Thứ Tư, 4 tháng 1, 2017

BÁT NHÃ QUÁN CHIẾU

Kết quả hình ảnh cho trí bat nhã



Nói đến Bát-nhã (Trí huệ), các luận thường phân làm ba: Bát-nhã văn tự, Bát-nhã quán chiếu, và Bát-nhã thật tướng. Bát-nhã văn tự là sự nghiên cứu ở cấp độ ý thức những bản văn của hệ thống Kinh Bát-nhã. Sự nghiên cứu này chưa đủ để đi vào Bát-nhã, phải thực hành Bát-nhã. Bát-nhã quán chiếu là sự thực hành Bát-nhã để đạt đến thật tướng của Bát-nhã, tức là tánh Không.
Chân lý, hay thực tại, đối với người Hy Lạp cổ là aletheia, lột bỏ sự che đậy, vén màn. Nhưng chân lý hay thực tại thì không tự che đậy, không phủ màn. Sơ tổ Vô Ngôn Thông đã nói về chân lý hay thực tại: “Không từng che dấu”, và “Khắp tất cả chỗ”. Thế thì sự che đậy, phủ màn này là do chúng ta. Chính chúng ta tự bịt mắt mình bằng những lớp màn chấp ngã chấp pháp để cái thấy về thực tại bị khúc xạ, méo mó, phân mảnh.
Sự quán chiếu của Bát-nhã là để lột bỏ những tấm màn ấy, đang ngăn che chúng ta với thực tại của mọi sự vật là tánh Không, bởi vì sự vật thì từ vô thủy đến vô chung vẫn chính là tánh Không: “Sắc tức thị Không, Không tức thị sắc”. Sự vật vẫn bình thường là tánh Không như vậy. Nhưng chính sự bất bình thường của tâm, chính những bệnh tật trong tâm của chúng ta khiến cho chúng ta thấy sắc chẳng phải là Không, Không chẳng phải là sắc. Vậy thì Bát-nhã quán chiếu là chỉnh sửa lại cái thấy cho đúng, thấy không điên đảo méo mó. Cái thấy đúng (chánh kiến) này giải thoát chúng ta khỏi những bất bình thường, những bệnh tật thấy biết sai lầm của chúng ta, cũng những thứ này nuôi dưỡng cho thế giới khổ đau sanh tử của chúng ta.
Dùng thuật ngữ hiện đại thì Bát-nhã quán chiếu là giải cấu trúc, giải kiến lập (déconstruire) hệ thống những mê lầm vô minh của chúng ta.
Tác phẩm Trung Đạo luận hay Trung luận của Bồ-tát Long Thọ là một luận giải về tánh Không. Nhưng thật ra, 27 phẩm của cuốn luận là 27 pháp quán để thấy ra tánh Không: quán nhân duyên, quán sự đến đi, quán sáu giác quan, quán năm ấm, quán sự nhiễm ô và người nhiễm ô, cho đến quán có không, quán Niết-bàn, quán 12 nhân duyên… Những chữ “quán” này ngài Cưu-ma-la-thập phần nhiều dịch thành chữ “phá”: phá nhân duyên, phá sự đến đi, phá sáu giác quan… Quán các tướng là để phá các tướng do vọng chấp phân biệt tạo thành. Khi các giả tướng tiêu trừ đến đâu thì thật tướng tánh Không hiện ra đến đó.
Kinh Đại Bát-nhã có rất nhiều pháp quán chiếu, đủ mọi góc cạnh, đủ mọi phương diện, đủ mọi đối tượng, cho đủ mọi khuynh hướng cá nhân. Ở đây chúng ta chỉ trích ra vài pháp quán trong phẩm Vô Sanh thứ 26, để thấy con đường Văn, Tư, Tu của Bát-nhã, để nghiên cứu, tư duy và thực hành Bát-nhã hầu thể nhập tánh Không.
Tánh Không này là Nền tảng của mọi bậc thánh Thanh văn, Độc giác, Bồ-tát và Phật. Tánh Không là Nền tảng của mọi tông phái Phật giáo. Phẩm Vô Sanh nói:
“Bát-nhã ba-la-mật hay sanh và dung chứa tất cả pháp lành của Thanh văn, Độc giác Phật, Bồ-tát và Phật”.
Phẩm Vô Sanh bắt đầu từ những câu hỏi căn bản của ngài Xá-lợi-phất hỏi ngài Tu-bồ-đề trước sự hiện diện của Đức Phật:
“Đại Bồ-tát thực hành Bát-nhã ba-la-mật quán các pháp. Những gì là Bồ-tát? Những gì là Bát-nhã ba-la-mật? Những gì là quán?
Ngài Tu-bồ-đề nói: Vì Vô thượng chánh đẳng chánh giác mà phát đại tâm, người này gọi là Bồ-tát. Người này cũng biết tất cả tướng tất cả pháp mà chẳng bám nắm, biết tướng của sắc cho đến biết tướng của các pháp bất cọng nhưng cũng chẳng bám nắm”.
Phát Bồ-đề tâm, muốn đạt đến tánh Không để cứu độ chúng sanh là con đường Bồ-tát. Bồ-đề tâm gồm đủ cả giới và hạnh của Bồ-tát, gồm cả bi và trí. Tất cả giới hạnh ấy phải được tiến hành trong sự không bám nắm, nghĩa là trong sự tương ưng với tánh Không. Bồ-đề tâm tương đối do có phát nguyện, có thực hành này dần dần thể nhập vào Bồ-đề tâm tuyệt đối, tức là tánh Không.
“Ngài Xá-lợi-phất hỏi: Những gì là tất cả tướng, tất cả pháp?
Ngài Tu-bồ-đề nói: Nếu dùng danh tự và các nhân duyên hòa hợp để biết các pháp, đây là sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp, đây là pháp hữu vi, đây là pháp vô vi. Dùng danh tự ngôn ngữ để biết các pháp thì gọi là biết tướng của pháp.
Như lời ngài Xá-lợi-phất hỏi những gì là Bát-nhã ba-la-mật? Vì viễn ly nên gọi là Bát-nhã ba-la-mật. Những gì là viễn ly? Viễn ly ấm, giới, nhập. Viễn ly ba-la-mật. Viễn ly Không. Do đây nên viễn ly gọi là Bát-nhã ba-la-mật”.
Các pháp là do danh tự và những nhân duyên hòa hợp mà có. Không có danh thì không có sự gọi tên phân biệt sự vật này với sự vật khác. Không có những nhân duyên hòa hợp thì cũng không có tướng của sự vật. Tướng do những nhân duyên sanh và những nhân duyên diệt nên tướng không có tự thể, tướng không có tự tánh. Quán thấy các pháp chỉ là danh tướng, duyên sanh nên vô tự tánh, như vậy là quán tánh Không của tất cả các pháp. Bát-nhã quán chiếu hay Trí huệ quán chiếu là nhìn thấy thật tướng của tất cả các pháp, thật tướng đó là tánh Không. Như vậy tánh Không là sự giải thoát cho tất cả mọi tướng, nghĩa là giải thoát cho sanh tử.
Bắt đầu thấy tánh Không là bắt đầu viễn ly (xa lìa). Các tướng tiêu dung đến đâu, tánh Không hiện ra đến đâu thì viễn ly rộng ra đến đó. Viễn ly này là tự động vì tướng không có thật thì bám nắm cái gì? Mọi pháp có đó, nhưng không cứng đặc, không cốt lõi, không hình tướng, không có thật, như cầu vồng, như dợn nắng mà tưởng là nước, như mắt nhặm thấy tóc rủ hay con ruồi trước mặt, như thấy hoa đốm giữa không trung…
Sự viễn ly này không chỉ áp dụng cho đối tượng cần viễn ly, mà cho cả chủ thể đang sử dụng những phương tiện để viễn ly: “Viễn ly ba-la-mật. Viễn ly Không. Lại viễn ly bốn niệm xứ đến viễn ly mười tám pháp bất cọng, viễn ly Nhất thiết trí. Do đây nên viễn ly gọi là Bát-nhã ba-la-mật”.
“Những gì là Quán? Lúc thực hành Bát-nhã ba-la-mật, đại Bồ-tát quán sắc chẳng phải thường chẳng phải vô thường, chẳng phải vui chẳng phải khổ, chẳng phải ngã chẳng phải vô ngã, chẳng phải không chẳng phải chẳng không, chẳng phải tướng chẳng phải vô tướng, chẳng phải tác chẳng phải vô tác, chẳng phải tịch diệt chẳng phải chẳng tịch diệt, chẳng phải ly chẳng phải chẳng ly. Thọ tưởng hành thức, các ba-la-mật… cho đến Nhất thiết chủng trí cũng như vậy. Đây gọi là đại Bồ-tát quán các pháp khi thực hành Bát-nhã ba-la-mật”.
Quán là phá các tướng do bám nắm phân biệt mà có. Quán là phá các giả tướng để đưa chúng trở về thật tướng của chúng là tánh Không. Các tướng không còn che đậy thì thực tại tánh Không và cũng là thực tại tối hậu hiện ra: “Thấy các tướng chẳng phải tướng tức thấy Như Lai” (Kinh Kim Cương).
“Ngài Xá-lợi-phất hỏi: Do nhân duyên gì mà sắc chẳng sanh là chẳng phải sắc, cho đến Nhất thiết chủng trí chẳng sanh là chẳng phải Nhất thiết chủng trí?
Ngài Tu-bồ-đề nói: Sắc và sắc tướng rỗng không. Trong sắc rỗng không ấy không có sắc cũng không có sanh, cho đến Nhất thiết chủng trí cũng như vậy. Do đây nên sắc chẳng sanh là chẳng phải sắc, cho đến Nhất thiết chủng trí chẳng sanh là chẳng phải Nhất thiết chủng trí”.
Sắc thọ tưởng hành thức cho đến Nhất thiết chủng trí là rỗng không; rỗng không nên không có chỗ sanh ra. Sắc cho đến Nhất thiết chủng trí đã chẳng sanh nên chúng không phải là sắc cho đến Nhất thiết chủng trí. Chẳng sanh thì không có gì để gọi là sắc cho đến Nhất thiết chủng trí.
Chữ “chẳng phải” ở đây đồng nghĩa với chữ “chẳng phải” trong câu kinh Kim Cương đã trích dẫn ở trên.
Quán sắc chẳng sanh, mà vốn đã chẳng sanh nên chẳng phải sắc, đó là quán chiếu của Bát-nhã ba-la-mật.
“Ngài Xá-lợi-phất hỏi: Do nhân duyên gì mà nói rằng sắc chẳng hai là chẳng phải sắc, cho đến Nhất thiết chủng trí chẳng hai là chẳng phải Nhất thiết chủng trí?
Ngài Tu-bồ-đề nói: Có sắc là có chẳng hai, cho đến có Nhất thiết chủng trí là có chẳng hai. Tất cả những pháp này chẳng hợp chẳng tan, không sắc, không hình, không đối, một tướng, tức là không có tướng. Do đây nên sắc chẳng hai là chẳng phải sắc, cho đến Nhất thiết chủng trí chẳng hai là chẳng phải Nhất thiết chủng trí”.
Sắc là chẳng hai, là vô tướng. Đã chẳng hai, vô tướng thì đó chẳng phải là sắc.
“Ngài Tu-bồ-đề nói: Sắc chẳng khác vô sanh, vô sanh chẳng khác sắc. Sắc tức là vô sanh, vô sanh tức là sắc. Do đây nên sắc ở trong không có hai. Cho đến Nhất thiết chủng trí cũng như vậy”.
Sắc là vô sanh cho đến tất cả các pháp là vô sanh. Đây là cái thấy giải thoát của Bát-nhã.
“Bấy giờ ngài Tu-bồ-đề bạch với Đức Phật: Bạch Thế Tôn! Nếu đại Bồ-tát thực hành Bát-nhã ba-la-mật mà quán các pháp như vậy thì thấy sắc là vô sanh, vì rốt ráo thanh tịnh vậy. Thấy thọ tưởng hành thức vô sanh, vì rốt ráo thanh tịnh vậy. Cho đến thấy Phật và Phật pháp vô sanh vì rốt ráo thanh tịnh vậy”.
Vì tất cả các pháp là vô sanh cho nên tất cả đều rốt ráo thanh tịnh, nghĩa là chưa từng bị nhiễm ô bởi sanh tử. Tại sao chưa từng bị nhiễm ô bởi sanh tử? Bởi vì trong Bát-nhã quán chiếu thì sanh tử là vô sanh, chưa từng sanh ra nên chẳng có sự nhiễm ô và cái gì bị nhiễm ô cả.
“Ngài Tu-bồ-đề nói với ngài Xá-lợi-phất: Tôi chẳng nghĩ pháp vô sanh có sở đắc. Tôi cũng chẳng nghĩ trong pháp vô sanh có được quả Tu-đà-hoàn, cho đến có được quả Độc giác Phật. Tôi cũng chẳng cho rằng trong pháp vô sanh có Bồ-tát làm việc khó làm là chịu khổ cho chúng sanh, Bồ-tát cũng chẳng dùng tâm khó làm để hành đạo. Tại sao vậy? Vì nếu sanh tâm khó tâm khổ thì chẳng có thể lợi ích cho vô lượng vô số chúng sanh.
Này ngài Xá-lợi-phất! Ở đây Bồ-tát thương xót chúng sanh. Với chúng sanh, Bồ-tát tưởng như cha mẹ anh em con cháu, cũng tưởng như thân mình. Thế nên Bồ-tát có thể lợi ích vô lượng vô số chúng sanh, vì chỗ dụng vô sở đắc vậy.
Bồ-tát nên sanh tâm như thế này: Như ngã là bất khả đắc, nơi tất cả chỗ, tất cả nội pháp ngoại pháp cũng đều bất khả đắc. Nếu sanh tâm như thế thì Bồ-tát không có tâm khó tâm khổ. Vì sao thế? Vì Bồ-tát này nơi tất cả chỗ, tất cả pháp đều chẳng lãnh thọ”.
Vì tất cả đều ở trong thật tướng vô sanh nên sự chứng đắc của các bậc thánh và sự khổ đau của chúng sanh đều vô sở đắc. Tánh Không có thể hòa giải và hợp nhất hai điều đối nghịch: Sự tự giải thoát cho mình (Trí huệ) và làm việc cho sự giải thoát của người khác (Đại bi).
“Ngài Tu-bồ-đề nói: Đúng như vậy. Theo danh tự thế gian nên có trí, có đắc. Sáu loài sai khác cũng do danh tự thế gian mà có, chẳng phải đệ nhất nghĩa đế.
Vì sao thế? Vì trong Đệ nhất nghĩa đế (tánh Không) không có nghiệp, không có báo, không có sanh không có diệt, không có tịnh không có cấu”.
Nghiệp và nghiệp báo có ra là do tâm phân biệt dựa trên danh tướng hư vọng, từ ý nghiệp này sanh ra khẩu nghiệp và thân nghiệp. Khi tâm và danh tướng đều Không, tâm và cảnh đều Không, thì nghiệp và báo cũng không còn chỗ để mọc mầm, thành cây, ra quả. Ba nghiệp chấm dứt thì sanh tử chấm dứt vậy.
“Ngài Xá-lợi-phất hỏi tiếp: Pháp chẳng sanh sanh chăng? Pháp sanh sanh chăng?
Ngài Tu-bồ-đề nói: Tôi chẳng cho rằng pháp chẳng sanh có sanh, cũng chẳng cho rằng pháp sanh có sanh.
Ngài Xá-lợi-phất hỏi: Pháp chẳng sanh nào không cho là có sanh?
Ngài Tu-bồ-đề nói: Sắc là pháp chẳng sanh, tự tánh nó rỗng không chẳng cho là có sanh. Cho đến Vô thượng Bồ-đề là pháp chẳng sanh, tự tánh nó rỗng không chẳng cho là có sanh”.
‘Cái chẳng sanh cũng chẳng sanh’, đây là một trong những Văn tự Bát-nhã rốt ráo, Quán chiếu Bát-nhã rốt ráo và Thật tướng Bát-nhã rốt ráo.
Kinh tiếp tục những đoạn về Bát-nhã quán chiếu:
“Ngài Xá-lợi-phất hỏi: Thế nào là các pháp không có chỗ y tựa?
Ngài Tu-bồ-đề nói: Tánh sắc thường Không, chẳng y tựa trong, chẳng y tựa ngoài, chẳng y tựa trung gian. Cho đến tánh Nhất thiết trí thường Không, chẳng y tựa trong, chẳng y tựa ngoài, chẳng y tựa trung gian. Do đây nên tất cả pháp không chỗ y tựa, vì tánh thường Không vậy”.
Với sự quán sát liên tục và tinh tế các pháp thường Không, không có chỗ y tựa, danh tướng của chúng mờ nhạt dần nhường cho tánh Không hiển lộ. Khi những tấm màn che của phiền não chướng và sở tri chướng đã bị loại bỏ một phần nào, người ta thấy trực tiếp tánh Không, tức là Đệ nhất nghĩa đế. Thấy trực tiếp, dù còn chưa thật rõ, nghĩa là từ đây người ta không bao giờ mất Nó nữa, dù trong bất cứ hoàn cảnh nào, thời gian nào, không gian nào. Dùng chữ của kinh Pháp Hoa, đây gọi là Ngộ. Dùng chữ của Thiền tông gọi là thấy Tánh. Rồi tiếp tục đi sâu vào và sống trong tánh Không, thấm nhuần một cách trọn vẹn, đây là Nhập. Đến lúc chỉ còn là sự thanh tịnh tuyệt đối, vì không còn manh mún nào của phiền não và danh tướng của sanh tử.
Chúng ta trích một đoạn về Bố thí ba-la-mật:
“Này ngài Xá-lợi-phất! Thế nào là sự Bố thí ba-la-mật xuất thế gian? Chính là ba phần thanh tịnh vậy. Những gì là ba? Lúc bố thí, đại Bồ-tát chẳng thấy có mình, chẳng thấy có người nhận, chẳng thấy có vật bố thí, cũng chẳng trông mong báo đáp. Đây gọi là đại Bồ-tát bố thí ba-la-mật ba phần thanh tịnh.
Lại lúc bố thí, đại Bồ-tát bố thí cho chúng sanh mà không thấy có chúng sanh, đem sự bố thí này hồi hướng vô thượng bồ-đề, thậm chí không thấy có tướng pháp vi tế nào”.
Bố thí mà an trụ trong tánh Không thì càng bố thí người ta càng thâm nhập tánh Không. Bố thí là việc làm phước đức. Không thấy có ba phần nên ba phần thanh tịnh là trí huệ quán chiếu tánh Không. Cả hai, phước đức và trí huệ, được hợp nhất trong cùng một quá trình. Nói cách khác, đây là sự hợp nhất của Phương tiện và Trí huệ.
Phần cuối của phẩm Vô Sanh, chữ “niệm đại bi” được nhắc tới ba lần.
“Người thực hành Bồ-tát đạo vì cứu tất cả chúng sanh nên tâm chẳng rời bỏ tất cả chúng sanh, bởi vì chúng sanh vô sở đắc vậy.
Bồ-tát phải thường chẳng rời niệm này: chính là đại bi niệm”.
Chỉ có trong Bát-nhã ba-la-mật mới hợp nhất được hai thực tại, mà với thế gian là mâu thuẫn với nhau, thành một. Đó là tánh Không vô sở đắc và đại bi chẳng rời bỏ chúng sanh.
“Ngài Tu-bồ-đề nói: Vì chúng sanh không có nên niệm cũng không. Vì chúng sanh tánh Không nên tánh niệm cũng Không. Vì pháp chúng sanh không có nên pháp niệm cũng không. Vì chúng sanh ly nên niệm cũng ly. Vì chúng sanh rỗng không nên niệm cũng rỗng không.
Này ngài Xá-lợi-phất! Vì sắc không có nên niệm cũng không. Vì tánh sắc không có nên tánh niệm cũng không. Vì pháp sắc không có nên pháp niệm cũng không. Vì sắc ly nên niệm cũng ly. Vì sắc rỗng không nên niệm cũng rỗng không. Cho đến Vô thượng bồ-đề cũng như vậy.
Này ngài Xá-lợi-phất! Đại Bồ-tát thực hành Bồ-tát đạo, tôi mong muốn vị ấy chẳng rời niệm này: chính là đại bi niệm”.
Sự thấu đạt tánh Không là Trí. Sự không bỏ chúng sanh là Bi. Trí và Bi phải có từ bắt đầu con đường, khi phát Bồ-đề tâm. Bồ-đề tâm này là tương đối vì có sanh khởi, tác ý phát nguyện, nhưng cũng gồm đủ sự song hành của sơ trí và sơ bi. Cho đến khi đạt đến Bồ-đề tâm tuyệt đối (tức là tâm của các bậc giác ngộ) thì Trí viên mãn và Bi viên mãn hợp nhất trong Bồ-đề tâm tuyệt đối này.
Chính nhờ tánh Không mà Bi mới trở thành Đại. Nhờ tánh Không mà lòng bi mới mở rộng vô biên thành đại bi. Nhờ tánh không vô tự tánh và vô ngại mà có sự hợp nhất trọn vẹn của Trí và Bi. Một bậc giác ngộ thì có đủ ba thân hợp nhất: Pháp thân là Đại Trí, Báo thân và Hóa thân là Đại Bi.
Phẩm này kết thúc bằng đoạn kinh:
“Bấy giờ Đức Phật khen ngợi: Lành thay, lành thay! Đây chính là Bát-nhã ba-la-mật của đại Bồ-tát. Vị nào muốn nói thì phải nói như vậy. Tu-bồ-đề nói về Bát-nhã ba-la-mật đều là tuân thừa ý của Phật. Đại Bồ-tát học Bát-nhã ba-la-mật phải học như lời tôn giả Tu-bồ-đề nói.
Lúc ngài Tu-bồ-đề nói phẩm Bát-nhã ba-la-mật, cõi đại thiên chấn động sáu cách.
Bấy giờ Đức Phật mỉm cười.
Ngài Tu-bồ-đề bạch hỏi nguyên do.
Đức Phật nói: Này Tu-bồ-đề! Như ta nói Bát-nhã ba-la-mật tại quốc độ này, chư Phật ở trong vô số vô lượng quốc độ trong mười phương cũng nói Bát-nhã ba-la-mật như vậy.
Lúc Đức Phật nói phẩm Bát-nhã ba-la-mật, có mười hai na-do-tha người và trời được Vô sanh pháp nhẫn. Lúc chư Phật mười phương nói Bát-nhã ba-la-mật cũng có vô lượng vô số chúng sanh phát tâm Vô thượng Bồ-đề”.
Con đường Bồ-tát, con đường hợp nhất của Trí và Bi, là con đường thực hành Bát-nhã ba-la-mật. Đây là con đường chung và phổ quát cho mọi thế giới, mọi cõi để đến giải thoát và giác ngộ.

                                                                                    Nguyễn Thế Đăng
                                                                                 Văn Hóa Phật Giáo số 166

SỢI NẮNG






                                                          SỢI NẮNG

Sợi nắng len vào những tán cây,
Lặng nhìn bướm lượn cánh hoa lay,
Mây vờn lạc bóng trời se lạnh
Gió quyện quên hương lá ngủ say.
Vạn vật chung vui giai điệu trỗi,
Quần sinh hòa nhập ánh dương thay.
Tịnh bình rưới mát thêm quang rạng.
Thấu rõ lòng an với tháng ngày.


                                Minh Đạo


Thứ Ba, 3 tháng 1, 2017

HƯỚNG ĐẾN (Tánh Thiện)






        HƯỚNG ĐẾN

Năm mới tâm hồn đổi mới
Giận hờn ganh ghét bỏ đi
Con đường quy y hướng đến
Xa lìa khổ não ưu bi .

Hỷ xã từ bi rộng mở
Con tim tràn ngập yêu thương
Trí tuệ vượt tầm chia cách
Viễn ly bao nỗi chán chường .

Giang tay đón chào tin sáng
Hương trà sưởi ấm lòng ta
Niềm vui sẻ chia giáo pháp
Đạo tình tươi đẹp thiết tha .

Trầm hương dâng lên Đức Phật
Trọn niềm chánh tín chẳng thay
Chuyên tu một lòng sống đạo
Chân Như Phật Tánh hiển bày .

                    Tánh Thiện
                   31-12-2016

Thứ Hai, 2 tháng 1, 2017

CUỘC SỐNG KHÔNG NHẤT THIẾT CHUYỆN GÌ CŨNG PHẢI PHÂN RÕ TRẮNG ĐEN

 Kết quả hình ảnh cho loai hoa



Có câu “nước quá trong thì không có cá, người xét nét quá thì không có bạn.”
 
Tranh chấp với ngư...ời nhà, giành được rồi thì tình thân cũng mất đi
 
Tính toán với người yêu, rõ ràng rồi thì tình cảm cũng phai nhạt
 
Hơn thua với bạn bè, chiến thắng rồi thì tình nghĩa cũng không còn.
 
Khi tranh luận, người ta chỉ hướng đến lý lẽ mà quên rằng cái mất đi là tình cảm, còn lại sự tổn thương là chính mình.
 
Cái gì đã đen thì sẽ đen, trắng là trắng, tốt nhất hãy để thời gian chứng minh.
 
Rủ bỏ sự cố chấp của bản thân, dùng lòng khoan dung để nhìn người xét việc; thêm một chút nhiệt tình, một chút điềm tĩnh và ấm áp thì cuộc sống sẽ luôn có ánh mặt trời và suốt đời mình sẽ là người thắng cuộc.
 
Ở đời, sống là để bản thân mình xem, đừng tham vọng mọi người đều hiểu bạn; cũng đừng mong cầu mọi việc đều theo ý mình.
 
Khi đau buồn hay mỏi mệt, nên biết tự an ủi lấy bản thân
 
Không có người lo lắng thì càng phải mạnh mẽ
 
Không có ai cổ vũ cũng phải biết tự bay lên
 
Không có người chiêm ngưỡng cũng cần thơm tho và tươm tất.
 
Cuộc sống, không có khuôn mẫu cố định, chỉ cần một trái tim trong sáng và nhiệt huyết
 
Gặp phiền não thì tự tìm lấy niềm vui riêng, đừng quên đi hạnh phúc
 
Dù bận rộn cũng nhớ giữ lại chút thanh nhàn, đừng để mất sức khỏe
 
Mệt mỏi rồi thì tạm dừng lại nghĩ ngơi, đừng đánh mất niềm vui cuộc sống.
 
Chỉ cần trong lòng luôn nhớ đích đến và biết hiện giờ mình đang làm gì ở đâu thì yên tâm, sẽ không bị lạc đường!
 
                                                                                        Suối Thông lược dịch
 
 

ĐIỂM YẾU CỦA NHÂN TÍNH: NGẠO MẠN VÀ ĐỊNH KIẾN



Trong Tam Tự Kinh có câu: “Nhân chi sơ, tính bổn thiện”. Con người lúc mới sinh ra, chưa tiếp thụ những thứ ô nhiễm ở bên ngoài, cho nên bản tính là thuần thiện. Nhưng sống trong một xã hội ô nhiễm, con người dần dần mất đi bản tính tự nhiên trở nên bất thuần.

Trong bản tính của con người, có một nhược điểm lớn đó là “Tư” (ích kỷ). Con người bởi vì có “Tư” mà sinh ra rất nhiều các chủng tâm không tốt, trong đó có một loại tâm gọi là “ngạo mạn”.

Phàm là người ngạo mạn đều thích đề cao bản thân, thường tự cho rằng mình vượt trội hơn người khác. Vượt trội ở đây có thể là ở phương diện tinh thần, hoặc phương diện vật chất.

Loại người này bất giác đem bản thân mình đặt ở chỗ cao, dùng ánh mắt ‘hơn người’ để đánh giá thế giới cùng người khác. Biểu hiện bên ngoài của người này, bất luận là khiêm tốn thanh cao, hay cuồng vọng tự phụ, thì bản chất đều là đề cao bản thân mình, xem thường người khác.

Trong văn học hiện đại, có lưu truyền một câu nói: “Bạn không hiểu tôi, tôi không trách bạn“. Trên bề mặt, đây là một loại biểu hiện của rộng lượng và khoan dung, nhưng thực chất lại ẩn chứa sự ngạo mạn.

Bởi vì trong lời nói này, vẫn ẩn chứa ý muốn người khác có thể hiểu mình, hoặc vẫn muốn bảo vệ quan điểm của mình khi nó không được chấp nhận hoặc quan tâm, biểu hiện ra chính là một loại tâm lý cao ngạo. Đây đều là một loại thể hiện của chữ “Tư”.

Trong Đạo Đức Kinh có nói: “Thượng thiện nhược thủy”. Người tốt thực sự, chính là có thể bao dung giống như nước vậy. Trường phái triết học cổ điển Trung Quốc cũng đề xướng tư tưởng:“Nước làm lợi vạn vật mà không tranh giành”. Thế nhưng, đằng sau người ngạo mạn, lại thiếu đi sự bao dung này.

Ngạo mạn còn có thể mang đến định kiến. Bản chất của ngạo mạn chính là muốn bảo vệ chính mình, chứng tỏ bản thân. Như vậy, trong cách nhìn, cách nghe, cách nghĩ và cách nói của anh ta đều sẽ mang theo quan niệm chủ quan, cho nên không thể thấy được bản chất khách quan của một sự vật.

Bất kể một người học vấn cao hay thấp, thành tựu lớn hay nhỏ, nếu lời nói và hành vi của người ấy đều là vì chính mình, khi không được người khác chú ý thì tỏ ra khó chịu, hoặc thấy người khác không bằng mình mà tỏ ra khinh bỉ, cái đó vẫn là có mang theo định kiến. Trí giả thực sự nhất định sẽ khiêm tốn, đó mới là người lương thiện chân chính.

Tuệ Tâm, theo Kannewyorkhttp://tinhhoa.net/wpcontent/uploads/2014/08/BcKCN8.jpg


BÂNG KHUÂNG NGÀY MỚI (Tâm Lễ)

Kết quả hình ảnh cho hoa sen


     BÂNG KHUÂNG NGÀY MỚI

Thêm một năm đã trôi về quá khứ
Chẳng còn chi bao kỷ niệm vui buồn
Nắng đã tắt và hoàng hôn về trước mặt
Dấu tình sầu cũng theo giọt đông phai!...
Ta đón xuân về trong nắng ban mai
Tờ lịch mới cùng ta vào tuổi mới
Trôi giửa dòng đời thế sự nổi trôi!
Ta cám ơn đời trong mỗi sớm mai
Chim vẫn hót reo vang trước ngõ
Thêm một ngày để trang trải yêu thương
.


                Tâm Lễ - Nguyễn Ngọc luật



Chủ Nhật, 1 tháng 1, 2017

CHÚC MỪNG NĂM MỚI 2017





CHÚC MỪNG NĂM MỚI 2017

Năm mới hanh thông đến vạn nhà.
Mong cầu hạnh phúc mãi đơm hoa
Buồn vui được mất cùng chia sẻ.
Luôn nở nụ cười lúc sáng ra.

                                  Minh Đạo

 

Thứ Sáu, 30 tháng 12, 2016

CUỘC SỐNG VỐN DĨ ĐÃ KHÓ, HIỂU ĐƯỢC CUỘC SỐNG LẠI CÀNG KHÓ HƠN







Cuộc sống có một số sự việc, đã biết là không có kết quả, nhưng lại vẫn không thể dứt khoát; có một vài tình cảm, đã biết là không có duyên phận, nhưng lại vẫn cứ dính mắc không thể buông bỏ được. Hiểu được cuộc sống này thật chẳng hề dễ dàng!

Trong sinh mệnh, có lẽ có một loại tình cảm mà điều được quan tâm vốn không phải là kết quả; có lẽ, trong tâm hồn có một loại ủi an mà điều khao khát chính là quá trình.
Chúng ta thường xem nặng vào kết quả, mà không để mắt đến quá trình, mỗi lần hân hoan với kết quả, lại lãng quên thực tiễn đã trải nghiệm qua.
Cuộc sống chính là một quá trình, đau khổ qua đi, ngọt ngào qua đi, tình yêu qua đi, oán hận qua đi, thật ra, cũng là kết quả.
Có những niềm vui, người khác chưa hẳn đã có thể lý giải; có một số nỗi buồn, người khác chưa hẳn đã có thể cảm nhận.
Vui mừng cũng vậy, đau khổ cũng vậy, đều là một loại cảm nhận của riêng ta, vui mừng là chuyện của bản thân, đau buồn cũng là chuyện của bản thân, người ngoài không thể nào hiểu rõ được, rất khó cảm nhận được.
Đau khổ rồi, bản thân hãy tự mình trị liệu, tổn thương rồi, bản thân hãy tự mình phục hồi, đừng trông chờ người khác dành sự quan tâm lớn nhất cho bạn, ai cũng có chuyện của riêng mình. Vậy nên khi vui, hãy lặng lẽ mỉm cười, đau khổ rồi, hãy âm thầm cố gắng, cuộc sống chính là như vậy.
Cuộc đời là một quá trình đan xen giữa hân hoan và đau khổ
Đời người, không thể tránh khỏi gặp phải thương tâm, khuấy động tâm can, khiến chúng ta nhiều lúc đau khổ không thiết sống, cảm thán cuộc đời sao lại tuyệt tình như vậy, tàn nhẫn như vậy. Thật ra, cấu thành của sinh mệnh, ngoài nỗi đau khổ còn có những niềm hân hoan.
Hân hoan vẫn luôn ở trong tâm chúng ta, chỉ là chúng ta không thường sử dụng, vậy nên chỉ cảm thấy cuộc đời đau thương gấp bội. Nhưng nếu ta nhìn thử về đoạn đường đã đi qua, nếu không có chút niềm vui thì chúng ta làm sao có thể đi được đến hôm nay?
Cuộc sống chính là một loại cảm thông, một loại thấu hiểu
Biết cảm thông, biết lý giải, biết khoan dung, ngày tháng sẽ ấm áp bình yên. Trên con đường nhân sinh, nếu như thiếu cảm thông, không thể lý giải, không có khiêm nhường, ngày tháng của ta sẽ rất khó có được tâm trạng bình an.
Rất nhiều phiền não trong cuộc sống đều là bắt nguồn bởi chúng ta không thể cảm thông, quá lưu tâm đến ý kiến của bản thân mình, không chịu hiểu nhau, không  nhường nhịn nhau, tổn thương tâm hồn của nhau.
Đời người, cảm thông cho nhau là điều rất khó, suy nghĩ cho nhau cũng là chuyện không dễ dàng, cuộc sống, tốt nhất là biết cảm thông cho nhau.
Thời gian dần dần trôi đi, chúng ta cũng đã không còn trẻ nữa; năm tháng nhẹ nhàng qua đi, chúng ta cũng đã không còn cứng đầu được nữa.
Trong cuộc sống, đã từng có những điều tiếc nuối, đã từng có chuyện sai lầm; trong chốn thị phi, ta đã từng tổn thương, đã từng đau lòng; trong trắc trở gian nan, ta đã từng vui cười, đã từng hạnh phúc.
Hết thảy của cuộc đời, đối với chúng ta đều là chân thật, đừng vì sự đời mà đánh mất lương tri, đừng bởi cảnh túng quẫn nghèo hèn mà mất đi thiện niệm.
Sinh mệnh, không vì già yếu mà vô tình
Trong cuộc sống, những người hiểu bạn, đều có thể ủng hộ bạn; còn những kẻ hiểu lầm bạn, vẫn sẽ hoài nghi bạn.
Sống trong xã hội phức tạp này, đối diện với các loại quan hệ muôn hình muôn vẻ, có những lúc, bạn sẽ cảm thấy rất mệt mỏi, cũng rất bất lực.
Nghĩ lại, cuộc sống chính là như vậy, hiểu lầm vẫn luôn là điều không thể tránh khỏi, ai cũng đều có thể sẽ bị hiểu lầm. Những lúc tủi thân, hãy nói với bản thân mình, người ta hiểu mình là điều tốt, còn nếu không hiểu cũng không cần phải đau buồn, tận tâm tận tình, làm tốt những việc của bản thân, vậy là tốt rồi.
Không kể đắc ý, hay là thất ý, chúng ta đều nên cảm ơn cuộc sống, là cuộc sống đã để cho chúng ta biết được rất nhiều điều, hiểu được rất nhiều điều. Rất nhiều tiến lùi lên xuống trong đời người, cuộc sống đều sẽ cho bạn một số gợi ý.
Chỉ là những lúc đắc ý, bạn không để ý tới mà thôi, khi mất đi, không lòng dạ nào để suy xét cân nhắc, trong năm tháng cứ luôn bị dòng đời xổ đẩy, đã đánh mất biết bao cơ hội, đến lúc ta ngoảnh đầu nhìn lại, năm tháng đã qua, tuổi trẻ cũng đã không còn, điều còn đọng lại, chỉ là một số cảm xúc.
Cuộc sống đã khó, hiểu được cuộc sống lại càng khó hơn
Trong dòng sông dài của sinh mệnh, luôn có một số sự tình khiến ta động tâm, cũng luôn có một số sự tình khiến lòng ta chua xót.
Chỉ là, năm tháng qua đi, những điều này đều đã là quá khứ, không ảnh hưởng được chúng ta bao nhiêu.
Nhưng đôi khi nghĩ lại, nhớ lại những chuyện chua xót hoặc động tâm kia, lặng lẽ cảm thấy rất nhiều thứ lại tràn về hiện thực.
Có lẽ, chúng ta sẽ từ xa nhìn về nơi đã từng dừng chân.
Có lẽ, chúng ta sẽ nghĩ đến một số cảnh vật lúc đó, nhưng chỉ là nghĩ thôi, sẽ không động tâm nữa.
Có một số người, dù bạn có nhớ nghĩ nhiều hơn, cuối cùng cũng sẽ rời đi. Có một số tình cảm, dẫu bạn có hoài niệm mãi, cuối cùng cũng sẽ mất.
Gặp nhau là một loại duyên phận, bên nhau là một dạng tình cảm
Không kể là duyên sâu hay duyên cạn, gặp nhau đã là điều may mắn. Không kể tình cảm mờ nhạt hay sâu đậm, bên nhau chính là một loại phúc phận.
Dù cho không có duyên, cũng sẽ chúc phúc, dù rằng không có kết quả, cũng sẽ hoài niệm, điều quan trọng không phải là kết quả, mà là quá trình bên nhau, có cảm tình ở trong tâm.
Trong cuộc sống, thường có những tình huống như vậy, có một số sự việc muốn giữ lại, nhưng giữ không được, có một số chuyện, ta muốn tránh đi, nhưng lại tránh không được. Đời người chính là như vậy.
Những thứ ta hy vọng, thường không có được; những điều ta thất vọng, thường vẫn luôn gặp phải. Thế là, chúng ta thất vọng, buồn rầu, đau khổ, cảm thán cuộc sống sao lại nhiều trắc trở như vậy, số phận sao lại bất công như vậy.
Nếu như nghĩ kỹ thì đừng thất vọng, những gì không ở lại, vốn không phải là về sau cũng không gặp được.
Có những lúc, mất đi hay gặp gỡ đều là một loại cơ duyên, cuộc sống chính là cần phải buông bỏ và nghĩ thoáng.
Tiểu Thiện

NGƯỜI GÁNH PHÂN NGHÈO HÈN GẶP ĐỨC PHẬT TRONG NGÕ HẺM, NGÀI CHỈ NÓI 1 CÂU ĐỦ THAY ĐỔI CUỘC ĐỜI ANH MÃI MÃI

Kết quả hình ảnh cho hoa sen





Khi Đức Phật tại thế, Ấn Độ vẫn còn nhiều tầng lớp giai cấp khác nhau. Trong đó, tầng lớp Thủ-đà-la (tiện dân) là những người nghèo hèn nhất, bị coi là dơ bẩn và xếp ngang hàng với súc vật, họ phải sống dưới đáy cùng của xã hội và không được tôn trọng như một con người.
Ở thành Xá Vệ có một “tiện dân” tên là Ni Đề. Ni Đề rất hiền lành và lương thiện, ngày ngày đều phải chùi dọn phân trong các nhà xí, làm những việc ‘bẩn thỉu’ mà không có ai muốn làm.
Một ngày, Đức Phật cùng với tôn giả A Nan đi trong thành Xá Vệ, đến một con hẻm nhỏ thì bỗng gặp Ni Đề. Lúc đó, Ni Đề đang quẩy một gánh phân đầy. Khi nhìn thấy Đức Phật, anh ta hoảng sợ tìm cách đi vòng để tránh phải gặp ngài. Nhưng vì con đường quá hẹp nên anh chỉ có thể cúi mặt xuống đường và thưa rằng: “Bạch đức thế tôn, thân con nhơ uế, xin đức thế tôn đừng lại gần kẻo mất đi sự thanh tịnh của ngài”.
Đức Phật liền tiến đến Ni Đề và nói: “Này Ni Đề, con có muốn xuất gia làm hòa thượng không?”
Thuở ấy, tăng nhân và tu sĩ (tầng lớp Bà-la-môn) được coi là cao quý nhất trong xã hội, vượt trên cả hàng vương tôn hay quý tộc. Đó là chốn linh thiêng mà những kẻ tiện dân tầm thường như Ni Đề không bao giờ dám đặt chân vào.
Bởi vậy, Ni Đề bối rối trả lời: “Ngài là Đức Phật cao quý, còn con chỉ là kẻ hèn mọn, làm sao dám sánh với đệ tử của ngài?”
Đức Phật nói:
“Phật Pháp như nước sạch, có thể tẩy tịnh mọi điều dơ bẩn. Dù là bất kể thứ gì trên thế gian, một khi được tắm rửa trong Phật Pháp liền trở nên thanh tịnh.
Phật Pháp như lửa thánh, có thể đốt mọi thứ nhơ bẩn thành tro bụi. Dù đó là vật gì, một khi lửa thiêng chạm đến lập tức đều trở nên thuần khiết.
Pháp của Phật đối với chúng sinh là bình đẳng, không hề phân biệt giàu nghèo. Bất cứ ai có tâm tín Phật đều có thể tu hành và thoát khỏi bể trầm luân”.

Lời Phật dạy làm Ni Đề cảm động, anh vững tâm tu luyện và trở thành một đệ tử tinh tấn của ngài. Chẳng bao lâu anh đã đạt được trí huệ giác ngộ, chứng đắc quả vị A-La-Hán.
Thế nhưng việc Ni Đề được Phật cứu độ đã khiến những kẻ hợm hĩnh trong xã hội trở nên đố kỵ. Làm sao một kẻ tiện dân thấp kém lại được làm hòa thượng và hưởng bố thí của mọi người? Vì vậy mà bất cứ nơi nào Ni Đề đến, họ sẽ tránh xa; thấy Ni Đề ngồi chỗ nào, họ sẽ lau chùi như thể đó là nơi nhơ bẩn. Cuối cùng, khi cơn bất bình và giận dữ lên đến đỉnh điểm, họ tâu lên vua và nói rằng Đức Phật không thể xem Ni Đề như đệ tử.
Vua hay tin ấy, bèn thân chinh đến hỏi chuyện Đức Phật. Khi chiếc xe ngựa đến cổng, vua phải bước xuống và đi bộ một đoạn. Bỗng ông nhìn thấy vị hòa thượng đang ngồi tĩnh tọa trên một tảng đá lớn. Vua liền nói lời nhã nhặn: “Ta muốn gặp Đức Phật, ngài có thể vào trong thưa chuyện này không?” Vị hòa thượng đi xuyên qua tảng đá, khi trở ra lại xuyên qua tảng đá như đi trong không trung.
Khi vua gặp Đức Phật, ông đã bày tỏ sự kính trọng: “Bạch đức thế tôn, vị hòa thượng lúc nãy có một năng lượng siêu phàm hiếm thấy. Ngài có thể cho tôi biết cao danh quý tính của vị ấy không?”
Đức Phật mỉm cười: “Đó chính là Ni Đề, là người mà bệ hạ muốn hỏi ta. Ta độ nhân không phân biệt giàu nghèo, bởi tất cả chúng sinh là bình đẳng”.
Cuối cùng Đức Phật nói:
“Ví như trong hồ có hoa sen thơm ngát, chúng ta có nên vì bùn nhơ mà vứt bỏ đóa sen tươi đẹp đó không?”.


                                                                                      Theo Chánh Kiến
                                                                                      Hồng Liên biên tập

Thứ Năm, 29 tháng 12, 2016

AI LÀ BẬC HIỀN TRÍ ĐÍCH THỰC?



  
Trong thời đại được gọi là văn minh như hiện nay vẫn xuất hiện không ít những người tự xưng là giáo chủ, thánh chủ, thượng sư hay đạo sư. Có người tự cho rằng được thánh nhập, chỉ cần theo họ tu bảy ngày mở bảy luân xa là đắc đạo thành tiên thánh rồi dùng nhiều cách thức mê hoặc, dẫn dụ người đi theo vì nhiều mục đích khác nhau. Điều này ảnh hưởng không tốt đến đời sống xã hội, trong đó có cả những Phật tử hiền lành chất phác.

Là người con của Đức Phật, chúng ta không thể làm ngơ, nên bài viết này với hy vọng góp phần chỉ rõ, ai mới là bậc thầy, bậc thiện tri thức đúng nghĩa để mọi người có thể nương tựa học hỏi, và tu hành theo đúng Chánh pháp. 

Làm thế nào để mọi người có thể nhận diện được một con người giác ngộ, tịch tĩnh có đầy đủ trí tuệ và đức hạnh ở đời? “Trước hết, đó là một người đã buông bỏ hết tất cả những hận thù trong quá khứ, một người không còn mơ tưởng, vướng mắc gì vào tương lai. Và cả chính trong hiện tại người đó cũng không vướng vào hư danh và sự tôn kính của người đời. Người đó là một bậc Mâu Ni, một người toàn thiện” (Kinh Cha con gặp nhau, Đại chánh tân tu 198, Thích Nhất Hạnh dịch).

Một người bình thường như tất cả những người khác, nhưng đã buông bỏ được tất cả những giận hờn, hận thù, lo lắng, phiền muộn, ân oán trong quá khứ; không dính mắc, chấp trước hay mơ mộng hão huyền vào những mong cầu ở tương lai; cũng không vướng mắc vào những gì trong giây phút hiện tại. Bởi người đó đã thấu rõ quá khứ đã qua rồi, tương lai thì chưa đến, hiện tại đang luân chuyển đồng thời nhìn thấu danh lợi, địa vị vốn không thật có, nên không vướng mắc vào hư danh, tâm của vị ấy không bị dao động bởi sự tôn kính hay bất kính của người đời. Người như vậy chính là bậc trọn lành, tịch tĩnh, đức hạnh đầy đủ, hoàn toàn ung dung và tự tại ở đời.

Theo lời Phật dạy, trong tám con đường chân chính đưa mọi người đến nơi an vui hạnh phúc thì chánh kiến, tức là cái thấy biết chân chính đứng đầu, muốn có chánh kiến trước hết phải buông bỏ tất cả các tà kiến kể cả tư kiến.

Vì không ưu sầu về quá khứ, không vướng mắc vào tương lai, lại buông bỏ được mọi sự tham cầu, không còn chấp vào cái ta và cái của ta, nên vị ấy đã nhìn thấu thực tính của các pháp và vượt qua mọi nỗi sợ hãi, lòng tin chân chính được củng cố vững chãi, tâm không còn dao động trước ngoại cảnh. Như vậy, những nghi nan trong lòng của vị ấy tự nhiên tiêu trừ, xa lìa lòng ganh tỵ, an trụ trong hiện tại nhiệm mầu, tâm luôn an vui với cuộc sống hiện tại. Nhất là nếp sống của vị ấy vô cùng đơn giản, thanh thơi và tự tại.

Vị ấy có khả năng làm chủ chính mình, làm chủ cuộc đời mình, không bị lòng tham dục bên trong hay những lạc thú bên ngoài kéo đi. Đi đứng nằm ngồi, vị ấy luôn tỉnh giác, luôn tự tiết chế, điều độ trong ăn uống ngủ nghỉ, không bị nô lệ cho đam mê, tập khí hay thói quen. Rất nhiều người thường tự hào về những thành tựu trong sự nghiệp tiền tài, danh vọng, địa vị, nhưng suốt đời họ sống nô lệ cho lòng tham dục, si mê của mình mà họ không biết. Thật đáng thương thay!
Tu tập để ngày càng làm chủ bản thân mình nhiều hơn là một việc rất quan trọng và cần thiết. Với trí tuệ tịch tĩnh, vị ấy đã nhìn rõ thật tướng các pháp nên đã hoàn toàn xa lìa được lòng ganh ghét, đố kỵ; xa lìa sự nói dối, nói lưỡi hai chiều, nói lời hung ác, không nói lời trau chuốt giả tạo; buông bỏ mọi hý luận không có lợi ích thật sự cho sự giác ngộ giải thoát; tâm không còn hoài nghi, ngờ vực về con đường tu hành.

Vị ấy biết rõ, nguyên nhân của khổ đau là tham vọng quá nhiều, nên xa lìa được dục vọng. Tâm ý của vị ấy không còn bị trói buộc vào bất kỳ thứ gì, được tự do một cách trọn vẹn. Những sợi dây phiền não không còn nơi để phát huy tác dụng được nữa. Không còn vướng mắc, chấp trước vào những cái thấy của riêng mình. Miệng không còn nói những lời thêu dệt, hư vọng. Bước chân của vị ấy chậm rãi, thảnh thơi, vững chãi, an lành. Tâm vị ấy không còn mọi ý tưởng tham dục, ham muốn. Vị ấy luôn tỉnh táo và nhẫn nại, có khả năng hóa giải mọi sự cãi cọ, tranh chấp, hơn thua bằng trí tuệ và từ bi.

Vị ấy nhận rõ rằng, mọi dục tưởng là do tri giác sai lầm đưa tới ham muốn. Nếu không có dục tưởng thì sẽ không có ham muốn. Do chúng ta tham muốn tìm cầu nhiều thứ, nào là tiền tài, danh vọng, quyền hành, nữ sắc…, vì cứ nghĩ chúng sẽ đem lại cho mình an lạc và hạnh phúc, cho nên chúng ta khổ đau nhiều. Còn vị ấy biết rõ, một khi bị vướng vào những thứ đó rồi mình sẽ mất hết hạnh phúc, thảnh thơi, an lạc mà chỉ còn lại toàn là đau khổ.
Lòng vị ấy đã trong sạch và sáng suốt, nên không còn mưu toan hay thủ đoạn để thỏa mãn sự ham muốn bản thân - ngay cả việc thành tựu được một mức độ nào đó trong tu học - cho nên không buồn phiền, lo lắng hay oán giận khi không có được hay mất mát thứ gì. Nhất là vị ấy đã đoạn trừ được sự luyến ái, không còn bị nô lệ cho ái dục. Đây là một điều rất khó làm được, vì sở dĩ chúng ta có mặt trong cuộc đời này là do ái dục; chúng ta trôi lăn trong sáu nẻo luân hồi, chịu đủ mọi đau khổ triền miên cũng là do ái dục. Ái dục chính là nguồn gốc của sinh tử luân hồi, là nguyên nhân của khổ đau, nên xa lìa được ái dục tức là an vui giải thoát.

Vị ấy quán chiếu sâu và thấy rõ tất cả mọi chúng sinh đều có thật tánh bình đẳng, tất cả các pháp thật sự bình đẳng, đạt đến cái thấy vô ngã, nên xa lìa được hai trạng thái tự cao và tự ti, không còn mặc cảm hay tự mãn, không còn ý tranh luận hơn thua với người. Vị ấy luôn kiểm soát tâm ý không để buông lung theo cảnh vật bên ngoài, nhìn thấu, hiểu rành các pháp thiện và pháp ác, cũng không kẹt vào thiện ác, suy nghĩ không còn dấu vết và sai lầm.
Người nào chưa đạt đến cái nhìn vô ngã, chưa thấu rõ thật tánh bình đẳng của các pháp, thì chưa thể xem là bậc đạo sư được. Đây chính là cơ sở quan trọng nhất để nhìn nhận ai là đạo sư chân thật.

Vị ấy dùng trí tuệ quán chiếu, thấu rõ tự tánh của các pháp, bản chất của mọi sự vật hiện tượng, nên không còn bị trói buộc hay vướng mắc vào bất kỳ pháp nào, cũng không còn kẹt vào hai đầu đối đãi có và không, do đó không có gì là không vượt thoát được.
Tâm vị ấy đã tịch tĩnh, lòng tham ái cũng không còn, những vô minh, những ham muốn, những cám dỗ, lạc thú trong cõi dục, cõi sắc và cõi vô sắc không còn làm cho tâm vị ấy dao động. Vị ấy thực sự là một người tự tại đối với các pháp, tâm đã hoàn toàn buông xả, không còn bị cái gọi là sở đắc trói buộc.

Đó là người đã vượt qua biển sầu khổ đến nơi không còn bất kỳ âu lo, phiền muộn gì nữa.
Bậc đại trí tuệ chỉ rõ cho chúng ta thấy được, người mà còn muốn có con trai để nối dõi tông đường, kế thừa sản nghiệp, lòng muốn tích trữ tiền bạc của cải cho nhiều, cái mình không thích thì chán ghét, thứ mình thích thì bo bo gìn giữ, thì chắc chắn người ấy không phải là người thanh tịnh, không phải là chân tu, cũng không phải là đạo sư đích thực.
Một bậc đạo sư đích thực là tâm vị ấy thực sự xa lìa được cả hai thái cực ham muốn và ghét bỏ, tức là không còn ham muốn bất cứ cái gì, cũng không chán ghét bất kỳ cái gì.
Vị ấy là người thấy đạo, đã xác định rõ con đường cần phải đi, tâm ý đã hoàn toàn an tịnh sáng suốt, vượt ra ngoài tác động của những sự khen ngợi hay chê bai, tôn kính hay xúc phạm. Tức là khi bị chê bai, xúc phạm, vị ấy không còn khởi ý nóng giận; khi được khen ngợi, tôn kính, vị ấy không cảm thấy tự cao tự mãn, kể cả khi bị vu oan vị ấy cũng không còn muốn bào chữa, minh oan cho mình.

Những ý niệm tham lam, keo kiệt, ganh ghét hoàn toàn không còn hiện hữu trong tâm vị ấy, ý niệm tự cao tự mãn hay mặc cảm tự ti cũng hoàn toàn được tịnh trừ không còn dấu vết. Tâm vị ấy đã được kiên định, lời nói, việc làm và suy nghĩ không còn mảy may sai lầm.
Vị ấy đã thấu rõ tính Không, liễu ngộ thực tính của vạn pháp, hiểu hết bản chất của mọi sự vật, hiện tượng, không còn mong cầu bất kỳ cái gì, cũng không thấy mình có bất kỳ sở đắc nào, vượt ra ngoài những ham muốn phàm tục của thế gian.

Tâm vị ấy hoàn toàn tĩnh lặng, sáng suốt và an ổn, ý của vị ấy đã không còn buông lung. Vị ấy thật sự đã vượt ra ngoài mọi sự ràng buộc, giải thoát ra khỏi mọi khổ đau trong sinh tử luân hồi, sạch hết mê lầm và sợ hãi, là con người tịch tĩnh, sáng suốt, chứng ngộ Niết-bàn.
Như vậy, con người trí tuệ tịch tĩnh của dòng họ Thích Ca đã đích thân minh chứng cho tất cả mọi người trên thế gian này thấy rõ một chân lý lớn: Từ một con người bình thường sống trong khổ đau triền miên, bị trói buộc trong vòng sinh tử luân hồi như bao người khác, nhờ vào sự nỗ lực cố gắng tu tâm dưỡng tính đúng phương pháp của tự thân, hoàn toàn có khả năng giải thoát bản thân ra khỏi mọi sự ràng buộc, đạt đến an vui, tự do, tự tại với ý nghĩa toàn vẹn nhất.
            
                                                                                      Thích Hạnh Tuệ