Thứ Hai, 11 tháng 4, 2016

CHUYỂN HÓA NHIỄM TÂM PHIỀN NÃO


Phương pháp công hiệu nhất để tịnh hóa nghiệp phiền não là thực hành thanh tịnh nghiệp chướng bằng minh chú Kim Cang Tát Đỏa. Chừng nào nghiệp còn chưa được tịnh, quý vị sẽ còn tiếp tục bị độc phiền não giày vò trong các kiếp vị lai.
Có thể một buổi sáng khi thức giấc, quý vị cảm thấy trầm uất mà không có lý do cụ thể. Nếu không giải quyết được vấn đề này bằng thiền định thì một giấc ngủ hoặc đi đâu đó nghỉ ngơi hay lái xe dạo một vòng bên ngoài cũng giúp ích. Nếu không, quý vị sẽ càu nhàu trầm uất và khiến nhiều người quanh mình khó chịu. Khi nổi sân, đủ loại niệm tưởng tiêu cực, khó áp chế tràn ngập tâm quý vị.
Nếu quý vị trầm uất vì rơi vào một tình cảnh nào đó, có thể vận dụng các phương pháp thiền định dành cho các tình huống cụ thể. Nhưng nếu chỉ cảm thấy buồn bã vô cớ thì tốt nhất là nên thực hành phát tâm Bồ đề.
Quý vị có thể tụng bài kệ trong lễ cúng dường Đạo sư (Guru Puja) “Xin hãy gia trì cho con để con nhận chân căn bệnh vị kỷ ái ngã là cánh cửa dẫn đến những khổ đau không mong muốn.” Hãy trách cứ những tư tưởng ma chướng vị kỷ gây ra trầm uất cho quý vị. Rồi tụng tiếp vần thơ kế: “Xin hãy gia trì cho con để con nhận biết rằng kính quý người khác, phát tâm Bồ đề, tâm dẫn dắt hết thảy chúng sinh mẹ đến bến bờ hỷ lạc là cánh cửa dẫn vào những phẩm tính thiện căn toàn hảo.”
Một trích dẫn khác trong lễ cúng dường Đạo sư là: “Ngay cả khi tất cả chúng sinh tệ bạc với con, con xin nguyện yêu thương họ hơn cả cuộc sống của mình.” Nếu quý vị có thể đọc những bài tụng này hàng ngày thì hết sức lợi lạc, đặc biệt vào những lúc quý vị cảm thấy trầm uất. Như thế, quý vị sẽ dùng chính phiền não buồn khổ của mình để thực hành ý nghĩa của hai đoạn kệ này; rằng tất cả mọi trục trặc và khổ não đều từ tâm vị kỷ ái ngã mà ra, cho nên “cái tôi” phải là đối tượng bị bác bỏ, phải bị khước từ. Tất cả nguồn hỷ lạc của quý vị và của tha nhân, bao gồm mọi chứng đắc cho đến khi giác ngộ viên mãn - mọi hạnh toàn hảo và phúc lạc đều đến từ tâm thương yêu ái trọng tha nhân, gọi là tâm Bồ đề.

Vì rằng tất cả những điều thánh thiện đều do tâm ái trọng tha nhân mà sinh ra, chúng nương dựa vào chúng sinh. Do vậy, chúng sinh hữu tình phải luôn được mãi yêu thương ái trọng. Quý vị phải đền đáp lại lòng nhân từ của chúng sinh quý giá này, giúp họ bằng bất cứ cách gì có thể. Làm sao để thực hiện được điều này đây? Có hàng triệu vô số lần họ đã sinh trong thân làm vua chúa nhưng chẳng có quyền lực hay sự giàu sang nào có thể giải thoát họ khỏi khổ đau của sinh tử. Cách tốt nhất để đền đáp lòng nhân từ của họ là hãy thực hành pháp Lamrim để chuyển hóa tâm thức vô minh, bám luyến, vị kỷ thành một tâm lành mạnh thuần khiết. Bằng cách tu tập đạo lộ đến giác ngộ, quý vị sẽ dễ dàng giải thoát những chúng sinh khác. Do vậy, phương cách tốt nhất để đền đáp lòng nhân từ của chúng sinh là thiền định và trau dồi tâm Bồ đề.
Nhận.
Mọi chúng sinh đều là cội nguồn của toàn thể quá khứ, hiện tại và tương lai của quý vị. Hãy phát khởi tâm bi mẫn bằng cách suy niệm thế này: “Tôi sẽ nhận về tim mình tất cả khổ và nguyên nhân tạo khổ (những phiền não và các chủng tử nghiệp bất thiện) bao hàm cả lửa thiêu trong các địa ngục nóng, đá buốt trong những tầng địa ngục băng giá và tất cả những hoàn cảnh bức bách khó chịu, xấu xa, loạn lạc nhiễm ô của con người.” Suy nghĩ này sẽ triệt tiêu thái độ vị kỷ ái ngã. Một khi tâm vị kỷ ái ngã bị tiêu diệt, quý vị nên có một thời thiền ngắn về tánh không.
Cho
Sau khi tâm vị kỷ ái ngã bị diệt trừ, hãy lan tỏa yêu thương bằng cách cho đi nguồn hạnh phúc riêng của quý vị, công đức của quý vị và tất cả những thứ tốt đẹp mà quý vị có được gồm cả thân thể, sự giàu sang và các tài sản sở hữu. Tất cả mọi mong nguyện của chúng sinh đều được hoàn mãn như thể họ sở hữu viên bảo châu như ý. Khi trao tặng cho họ những điều này, quý vị đã khởi tạo công đức vô lượng. Quý vị có thể tụng chú trong lúc họ thọ nhận mọi thứ mà họ cần và mong có. Thực ra, họ không nhận biết cái họ thực sự cần là gì đâu. Cái điều mà họ cần là gặp được chánh Pháp. Nhưng nếu không hiểu được lợi lạc của chánh pháp, họ sẽ sở cầu những thứ không phải là chánh pháp.
Thọ nhận những điều tốt đẹp như thế giúp họ hiện thực hóa con đường tâm linh, thanh tịnh hai chướng (để thành tựu giải thoát và giác ngộ). Họ thành tựu sắc thân của đức Phật và chứng đắc giác ngộ. Hãy nghĩ như vầy: Những điều mình làm vì chúng sinh mới thù thắng làm sao! Mình đã bao phen vào ra sinh tử trong các tiền kiếp khi làm việc chỉ vì lợi lạc của riêng mình và chẳng chứng ngộ được bất cứ điều gì. Mình vẫn lang thang trong luân hồi. Mình chưa bao giờ xả thân khi phụng sự các chúng sinh khác. Ngay cả nếu phải xả thân vì lợi ích của tha nhân, giúp họ chấm dứt tạo nghiệp bất thiện để không tái sinh vào các ác đạo và vì tâm thức của họ chuyển hóa thành pháp thân và sắc thân của chư Phật rồi chứng đắc giác ngộ, thì đây cũng là điều vô cùng lợi lạc đáng làm.
Thiền quán về lòng từ mẫn bao la và sự quý giá của hết thảy chúng hữu tình. “Mọi chúng sinh mẹ đều là cội nguồn hỷ lạc quá khứ, hiện tại và vị lai của con. Chư Phật, Pháp và Chúng chung tôn đời vị lai thị hiện tịnh hóa các ác nghiệp bất tịnh của con nhằm giúp con thành tựu mọi chứng đắc và quả vị giác ngộ. Tất cả những điều này diễn ra trên cơ sở của những chúng sinh khác. Vì vậy, mọi chúng hữu tình là điều quý giá nhất đời con. Bất kỳ điều gì thực hiện không vì phụng sự cho chúng sinh đều hoàn toàn vô nghĩa.” Điều này bao hàm cả chịu đựng trầm uất phiền não thay cho họ. Không có gì sánh bằng làm việc vì lợi lạc của chúng sinh. Những điều khác đều vô nghĩa cả. Chịu thay phiền não khổ đau cho họ bằng cách suy nghĩ rằng đây không phải là phiền não của bản thân tôi nhưng là phiền não của vô lượng chúng sinh, đây là phiền não của họ, khổ đau của họ. Thật thù thắng khi trao cho họ phúc lạc của giải thoát khổ đau trong sinh tử và ân sủng hỷ lạc của  quả vị giác ngộ viên mãn!
Hãy cảm nhận niềm hỷ lạc từ đó! Đây là phiền não của chúng sinh, vì thế điều thù thắng nhất là chịu đựng phiền não thay họ và giúp những ai đang khổ đau vì nhiễm tâm phiền não được tận hưởng hạnh phúc. Hãy hoan hỉ vì quý vị đã thọ nhận cơ hội trải nghiệm khổ đau vì kẻ khác. “Thật tuyệt diệu biết bao khi con chịu đựng khổ não thay cho hết thảy chúng hữu tình!”
Hãy thực hành pháp Tong-len (cho và nhận) vào giấc sáng, chiều và tối.
Suy đi ngẫm lại: “Con thật sự may mắn biết bao khi có thể chịu đựng đau khổ thay cho người. Con đã nguyện cầu để nhận tất cả khổ não của chúng sinh về mình và những cầu nguyện đó sẽ trở thành hiện thực. Thật kỳ diệu thay! Nó làm đời sống của con thật giàu có và tràn đầy ý nghĩa. Thật cát tường biết bao khi con chịu thay đau khổ này cho hết thảy chúng hữu tình.”
Hãy nghĩ về ý nghĩa đời mình, một phương pháp tâm lý có thể tạo sự khác biệt đáng kể bởi vì phần lớn đau khổ là do khái niệm về đau đớn bị khuếch đại của bạn. Hoàn toàn có thể giảm thiểu hoặc thậm chí loại trừ hoàn toàn phiền não đau đớn bằng tâm thức. “Mục đích đời con không chỉ là để mạnh khỏe, giàu sang, có thanh danh sự nghiệp, nhiều bạn bè bằng hữu. Kể cả khi con sở hữu tất cả những thứ này, đó cũng không phải là cùng đích của đời con. Ngay cả nếu con có thọ mạng một ngàn năm tuổi hoặc sung mãn khỏe mạnh trong ngàn đại kiếp, nếu trong con không có yêu thương và bi mẫn thì cuộc đời thật vô nghĩa và vô dụng, vì rằng con chẳng thể mang lại ích lợi gì cho ai cả. Sống như thế thật trống rỗng. Vì vậy, bất chấp chuyện gì xảy ra trong đời cũng chẳng là gì hết, con có hay không có sức khỏe, phiền não hay không phiền não, mắc hay không mắc bệnh ung thư, giàu có hay nghèo túng. Mục đích thực của cuộc đời con là làm cho cái chết của con cũng lợi lạc kẻ khác. Ngay cả nếu mắc bệnh ung thư, con cũng sẽ làm cho kinh nghiệm bệnh tật ấy hữu ích cho chúng hữu tình bằng cách dùng bệnh tật để trau dồi lòng bi mẫn và tâm Bồ đề, để thành tựu chứng đắc và giác ngộ viên mãn.”
Như thế, căn bệnh ung thư sẽ trở thành nhân của phúc lạc. Phiền não đau khổ cũng có thể được sử dụng để thành tựu giác ngộ vì lợi ích tất cả chúng sinh trong đời này và đời này những kiếp sau, đăc biệt tất cả những ai chịu khổ đau vì trầm uất phiền não – cũng giống như dùng nọc độc của rắn để bào chế ra vị thuốc trị nọc độc rắn vậy.
Quý vị sử dụng phiền não để chứng đạt giác ngộ. Theo cách này, phiền não sẽ trở thành nhân của hạnh phúc cho hết thảy chúng hữu tình đang gánh chịu phiền não khổ đau.  Hãy nghĩ thế này: “Cùng đích của cuộc đời là vì lợi ích của chúng sinh, để giải thoát họ khỏi khổ đau và mang đến phúc lạc đời này và những đời sau. Ngay cả nếu con có mắc bệnh ung thư, nhiễm AIDS, bị phiền não giày vò v.v…, mục đích của đời con là mang phúc lạc đến cho tất cả chúng hữu tình bằng cách chịu thay họ những khổ não buồn đau.” Bằng cách này, cái trầm uất đau khổ lại trở thành con đường nhanh dẫn đến giác ngộ. Tương tự đối với căn bệnh ung thư, hãy dùng nó để nhanh chóng thành tựu giác ngộ. Nếu chịu đựng thay cho chúng sinh khác vì lợi ích của họ thì đây sẽ trở thành con đường giác ngộ nhanh chóng, vì chịu khổ đau thay cho chúng sinh khác là sự tịnh hóa hết sức vi diệu thù thắng. Cực kỳ tuyệt hảo!
Có một vị tăng ở Thái Lan đi kinh hành xuyên đất nước này. Khi ông tới một con sông lớn, bên bờ sông có một người phụ nữ bị bệnh hủi và máu mủ rỉ ra từ những vết thương của bà. Bà xin vị tăng cõng qua con sông nhưng ông từ chối giải thích rằng ông không thể phạm giới mà đụng vào thân thể phụ nữ. Sau đó một thời gian, một trong những đệ tử của vị tăng này cũng đi kinh hành qua đây và khi nhìn thấy người đàn bà tội nghiệp ấy, lòng từ mẫn bao la dâng tràn trong tâm ông. Không nề hà, ông đã bế người phụ nữ lên và cõng bà qua sông dù thân thể bà có nhiều vết thương còn đang lở loét. Khi đến giữa dòng sông, người phụ nữ thị hiện thành một Yogini Kim Cương trì và chuyển cả thân và tâm của vị tăng này về cõi tịnh độ của Yogini Kim Cương trì. Có nghĩa là từ đây, vị tăng này đã chứng quả vị giác ngộ viên mãn, vì bất kỳ ai đặt chân đến cõi tịnh của Yogini Kim Cương trì thì đều chứng đắc giác ngộ tại đó.  Sinh vào một cõi tịnh độ là cách nhanh nhất để thành tựu giác ngộ nếu điều đó chưa xảy ra trong kiếp hiện tiền của chúng ta. Trong trường hợp này Yogini Kim cương trì đã thị hiện trong thân một người đàn bà phàm thường tội nghiệp mắc bệnh hủi để đánh thức tâm đại bi của người đệ tử. Tâm đại bi này nhanh chóng tịnh hóa toàn bộ ác nghiệp nặng nề đã che chướng ông không nhìn thấy vị Yogini Kim Cương trì.
Trong trường hợp của vị đại hành giả Tây Tạng, ngài Milarepa, những khối nghiệp quả ngăn trở ngài nhìn thấy Yogini Kim Cương trì đã được tịnh hóa nhờ tinh thần sự phụng sự thuần khiết của ngài đối với vị Thầy thánh tăng Marpa.
Cũng tương tự cho quý vị. Nếu trên cơ sở kinh nghiệm được một tâm đại bi mạnh mẽ chịu khổ đau thay cho chúng sinh, sự thiền định chịu đựng đau khổ thay cho tha nhân sẽ là con đường nhanh dẫn đến quả vị giác ngộ, cũng giống như tấm gương của vị tăng kia. Đó là con đường nhanh dẫn đến quả vị giác ngộ vì kinh nghiệm căn bệnh ung thư, trầm uất khổ não hay bất kỳ một đau khổ nào vì lợi ích hữu tình đều có tác dụng thanh tịnh hóa ngoài sức tưởng tượng.
Đau khổ vì phiền não có thể lợi lạc vì nó cho phép quý vị dễ dàng nhìn thấy nỗi đau của kẻ khác. Dùng kinh nghiệm về đau khổ riêng của bản thân, quý vị có thể cảm nhận một cách rõ ràng những đau đớn không sao chịu thấu của vô số hằng hà chúng sinh khác. Có rất nhiều người bị phiền não giày vò và nhiều người khác đang tạo ác nghiệp sẽ phải hứng chịu trong những kiếp vị lai. Hứng chịu phiền não đau khổ thay cho họ có lẽ còn mãnh liệt hơn là thực hành pháp mật tông vì nếu hành mật tông không đúng cách, dựa trên cơ sở của căn bản ba đạo lộ, thì đó sẽ không phải là con đường nhanh dẫn đến giác ngộ.
Khi cảm thấy phiền não tiêu cực quý vị có thể tự nhủ thế này: “Mình đã tiêu trừ rất nhiều ác nghiệp phiền não tích lũy qua vô lượng kiếp trong quá khứ.” Hãy hoan hỉ! Quý vị phải cảm thấy suối nguồn hỷ lạc vô biên khi được trả nghiệp thay vì xem phiền não như điều gì đó không hay không tốt.
Như có đề cập trong lễ cúng dường Đạo sư, chúng hữu tình và hoàn cảnh sống của họ chồng chất phiền não, ác nạn không sao tưởng tượng nổi, chúng nối đuôi nhau hết cái này đến cái khác như mưa sa,  khổ não là hậu quả của các bất thiện nghiệp. “Xin hãy cho con nguồn ân sủng để con nhận ra khổ đau phiền não của con như là cách tiêu trừ các chủng tử nghiệp bất thiện, và gia trì cho con luôn có năng lực chuyển hóa nghịch cảnh thành đường tu giác ngộ.” Quý vị có thể tụng đọc chú này trong khi thiền định.
Ví dụ, khi quý vị giặt một miếng vải dơ bẩn, nước đen chảy ra với bụi đất. Quý vị đâu có xem đất bẩn đấy là thứ xấu vì điều đó có nghĩa là mảnh vải của quý vị giặt sẽ thành sạch sẽ. Cũng như thế, khi quý vị thực hành pháp thì các nghiệp tiêu cực có thể trổ chín làm cho quý vị mắc bệnh, do quý vị đã thanh tẩy rất nhiều bất thiện nghiệp qua thực hành pháp. Vì thế, quý vị phải vui mừng hoan hỉ khi mình u buồn trầm uất!
Phiền não khổ đau hiện diện trước tiên là do chúng ta bị chi phối bởi ngã, bởi tâm vị kỷ ái trọng tự thân, bởi bám luyến, sân hận, phá phạm giới tu và các hành vi làm buồn lòng các bậc đạo sư linh thiêng, những vị thầy tâm linh trong các kiếp quá khứ. Phiền não đau khổ này gây ra bởi ngã, bởi tâm vị kỷ chấp thật. Vậy, thay vì chấp nhận cái trầm uất đó  thì hãy trả nó về với cái tâm vị kỷ ái ngã. Dùng phiền não như trái bom để công phá những niệm tưởng lầm lạc về bản ngã. Sau đó hãy thiền quán về tính không của bản ngã hiện hữu độc lập.
Đây là một số phương cách sự dụng tâm phiền não trầm uất để thành tựu giác ngộ nhanh chóng. Sử dụng nó để trau dồi lòng từ ái và tâm Bồ đề, quý vị có thể tích lũy công đức vô lượng bao la như hư không và thanh tịnh một lượng ác nghiệp không thể tưởng tưởng được. Nó được sử dụng như trái bom mạnh mẽ công phá suy niệm lầm lạc về sự cái ngã hiện hữu có tự tính, cái đã gây ra đau buồn phiền não cho chúng ta. Nó chính là ma chướng cản lối giác ngộ và ngáng trở sự giải thoát khỏi luân hồi sinh tử, là cánh cửa dẫn đến mọi khổ đau.
Quý vị cũng cò thể thực hành một số pháp tu sơ khởi như tụng minh chú Kim Cang Tát Đỏa để thanh tịnh nghiệp chướng gây ra phiền não.

                                                                                              Tác giả: Lama Zopa Rinpoche 
                                                                                                               Chân Như Việt dịch


Thứ Bảy, 9 tháng 4, 2016

BẰNG CHỨNG KỲ LẠ VỀ ĐỜI SỐNG SAU KHI MÃN KIẾP



                                                      
                                        
Các đại sưu tầm gia trên toàn quốc Huê Kỳ đã tiết lộ những bằng chứng hiển nhiên mới mẽ về đời sống sau khi từ trần là một thực tế lạ lùng.

Sự kiện thích thú nhất là sự tìm thấy những hồn linh của những người quá vãng đã xâm nhập vào xác thân người còn sống.

Các nhà sưu tầm đã quá ngạc nhiên khi tìm gặp một số người mù từ thuở sơ sanh, trong lúc bị thôi miên, đã nhớ lại những tiền kiếp mà họ không bị mù lòa và tả lại rõ ràng những màu sắc và những chi tiết lịch sử rất chính xác mà họ không thể nào biết được trừ ra họ đã mục kích.

Bác sĩ Edith Flore, nhà tâm lý học ở Saratoga/California và là một sưu tầm gia hàng đầu có nhiều kinh nghiệm về tiền kiếp, đã tuyên bố rằng: "Bằng chứng cuộc sống sau khi mãn kiếp rất dễ dàng chấp nhận.. - Đời sống tiếp tục mãi mãi. - Chúng ta đã tái sanh từ kiếp nầy qua kiếp nọ, và kiếp trước của chúng ta có ảnh hưởng đến kiếp hiện tại ".

Bà Ruth Montgomery, một trong những vị sưu tầm hàng đầu trong nước và là tác giả hai tác phẩm về tâm lý bán chạy nhất, đã quả quyết những bằng chứng về các hồn linh người chết đã nhập vào kẻ còn sống.

Bà gọi đó là "Hồn Nhập" (Walk-Ins). Bà đã tả trường hợp ly kỳ của ông David Paladin, người Mỹ da đỏ, trong thế chiến thứ 2, đã bị Đức Quốc Xã bắt giữ, hành hạ và bỏ đói gần chết và bị hôn mê trong hai năm rưởi.

Bà cho biết thêm: Sau khi hết hôn mê, ông ta bắt đầu nói tiếng Nga lưu loát và rồi như thức tĩnh ông tự xưng là Vasili Kandinski, một họa sĩ lừng danh mở đường trong môn phái trừu tượng. Kandinski từ trần tại Pháp năm 1944, thọ 78 tuổi.

Bà Montgomery tiếp: "Thật là khó tin khi thấy Paladin biểu diễn tài nghệ xuất sắc về môn họa trừu tượng mà ông chưa bao giời biết vẽ từ trước.. Các tác phẩm của ông đã được nhiều thu hút và các giới phê bình nghệ thuật vô cùng thán phục. Họa thể của ông giống hệt của Kandinski một cách lạ lùng.  Và, mặc dù Paladin sống và lớn lên trong vùng thổ dân da đỏ chưa bao giờ học nhạc, thế mà ông biết dạo dương cầm... Ông Kandinski đã học dương cầm hồi còn thơ ấu và sau trở thành nhà soạn nhạc."

Hồn ma nhập xác người sống.
Bác sĩ Albert Hugh Doss, nhà tâm linh học ở Raleigh-North Carolina, đã phỏng vấn Paladin và biên thư cho bà Montgomery như sau :"Sau khi cân nhắc các sự kiện, tôi phải xác nhận rằng: David Paladin là một trường hợp kỳ lạ của "Hồn Nhập". Bà Montgomery đã tin tưởng thuyết "Hồn Nhập" đã được giải thích tại sao những người cận tử hồi sanh như những người sắp chết trên bàn mổ thường tỏ ra khác lạ sau khi bìnhphục. Bà cho biết Hồn Ma đã chiếm xác thân họ...Nhiều người sau khi hồi sanh là những Hồn Nhập.

Trong 12 người được phỏng vấn, tôi đã đối diện với "Hồn Nhập" . Tôi đã chú ý họ có nhiều điểm giống nhau. Tất cả đều tin có Đấng Tối Cao. Tất cả đều khiêm tốn, nhã nhặn và hay giúp đỡ. Tất cả đều thương yêu đồng loại với tình yêu vô vị lợi. Yếu tố nào giúp cho các sưu tầm gia nhận định được điều đó chính là một sự thay đổi toàn diện về nhân cách sau khi "Hồn Nhập" đã xâm nhập xác trần. "Hồn Nhập" đi vào xác thân người gần chết hay đã chết trong bệnh viện có khả năng làm hồi sanh thân xác và bình phục.

Chúng ta tất cả đều đã sống trước đây trong các tiền kiếp.
Việc nầy xem như khó tin được..., nhưng đây là một lãnh vực khác của luân hồi. Chúng ta đều là những người đã sống qua nhiều tiền kiếp. Bác sĩ Doss cho rằng nhiều người cận tử hồi sanh có thể là những "Hồn Nhập".

Bác sĩ James Parejko, giáo sư triết học tại Đại Học Chicago State và cũng là nhà phân tâm học đã tồn trử nhiều hồ sơ về những linh hồn bên kia nấm mộ. Ông đã nghiên cứu trường hợp 20 người mù từ thuở sơ sanh và đã được thôi miên. Họ cho biết những khung cảnh trong các tiền kiếp mà họ đã trải qua.


Khi họ hồi tưởng lại những kinh nghiệm trong kiếp trước, họ thường dùng một loại ngôn ngữ về nhãn quan để diễn tả hình ảnh tận mắt rõ ràng mà rất xa lạ đối với người mù. Thật là một sự kỳ lạ. Họ thuật lại những biến cố và địa điểm với bao nhiêu chi tiết hổn tạp, màu sắc và rõ rệt cùng những hành động , di chuyển mà không thể nào có được nếu họ không ở trong biến cố và địa điểm đó thực sự. 

Một thiếu nữ mù, 20 tuổi, đã thuật lại trong tiền kiếp ở miền nam Hoa Kỳ, thời nội chiến. Cô đã thấy những người lính Liên Minh trong bộ quân phục màu xám vừa vặn và tóc dài như vải gai.  Bác sĩ Parejko nhấn mạnh: Một người mù không thể nói được như vậy. Họ làm sao thấy được sự tương tợ giữa tóc và vải gai và làm sao biết vải gai giống thứ gì. Cô ta cũng mô tả nhà của cô cũng đã một lần sơn màu nâu, những lớp sơn tróc đi để lại những gổ trần. Cô cũng tả con chó của mình màu trắng và đen có những chấm ở mũi và quanh mắt.

Một thiếu phụ khác đã nói vế kiếp trước, thời Cổ La Mã. Bà đã tả rõ ràng khi đi ngang qua các hang ngoại đạo, có những nấm mồ dưới đất, các hang ấy xám và nhơ nhớp vì ánh sáng ít lọt vào, nền lát bằng những tảng đá lớn không đều. Bà ta cũng diễn tả một vài điều khác thường như một máng xối màu nâu đỏ rĩ sét, dài chừng bốn năm phân đang nhỏ nước. Đây thật là những chi tiết chân thực của những người đã thấy.

Bằng chứng gần đây của đời sống sau khi mãn kiếp và thuyết luân hồi dĩ nhiên dễ dàng chấp nhận. Thật khó mà chối cãi những kinh nghiệm của những người nhớ lại từ tiền kiếp với những khúc chiết lịch sữ lạ thường.

Bác sĩ Fiore người đã dựa trên 10 nghìn trường hợp của những người hồi tưởng tiền kiếp bằng cách thôi miên đã tường thuật như có có một anh chàng bán hàng thường bị đau ngực. Trong lúc thôi miên, anh ta nhớ lại hồi anh còn sống dưới thời Cổ La Mã, anh đã bị quăng vào đấu trường và bị sư tử xé banh ngực trong kiếp ấy.

Có ít nhất 10 nữ bệnh nhân có triệu chứng tương tợ. Tất cả đều lo âu, sợ hãi đàn ông, thường bị phong ngứa, và lên cân quá theo định kỳ, bắt nguồn từ kiếp trước như vậy. Bác sĩ Fiore tiếp: "Hầu như luôn luôn khi tôi thôi miên họ, tôi đã thấy họ trở về từ cái kiếp họ là người Do Thái ở Âu Châu đã bị đẩy vào trong phòng hơi ngạt của Đức Quốc Xã trong Thế Chiến 2. Họ đều bị bỏ đói, đau đớn, và bị hãm hiếp trước khi chết.

Những vết thương tình cảm từ tiền kiếp
Bác sĩ Fiore giải thích: " Trong tất cả mọi trường hợp, những vết thương lòng thường đeo theo kiếp hiện tại với kết quả hữu hiệu. Họ thường mập và không hấp dẫn để tránh đàn ông đụng chạm tới và có cảm tưởng như là để tránh đói khát." Ông cũng kể lại trường hợp một bà nột trợ, 52 tuổi, bị bệnh khó thở nặng, nhưng bà ta không thể nào bỏ thuốc lá được. Khi thôi miên, bà nhớ lại hồi thế kỷ 17, ở Anh Quốc, Bà ta bị tố cáo là phù thủy và bị hoả thiêu trên giàn hoả.  Ngay trước khi thọ hình, một nhân viên trong Giáo Hội đã thì thầm bên tai là nếu hít khói lửa vô thật sâu và nhiều, bà sẽ tránh được đau đớn khi ngọn lửa bừng cháy.

Ký ức trong tiền kiếp rất chính xác.
Một nhà sưu tầm về tiền kiếp khác, bà Helen Wambach ở San Francisco/California đã nghiên cứu 1000 người đã được thôi miên đưa về những kiếp trước và cho biết những ký ức của họ rất chính xác lạ thường. Họ đã tường thuật rất đúng những chi tiết nhỏ nhặt mà chỉ có thể tìm gặp được trong các cuộc trắc nghiệm hay sách sữ. Họ chỉ có thể biết được nếu họ sống thực sự trong không gian và thời gian ấy.

Dick Sutphen, một vị sưu tầm về tiền kiếp tại Los Angeles, đã thu thập những dữ kiện trên 30000 (ba mươi ngàn) trường hợp thôi miên đưa về các kiếp trước trên 11 năm. Ông thuật lại có một trường hợp khó tin của một người đàn bà đã luôn luôn bị ám ảnh lo âu cho những đứa con của bà mặc dù chúng đã lớn.


Ông Stutphen nói: "Bà ta thường gặp trở ngại khi để chúng một mình. Bà  không ở xa chúng được dù một ngày mà không băn khoăn những gì có thể xảy ra gây thương tích hay chết chóc cho chúng. Trong lúc thôi miên, bà ta tiết lộ, tiền kiếp của bà ở New Orleans vào Thế Kỷ 19. Ngày kia, bà đã giao đứa con trai của bà cho người nô lệ canh chừng đang lúc bà đi thăm viếng. Khi bà trở về, con trai bà bị chết đuối vì người nô lệ lơ đểnh. Ông Sutphen giải thích hành động tội phạm nầy đã ngấm sâu trong tiềm thức của bà trong kiếp hiện tại.

Bà Sarah Wilson Estep, nhà tâm linh học ở Severna Park, đã cho biết bà đã thâu băng trên hai mươi ngàn tìếng nói của người chết. Bà nói những thông điệp thâu lại của những ngưòi quá vãng là một sự cố gắng của các linh hồn trong cõi âm muốn liên lạc với chúng ta. Tuy nhiên, các tìếng nói của các linh hồn khó nghe được bằng tai trần.

Trong các âm thanh thâu được, bằng chứng rõ rệt có đời sống sau khi mãn kiếp là tiếng nói của thân phụ của bà đã từ trần cách đây 24 năm. Một sự liên lạc kỳ lạ là một sáng nọ, bà cho máy thu âm chạy và nói :"Tôi có bạn nào ở đây không ?" Bà lại nói tiếp:" Đang lúc nghe lại cuộn băng, tôi rất sững sờ ngạc nhiên khi có một giọng nói rõ ràng: " Skipper ! Cha rất lấy làm sung sướng nói chuyện với con." Bà cho biết tên Skipper là tên cưng thân phụ bà đã đặt và thường gọi bà, không ai kêu bà bằng tên nầy.

Sưu tầm gia về luân hồi Wambach đã kết luận: "Đời sống sau khi mãn kiếp giờ đây không còn là vấn đề nữa. Đã quá nhiều bằng chứng để chấp nhận. Chúng ta đã tái sanh đi tái sanh lại và không có lý do để sợ chết nữa."

                                                             Tài liệu Startling New Proof..Life after Death
                                                          PT/Ngô Quang Huynh chuyển ngữ (Jun. 18, 2015)


Thứ Năm, 7 tháng 4, 2016

XUÂN MƠ

                                                                                   




                                                                                                    XUÂN MƠ

                                                            Thức giấc đêm xuân giữa tĩnh mơ,
                                                            Ngỡ ngàng cầm bút viết dòng thơ.
                                                            Cảnh đời lưu lạc nương năm tháng,
                                                            Kiếp số lênh đênh níu phút giờ.
                                                            Trăng sáng ươm vần tâm rộn rã,
                                                            Phòng khuya dệt chữ ý vu vơ.
                                                            Trao qua đổi lại tìm hư thực,
                                                            Cố ngẫm tùy duyên trước vực bờ.

                                                            Vực bờ sâu thẳm giữa đời thương,
                                                            Mộng đẹp duyên may chẳng khác thường.
                                                            Lá úa đầu cành rơi đất cỏ,
                                                            Hoa khoe trước gió ngập vườn nương.
                                                            Mênh mang dâu bể lòng xao xuyến,
                                                            Lẩn thẩn bèo mây dạ vấn vương.
                                                            Chuông vọng canh khuya giờ đã mãn,
                                                            Đêm tàn chim hót tỏa hơi sương.

                                                                                                        Minh Đạo

Thứ Tư, 6 tháng 4, 2016

ĐẠO PHẬT CHÚ TRỌNG TRÍ TUỆ GIẢI THOÁT HƠN LÀ ÔM ĐỒM TRÍ THỨC

                                                                    



Ngược lại với thế gian, người ta lượm lặt những hiểu biết của kẻ khác về làm trí tuệ thông minh của mình, còn trong đạo chúng ta loại bỏ hết những lăng xăng của tâm thức. Gạt bỏ tất cả lăng xăng thì tâm an định, tâm an định thì tánh giác hiện ra tròn đầy.
Trong đạo Phật, không chú trọng trí thức mà chú trọng trí tuệ, không nói học giả mà nói hành giả, không nói nhà bác học mà nói người được trí tuệ vô lậu. Bởi vì trí thức là trí do ý thức nhanh nhẹn khéo léo, so sánh phân biệt, đối chiếu rành rõ, khiến người nghe dễ nhận dễ hiểu. Đó gọi là người trí thức. Còn học giả là lượm lặt những hiểu biết của người khác, những cái hay, cái lạ góp nhặt về chứa đựng rồi cho đó là kiến thức của mình. Kế nữa là những nhà bác học nghiền ngẫm, tìm kiếm rộng rãi trong các ngành triết học, khoa học… nghiên cứu phát minh thêm những sáng tạo mới. Như vậy những nhà trí thức, học giả và bác học là nhắm thẳng vào ý thức sinh diệt, tìm tòi lượm lặt bên ngoài, chứa nhóm lại thành kiến thức của mình, rồi sử dụng trở lại kiến thức ấy. Tất cả những sử dụng đó đều nhắm vào điều kiện vật chất, lo cho thân này cảnh này mỗi ngày mỗi sung túc, mỗi tốt đẹp, mỗi giàu có hơn. Đó là lo trên phương diện sinh diệt, được rồi sẽ mất.

Ngược lại người học Phật lấy trí tuệ làm gốc. Trí tuệ trong đạo Phật có chia ra hai phần: một là trí tuệ hữu lậu, hai là trí tuệ vô lậu.

Trí tuệ hữu lậu là gì? Là Văn, Tư, Tu. Văn tức là học. Học cái gì? Học những lời chân thật, Phật chỉ dạy lý thật của con người, lý thật của cuộc đời. Chúng ta học để thấy được chân lý của con người và của muôn vật. Đó là Văn. Tư là gì? Khi học rồi chúng ta nghiền ngẫm cho tới nơi tới chốn, thấy rõ, hiểu tường tận vấn đề, đó là Tư. Tu là gì? Ứng dụng nghiền ngẫm tu hành bằng cách thấy đúng như thật chân lý Phật đã dạy, để tâm không nhiễm, không dính mắc tất cả pháp sinh diệt bên ngoài, đó là Tu. Nhưng việc tu, học này còn ở trong sinh diệt nên gọi là trí tuệ hữu lậu, tức còn rơi rớt trong luân hồi sanh tử.
Trí tuệ vô lậu là gì? Là Giới, Định, Tuệ. Giới là phương tiện ban đầu để câu thúc, đừng cho tâm chúng ta phóng túng. Từ Giới sanh Định, từ Định sanh Tuệ, trí tuệ đó không do học mà có, mà do chúng ta ứng dụng tu. Vì đức Phật đã thấy nơi mọi chúng ta sẵn có tánh giác, chúng ta không cần tìm kiếm ở bên ngoài mà phải nhìn lại mình, phản quan lại mình cho tâm được an định. Tâm an định tức là những ý thức lăng xăng lắng xuống hết, bấy giờ tánh giác sẽ hiện tròn đủ, không tìm kiếm ở đâu xa. Khi chúng ta xoay trở lại mình, dẹp bỏ những lăng xăng của ý thức, gọi là định. Từ định này sẽ hiện ra trí tuệ chân thật của chính mình. Như vậy trí tuệ chân thật cũng chính là tánh giác của chúng ta.

Ngược lại với thế gian, người ta lượm lặt những hiểu biết của kẻ khác về làm trí tuệ thông minh của mình, còn trong đạo chúng ta loại bỏ hết những lăng xăng của tâm thức. Gạt bỏ tất cả lăng xăng thì tâm an định, tâm an định thì tánh giác hiện ra tròn đầy. Được trí tuệ vô lậu rồi, chúng ta sẽ không còn rớt lại, không còn chìm trong luân hồi sanh tử nữa. Như vậy người tu học bỏ ra, còn người đời học thu vào. Hai bên khác nhau ở chỗ đó.

Như chúng ta ngồi thiền là để làm gì? Đó là một phương hướng để phát sáng trí tuệ sẵn có của mình. Thật ra trí tuệ sẵn nơi mình đã tự sáng rồi, trong nhà Phật gọi đó là ông Phật của mình. Giác ngộ là Phật, tức từ tánh giác đó sáng ra, chớ không ở đâu hết. Ngoài thế gian học bao nhiêu năm, đi chỗ này chỗ kia lấy cấp bằng này cấp bằng nọ, lượm lặt của người làm của mình, nhưng không có gì thật là của mình hết. Còn chúng ta gạt hết tất cả những thứ bên ngoài, để cho tâm trong sáng, rồi tự nó thấu suốt tất cả, đó là cái thật của mình. Cái thật này ai cũng có, ai cũng làm được mà lâu nay chúng ta bỏ quên. Vì bỏ quên nên ta trở thành kẻ khờ dại ngu si, đi trong luân hồi muôn kiếp. Ngày nay nếu biết trở lại sống với cái chân thật của mình thì dòng luân hồi ngang đây chấm dứt.

Như vậy sự tu, sự học của mình là việc làm phi thường, thế gian không thể bì kịp. Song nhiều khi chúng ta lại xem thường nó, ham học cái của người, cái sanh diệt mà quên khơi lại cái không sanh không diệt của chính mình. Cho nên đức Phật Bổn Sư Thích Ca của chúng ta ngồi dưới cội Bồ-đề tới đêm bốn mươi chín Ngài giác ngộ. Khi giác ngộ viên mãn Ngài tuyên bố thành Phật và tuyên bố “Ta học đạo không có thầy”. Ai dạy Ngài trong lúc đó? Chính vì tâm an định nên Ngài sáng ra, nên Phật nói được đạo mà không ai dạy.

Như vậy tất cả Tăng Ni có người nào vô phần về việc này không? Ai cũng có phần hết, có phần tức là có đủ điều kiện để giác ngộ. Thế nhưng chúng ta cứ thả trôi, để bao nhiêu thứ phiền não xấu xa phủ che, khỏa lấp, rồi cứ thế mà chấp nhận đi trong luân hồi. Ngày nay đủ phước đủ duyên, chúng ta biết được phương pháp ứng dụng tu, phải ráng nỗ lực tu hành, mới xứng đáng là người xuất trần thượng sĩ. Nếu không, chúng ta tu để mà tu, rồi cũng tiếp tục luân hồi không đến đâu hết. Đó là điều tôi muốn nhắc cho Tăng Ni nhớ, đừng xem thường những giờ tu của mình.

Những khi ngồi yên lặng không phải là tiêu cực, không phải vô ích mà là để dẹp bỏ những mê mờ đang phủ che tánh giác của mình. Khi những mê mờ ấy lặng dứt hết thì tánh giác sáng ngời, chừng đó chúng ta mới thấy chỗ cứu kính, chỗ tuyệt vời của Phật dạy vượt hơn mọi cái của thế gian. Vì thế những vị giảng hay chưa hẳn là giải thoát vì mới có trí tuệ hữu lậu thôi, chưa phải trí tuệ do định sanh. Hiểu vậy chúng ta mới thấy trên đường tu, đi từng bước thứ tự rõ ràng mới tới kết quả viên mãn, chớ không phải tu lơ là có hình tướng. Cuối cùng mình cũng như ai, cũng ăn, cũng mặc, cũng vui chơi bình thường, như vậy đời tu không có giá trị gì hết.

Nên biết ý chí tu hành của chúng ta hết sức siêu việt, siêu phàm chớ không phải thường. Vậy mà có nhiều người vì sự ăn, sự mặc phiền não suốt đời, rồi tạo bao nhiêu thứ phiền lụy cho mọi người chung quanh. Thật là đáng tiếc, thật là đáng thương! Nhiều Phật tử được các vị chư tăng giáo hóa, nói ý nghĩa cao siêu của người tu, họ quá quí nên gặp chư Tăng liền đảnh lễ. Có nhiều người địa vị ngoài xã hội rất lớn hoặc tuổi tác trưởng thượng đáng ông bà cha mẹ, mà lạy chư Tăng còn nhỏ tuổi không hề thấy khó chịu. Tại vì họ quá quí lý tưởng của Phật Tổ dạy, quá quí sự tu hành siêu thoát.

Vậy mà chúng ta không chịu tu, khi họ lạy mình có xấu hổ không? Nếu người ta đảnh lễ mà tâm mình đang chạy ngược chạy xuôi xóm này xóm kia, lúc đó ta có tội không? Quí vị phải nhớ đừng tưởng người ta lễ mà mình mừng. Chính đó là điều khiến chúng ta càng xấu hổ khi thấy sự tu của mình chưa ra gì. Nhận người đảnh lễ thì phải trả, chớ không thể nào nhận mà không trả. Nếu ta nhận sự cung kính cúng dường của người mà không trả lại được bằng đạo đức, bằng sự tu hành chân chánh thì đời sau phải làm tôi đòi để trả nợ cũ. Họ kêu chạy vù vù hoặc họ leo lên lưng cỡi chớ không phải chuyện chơi.

Tôi nhắc nhở để Tăng Ni đừng xem thường mình, phải làm sao khai thác cho được cái cao siêu quí báu của mình, để khỏi tủi hổ làm người xuất gia mà không có chút gì cao thượng, không chút gì xứng đáng. Thực tế Tăng Ni đâu phải vì thiếu cơm ăn áo mặc mà vào chùa, đâu phải vì khổ đau quá chịu không nổi mà vào chùa. Chúng ta vô chùa là có cả một lý tưởng, bỏ hết những gì phàm tục, tìm cái cao siêu trong đạo, nếu không tu thì một đời trôi qua uổng biết chừng nào.

Hôm nay nhân ngày đầu năm, tôi có vài điều nhắc nhở tất cả Tăng Ni, Phật tử nghe hiểu ráng ứng dụng tu để xứng đáng với sở nguyện của mình. Chúng ta bỏ cha bỏ mẹ, bỏ thân bằng quyến thuộc đi tu, thì phải làm sao cho xứng đáng là người tu, chớ đừng mượn hình thức tu mà tâm rất phàm tục. Phải hiểu thật rõ ý nghĩa của người tu là làm sao đền đáp công ân cha mẹ, thầy tổ, đàn na thí chủ, chớ đừng tu cầm chừng qua ngày qua tháng, rốt cuộc mình làm một ông thầy tu rỗng mà còn nợ thiên hạ nữa, điều đó thật đau xót.

Mong tất cả quí vị nghe rồi cố gắng tu cho được trí tuệ vô sư viên mãn.
HT. Thích Thanh Từ
Nguồn tin: phathoc.net


Thứ Ba, 5 tháng 4, 2016

KẸP TAI MẸO LÀM GIẢM ĐAU HIỆU QUẢ


                   
(Ảnh: Internet)
                        

Bạn đã từng nghe đến phương pháp làm giảm đau bằng cách kẹp tai với những chiếc kẹp quần áo chưa ?

Các nhà khoa học sau khi nghiên cứu và thử nghiệm đã chỉ ra rằng, các điểm trên vành tai có liên quan đến các cơn đau nhức trong cơ thể. Vì vậy việc sử dụng những chiếc kẹp quần áo tác động lên những vị trí của tai có thể giúp làm giảm các cơn đau nhanh chóng và hiệu quả.
Trước tiên bạn hãy chuẩn bị 6 cái kẹp dùng để kẹp khi phơi quần áo như hình trên. Sau đó đánh số từ 1 đến 6. Nhưng lưu ý chỉ sử dụng những chiếc kẹp bằng nhựa hoặc gỗ để tránh tổn thương tai, không nên dùng các loại kẹp quá mạnh như kẹp sắt. Động tác phải dứt khoát, đặt phần có lực kẹp mạnh nhất vào đúng vị trí, không day kẹp trên tai.
Hãy nhìn hình dưới đây và nhớ kỹ số thứ tự tương ứng của từng chiếc kẹp

                                   Kẹp tai: Mẹo giảm đau dễ làm lại hiệu quả

Chiếc kẹp thứ 1: Làm giảm đau lưng và vai

                                   Kẹp tai: Mẹo giảm đau dễ làm lại hiệu quả

Phần đỉnh của tai chính là nơi liên kết trực tiếp với phần lưng và vai. Dùng chiếc kẹp thứ nhất kẹp tai vị trí này khoảng 1 phút, bạn sẽ có thể giảm bớt áp lực tích lũy lâu. Hãy thử làm vài lần một ngày, hiệu quả sẽ càng rõ rệt hơn.

Chiếc kẹp thứ 2: Làm giảm đau các cơ quan nội tạng

Kẹp tai: Mẹo giảm đau dễ làm lại hiệu quả
                                   

Ngay phía dưới vị trí cao nhất của tai là nơi có liên quan chặt chẽ đến cơ quan nội tạng trong cơ thể. Nếu như các cơ quan nội tạng của bạn rất đau thì nên đến bệnh viện khám để được chữa trị kịp thời. Nhưng nếu như chỉ là cần tạm thời giảm bớt một chút gánh nặng cho cơ quan nội tạng thì sử dụng cách này là rất phù hợp.

Chiếc kẹp thứ 3: Làm giảm đau khớp

Kẹp tai: Mẹo giảm đau dễ làm lại hiệu quả
                                   

Vị trí ở giữa tai là nơi có liên quan trực tiếp đến cơn đau nhức của khớp xương. Nếu như bạn cảm thấy các khớp đau đớn hoặc thường xuyên căng cứng, đừng ngại thử phương pháp này!

Chiếc kẹp thứ 4: Làm giảm xoang và đau cổ họng

Kẹp tai: Mẹo giảm đau dễ làm lại hiệu quả
                                   

Hơi chếch xuống dưới vị trí giữa vành tai là nơi có liên quan đến xoang và cổ họng. Nếu khi bị cảm lạnh, đau cổ họng hoặc viêm xoang, hãy thử dùng cách này nhé!

Chiếc kẹp thứ 5: Giúp chữa bệnh đường tiêu hóa

Kẹp tai: Mẹo giảm đau dễ làm lại hiệu quả
                                   

Vị trí ngay trên dái tai có liên quan trực tiếp với các bệnh về tiêu hóa. Nếu tác động nên vị trí này sẽ giúp làm giảm các chứng khó tiêu và các bệnh về dạ dày.

Chiếc kẹp thứ 6: Làm giảm đau đầu và tim

                                   

Dái tai là nơi có liên quan trực tiếp đến đầu và tim. Vì thế mà người ta thường nói, nên thường xuyên vân vê dái tai để trái tim được khỏe mạnh và làm giảm đau đầu.

Phương pháp kẹp tai giảm đau vừa đơn giản hiệu quả lại không tốn kém, bạn có thể tự làm và cảm nhận, lắng nghe phản ứng của cơ thể nhé.

Lưu ýTrường hợp bị đau quá hoặc thấy không có hiệu quả giảm đau thì cần đến gặp bác sĩ chuyên khoa để thăm khám kịp thời.

                                                    Theo Letu.life
                                                      Mai Trà biên dịch

THỐNG KHỔ NGUYÊN TỪ ÍCH KỶ, TRÍ TUỆ ĐẾN TỪ THIỆN TÂM

                                                               

“Trong đời người, mỗi một phần thoải mái và tự tại, sau lưng đều có người khác trả giá, ngàn vạn lần đừng cho rằng mọi điều mình có đều là đương nhiên, lúc chúng ta hưởng thụ cuộc sống, nhất định phải biết cảm ơn.”

Những lời này có thể nói là những lời khuyên khó quên nhất mà tôi đã nhận được từ một người bạn nhiều năm trước, nó khiến tôi ngày càng trở nên thân thiện, tỉnh táo và trí tuệ, giải quyết được rất nhiều mâu thuẫn trong gia đình và xã hội, cách dạy con cũng càng trở nên như ý.
Từ đó về sau tôi thoát khỏi sự ích kỷ, thoát khỏi vô tận phiền não do suy nghĩ lấy mình làm trung tâm gây ra, khi tôi học cách đứng trên góc độ của người khác mà suy nghĩ vấn đề, làm việc cân nhắc đến cảm thụ của người khác, cảm ơn điều người khác đã trả giá vì tôi, tôi đã rất nhanh tìm được phương pháp xử lý thích đáng mỗi khi mâu thuẫn nảy sinh. Khi một người trở nên lương thiện, sẽ tự nhiên mà đạt được trí huệ. Nếu mọi chuyện đều xoay quanh chính mình, dùng mình làm điểm xuất phát để cân nhắc vấn đề, sẽ khắp nơi gây chuyện, liên tiếp tạo ra mâu thuẫn, khiến bản thân hãm sâu trong đó mà không nhìn tới ánh sáng và hy vọng, bởi vì ích kỷ sẽ sinh ra oán hận, oán hận là khởi đầu cho sự ngu muội, phiền não và thống khổ cũng sẽ theo cùng chừng nào người đó còn sống.
Xã hội ngày nay cường điệu cá nhân, mọi người đều không ý thức được loại quan niệm ích kỷ này sẽ mang đến hậu quả gì, còn tôi thì đã từng trải nghiệm hậu quả quá lớn từ nó, thế nên vợ chồng đã từng lâm vào một lần nguy cơ. Bất quá những chuyện này đã vô cùng xa xôi, tôi sẽ bắt đầu từ một câu chuyện cãi nhau của mấy đứa nhỏ trong gia đình tôi từ một năm trước.
Con gái lớn của tôi đã là một học sinh trung học, học tập rất xuất sắc, thi cử thường thường đều đứng nhất, nhưng vô cùng kiêu ngạo, bị ảnh hưởng từ xã hội cường điệu cá nhân, suy nghĩ cũng trở nên vô cùng ích kỷ, không hiểu được phải quan tâm đến cảm nhận của người khác, thái độ nói chuyện gần đây là một bộ dạng chướng mắt cao ngạo, về đến nhà là cười nhạo hai em, hoặc dùng giọng điệu chán ghét để dạy dỗ bọn chúng, giống như tất cả mọi người vốn phải nhường nó, coi nó là trung tâm vậy. Gần đây lại đàn ghi ta tốt hơn, nên mỗi ngày đi học về, lại càng lớn tiếng luyện hát tập đàn, không coi ai ra gì, căn bản mặc kệ em trai em gái đang xem TV, còn chê cười xem TV rất nhàm chán, cuối cùng không kiên nhẫn trách mắng âm thanh TV quá lớn, ảnh hưởng nó luyện tập, còn vô cùng tức giận nữa. Thật ra trên lầu vốn có phòng của nó, vậy mà hết lần này đến lần khác cứ muốn tập ở phòng khách.
Tôi vô cùng hiểu rõ nếu nó cứ tiếp tục không nhận ra vấn đề của mình như vậy, nếu đối với bất cứ chuyện gì đều không vừa lòng, cũng không hiểu được những gì mình đang có đều là cha mẹ và hai em nhẫn chịu và hy sinh, cứ nghĩ rằng những chuyện đó đều là đương nhiên, không có chút bận tâm cảm ơn; nếu cứ tiếp tục như vậy, cho dù nó có tốt nghiệp đại học danh tiếng, cũng sẽ không biết cảm thông với người khác, sẽ gặp phải trắc trở khắp mọi nơi, hôn nhân của nó rồi cũng sẽ không cách nào tưởng tượng được. Nhìn bộ dáng của nó, thật giống bóng dáng của tôi ngày xưa, căn bản không hiểu được rằng nếu không biết được tầm quan trọng của thiện tâm, thì dù đầu óc có thông minh và nhiều tri thức, cũng sẽ không có được cuộc sống thành công và hạnh phúc.
Vì vậy, sau khi đợi nó nguôi giận, tôi từ tốn nói cho nó biết: Con người là bình đẳng, từng sinh mệnh đều đáng ngưỡng mộ, có lẽ con cho rằng việc của con là quan trọng, nhưng với em trai em gái con mà nói, xem TV là việc rất trọng yếu, nếu đứng ở góc độ của em con, thì chính con đang quấy rầy bọn nó xem TV, âm thanh đều không nghe được nữa, nhưng bọn chúng không ai trách cứ con, thật ra đều là đang nhường còn đó! Mẹ cũng đọc sách ở đây, cũng đều không nói gì con, con hãy nghĩ lại xem, không phải mọi người đang nhường nhịn con đó sao? Nếu con cảm thấy cần chỗ an tĩnh hơn, con có thể về phòng của mình! Vì sao cứ luôn nghĩ rằng người khác phải hy sinh cho con? Con có thể lớn tiếng luyện đàn tập hát ở đây, chính là vì hai em con có lòng nhường nhịn, con chẳng những không nên la rầy chúng nó, mà còn phải cảm ơn chúng nó! Sở thích của người khác con cảm thấy nhàm chán, nhưng nếu người khác cũng nhàm chán, cũng không hứng thú với sở thích của con, cười nhạo con, con sẽ dễ chịu sao? Làm người sao có thể không để ý đến cảm nhận của người khác? Con phải học được cách suy nghĩ vấn đề dựa trên góc độ của người khác. Không nên luôn oán hận và bất mãn. Nghe xong, nó lộ mặt xấu hổ.
Có một lần, bởi vì em trai hứa đáp ứng một việc, nên nó đã bắt em trai 11 tuổi đạp xe đạp đi mua mấy thứ đồ dùng, ý là muốn em trai phải giữ chữ tín, lúc ấy tôi thấy nó đang quá nghiêm khắc với mọi người, tôi nhắc nhở nó cần phải cân nhắc đến khả năng và an toàn của em, nó trả lời chuyện đã hứa thì phải làm, tôi biết rõ chỉ nói suông là không có tác dụng, cũng muốn dạy con trai đạo lý không thể dễ dàng hứa hẹn, cũng thông cảm con gái lớn mong được mẹ đối xử công bình, cũng không muốn nó hiểu lầm tôi thiên vị em trai, vì vậy, tôi giữ thái độ quan sát đối với chuyện này. Kết quả, quả nhiên em trai vì quá khẩn trương mua mấy thứ đó mà khóc lóc về nhà, tôi an ủi nó, nhắc chuyện này về sau để mẹ làm, con còn quá nhỏ, khả năng chưa đủ, nhưng lần này mẹ không làm thay con, là vì để con nhớ kỹ giáo huấn, về sau trước khi đáp ứng người khác thì phải xem xét năng lực của mình, nếu không một khi đã nhận lời mà không làm được, sẽ hai đầu khó xử, không làm thì thất tín, làm không tốt thì sai.
Không lâu sau, con gái ghét cây đàn ghi-ta hiện tại vì luyện không như ý, muốn cái mới, nhưng cây đàn này lúc trước nó hứa với ba sẽ luyện nửa năm trở lên, ba mới đáp ứng lấy đàn từ nhà cô bên Trung Quốc về Nhật Bản, nếu không giữ lời hứa, sẽ không tốt, nên rất đau khổ, nó hỏi có thể dùng tiền tiết kiệm của nó để mua được hay không. Tôi nói, chuyện này rất đơn giản, mẹ thông cảm lý do con muốn cây đàn mới, cũng sẽ không phản đối con mua cây đàn phù hợp với mình, nhưng vấn đề không phải dùng đồng tiền nào để mua, mà là ở chỗ con không thực hiện lời hứa của mình, cảm thấy đau khổ, vậy con xem lần này như một lần giáo huấn, về sau cẩn thận đối đãi, bây giờ, biện pháp tốt nhất là xin lỗi ba con, thừa nhận mình sai, để ba tha thứ cho con, hãy cảm ơn ba đã vất vả mang về nhà cho con, nhất định phải nhớ cảm ơn ba, sau đó xin ba tha lỗi vì con đã không giữ lời hứa. Mẹ nghĩ ba sẽ tha thứ cho con. Việc con gây ra nhất định phải tự giải quyết mới được.
Vì vậy tôi hỏi nó, lúc này con đã hiểu vì sao mẹ khuyên con không nên quá nghiêm khắc với em trai con rồi chứ? Dù là ai cũng có lúc cần được tha thứ, làm người, không thể quá nghiêm khắc với người khác. Lúc này, nó mới hiểu lời tôi.
Từ đó về sau, thái độ của nó thay đổi. Còn tôi, sỡ dĩ tôi biết dạy con như vậy, chính là vì quan niệm của tôi đã thay đổi, không nhìn vấn đề ở góc độ của mình, mà đứng từ góc độ của bọn nhóc, những kinh nghiệm như vậy rất nhiều; ngày xưa, mối quan hệ của vợ chồng tôi không tốt, cũng là vì tôi không biết cảm ơn chồng đã kiếm tiền nuôi gia đình, nghĩ rằng chuyện đó là đương nhiên, sau khi quan niệm thay đổi, từ nội tâm tôi không còn cho rằng mọi điều tôi có đều là đáng phải có nữa, cũng thường chân thành cảm ơn và thỏa lòng, tình cảm vợ chồng từ đó lại tốt hơn, tự nhiên, vợ chồng, con cái, hàng xóm thậm chí công việc đều càng thuận buồm xuôi gió, thiện tâm thật sự sẽ mang đến cho người trí tuệ và hạnh phúc vậy.
Tôi thấu hiểu rằng, người xưa Trung Quốc giảng Nhân Nghĩa Lễ Trí Tín, vì sao phải đặt Nhân Nghĩa ở hàng đầu, vì nếu người không có thiện tâm, không có nghĩa khí, sẽ không có trí tuệ sâu dày. Còn nếu chỉ coi trọng chữ Tín, mà không có Nhân Nghĩa, thậm chí có khi sẽ hết lòng tuân thủ lý niệm sai lầm mà làm ra sự tình hại người, trợ Trụ vi Ngược. Cho nên, làm người đầu tiên cần phải có Nhân Nghĩa làm cơ sở vậy!
                                   Tác giả: Lưu Như, sound of the hope | Dịch giả: ĐKN