Thứ Sáu, 14 tháng 2, 2014

15 PHÚT ĐI BỘ SAU BỮA ĂN GIÚP PHÒNG BỆNH TIỂU ĐƯỜNG

Đi bộ sau mỗi bữa ăn có thể ngăn chặn nguy cơ mắc bệnh tiểu đường loại 2 đối với người lớn tuổi, theo một nghiên cứu mới công bố tại Mỹ.
 Việc đi bộ ngắn sau bữa ăn có thể kiểm soát lượng đường trong máu với hiệu quả tương đương một cuộc đi bộ dài bình thường, theo nghiên cứu của các nhà khoa học Đại học George Washington (Mỹ).
 Các nhà khoa học lý giải, lượng đường trong máu cao sau bữa ăn có thể làm tăng nguy cơ bệnh tiểu đường loại 2. Vì vậy thói quen nằm hoặc nghỉ ngơi sau khi ăn là điều tồi tệ nhất mà mọi người thường làm. Đây là nghiên cứu đầu tiên ở Mỹ theo dõi tầm ảnh hưởng của việc tập thể dục trong thời gian ngắn đối với người có nguy cơ bị đái tháo đường.
 
di-bo-20-19812-1372052680_500x0.jpg
15 phút đi bộ sau mỗi bữa ăn giúp giảm nguy cơ mắc bệnh đái tháo đường. Ảnh: BBC.
 Nhóm nhà khoa học đã theo dõi thói quen sinh họat của 10 cụ già ở độ tuổi 60 trở lên. Tất cả những người này đều có nguy cơ bị bệnh tiểu đường loại 2 vì lượng đường trong máu tăng cao và nhanh hơn bình thường, lý do là họ ít hoạt động thể chất. Mọi người được yêu cầu luyện tập thói quen đi bộ ngắn sau bữa ăn, vào thời điểm mà lượng đường trong máu thường tăng lên nhanh.
 Bà Loretta Dipietro, đứng đầu nhóm nghiên cứu cho biết, lượng đường trong máu cao sau mỗi bữa ăn là nguyên nhân cốt lõi làm suy giảm dung nạp glucose, được coi là "tiền tiểu đường", từ đó dẫn đến bệnh tiểu đường loại 2 và bệnh tim mạch.
 Kết quả nghiên cứu cho thấy, các tham dự viên đi bộ với tốc độ vừa phải trong 15 phút sau các bữa ăn, thực hiện 3 lần trong ngày đã giảm được lượng đường huyết tương đương như một cuộc đi bộ dài 45 phút bình thường. Việc giảm lượng đường huyết như thế đặc biệt có lợi cho người lớn tuổi, khi mà khả năng kiểm soát huyết đường ở người lớn tuổi bắt đầu kém đi, nhất là sau mỗi bữa ăn.
 So sánh về hiệu quả giữa việc đi bộ 15 phút sau 3 bữa ăn trong ngày có tác dụng tương đương với tập thể dục 45 phút ở thời điểm bình thường, người đứng đầu nhóm nghiên cứu nói: “Mặc dù có một vài sự khác biệt nhỏ nhưng không đáng kể. Qua đây chúng tôi muốn gửi đến mọi người thông điệp rằng bất kỳ một hoạt động thể chất nào, dù là ở cường độ thấp đều tốt cho sức khỏe của bạn”.
 Ước tính ở Anh có trên 7 triệu người đang phải đối diện với nguy cơ cao mắc bệnh tiểu đường loại 2. Tiến sĩ Dipietro cho biết những phát hiện trên có thể đưa ra một biện pháp để ngăn chặn bệnh đái tháo đường ít tốn kém nhất. Song để khẳng định chắc chắn hiệu quả thì cần một cuộc nghiên cứu quy mô hơn.
 Bên cạnh việc tập thể dục, các nhà nghiên cứu còn khuyên người có nguy cơ mắc bệnh đái tháo đường nên tích cực giảm cân để phòng bệnh.
                                                           Thi Trân (Theo BBC)

Thứ Tư, 12 tháng 2, 2014

CHIẾC THÙNG NỨT

 

smile Một người gánh nước ở Ấn Độ có hai cái thùng lớn...mỗi cái ông ta móc vào một đầu của đòn gánh và gánh trên vai _ Một trong hai cái thùng có một vết rạn nứt...còn thùng kia là một cái thùng hoàn hảo và luôn luôn giữ được nguyên thùng nước trên suốt con đường dài từ dòng suối về đến nhà...Còn cái thùng bị rạn nứt thì chỉ còn lại có một nửa thùng nước khi về đến nhà.
    Suốt hai năm tròn trôi qua...
ngày nào người gánh nước cũng chỉ gánh về đến nhà có một thùng rưỡi nước...!
Và lẽ đương nhiên là cái thùng hoàn hảo lấy làm tự hào về thành quả của nó...
up
nó đã giữ cho nước trong thùng được nguyên vẹn khi về đến nhà....
  Còn cái thùng bị rạn nứt thì cảm thấy xấu hổ về sự không hoàn hảo của nó
sad...
nó đau buồn vì nó chỉ có thể làm được một nửa nhiệm vụ mà nó đã được giao phó mà thôi
_ Sau hai năm chịu đựng cái mà nó cho là sự thất bại chua xót của mình...
zip
một hôm...bên bờ suối...cái thùng bị rạn nứt đã nói với người gánh nước rằng :
– Tôi lấy làm xấu hổ về bản thân mình...
awwwvà thật lòng muốn xin lỗi ông.
– Tại sao ngươi lại xin lỗi ta
pssst...người gánh nước hỏi...và ngươi xấu hổ về điều gì?confused
Cái thùng đáp lại :
sad
– Suốt hai năm qua...mỗi lần ông gánh nước...tôi chỉ có thể mang về nhà vỏn vẹn có nửa thùng nước...
bởi vì vết rạn nứt bên hông của tôi đã làm cho nước rò rỉ ra bên ngoài trên suốt con đường về nhà
mad
_ Bởi vì những vết nứt của tôi mà ông không gặt hái được thành quả tương xứng so với sự nỗ lực của ông.
cry
  Người gánh nước cảm thấy thương cho cái thùng cũ đã bị rạn nứt...
flirt
và với tấm lòng thương yêu của mình,
ông nói:
smile
– Khi chúng ta quay trở về nhà Ta muốn ngươi hãy để ý đến những bông hoa xinh xắn dọc đường.
bigsmile
Thật vậy...trên đường về...khi họ leo lên ngọn đồi...cái thùng cũ đã chú ý đến những bông hoa dại xinh xắn đang được mặt trời sưởi ấm bên lề đường...Và điều này ít nhiều đã làm cho nó vui lên _ Nhưng đến cuối con đường...nó vẫn cảm thấy hổ thẹn vì nó lại đã bị rò rĩ ra ngoài hết một nửa thùng nước....
  Và nó lại xin lỗi người gánh nước về sự thất bại của nó một lần nữa.
faint
   Người gánh nước đã nói với cái thùng rằng:
p
– Ngươi đã không để ý là những bông hoa chỉ mọc ở bên phần đường phía ngươi,
còn bên phần đường của cái thùng kia thì không có hay sao...?
jester
Đấy là vì Ta đã luôn biết rõ về khuyết điểm...
về sự rạn nứt của ngươi...
ideavà ta đã biết tận dụng sự lợi ích từ đó.
   Ta đã trồng những hạt giống của hoa bên phần đường của ngươi...và mỗi ngày trong khi chúng ta trở về nhà từ dòng suối... ngươi đã tưới cho chúng
_ Suốt hai năm...
waitTa đã hái những bông hoa xinh đẹp này để trưng trên cái bàn trong nhà...Nếu không có vết rạn nứt của ngươi...Ta đã không thể nào có được những bông hoa xinh đẹp ấy để tô điểm cho căn nhà của chúng ta.
   Mỗi một chúng ta đều có những khuyết điểm của riêng mình...
p
Tất cả chúng ta đều là những cái thùng bị rạn nứt...
Nhưng những vết rạn nứt...những khuyết điểm ấy một khi biết vận dụng thích hợp thì chúng làm cho cuộc sống của chúng ta thêm thú vị và có ý nghĩa hơn...
up
Chúng ta hãy nhìn mọi người đúng thật như họ đang hiện hữu...
và hãy nhìn vào những điểm tốt ở nơi họ.
heart wizard
                                                                                                        Minh Nguyên dch
                                                                                  Nguồn Internet

Thứ Hai, 10 tháng 2, 2014

CHUYỆN CÂY TÁO


 
    Cách đây rất lâu, ở một làng nọ có một cây táo cổ thụ. Hàng ngày có một cậu bé hay ra chơi đùa với cây. Cậu leo trèo lên ngọn cây, hái táo để ăn và khi đã mệt mỏi cậu ngủ thiếp đi dưới bóng râm của nó. Cậu rất yêu quí cây táo và cây táo cũng thích chơi đùa với cậu.  
   Thời gian trôi đi, cậu bé ngày nào đã lớn và không còn chơi đùa với cây táo nữa. Một ngày nọ cậu xuất hiện với vẻ mặt rất buồn bã. Cây táo muốn cậu chơi đùa với nó, nhưng cậu từ chối :
  - Tôi không còn nhỏ nữa và tôi không muốn chạy xung quanh cây. Tôi muốn chơi đồ chơi kia nhưng tôi không có tiền để mua chúng.
  - Tôi cũng không có tiền - Cây táo nói: Nhưng cậu có thể hái các trái táo để bán và cậu sẽ có tiền.
   Cậu trai rất mừng khi nghe đề nghị như vậy. Cậu hái hết các quả táo mang đi bàn và không trở lại nữa. Cây táo rất buồn vì nhớ cậu.
    Một ngày kia, cậu bé ngày nào đã trở thành một chàng trai, đến bên cây táo. Nó rất vui mừng và đề nghị cậu chơi đùa với nó. Nhưng chàng trai từ chối và đề nghị cây táo hãy cho chàng một ngôi nhà để gia đình của chàng trú ẩn.
   - Tôi không có nhà để cho cậu - cây táo nói - nhưng cậu có thể chặt những tán cây của tôi để làm nhà.
   Và thế là chàng trai chặt hết các tán cây, vui vẻ mang đi. Cây táo rất hạnh phúc khi thấy chàng trai vui nhưng không thấy chàng quay lại. Nó trở nên buốn bã và cô độc.
   Vào một ngày hè nóng nực rất lâu sau đó, người đàn ông - cậu bé lại xuất hiện. Và cây táo lại rất vui mừng. Nó muốn chơi đùa, nhưng người đàn ông ấy từ chối vì mệt mỏi. Ông ấy muốn có một chiếc thuyền để nghỉ ngơi và muốn cây táo giúp mình. Cây táo đề nghị người đàn ông hãy đốn thân cây to lớn của nó đề làm thuyền. Người đàn ông đốn cây và không xuất hiện nữa.
   Cuối cùng , vào một buổi chiều , ông lão - cậu bé đã xuất hiện.
   - Ôi con trai ,bây giờ thì ta không còn gì để cho con nữa rồi - cây táo nói - Không còn những quả táo chín ngọt.
   - Con không còn răng để ăn táo…
   - Cũng không còn cành để con leo...
   - Con không đủ sức để làm việc đó.
   - Thật sự ta không còn gì nữa, chỉ còn mỗi gốc cây - Cây táo khóc…
   - Con không cần cái gì nữa cả. Chỉ cần một chỗ để nghỉ ngơi thôi.
   Nói rồi ông lão ngồi lên gốc cây. Cây táo rất đỗi vui mừng. Nó cười qua làn nước mắt.

Đây là một câu chuyện ngụ ngôn dành cho tất cả mọi người. Cây táo là cha mẹ chúng ta. Khi chúng ta còn bé chúng ta rất thích chơi đùa với Bố, Mẹ. Nhưng khi chúng ta lớn thì chúng ta rời bỏ họ và chỉ quay về khi chúng ta cần lấy thứ gì hay chúng ta có những nỗi phiền muộn. Cha mẹ vẫn sẵn sàng tha thứ đón nhận chúng ta và làm tất cả những gì miễn là chúng ta được hạnh phúc. Cha mẹ đã hy sinh một đời vì con cái. Vì vậy hãy yêu quý cha mẹ dù ở bất cứ đâu và bất cứ lúc nào bạn nhé!
                                                                                                    Theo Inspirationallane

Thứ Bảy, 8 tháng 2, 2014

UỐNG TRÀ VÀ ĐỌC KINH



 
    Người tu có nhiều niềm vui giản dị. Uống trà chẳng hạn. Pha ấm trà ngon là cả một công phu. Có người có trà thơm, ấm tốt, nhưng không biết cách pha. Phải học. Không phải học cách pha trà. Mà là học cách uống. Trước tiên cần tập ngồi cho yên. Vừa cầm chén trà, vừa đi tới đi lui lăng xăng thì trà ngon cách mấy cũng uổng phí. Tập ngồi yên, tức là tĩnh tọa, hay ngồi thiền.
    Đến chùa, đôi khi ta được thầy đãi trà. Uống trà với thầy, ta học từ thầy cách ngồi yên. Đôi khi, một sư chú phải học ngồi uống trà với sư anh đến mấy năm, mới bắt đầu được sư anh cho pha trà. Ngồi yên thì tâm cũng yên. Tâm yên rồi thì rửa bình, rửa chén và bắt đầu pha trà đi! Nhiều khi trà không ngon lắm, nhưng biết cách pha thì vẫn thưởng thức được trọn vẹn hương và vị của nó. Ngược lại, trà ngon mà tâm còn đầy bụi trần thì pha ra vẫn lạt phèo.

    Một thú vui khác của người tu là đọc kinh. Đọc kinh cũng không khác uống trà gì mấy. Cuốn kinh vẫn nằm đó. Nhưng không phải ai lật kinh ra đều thấy chữ. Chữ trong kinh khác với chữ nghĩa nơi các cuốn sách thường. Chữ trong kinh là hoa trái của công phu. Người nào có công phu tu tập, nhìn vào kinh, chữ nghĩa đổi mới hoài. Mỗi lần đọc là một lần khám phá. Như vậy ta cần học đọc kinh, cũng như học cách pha trà.
Có một thầy cho rằng thời buổi này giảng dạy các vị cư sĩ khó quá. Họ thuộc kinh còn giỏi hơn các thầy nữa. Tôi nói: ‘Đúng chớ. Đâu phải là tu sĩ mới hiểu kinh đâu. Nhưng không phải ai đọc kinh cũng hiểu nghĩa. Phải có tu tập. Không có tu tập thì đọc kinh càng nhiều, càng có nhiều hiểu lầm.’ Tuy vậy, ta vẫn phải giảng. Tại vì khi giảng kinh, ta nói từ những khám phá của chính ta. Những khám phá đó, có công năng làm cho người nghe thấy ra hướng thoát khổ.
   Nhiều khi người ta tụng một bài kinh thôi. Tụng hoài cả mấy chục năm nhưng không hiểu nghĩa. Hoặc có hiểu nghĩa thì cái hiểu đó không tiến thêm được chút nào. Như vậy đọc kinh cần phải học. Không phải học hiểu từng chữ, mà là học khám phá. Đọc kinh như vậy thú vị vô cùng. Buổi sáng, uống một ấm trà, đọc một trang kinh. Đó là thú vui tao nhã của người tu hành.
    Ngoài ra, giữa uống trà và đọc kinh còn có một điểm giống nhau. Đó là sự thảnh thơi. Phải thảnh thơi thì mới thưởng thức được một bình trà. Phải thảnh thơi thì mới khám phá ra những cái mới mẻ trong kinh. Không gian trong tâm giúp ta có khả năng sáng tạo. Cho nên uống trà là một pháp môn tu mầu nhiệm vô cùng. Ngồi cho thật yên để uống một ấm trà, ta phải có khả năng buông bỏ. Có bao nhiêu việc cần làm phải không? Làm sao mà ta có thể ngồi yên mà thưởng thức một chung trà cho được? Nếu tâm ta đầy dẫy những niệm như vậy thì không bao giờ ta có thể hiểu được ý kinh cả.      Tụng đi tụng lại hàng ngày không phải là điều kiện thuận lợi giúp ta hiểu kinh. Ta phải có không gian. Đọc một câu thôi, nhưng nếu tâm ta có không gian thì ta sẽ khám phá nhiều hơn tụng cả bài kinh trong tâm niệm hấp tấp, bất an.
  Như vậy uống trà tức là đọc kinh. Biết uống trà, thì mới biết đọc kinh. Nhìn một thầy pha trà, ta có thể thấy không gian ở trong lòng thầy. Cũng như nhìn vào cách bày biện trong một căn phòng, ta thấy được tâm của chủ nhân. Không gian giúp ta buông bỏ được những cái gì không thuộc về ta. Trở về được với chính mình, nhận diện đâu là mình, đâu là những cái thuộc về mình, tự nhiên ta có rất nhiều thảnh thơi. Ta biết ranh giới của ta. Những gì ta nên làm và những gì ta không nên làm. Ta sẽ bỏ được khuynh hướng muốn ôm vào lòng đủ thứ việc của thiên hạ.
   Đạo Bụt có tương lai hay không, tùy thuộc vào nghệ thuật pha trà và uống trà của người tu. Có một sư chú, tu học với thầy mình đã lâu mà vẫn không thấy thầy dạy mình học kinh. Một hôm, trong lúc uống trà với thầy, mới rụt rè hỏi: ‘Thưa thầy, tại sao con thấy thầy ít dạy con học kinh quá vậy?’ Thầy trả lời: ‘Khi nào con biết uống trà cho đàng hoàng thì thầy mới dạy con học kinh. Dạy sớm, thầy sợ con hiểu lầm lời giảng của thầy.’ Thật là một vị thầy xuất sắc.
                                                                                      Theo langmai.com



Thứ Năm, 6 tháng 2, 2014

BỆNH UNG THƯ CÓ THỂ CHỮA ĐƯỢC THEO PHƯƠNG PHÁP MỚI

                                                              Ảnh hiển vi điện tử quét của một tế bào T của con người.
CNN:
   Đại học University of Pennsylvania đã nghiên cứu và thành công cho nhiều ca ung thư của trẻ em vàngười lớn.
   T-cells (vai trò quan trọng trong hệ miễn dịch) của bệnh nhân sẽ được lấy ra khỏi người bệnh; sau đó sẽ được chỉnh sửa, thêm vào một số Gen và cấy trở lại bệnh nhân. Một T-cell mới sẽ nhân lên 10 ngàn T-cell.
Những T-cell này sẽ tìm và tiêu diệt các tế bào ung thư. Hiện tại đã có 59 ca thử nghiệm và 25 ca thành công, không còn chịu trứng ung thư trong gần 2 năm.
Ung thư tưởng chừng không thể chữa được nhưng điều đó sẽ làm được bằng phương pháp quá thông minh. Bằng cách dùng chính hệ miễn dịch của mình để tiêu diệt tế bào ung thư. T-cell là tế bào quan trọng trong hệ miễn dịch, người bệnh sẽ được lấy ra “nhiều tế bào T-cell” và chỉnh sửa, thêm vào các Gen.
Phương pháp mới này sẽ nhân MỘT tế bào lên 10 NGÀN tế bào. Với “đội quân hùng hậu” tế bào T-cell, chúng sẽ tìm và tiêu diệt tế bào ung thư
Killing cancer like the common cold
By Elizabeth Cohen, Senior Medical Correspondent
Updated 5:32 AM EST, Mon December 9, 2013

New treatment attacks cancer cells
STORY HIGHLIGHTS

Nick Wilkins was out of options for battling leukemia
He is now cancer free after an experimental treatment
Doctors taught Nick’s immune cells to become adept at killing cancer
Experts hope the treatment will quickly become more widely available

(CNN) — Nick Wilkins was diagnosed with leukemia when he was 4 years old, and when the cancer kept bouncing back, impervious to all the different treatments the doctors tried, his father sat him down for a talk.
John Wilkins explained to Nick, who was by then 14, that doctors had tried chemotherapy, radiation, even a bone marrow transplant from his sister.
“I explained to him that we’re running out of options,” Wilkins remembers telling his son.
There was one possible treatment they could try: an experimental therapy at the University of Pennsylvania.
He asked his son if he understood what it would mean if this treatment didn’t work.
“He understood he could die,” Wilkins says. “He was very stoic.”
A few months later, Nick traveled from his home in Virginia to Philadelphia to become a part of the experiment.
This new therapy was decidedly different from the treatments he’d received before: Instead of attacking his cancer with poisons like chemotherapy and radiation, the Philadelphia doctors taught Nick’s own immune cells to become more adept at killing the cancer.
Two months later, he emerged cancer-free. It’s been six months since Nick, now 15, received the personalized cell therapy, and doctors still can find no trace of leukemia in his system.
Trusting her intuition led to two cancer diagnoses
Twenty-one other young people received the same treatment at The Children’s Hospital of Philadelphia, and 18 of them, like Nick, went into complete remission — one of them has been disease-free for 20 months. The Penn doctors released their findings this weekend at the annual meeting of the American Society of Hematology.
“It gives us hope that this is a cure,” Nick’s father says. “They’re really close. I think they’re really onto something.”
‘A whole new realm of medicine ‘
At the conference, two other cancer centers — Memorial Sloan-Kettering in New York and the National Cancer Institute — will be announcing results with immunotherapies like the one Nick received. The results are promising, especially considering that the patients had no success with practically every other therapy.
“This is absolutely one of the more exciting advances I’ve seen in cancer therapy in the last 20 years,” said Dr. David Porter, a hematologist and oncologist at Penn. “We’ve entered into a whole new realm of medicine.”
In the therapy, doctors first remove the patient’s T-cells, which play a crucial role in the immune system. They then reprogram the cells by transferring in new genes. Once infused back into the body, each modified cell multiplies to 10,000 cells. These “hunter” cells then track down and kill the cancer in a patient’s body.
Essentially, researchers are trying to train Nick’s body to fight off cancer in much the same way our bodies fight off the common cold.
Tumor Paint: Changing the way surgeons fight cancer
In addition to the pediatric patients, Penn scientists tried the therapy out in 37 adults with leukemia, and 12 went into complete remission. Eight more patients went into partial remission and saw some improvements in their disease.
The treatment does make patients have flulike symptoms for a short period of time — Nick got so sick he ended up in the intensive care unit for a day — but patients are spared some of the more severe and long-lasting side effects of extensive chemotherapy.
Penn will now work with other medical centers to test the therapy in more patients, and they plan to try the therapy out in other types of blood cancers and later in solid tumors.
A university press release says it has a licensing relationship with the pharmaceutical company Novartis and “received significant financial benefit” from the trial, and Porter and other inventors of the technology “have benefited financially and/or may benefit financially in the future.”
Searching for one-in-a-million cancer cells
The big question is whether Nick’s leukemia will come back.
Doctors are cautiously optimistic. The studies have only been going on since 2010, but so far relapse rates have been relatively low: of the 18 other pediatric patients who went into complete remission, only five have relapsed and of the 12 adults who went into complete remission, only one relapsed. Some of the adult patients have been cancer-free and without a relapse for more than three years and counting.
Relapses after this personalized cell therapy may be more promising than relapses after chemotherapy or a bone marrow transplant, Porter explained.
First, doctors have been delighted to find the reengineered T-cells — the ones that know how to hunt down and attack cancer — are still alive in the patients’ bodies after more than three years.
Stigma lingers for deadliest cancer
“The genetically modified T-cells have survived,” Porter said. “They’re still present and functional and have the ability to protect against recurrence.”
Second, before declaring patients in remission, Penn doctors scoured especially hard for errant leukemia cells.
Traditionally, for the kind of leukemia Nick has, doctors can find one in 1,000 to one in 10,000 cancer cells. But Penn’s technology could find one in 100,000 to one in a million cancer cells, and didn’t find any in Nick or any of the patients who went into complete remission.
‘It’s not a fluke’
One of the best aspects of this new treatment is that it won’t be terribly difficult to reproduce at other medical centers, Porter said, and one day, instead of being used only experimentally, it could be available to anyone who needed it.
“Our hope is that this can progress really quite quickly,” he said. “It won’t be available to everyone next year, but I don’t think it would take a decade, either.”
Right now patients can only get this therapy if they’re in a study, but Dr. Renier Brentjens, director for cellular therapeutics at Memorial Sloan-Kettering, says he thinks it could become available to all patients in just three to five years.
“When you have three centers all with a substantial number of patients seeing the same thing — that these cells work in this disease – you know it’s not a fluke,” he said.
Two days ago, Brentjens became the co-founder of Juno Therapeutics, a for-profit biotech start-up company that’s working on immunotherapies.
“Fifteen years ago I was in the lab looking at these cells kill tumor cells in a petri dish and then I saw them kill tumor cells in mice, and then finally in humans,” Brentjens said.
He says he’ll never forget the first patient he treated, who initially had an enormous amount of cancer cells in his bone marrow. Then after the therapy, Brentjens looked under the microscope and, in awe, realized he couldn’t find a single cancer cell.
“I can’t describe what that’s like,” he said. “It’s fantastic.”
CNN’s John Bonifield contributed to this report.

                      Nguồn tham khảo: http://www.tredeponline.com/post/?p=49492

Thứ Tư, 5 tháng 2, 2014

BỐN BÀ VỢ YÊU QUÝ


     Đứng trước dòng thác lũ cuộc đời nên hư, thành bại, phải quấy, tốt xấu, hơn thua và vô vàn sự cám dỗ, con người cứ như thế loanh quanh, lẫn quẫn trong vòng oan gia trái chủ, do đó mà tạo ra không biết bao điều tội lỗi.
     Có ông trưởng giả nọ, không biết gieo tạo nghiệp nhân gì mà có đến bốn bà vợ. Bà thứ nhất được cha mẹ hai bên chấp nhận nên đứng ra làm lễ thành hôn đàng hoàng. Khi về nhà chồng, bà được ông trưởng giả hết sức cưng yêu chiều chuộng, nên bà muốn gì được đó. Mỗi khi trời lạnh, ông lo cho bà đầy đủ nệm ấm chăn êm. Đến lúc trời nóng, ông lo quạt mát cho bà. Nói chung, từ ăn uống, vui chơi, sinh hoạt, làm việc, cho đến ngủ nghỉ, ông đều lo cho bà đầy đủ chu đáo hết tất cả, mọi nhu cầu cần thiết không thiếu một thứ gì.
   Kế đến bà vợ thứ hai, bà ta đúng là một trang tuyệt sắc giai nhân, xinh đẹp chẳng khác nào nàng Tây Thi năm xưa ở bên Tàu. Mặc dù nàng không được cưng chiều như bà thứ nhất cho lắm, nhưng bà thứ hai vì quá xinh đẹp, kiều diễm, dễ thương, nên làm cho ông trưởng giả đắm say, mê mẫn, tê tái cả tâm hồn. Thậm chí, mỗi khi bà có chuyện bận phải đi xa, lâu ngày mới về, ông trưởng giả thầm thương, trộm nhớ, đứng ngồi không yên, có khi quên cả ăn uống, thức sáng suốt thâu đêm mà nhớ thương về nàng. Những khi bà vắng nhà hơi lâu, ông trưởng giả rầu rĩ lo âu, buồn khổ, mong nhớ ngày đêm như kẻ mất hồn, nhiều khi ông ta muốn tìm cách tự tử quyên sinh, chết phức cho rồi mỗi khi vắng bà.
  Còn bà vợ thứ ba tuy không đầm thắm và mặn nồng như hai bà trước, nhưng lâu ngày chung chạ ăn nằm với nhau, tình cảm vợ chồng cũng trở nên đậm đà, sâu sắc, và càng ngày sống có tình nghĩa hơn. Do đó, ông trưởng giả đối với bà cũng có chút ân nghĩa khi cần, mà chia sẻ nâng đỡ cho nhau những nỗi khổ niềm đau, và cùng vui sống, yêu thương đùm bọc giúp đỡ lẫn nhau.
    Rồi đến bà vợ thứ tư, bà này hình như suốt cả đời chịu nhiều phiền muộn khổ đau, đắng cay tuổi nhục, bởi bà rất thương yêu, chiều chuộng, chăm sóc ông trưởng giả hết mình. Công việc dù khó khăn, cực khổ, nhọc nhằn đến đâu, bà cũng ráng cố gắng lo chu toàn mọi thứ. Nhưng ngược đời thay, ông trưởng giả chẳng thèm để ý hay quan tâm, thương tưởng đến bà, thậm chí nhiều khi còn đánh đập, xua đuổi, hắt hủi bà như kẻ hầu, người ở.
    Riêng đối với bà vợ thứ tư, lúc nào bà cũng có mặt bên ông như bóng với hình, chẳng bao giờ rời xa một bước. Thế mà ông chẳng thèm ngó ngàng gì đến, chỉ quan tâm thương tưởng đến ba bà kia, làm cho bà thầm thương trộm nhớ, khổ sở vô cùng, tuy sống gần gũi bên ông nhưng giống như kẻ âm người dương cách biệt nghìn trùng.
   Đức Phật đã kể câu chuyện này khi Ngài còn tại thế để khuyên nhủ và răn dạy hàng đệ tử chúng ta.
   Dân gian hay nói: một vợ nằm giường lèo, hai vợ nằm chèo queo, ba vợ nằm chèo quèo, bốn vợ ngủ chuồng heo.
   Câu chuyện trên là một bài pháp sống động với ẩn dụ sâu sắc, nhằm giúp chúng ta biết soi sáng lại chính mình mà nhận ra lẽ thật hư trong cuộc đời. Phật đưa ra hình ảnh bốn bà vợ là để ám chỉ cho bốn thứ gần gũi nhất trong đời sống hằng ngày của chúng ta, nhưng ta nào hay biết, cứ mãi vui chơi, lao mình chìm đắm trong biển khổ sông mê mà luống để thời gian trôi qua vô ích. Cho nên:
       Trăm năm trước khi ta chưa có
       Thời gian vẫn trôi qua lặng lẽ.
       Trăm năm khi ta đang có mặt
       Thời gian vẫn âm thầm qua mau.
       Trăm năm sau khi ta chết
       Thời gian không vì thế mà buồn rầu.
       Ta chỉ tiếc để thời gian suông
       Mà buông lung làm việc vô nghĩa.       
    Một hôm, ông trưởng giả bệnh nặng, biết mình khó qua khỏi con trăng này, nên ông cho mời bốn bà vợ lại để hỏi xem có bà nào chung thủy, phát tâm theo ông về thế giới bên kia hay không?
    Ông quay sang hỏi bà vợ thứ nhất, “bà có phát tâm theo tôi về bên kia thế giới vĩnh hằng hay không?”
   Bà thứ nhất nói rằng, “xin anh hãy thông cảm và tha thứ cho em, em vẫn biết và nhớ ơn anh rất nhiều. Cuộc sống của em bao nhiêu năm nay nhờ anh tận tình lo lắng, chăm sóc, giúp đỡ, em thật thoải mái và an lạc hạnh phúc. Anh đúng là mẫu người chồng lý tưởng có một không hai trên cõi đời này. Chính vì vậy, em luôn yêu thương và nhớ ơn anh vô cùng. Nhưng bây giờ, anh bảo em theo anh về bên kia thế giới vĩnh hằng để cùng chung sống với nhau cho trọn tình trọn nghĩa thì không thể nào được. Anh hãy thông cảm và tha thứ cho em, vì ai cũng có nhân duyên và hoàn cảnh khác nhau.
    Mặc dù em không được ở gần bên anh, vắng anh em sẽ thiếu thốn, khó khăn, khổ sở vô cùng. Thà rằng em chịu cô đơn, đau khổ một mình, chứ em không thể nào đi theo anh được, xin anh hãy khoan dung độ lượng mà cảm thông và tha thứ cho em. Vì tình nghĩa vợ chồng bấy lâu nay, nếu anh có chết đi, em sẽ tiễn đưa anh ra tới cổng nhà là cũng quý và tình nghĩa lắm rồi”.     
    Ông trưởng giả nghe bà thứ nhất nói như vậy, hai hàng lệ rơi lăn tròn trên khóe mắt, ngậm ngùi đau khổ quay sang bà vợ thứ hai, “còn em? Em có thể theo anh về thế giới bên kia hay không, hỡi em yêu dấu?”
   Bà thứ hai thì thông minh lanh lợi hơn, nên nhanh nhẫu trả lời rằng, “Anh cứ yên chí đi, anh khỏi phải bận bịu lo lắng chuyện đó nữa, vì chúng ta ai cũng có phúc có phần. Bình thường lúc đương thời, anh thương yêu chăm sóc và lo lắng cho em thật nhiều, em rất biết ơn anh đã sống có tình có nghĩa với em như thế. Nhưng em bây giờ còn trẻ đẹp, còn xinh xắn, còn dễ thương, còn mi nhon, nên rất được nhiều người ngắm nghía thèm thuồng, thương tưởng đến em, tương lai của em còn tràn đầy sức sống và hy vọng. Nếu anh có ra đi về bên kia miền đất hứa, thì xin anh hãy cảm thông mà âm thầm lặng lẽ một mình cất bước. Em hiện giờ tương lai còn xán lạn, do đó cần phải tìm một đấng lang quân để nương tựa lâu dài và sống hết quãng đời còn lại. Nghĩ tình anh thương yêu chiều chuộng và lo lắng cho em trong nhiều năm qua, em nghĩ chút tình sẽ tiễn đưa anh ra tới cửa nhà, vậy cũng là quý lắm rồi anh ạ”.
    Nghe bà thứ hai nói vậy, ông trưởng giả như đứt từng khúc ruột, đau xót não nề mà quay sang bà vợ thứ ba, “còn em thì sao? Em có thể theo anh về bên kia miền đất hứa?
    Bà vợ thứ ba nghe ông trưởng giả hỏi vậy, bà ta vừa khóc vừa nói, “Lúc anh còn mạnh khỏe, anh chỉ biết lo cho chị cả và chị hai mà ít bao giờ quan tâm, đoái hoài, thương tưởng đến em. Tuy nhiên, vẫn có những lúc anh hết mực yêu thương em chân thành. Nghĩ chút tình chồng nghĩa vợ bấy lâu nay, sau khi anh về thế giới bên kia, em sẽ đưa anh ra tận nghĩa trang để lo cho anh yên mồ yên mã, sau đó em sẽ cúng tế, giỗ chạp cho anh đầy đủ, để trả lại công ơn anh đã thương tưởng, đoái hoài đến em khi còn sống. Còn việc phải đi theo anh về bên kia miền đất hứa thì không thể nào được, em còn phải có bổn phận, trách nhiệm đối với gia đình người thân, xin anh hãy hiểu và thông cảm cho tấm lòng thành thật của em”.
    Như tiếng sét đánh ngang tai, bao nhiêu mộng đẹp bấy lây nay bây giờ tan tành theo mây khói, ông trưởng giả rụng rời tay chân, toát cả mồ hôi hột, cảm thấy khổ đau vô cùng, chẳng còn biết nghĩ gì hơn, ông đành chấp nhận nhắm mắt xuôi tay, mặc cho số phận ra sao cũng được.
    Lúc này, bà vợ thứ tư như hiểu được tâm trạng của ông đang muốn gì, nên bà mới ân cần nói rằng, “này anh yêu dấu của em! Anh chớ nên lo buồn quá đáng. Anh cứ yên chí đi, em sẽ là người theo anh suốt cả cuộc hành trình, dù anh có đến chân trời góc biển xa xôi nào, hoặc lên thiên đường hay xuống địa ngục. Mặc dầu bình thường anh chỉ quan tâm, lo lắng cho chị cả, chị hai và chị ba, chẳng bao giờ anh biết nhớ nghĩ và thương tưởng đến em, thật ra em cũng rất đau buồn và khổ sở lắm chứ; nhưng dù sao, chúng ta vẫn là vợ chồng với nhau, nghĩ chút tình chồng vợ, em sẽ nguyện theo anh trong suốt ba cõi sáu đường. Anh cứ yên chí vì đã có em kề cận, không rời xa anh nửa bước, anh đi tới đâu thì em sẽ theo anh tới đó”.
   Nghe được những lời nói ngọt ngào và êm dịu như thế, ông trưởng giả như được mãn nguyện, liền vui lòng nhắm mắt ra đi.
    Đây là một bài kinh ẩn dụ mang một triết lý sâu sắc, để lại cho mỗi hành giả phải suy ngẫm, quán chiếu, soi sáng, và có sức định tĩnh trong tu tập, mới có thể hiểu thấu hết lời Phật dạy. Tại sao Phật không dùng một hình ảnh nào khác để thí dụ, mà lại dùng hình ảnh bốn bà vợ với mục đích gì? Vì hình ảnh này luôn luôn gần gũi với đời sống hằng ngày của chúng ta, nhằm phá sự chấp trước do si mê tham đắm, mà thấy biết sai lầm không đúng với lẽ thật về thân phận của một kiếp người.
   Hình ảnh bà vợ thứ nhất, Phật dụ cho sắc thân của mỗi người chúng ta.
   Hình ảnh bà vợ thứ hai, Phật dụ cho tiền bạc của cải của chúng ta ở trong nhà. Ta đi đâu đó cũng đều có tiền trong túi và không thể thiếu nó. Nhưng khi chúng ta chết, nó chỉ nằm trong tủ hoặc két sắt thuộc phạm vi trong nhà, vì vậy mà bà vợ thứ hai chỉ nói đưa tới cửa mà thôi.
   Hình ảnh bà vợ thứ ba, Phật dụ cho ông bà cha mẹ và họ hàng thân thuộc của hai bên chồng vợ. Người vợ thứ ba dụ cho sự nghiệp gia đình người thân, công danh chức tước. Khi đưa quan tài người chết tới huyệt thì họ đọc điếu văn kể công trạng, rồi mới hạ huyệt chôn cất, nên nói đưa tới mộ.
   Hình ảnh bà vợ thứ tư, Phật dụ cho việc làm của mỗi người chúng ta được lập đi lập lại nhiều lần từ thân miệng ý, từ vô thủy kiếp đến nay, hay còn gọi là thói quen hoặc nghiệp báo. Cho nên, bà vợ thứ tư dụ cho nghiệp lành hay nghiệp dữ luôn theo ta như hình với bóng, ta ở đâu thì nó theo đó không rời nửa bước, chính vì thế mới tình nguyện chết theo.
   Ai cũng vậy, lúc còn sống thì ta thương yêu quý tiếc gìn giữ sắc thân, tiền bạc của cải, và lo lắng bảo vệ cho gia đình người thân, nên từ đó ta dễ dàng gây tạo nhiều tội lỗi. Đến khi sắp chết lìa đời, ba thứ ta hay lo lắng, quý tiếc gìn giữ thân thương nhất, lại không thể nào mang theo được, mà chỉ mang theo nghiệp lành hay nghiệp dữ đã làm trong hiện tại.
   Khi ta chuẩn bị từ giã cõi đời thì ba thứ thân thương nhất ta đều phải bỏ lại hết, duy chỉ có bà vợ thứ tư là ẩn dụ cho nghiệp báo tốt xấu của mỗi người, nó theo ta như bóng với hình, ta sinh ra chỗ tốt hay đọa vào chỗ xấu là tùy thuộc vào việc làm và thói quen của ta trong hiện tại. Nó sẽ theo ta trong suốt cuộc hành trình với những đời sống kế tiếp.
   Thật ra, chết không phải là hết, mà chết chỉ là thay hình đổi dạng để tiếp tục đời sống mới trong ba cõi sáu đường, trời, người, A Tu La, và địa ngục, quỷ đói, súc sinh. Hai loại chúng sinh ta dễ dàng nhìn thấy nhất là con người và các loài súc sinh. Còn bốn con đường kia, khi ta có sự thể nghiệm trong quán chiếu tu tập, ta mới có thể thấy rõ tường tận từng cảnh giới sống của chúng.              
   Nhìn vào thực tế trong đời sống nhân gian bằng sự quán sát và xem xét, ta có thể thấy chư Thiên vẫn hiện hữu nơi cõi người. Như những người giàu sang nhiều tiền bạc của cải, họ có quyền cao chức trọng, nhưng họ vẫn sống có nhân cách và đạo đức, luôn luôn giúp người cứu vật, sống vì lợi ích tha nhân nhiều hơn là chính mình. Đó là chư Thiên hiện tiền trong thế giới con người chúng ta.
  Có nhiều người tuy thường xuyên gieo trồng phước đức, giúp người cứu vật, và sẵn sàng san sẻ giúp đỡ khi gặp người khó khăn hoạn nạn, bất hạnh khổ đau, nhưng tính tình còn nhiều nóng giận hay la rầy, nói nặng nói nhẹ, mắng chửi người khác, do đó hiện tướng A Tu La ngay nơi cuộc sống này.
   Ai đang làm từ thiện để đóng góp sẻ chia thì hãy nên suy xét lại, nếu không khéo tuy có lòng giúp đỡ tha nhân, nhưng làm cho người ta sinh tâm ganh ghét, giận hờn, có khi gây thù chuốc oán, phản tác dụng trở thành oan gia trái chủ.
   Ai trực tiếp giết hại người vật một cách tàn nhẫn, dã man, không thương tiếc, chế tạo vũ khí để xúi người ta giết chóc hoặc mở lò sát sinh, luôn gây chiến tranh để nhân loại tàn sát giết hại lẫn nhau, thì địa ngục sẽ hiện tiền nơi cõi Ta Bà này. Người Phật tử chân chính không trực tiếp, hay xúi bảo, hoặc vui vẻ khi thấy người khác giết hại, thì tránh được khổ báo không bị đọa địa ngục trong hiện tại và tương lai.
   Kẻ tham lam bỏn sẻn có nhiều tiền của không đem ra giúp người khi gặp thiếu thốn khó khăn, thà để hư mục, hoặc bóc lột sức lao động của con người và vật quá đáng. Tuy giàu có nhưng không bao giờ biết mở lòng với ai, mà còn tìm cách vơ vét về cho riêng mình, tâm địa ích kỷ, san tham, hẹp hòi là nhân bị đọa vào loài quỷ đói, để chịu khổ báo đói khát vô lượng kiếp.
   Tóm lại, vì sự sống của riêng mình và người thân, hay rộng hơn là một đất nước mà ta đành lòng giết hại gây đau khổ cho nhau cũng chỉ miếng ăn thức uống, hay các nhu cầu cần thiết khác. Phật dạy, đời sống của chúng ta là một chuỗi dài nhân duyên, liên quan mật thiết với nhau.
   Dù ta có tài giỏi đến đâu cũng phải nương nhờ lẫn nhau theo tiến trình diễn biến nhân quả mới bảo tồn mạng sống, ta không làm ruộng nhưng vẫn có cơm để ăn, ta không dệt vải nhưng vẫn có quần áo để mặc, và cứ tương tự như thế các nhu cầu cần thiết khác cũng lại như vậy. Chính vì thế, Phật dạy chúng ta cần phải có bổn phận, trách nhiệm, thương yêu, đùm bọc, giúp đỡ lẫn nhau bằng trái tim hiểu biết, trên tinh thần vô ngã vị tha
                                                                           Tác giả : Thích Đạt Ma Phổ Giác
                                                                          Nguồn  http://thuvienhoasen.org/

Thứ Hai, 3 tháng 2, 2014

THIỀN SƯ VÀ CÔ LÁI ĐÒ XINH ĐẸP

Sự việc tới Tâm vui đón nhận
                    Việc qua rồi Tâm cũng theo qua          (ST)
  
 - Một hôm, một Thiền sư phải qua sông. Sư bước lên một chiếc đò của một cô lái đò xinh đẹp...
    Sau khi thuyền cặp bến, cô lái thu tiền từng ngườì như bình thường, chỉ trừ nhà sư bị cô lái đò đòi tiền gấp đôi.
    Nhà sư ngạc nhiên hỏi vì sao.
   Cô lái mỉm cười: “Thưa Thầy, vì Thầy đã nhìn em…”
   Nhà sư lặng lẽ trả tiền và bước lên bờ.
   Một hôm nhà sư lại qua sông. Lần nầy cô lái đòi tiền "gấp ba."
   Nhà sư ngạc nhiên, hỏi vì sao.
   Cô lái cười bảo: Thưa Thầy, Thầy đã nhìn em dưới nước.
   Nhà sư nín lặng trả tiền gấp ba bình thường và bước lên bờ.
   Một hôm nhà sư lại qua sông. Vừa bước lên đò nhà sư nhắm nghiền mắt lại đi vào thiền định.
   Đò cập bến cô lái đò thu tiền "gấp năm" lần. Nhà sư ngạc nhiên, hỏi vì sao.
  Cô lái cười, đáp: Thưa Thầy, Thầy không nhìn em, nhưng còn nghĩ đến em.
  Lặng lẽ, nhà sư trả tiền gấp năm lần bình thường.
  Một hôm nhà sư lại qua sông. Lần nầy nhà sư nhìn thẳng vào cô lái đò…
  Đò cập bến, nhà sư cười hỏi lần nầy phải trả bao nhiêu.
  Cô lái đáp: Em xin đưa Thầy qua sông, không thu tiền.
  Thiền sư hỏi vì sao.
  Cô lái cười và đáp: - Thầy đã nhìn em mà không còn dính mắc gì tới hình ảnh em nữa… Do vậy, em xin đưa Thầy qua sông mà thôi...

                                                                                                     Nguồn http://kienthuc.net.vn

Chủ Nhật, 2 tháng 2, 2014

66 CÂU THIỀN NGỮ LÀM CHẤN ĐỘNG THẾ GIỚI

   Không phải tất cả 66 câu “thiền ngữ” này đều mô tả sâu sắc tư tưởng Phật giáo. Đây là điều các Phật tử cần lưu tâm, khi sử dụng tài liệu trên internet vốn khó kiểm chứng...
    Ghi chú: Nguyên tác Hoa ngữ của “66 cầu thiền ngữ” này là “Lục thập lục điều kinh điển thiền ngữ” (六十六條經典禪語), có nghĩa là “66 câu thiền ngữ trong Kinh điển [Phật giáo]”, được phổ  biến trên internet vào khoảng năm 2004. Bản dịch tiếng Việt được phổ biến năm 2010, có tựa đề là “66 cầu làm chấn động thiền ngữ thế giới” hoặc “66 câu Phật học làm chấn động thiền ngữ” đều không chuẩn với nguyên tác Hoa ngữ, đồng thời, đã thêm cụm từ “chấn động thế giới” và tỉnh lược từ “kinh điển”.
    Không rõ người biên tập bản Hoa ngữ là ai. Cũng không rõ ai là dịch giả bản tiếng Việt. Sau khi đối chiếu bản Hoa ngữ, tôi đã hiệu đính một vài từ cho chuẩn xác và trau chuốt lời văn cho thuần Việt hơn. Phần hiệu đính và biên tập được tô màu xanh dương đậm để nhận dạng. Các đại từ nhân xưng “anh” trong bản dịch, tôi đều đổi thành “bạn” cho gần gũi với người đọc.
    Từ “Kinh điển thiền ngữ” ở đây nên hiểu là “lời minh triết trong Kinh Phật”. Khó tìm được xuất xứ của 66 thiền ngữ này trong Kinh Phật, mặc dù về mặt tư tưởng, chúng diễn ta triết lý Phật giáo ứng dụng, dưới hình thức danh ngôn. Câu 43 diễn đạt sai tư tưởng Phật học, vì Phật giáo không chấp nhận “ngẫu nhiên”, trong khi câu 50 được người biên tập Hoa ngữ đánh tráo tư tưởng Nhất thần giáo vào thiền ngữ Phật giáo, với mục đích lạc dẫn người đọc tin vào quyền uy toàn năng của Thượng đế, vốn không có thật và không được đạo Phật chấp nhận. Không phải tất cả 66 câu “thiền ngữ” này đều mô tả sâu sắc tư tưởng Phật giáo. Đây là điều các Phật tử cần lưu tâm, khi sử dụng tài liệu trên internet vốn khó kiểm chứng tính nguyên thủy về văn bản học Phật giáo, để khỏi hiểu sai tư tưởng Phật giáo nguyên chất.
   Để minh họa cho các bài giảng, tôi tạm phân 66 câu thiền ngữ thành 6 phần, mỗi phần 11 câu và đặt tựa đề cho từng phần, nhằm giúp người đọc dễ nhớ các ý tưởng chính trong từng phần. 
      I. CHẤP DÍNH LÀ GỐC KHỔ ĐAU
  1. Sở dĩ người ta đau khổ là do đeo đuổi những thứ sai lầm.
  2. Nếu bạn không muốn rước phiền não vào mình, thì người khác cũng không cách nào gây phiền não cho bạn.Tất cả do nội tâm bạn. Chỉ do bạn không chịu buông xuống.
  3. Bạn hãy luôn cảm ơn những ai tạo ra nghịch cảnh cho bạn.
  4. Bạn phải luôn mở lòng khoan dung, lượng thứ cho người khác, cho dù họ xấu bao nhiêu, thậm chí họ đã làm tổn thương bạn. Bạn phải buông bỏ để có được niềm vui đích thực.
  5. Khi đang vui, bạn nên nghĩ rằng niềm vui này không vĩnh hằng. Khi đau khổ, bạn hãy nghĩ rằng nỗi đau này cũng không trường tồn.
  6. Sự chấp trước của ngày hôm nay sẽ là niềm hối hận cho ngày mai.
  7. Bạn có thể có tình yêu nhưng đừng nên dính mắc, vì chia ly là lẽ tất nhiên.
  8. Đừng lãng phí mạng sống mình tại những nơi mà nhất định bạn sẽ ân hận.
  9. Khi nào bạn thật sự buông xuống thì lúc ấy bạn sẽ hết phiền não.
10. Mỗi một vết thương đều là một sự trưởng thành.
11.Người cuồng vọng còn cứu được, người tự ti thì vô phương. Chỉ khi nhận thức được mình, hàng phục chính mình, sửa đổi mình, bạn mới có thể thay đổi người khác.
     II. THAY VÌ HẬN NGƯỜI, HÃY TỰ CỨU MÌNH
12. Đừng nên có thái độ bất mãn người khác hoài. Bạn hãy quay về kiểm điểm chính mình mới đúng. Bất mãn người khác là chuốc khổ cho chính mình.
13. Người nào nếu tự đáy lòng không thể tha thứ cho kẻ khác, thì tâm người đó sẽ không thể được thanh thản.
14. Người nào trong tâm chứa đầy cách nghĩ và cách nhìn của mình thì sẽ không bao giờ nghe được tiếng lòng người khác.
15. Hủy diệt người chỉ cần một câu, xây dựng người lại mất ngàn lời, xin bạn "đa khẩu hạ lưu tình".
16. Thật sự không cần quay đầu lại xem người nguyền rủa bạn là ai? Chẳng lẽ khi bị chó điên cắn một phát, bạnphải chạy đến cắn con chó đó một phát?
17. Đừng bao giờ lãng phí một giây phút nào để nghĩ nhớ đến người bạn không hề yêu thích.
18. Khi bạn biết đem lòng từ bi và thái độ ôn hòa để bày tỏ những nỗi oan ức và bất mãn của mình, người khác sẽ dễ hiểu ra vấn đề.
19. Cùng là một chiếc bình giống nhau, sao bạn lại chứa độc dược? Cùng một mảnh tâm, sao bạn phải chứa đầy những não phiền làm chi?
20. Những thứ không đạt được, chúng ta sẽ luôn cho rằng nó đẹp đẽ, chính vì bạn hiểu nó quá ít, bạn không có thời gian ở chung với nó. Nhưng rồi một ngày nào đó khi bạn hiểu sâu sắc, bạn sẽ phát hiện nó vốn không đẹp như trong trí tưởng tượng của mình.
21. Sống một ngày là có diễm phúc của một ngày, nên phải trân quý. Khi tôi khóc vì không có dép để mang thì tôi lại phát hiện có người không có chân!
22. Hao tổn tâm lực để chú ý người khác sao bằng dành chút tâm lực phản tỉnh bản thân?
    III. BUÔNG CHẤP NGÃ LÀ HẠNH PHÚC ĐÍCH THỰC
23. Hận thù người khác là mất mát lớn nhất đối với bản thân.
24. Dù ai cũng có mạng sống, nhưng không phải ai cũng hiểu được và biết trân quý mạng sống của mình. Người không hiểu được mạng sống thì mạng sống đối với y chỉ là sự trừng phạt.
25. Tình chấp là nguyên nhân của khổ đau. Buông bỏ tình chấp, bạn mới được tự tại.
26. Muốn không hối hận về sau thì đừng khư khư về cách nghĩ của mình.
27. Khi sống thành thật với chính mình, không ai trên đời sẽ lừa dối bạn được.
28. Người che đậy khuyết điểm của mình bằng thủ đoạn tổn thương người khác là kẻ đê tiện.
29. Người âm thầm quan tâm, chúc phúc người khác là đang trao tặng vô hình.
30. Đừng gắng sức suy đoán cách nghĩ của người khác, nếu bạn không phán đoán chính xác bằng trí huệ và kinh nghiệm thì bạn sẽ mắc phải nhầm lẫn như sự đương nhiên.
31. Muốn hiểu một người có thật lòng không, chỉ cần xem điểm xuất phát và mục đích của họ có giống nhau không.
32. Chân lý của nhân sinh được giấu trong cái bình thường.
33. Người không tắm rửa thì càng xức nước hoa càng thấy thối. Danh tiếng và sự tôn quý đến từ chân tài thực học. Có đức tự nhiên thơm.
     IV. HÃY ĐỂ THỜI GIAN CUỐN TRÔI KHỔ ĐAU ĐI
34. Thời gian sẽ trôi qua. Hãy để dòng thời gian cuốn trôi phiền não của bạn đi.
35. Ai nghiêm trọng hóa những chuyện đơn thuần sẽ sống trong đau khổ.
36. Người luôn e dè với thiện ý của người khác thì hết thuốc cứu chữa.
37. Buông một lời dối gian thì phải bịa thêm mười câu hư vọng nữa để biện hộ. Cần gì khổ như vậy?
38. Ai sống một ngày vô tích sự thì chẳng khác gì kẻ phạm tội ăn trộm.
39. Người gieo duyên rộng mở sẽ không làm tổn thương người khác.
40. Im lặng là một câu trả lời hay nhất của sự phỉ báng.
41. Kính trọng người khác là tự trang nghiêm.
42. Ai có tình thương vô tư thì sẽ có tất cả.
43. Đến là ngẫu nhiên [nhân duyên], đi là tất nhiên [nhân duyên]. Do vậy, bạn cần phải "tùy duyên mà bất biến, bất biến mà tùy duyên".
44. Từ bi là vũ khí tốt nhất của mỗi người.
      V. BIẾT THƯƠNG CHÍNH MÌNH
45. Chỉ cần đối diện với hiện thực, bạn mới vượt qua hiện thực.
46. Lương tâm là thẩm phán công bằng nhất của mỗi người. Bạn lừa dối người khác được nhưng không thể qua mặt lương tâm mình.
47. Người không biết thương bản thân thì không thể thương người khác.
48. Thi thoảng, ta nên tự thầm hỏi: “Ta đang đeo đuổi cái gì? Ta sống vì cái gì?”
49. Đừng vì một chút tranh chấp mà đánh mất tình bạn chí thân. Đừng vì một chút oán giận mà quên đi thâm ân của người khác.
50. Cảm ơn đời[1] về những gì tôi đã có. Cảm ơn đời vì những gì tôi không có.
51. Biết đứng ở góc độ của người khác để nghĩ cho họ thì đó là từ bi.
52. Nói năng nên tránh tánh châm chọc, đừng gây thương tổn, đừng khoe tài cán, đừng vạch lỗi người, nhờ đó, biến thù thành bạn.
53. Thành thật đối diện với mâu thuẫn và khuyết điểm trong tâm, đừng lừa dối chính mình.
54. Nhân quả chưa từng nợ chúng ta thứ gì, nên xin đừng oán trách nhân quả.
55. Đa số người đời làm được ba việc: Dối mình, dối người và bị người dối.
     VI. LÀM CHỦ TÂM, LÀM CHỦ HẠNH PHÚC
56. Tâm là tên lừa đảo lớn nhất. Người khác có thể dối bạn nhất thời, tâm dối gạt bạn suốt đời. 
57. Chỉ cần tự giác tâm an, thì đông tây nam bắc đều tốt. Nếu còn một người chưa độ thì đừng nên thoát một mình.
58. Khi tay bạn nắm chặt một vật gì mà không buông xuống, thì bạn chỉ có mỗi thứ này. Nếu chịu buông xuống,bạn có cơ hội chọn lựa những thứ khác. Người chấp khư khư quan niệm của mình, không chịu buông thì trí huệ chỉ đạt được ở một mức độ nhất định.
59. Nếu bạn có thể sống qua những ngày bình an, thì đó chính là phúc đức của bạn. Hôm nay, biết bao nhiêu người hôm nay đã không thấy được vầng thái dương ngày mai; biết bao nhiêu người đã trở thành phế nhân, biết bao người đã đánh mất tự do, và biết bao nhiêu người phải nước mất nhà tan.
60. Bạn có nhân sinh quan của bạn, tôi có nhân sinh quan của tôi. Tôi không dính dáng gì tới bạn. Chỉ cần tôi có thể, tôi sẽ cảm hóa được bạn. Nếu không thể thì tôi đành cam chịu.
61. Nếu muốn nắm được tương lai thì bạn phải làm chủ hiện tại.
62. Đừng thốt ra từ miệng những lời ác độc, cho dù người ta có xấu ác với mình bao nhiêu. Càng nguyền rủa người khác, tâm bạn càng bị nhiễm ô. Hãy nghĩ mọi người là thiện tri thức của mình.
63. Người khác có thể làm trái nhân quả, tổn hại chúng ta, đánh chúng ta, hủy báng chúng ta. Chúng ta đừng vì thế mà oán hận họ. Vì chúng ta cần giữ tâm thanh tịnh và bản tánh hoàn chỉnh.
64. Người chưa từng cảm nhận sự đau khổ hoặc khó khăn thì khó cảm thông người khác. Muốn học tinh thần cứu khổ, cứu nạn thì trước hết phải chịu đựng được khổ nạn.
65. Thế giới vốn không thuộc về bạn, vì thế bạn không cần vứt bỏ. Cái cần vứt bỏ chính là tánh cố chấp. Vạn vật đều hữu dụng, nhưng không thuộc về ta.
 66. Khi không thể thay đổi được thế giới xung quanh, ta nên sửa đổi chính mình. Giáp mặt tất cả bằng tâm từ bi và trí huệ.


                                                                                   Nguồn http://kienthuc.net.vn

Thứ Sáu, 31 tháng 1, 2014

ĐƯỜNG THI:THẾ NÀO LÀ THƠ THIỀN


1. Thế nào là thơ thiền?
    Về mặt lịch sử, Phật giáo có nhiều tương quan với ngôn  ngữ thi ca. Khi còn tại thế, Đức Phật luôn luôn khuyến khích các đệ tử dùng các ngôn ngữ địa phương để diễn dịch, truyền đạt giáo pháp của Ngài. Các bản kinh còn lại cũng hay dùng các thể văn vần, với lý do duy nhất để dể đọc dễ nhớ. Nhiều thế kỷ sau khi Đức Phật nhập  diệt, người ta vẫn chỉ lưu truyền  lời Phật  (kinh) bằng cách truyền khẩu. Nên có thể nói ngay từ nguyên thủy Phật giáo đã dùng thơ làm phương  tiện giáo hóa. Cho đến Thiền tông sau này, dù chủ trương “trực chỉ nhân  tâm  kiến tính thành  Phật”, dõng  dạc tuyên  bố “bất lập văn tự, giáo ngoại  biệt truyền” coi thường ngôn ngữ kể cả kinh điển, thì sừng sững trong văn học Thiền tông vẫn là các bài thơ trong các ngữ lục danh tiếng của các tổ Thiền tông.
     Thi ca thường được coi là có thể diễn tả được những gì không thể diễn tả bằng văn xuôi. Như cách nói “một bài thơ nói được nhiều hơn tổng số ngôn từ trong bài thơ đó”, thơ có khả năng  chuyên  chở phần  nào kinh nghiệm “bất khả tư nghị” không thể nghĩ bàn. Đó là kinh nghiệm  thiền  định  mà ngôn  ngữ  bình  thường của thế giới nhị nguyên không những bất lực mà còn làm người ta hoang mang hiểu lầm, như các thiền giả thường nhấn mạnh. Cho nên trong thiền học thơ cũng thường  được dùng  như một  phương  tiện thiện  xảo, một “công án trong công án” để hướng dẫn người học đi vào thực nghiệm  cái kinh nghiệm “bất khả tư nghị, bất khả ngôn  thuyết” – Dù biết rằng “chín mươi chín phần trăm chính xác của thơ cũng không bằng ngôn ngữ của im lặng”.
   2. Gần đây đã có những  người dễ dãi sưu tập các bài thi kệ (thơ!) của các tăng sĩ (thiền?) và gọi đó là “thơ thiền”. Thật sự chưa nói đến các bài thơ dịch quá khiên cưỡng, tự thân đại đa số các bài thơ được sưu tập đó cũng chỉ là những bài văn vần dạy đạo hay các bài kệ diễn tả kinh nghiệm thiền của các tác giả. Các thiền sư không có mục đích làm văn chương. Cũng như có cả một ‘phong trào thời thượng’ của một số người làm tập tành làm thơ thường hay mang những Phật ngữ, thiền từ vào thơ và nghĩ đó là thơ thiền. Thật ra đó cũng chỉ là trò chơi ráp chữ mua vui. Các thiền sư thật sự chưa bao giờ thích dùng  ngôn ngữ để diễn giải về chân lý siêu việt “bờ bên kia”. Dù đôi khi các ngài chỉ bất đắc dĩ phải dùng loại loại ngôn ngữ thi ca để làm phương tiện gợi tỏ, ‘viên đá dẫn đường’. Nên đâu đó, trong các ngữ lục của các thiền sư thường có lẫn ít nhiều câu thơ. Các câu thơ hay các bài thơ đó được các ngài thuận miệng nói ra, thuận  tay chép  lại theo  thủ  thuật  nhà  thiền “nhất hồi niêm xuất nhất hồi tân” chẳng bao giờ chú thích xuất xứ. Và các ngữ lục của các thiền sư thường chỉ do hậu bối nhớ lại và ghi chép, nên vẫn thường có thể lẫn các câu thơ của nhiều thi nhân khác. Các thiền sư chỉ tức thời mượn câu thơ văn có vần có điệu dễ nhớ dễ nghe để trình bày một vấn đề uyên áo ‘bất khả tư nghị, bất khả ngôn thuyết’. Các “thi phẩm” này hoàn toàn không có mục đích thi ca trừ trường hợp các tu sĩ cũng là thi sĩ – Đây lại là vấn đề khác. Đó là trường hợp của 116 thi nhân và cũng là tăng sĩ trong Toàn Đường Thi và các tu sĩ làm thơ khác đời sau.
    Đối với các thiền sư, dù có những bài thơ là những bài thật sự có giá trị thi ca thì cũng chỉ là tình cờ. Chúng ta nên nhớ các “bài thơ” này vẫn chỉ có mục đích mượn bè qua sông, một phương  tiện “tải đạo.” Thiền sư Lai Quả từng  nói rõ: “Người xưa việc lớn đã sáng  tỏ, là người trước đã tỏ ngộ sau đó mới quan sát căn cơ mà lập giáo, dùng  văn để tiếp người trí thức, dùng  thơ để tiếp người học rộng hiểu sâu. Chỉ lấy thơ văn làm phương  tiện đưa người nhập đạo, tất cả không ngoài lòng từ bi làm lợi ích cho thế gian, chứ chẳng phải như bọn người phù phiếm ưa thích ý vị thi văn”.
   Vì vậy đối với các thiền sư dù có làm thơ thì mục đích của những  bài thơ đó cũng  không  khác các câu nói mộc mạc tùy tiện như “ba cân mè”, “cây tùng trước sân”, “uống trà đi”,… hay có khi sỗ sàng như “càn thỉ quyết”, “phùng Phật sát Phật, phùng  Tổ sát Tổ”… chỉ với mục đích tải đạo. Đó cũng là trường hợp các tu sĩ dùng các bài kệ bài vè để truyền giáo vào đại đa số quần chúng, như các “ông đạo” ở miền Nam Việt Nam trước đây. Các ngài không bao giờ nhắm mục đích ‘làm văn chương’.
   3. Tuy nhiên  trong  bình diện phổ  thông  người ta vẫn có thể gọi là “thơ thiền” theo ý nghĩa dung tục: Đó là những bài thơ thoáng gợi một nhân sinh quan thiền học nhất định nào đó hay diễn tả một trạng thái xuất thần  phảng phất  một  kinh nghiệm  thực  chứng  của giáo lý vô ngã của kinh nghiệm thiền quán.
   Nói là ‘phảng phất  ít nhiều  nhân  sinh quan  thiền học’ mà không nói ‘mang nội dung thiền học’.
   Nhưng vấn đề cơ bản của bất cứ bài “thơ thiền” nào thì cũng phải là một bài thơ – một bài thơ hay. Một thi sĩ có thể không phải là thiền giả nhưng vẫn có thể có những  bài thơ những  câu thơ “rất thiền,” và một vị thiền sư có thể có những bài thi bài kệ dạy đạo rất sâu sắc nhưng không có nghĩa đó là những bài “thơ thiền” nếu từ cơ bản nó không phải là bài thơ hay.
   Đó chính là một tiêu chuẩn  để được chọn lựa vào tuyển  tập  Toàn Đường Thi, Đường Thi Tam Bách Thủ, Thiên Gia Thi hay các thi tuyển tương tự.
   4. Thưởng thức thơ, làm thơ là một hoạt  động  trí tuệ thanh cao. “Thơ thiền” lại là một hoạt động cao nhã hơn nữa. Nhưng nên nhớ trò chơi lao tâm chọn chữ theo lời cũng là một chướng ngại của người tu thiền. Thiền sư Hiệu Nhiên (730-799) là một thi nhân lỗi lạc đời Đường với bảy thi tập còn ghi trong Toàn Đường Thi và cũng là một nhà phê bình thi ca nổi tiếng với quyển Thi Thức. Tuy nhiên đến cuối đời ông không làm thơ nữa vì tự nhận thấy nỗi đam mê này cũng là một chướng  ngại của thiền nhân. Đúng như các thiền sư xưa nhận định, người tu thiền tâm còn mải miết buông thả theo cảnh huyễn lấy thi thơ làm nghiệp, phung phí thời giờ đuổi theo vần điệu chỉ là tạo ra nghiệp xấu của thi tăng. Đó là những kinh nghiệm mà thiền nhân chân chính tự hiểu.
                                                                                        Tác giả : Vũ Thế Ngọc
                                                                              Tạp Chí Văn Hóa phật Giáo số 153 
                                                 Nguồn  http://thuvienhoasen.org/