bằng phong trào triết học hiện sinh ở châu Âu khoảng giữa thế kỷ 20.
Bằng cảm quan kinh tế của các nhà văn, bằng sự suy tư sâu sắc của các triết gia, và bằng một sự đồng cảm tế nhị, triết học hiện sinh nhìn ra tính cách khổ đế của thân phận con người; bị ném ra ngơ ngác giữa đời sống, ngẫu nhiên, hoàn cảnh giới hạn, hữu hạn tính, cuộc đời là sự hướng về cái chết, sự cô đơn không thể chia sẻ, sự bất định và mong manh của kiếp người đến độ vô ích ...
Đời người cũng vô nghĩa đến độ khó chịu đựng như huyền thoại Sysiphe: suốt đời lăn tảng đá lên núi cao, tảng đá sẽ rớt xuống trở lại và rồi lại lăn lên tiếp để rồi lại rớt xuống, phải chăng đó là từng kiếp đời thất bại không thể giải thoát của con người.
Vì không thấy được Tập đế, nguyên nhân của mọi phiền não, khổ đau, của hữu hạn và thất bại ở trên, và sự giải quyết rốt ráo cho thân phận con người là Diệt đế, nên các nhà hiện sinh tiến tới chọn một giải pháp sai lầm, lấy đó làm ý nghĩa cho cuộc đời.
Khi thấy cuộc đời có làm gì cũng giới hạn giữa hai bờ sinh tử, khi thấy cuộc đời hữu hạn và vô ích đến độ phi lý, họ đành cho con người một quyền hạn càng nhỏ và mong manh hơn khuôn khổ của kiếp người, đó là sự nổi loạn, sự chọn lựa để biểu lộ tự do. Sự tự do trong cuộc đời hữu hạn chật hẹp vì vọng tưởng vô minh đó ắt cũng phải là một tự do nhỏ hẹp và buồn rầu.
Đó là hình ảnh của người anh hùng buồn rầu hành động để chỉ thấy hành động là vô ích trong cuốn 'Thân phận con ngườí của André Malraux. Đó là khi thấy trần gian này chỉ là một chốn lưu đày (như chàng cùng tử xa xứ trong kinh Pháp Hoa), nhưng không biết quê nhà ở đâu, đành phải ngậm ngùi chấp nhận cuộc sống lưu đày là quê nhà (tác phẩm Lưu Đày và Quê Nhà của A. Camus). Thật khác xa với kinh nghiệm của Đại thừa trong cùng một lời nói: Sinh tử tức Niết bàn. Ở đây sinh tử tức Niết bàn của Đại thừa là thấy được thực tướng của sinh tử là Niết bàn, khi ấy, giả tướng sinh tử bèn tiêu mất, chỉ còn thực tướng Niết bàn đi đâu cũng là Quê Nhà.
Chúng ta thấy rằng triết học hiện sinh đã giúp con người phản tỉnh nhìn lại thân phận hữu hạn của mình với những vấn đề muôn đời của nó, đặt con người trước nỗi cô đơn và trống rỗng khi đối diện với chính mình, đặt con người trước mặt cái chết không thể trốn tránh, nhìn lại tính cách phù phiếm của mọi sự thủ hữu. Có thể nói họ đã tiếp cận được chân lý đầu tiên của đạo Phật là Khổ đế. Nhưng họ không thể đi xa hơn để thấy được nguyên nhân của khổ, tức là Tập đế, nên không thể giải quyết vấn đề cho thân phận con người (Diệt đế và Đạo đế). Do đó mà triết lý của họ trở thành bi quan, bế tắc. Bởi vì phản tỉnh để thấy được khổ, nhưng không giải quyết được khổ thì càng khổ hơn và không riêng gì triết lý hiện sinh mà cả văn chương, văn học nhân loại cũng chỉ luẩn quẩn trong vòng khổ đế.
Phải nói rằng có rất nhiều người, xưa cũng như nay, chỉ nhìn thấy Phật giáo ở giai đoạn Khổ đế này, cho nên có ý nghĩa rất sai lầm rằng Phật giáo là bi quan, yếm thế, là xuất thế, hư vô. Nếu chỉ dừng ở Khổ đế như triết học hiện sinh thì đạo Phật đã không là đạo Phật và không còn là một nguồn sống cho loài người cho tới ngày nay. Đạo Phật thì tích cực rốt ráo, vì không chỉ nêu lên thân phận trói buộc của con người, mà còn tìm ra nguyên nhân của sự trói buộc, chặt đứt trói buộc để giải phóng thật sự con người bằng một con đường tất yếu.
Có lẽ vì thế mà triết lý hiện sinh với những thủ lãnh trí thức và uy tín hàng đầu của văn hóa Tây phương chỉ nở rộ được trong vài thập niên giữa thế kỷ 20 và khi đạo Phật đã có mặt thật sự ở Tây phương, thì phong trào hiện sinh ở châu Âu và thế hệ Beatle ở Bắc Mỹ đã tàn lụi nhanh chóng.
Nếu dùng danh từ hiện sinh để chỉ sự nhấn mạnh vào cuộc sống hiện tại, đến sự cụ thể thực dụng của cái đang hiện tiền, không mơ tưởng hão huyền ở một giải pháp nơi một đời nào khác, một nơi nào khác, không phóng ảnh ra một thần linh ban ơn nào khác, thì phải nói không có một thứ hiện sinh nào hơn đạo Phật, cái hiện sinh của người đã diệt khổ, chính niệm vào hiện tại, hiện tại lạc thú:
Không hối tiếc quá khứ
Không chờ đợi tương lai
Sống vĩnh viễn hiện tại
Nên sắc thân sáng đẹp
(Tương ưng I, 6)
Đó là cái hiện sinh "Niết bàn hiện tiền" của Lục Tổ Huệ Năng: "Cứ theo lời ông nói, tức là ngoài sắc thân riêng có Pháp thân, lìa sinh diệt để cầu tịch diệt (Niết bàn), lại suy luận Niết bàn thường lạc cho là có thân thọ dụng.
Đây là lầm chấp sinh tử, mê theo cái vui trần gian. Nay ông nên biết, Phật vì tất cả người mê nhận thân tướng năm uẩn là của mình, phân biệt đủ thứ pháp cho là tướng ngoại trần, ưa sinh, ghét tử, niệm niệm đổi dời, không biết là mộng huyễn hư giả, uổng chịu luân hồi, lấy Niết bàn thường lạc đổi thành tướng khổ, trọn kiếp tìm cầu.
Phật vì thương những người mê ấy, chỉ dạy Niết bàn chơn lạc, trong sát na không có tướng sinh, trong sát na không có tướng diệt, lại không có sinh diệt nào để có thể diệt, ấy là Tịch Diệt Hiện Tiền. Chính ngay khi hiện tiền, mới gọi là thường lạc. Lạc ấy không có người thọ, cũng không có người chẳng thọ, há nói rằng Niết bàn ngăn cấm các pháp hay sao?"
                                                                                              (Văn Hóa Phật Giáo)
                                                                                                     Nguyễn Thế Đăng

Thứ Năm, 28 tháng 1, 2016

VAI DIỄN CUỐI CÙNG


Có một diễn viên già đã về hưu, sống độc thân. Mùa hè năm ấy, ông tìm về một làng vắng vẻ ở vùng núi, sống với gia đình người em ông là giáo viên cấp I trường làng.
Mỗi buổi chiều ông thường ra chơi nơi bãi cỏ vắng lặng ngoài thung lũng.
Ở đó, chiều nào ông cũng thấy một cậu bé ra ngồi đợi đoàn tàu chạy qua thung lũng, trước khi rẽ vào những vách đá đến phía ga trên.
Cậu bé hồi hộp đợi. Đoàn tàu phủ đầy bụi đường với những toa đông đúc hành khách như một thế giới khác lạ ầm ầm lướt qua thung lũng. Cậu bé vụt đứng dậy và háo hức đưa tay vẫy với hy vọng mong manh rằng có một hành khách nào đó vẫy lại chú.
Nhưng hành khách – mệt mỏi vì suốt một ngày trên đường – chẳng ai để ý vẫy lại cậu bé không quen biết.
Hôm sau, rồi hôm sau, hôm sau nữa, hôm nào ông già cũng thấy cậu bé ra vẫy và vẫn không một hành khách nào vẫy lại. Nhìn nét mặt thất vọng của cậu bé, tim người diễn viên già như thắt lại.
Ông nghĩ: “Không gì đau lòng bằng việc thấy một em bé thất vọng, đừng để trẻ con mất lòng tin ở đời sống, ở con người.”
Và một ngày kia, người em thấy ông anh diễn viên giở chiếc vali hoá trang của ông ra. Ông dán lên mép một bộ râu giả, đeo kính, mượn ở đâu một chiếc áo veston cũ, mặc vào rồi chống gậy đi. Ông đi nhờ chuyến xe ngựa của trạm lên tàu đi ngược lên ga trên.
Ngồi sát cửa sổ toa tàu, ông thầm nghĩ: “Đây là vai kịch cuối cùng của mình, cũng như nhiều lần nhà hát thường phân cho mình một vai phụ, một vai rất bình thường, một hành khách giữa bao hành khách đi tàu…”
Tàu đi ngang qua thung lũng có cậu bé đang đứng vẫy, người diễn viên già nhoài người ra, cười, đưa tay vẫy lại cậu bé. Ông thấy cậu bé mừng cuống quýt, nhảy cẫng lên, đưa cả hai tay vẫy mãi.
Con tàu đi xa, người diễn viên già trào nước mắt cảm động hơn bất cứ một đêm huy hoàng nào ở nhà hát. Đây là vai diễn cuối cùng của ông, một vai phụ, một vai không lời thoại, một vai không đáng kể nhưng đã làm cho cậu bé kia vui sướng, đã đáp lại tâm hồn chú bé và cậu bé sẽ không mất lòng tin ở cuộc đời.
Và, khi bạn nhận chân ra được khái niệm “sân khấu cuộc đời”, niềm vui của bạn sẽ tăng lên gấp bội, và dĩ nhiên nỗi buồn của bạn sẽ vơi đi rất nhiều.
Nguồn: trích internet


Thứ Tư, 27 tháng 1, 2016

ĐÊM XUÂN UỐNG RƯỢU TRONG VƯỜN ĐÀO MẬN


春夜宴桃李園序

夫天地者,萬物之逆旅;
光陰者,百代之過客。
而浮生若夢,
爲歡幾何 ?
古人秉燭夜遊,
良有以也。
況陽春召我以煙景,
大塊假我以文章。
會桃李之芳園,
序天倫之樂事。
群季俊秀,皆爲惠連。
吾人詠歌,獨慚康樂。
幽賞未已,
高談轉清。
開瓊筵以坐華,
飛羽觴而醉月。
不有佳作,
何伸雅懷?
如詩不成,
罰依金谷酒數。
李白
Phiên âm: Xuân dạ yến đào lý viên tự (1)

Phù thiên địa giả, vạn vật chi nghịch lữ;
Quang âm giả, bách đại chi quá khách.
Nhi phù sinh nhược mộng,
Vi hoan ki hà?
Cổ nhân bỉnh chúc dạ du,
Lương hữu dĩ dã.
Huống dương xuân triêu ngã dĩ yên cảnh,
Đại khối giả ngã dĩ văn chương.
Hội đào lý chi phương viên,
Tự thiên luân chi lạc sự.
Quần quý tuấn tú, giai vi Huệ Liên.
Ngô nhân vịnh ca, độc tàm Khang Lạc.
U thưởng vị dĩ,
Cao đàm chuyển thanh.
Khai quỳnh diên dĩ tọa hoa,
Phi vũ thương nhi túy nguyệt.
Bất hữu giai tác,
Hà thân nhã hoài?
Như thi bất thành,
Phạt y Kim Cốc tửu sổ.


Lí Bạch
Dịch: Đêm xuân uống rượu trong vườn đào mận

Trời đất là quán trọ của vạn vật;
Quang âm là khách qua đường của trăm đời,
Mà kiếp phù sinh như mộng,
Lúc vui được bao?
Cổ nhân đốt đuốc chơi đêm (2),
Thực là hữu lý.
Huống chi mùa xuân ấm áp đem mây khói mà mời đón,
Trời đất mênh mông đem cảnh đẹp mà giúp vui.
Họp trong vườn thơm đào mận,
Bày tiệc vui giữa anh em.
Các em tuấn tú, đều giỏi như Huệ Liên (3).
Bọn ta ca vịnh, riêng thẹn với Khang Lạc (4).
Ngắm cảnh chưa chán,
Xoay ra thanh đàm.
Mở tiệc dưới hoa,
Vung chén (5) say với nguyệt.
Nếu chẳng có văn hay,
Sao tả được lòng nhã?
Như thơ không thành,
Phạt theo số rượu ở Kim Cốc (6).


(Cổ văn Trung QuốcNguyễn Hiến Lê, Xuân Thu xuất bản, Houston, USA)


Chú thích:
(1) Tự là một bài văn ngắn chép lại một việc gì, phô bày một điều gì.
(2) Cổ thi có câu: Trú đoản khổ dạ trường, hà bất bỉnh chúc dạ du? 晝短苦夜長, 何不秉燭遊 Ngày ngắn khổ đêm dài, sao chẳng đốt đuốc chơi?
(3) Tạ Huệ Liên là em tạ Linh Vận đời Lục Triều, rất đa tài.
(4) Khang Lạc là Tạ Linh Vận, thi văn tung hoành tuấn dật, được tập tước làm Khang Lạc công (có sách chép là Khang Lạc hầu).
(5) Về chữ "vũ thương" này có nhiều thuyết lắm, ta chỉ nên biết là đồ đựng rượu.
(6) Kim Cốc là tên một khu vườn của Thạch Sùng đời Tấn. Các văn nhân thi sĩ họp trong vườn để uống rượu, làm thơ phú, ai không làm được thì phải phạt uống ba đấu rượu.

                                                                
                                                                  Nguồn internet

Thứ Hai, 25 tháng 1, 2016

CUỐI ĐÔNG VIẾNG THẦY

                                                                                   

                                                               CUỐI ĐÔNG VIẾNG THẦY

                                                            Cuối đông lên núi viếng thăm Thầy,
                                                            Vách đá chênh vênh cỏ phủ đầy.
                                                            Lơ lững én bay nương cánh gió,
                                                            Lờ mờ sương tỏa lẫn chân mây.
                                                            Câu kinh khai ngộ tâm an lạc,
                                                            Nhịp mõ trừ mê trí huệ dày.
                                                            Rộng mở già lam xây đạo cả,
                                                            Tùy duyên ứng hóa có nơi nầy.

                                                                                                  Minh Đạo