Thứ Sáu, 22 tháng 7, 2022

TẠI SAO CHÚNG SINH SỢ NHÂN QUẢ?

 


Hiểu và sống theo luật nhân quả, mỗi Phật tử sẽ làm chủ cuộc sống của mình, biết cách chuyển hóa những khổ đau đúng Chánh pháp cũng như nắm giữ được vận mệnh trong tay mình.

Nhân quả là quy luật bất di bất dịch của vũ trụ được Đức Phật phát hiện sau khi thành Chánh Quả dưới cội Bồ Đề. Chính quy luật nhân quả đã phá tan những ý niệm sống về thần quyền, cho rằng có một đấng toàn năng đủ sức để ban phước giáng họa, điều khiển cuộc sống của con người. Khi biết, hiểu và sống theo luật nhân quả, mỗi Phật tử sẽ làm chủ cuộc sống của mình, biết cách chuyển hóa những khổ đau đúng Chánh pháp cũng như nắm giữ được vận mệnh trong tay mình.

Vạn sự vạn vật nói chung đều vận động theo sự chi phối của luật Nhân quả, chính xác là Nhân-Duyên - Quả. Với con người, quy luật Nhân- Duyên - Quả vận động và hình thành nên đời sống của một cá nhân gọi đủ là Nhân quả-Nghiệp báo. Tạo nghiệp nhân tốt ắt sẽ được nghiệp quả lành. Ngược lại, gieo nghiệp nhân xấu ắt sẽ gặt quả báo ác.

Nhân quả là gì?

Theo như “Phật học phổ thông” của HT.Thích Thiện Hoa đã định nghĩa một cách chính xác về “Nhân quả” như sau: “Nhân” là nguyên nhân. “Quả” là kết quả, hay nhân là năng lực phát động, quả là sự hình thành của năng lực đó. Nói một cách khác theo nghĩa đen “Nhân” là hạt, “Quả” là trái. Từ đó cho chúng ta thấy rằng “Nhân quả” là hai trạng thái tiếp nối nhau, nếu không có nhân thì sẽ không có quả.

Trong thực tế chúng ta thấy rằng gieo hạt cam chúng ta sẽ được trái cam, gieo hạt ớt chúng ta sẽ được trái ớt. Gieo hạt ớt mà muốn được quả cam là chuyện không thể, điều này trường tồn bất biến theo thời gian không một ai được phép can thiệp vào tiến trình đi từ nhân đến quả của vạn vật cho dù là Đức Phật.

Nhân quả có từ bao giờ điều đó không quan trọng, quan trọng là sự tác động, ảnh hưởng của nó đến vạn vật trong vũ trụ, đặc biệt là con người. Cho nên trong cuộc sống thường ngày chúng ta nên chọn những nhân tố đem đến hạnh phúc, an lac, thảnh thơi nhất mà chúng ta có thể để cuộc sống luôn tươi đẹp không nhuốm màu hoen úa của nổi khổ niềm đau.

Quy luật nhân quả: sự thật không thể phủ định

Trên bình diện khoa học, quy luật nhân quả được đa số các nhà khoa học đồng tình, chấp nhận như một sự thật không thể phủ định. Tuy nhiên, khi bàn sâu về quá trình vận hành của nhân quả ở ba phương diện thời gian quá khứ, hiện tại và tương lai thì vấn đề trở nên phức tạp. Sở dĩ có sự phức tạp bởi hai lý do, thứ nhất nhân quả ở hiện tại được xác định thông qua quá trình nghiên cứu và được công bố khi hội đủ bằng chứng xác thực. Đây là công việc dễ làm hơn nhiều so với việc nghiên cứu nó dưới góc độ thời gian, vì thời gian của những gì đã đi qua và thời gian của những gì chưa tới thì lấy đâu ra dữ liệu khách quan để nhận định. Thứ hai, trong vũ trụ có rất nhiều sự thật, tuy chúng ta không thể đưa ra những chứng cứ để chứng minh, nhưng đừng vì thế mà ta phủ định sự tồn tại của nó. Hơn nữa nhân sinh vũ trụ bao la vô cùng vô tận, chúng ta không dễ dàng thấy biết hết được.

Nhìn hướng Đông thì không thấy hướng Tây; nhìn mặt đất bằng mắt thường thì không tài nào biết trong lòng đất có gì; nhìn mặt biển nhưng không thấy được những gì dưới lòng đại đương, đơn giản vì mắt ta không thấy biết.

Cũng như thế, có rất nhiều vấn đề đang tồn tại quanh ta mà khoa học ngày nay chưa tìm ra hoặc phải bó tay, điều đó nói lên sự hạn chế của khoa học hiện đại. Do đó, quá trình vận hành của nhân - quả không thể dùng ngôn ngữ, văn tự hay sự hiểu biết cạn cợt mà miêu tả hết được.

Vì lẽ, sự thấy biết của con người có giới hạn so với Bậc giác ngộ giải thoát, mà ở đây là Đức Phật. Tầm hạn chế của tri kiến khiến ta không đủ khả năng để nhìn nhận những gì đã xảy ra ở một quá khứ xa xôi vì nó đã đi qua rồi và càng khó khăn hơn khi phải tìm hiểu nó, trong khi nó chưa xảy ra bao giờ, có chăng là sự phán đoán, mà phán đoán thì thiếu độ chuẩn xác, thậm chí có thể sai lệch hoàn toàn so với thực. Vì nhân - quả là dòng chảy tương tục vượt không gian lẫn thời gian, thế nên để hiểu một cách tường tận về nó ta phải dựa vào các yếu tố nhân duyên khác nhau, đặc biệt là trong ba kỳ thời gian: quá khứ, hiện tại, tương lai.

Điều đó lý giải vì sao một người sống hiền lương cũng chịu quả báo đau khổ, ngược lại một người làm việc bất thiện lại có đủ phước báu và gặp nhiều may mắn trong cuộc đời. Thật ra quá trình vận hành của nhân quả có chậm mau và còn tùy thuộc vào các duyên khác nhau. Một người sống thiện lành chịu quả báo xấu ở hiện tại vì quá khứ họ đã không làm được nhiều việc tốt nhưng bù lại việc thiện họ làm hôm nay sẽ là kết quả để gặt hái một tương lai tốt đẹp. Trường hợp một người ăn ở bất thiện lại có kết cục hạnh phúc, bình an ở hiện tại, vì người này trong quá khứ biết tu nhân tích đức, tuy nhiên những việc xấu ác tạo ra ở hiện tại chắc chắn phải gánh lấy trách nhiệm trong tương lai. Cũng có trường hợp tạo nhân lúc trẻ và về già thọ quả báo, đó là nhân quả xảy ra nhanh ở hiện tại vì đã hội đủ các yếu tố nhân duyên. 

Mọi chúng sinh đến với cuộc đời này từ một thế giới khác mà ở đó ngôn ngữ, hình tướng, môi trường sống hoàn toàn khác hẳn thế giới của ta và khi lìa đời cũng tùy theo nhân quả, tội phước mà đầu thai vào các cảnh giới cao thấp, vui khổ khác nhau.

Có sáu cảnh giới khác nhau, các cõi Trời là nơi tái sinh của những người chuyên hành thiện, có tấm lòng và sự cống hiến chân chánh cho nhân loại. A Tu La, có phước ngang cõi trời nhưng người nam thì hình thù xấu xí, hung dữ vì tâm nhiều sân hận. Thế giới loài người là nơi hội đủ nhiều cấp độ khổ đau và hạnh phúc, phước báu và các loại tội nghiệp. Bàng Sanh là tập hợp các loài động vật có cấu trúc xương sống ngang, thiếu trí tuệ, thiếu nhân tính và che mắt Phật tính, mặc dù nhân tính và Phật tính có tồn tại. Ngạ Quỷ là loại hình chúng sinh chịu quả báo đói khát về nhiều phương diện, đói khát thực phẩm, nước uống, đói khát tình dục, đói khát về cảm xúc… thân hình xấu xí vì kiếp quá khứ sống quá ích kỷ, tham lam, bỏn xẻn, thiếu phước báu và trí tuệ. Địa Ngục là cảnh giới nơi chúng sinh chịu quả báo hoàn toàn thống khổ vì lúc làm người hành sử tàn ác, không tin nhân quả, tội phước, luân hồi, tà kiến, hại người, sát vật. 

Sống theo nhân quả mang đến những lợi ích gì?

Chủ động, tích cực, tự tin


Cuộc đời chúng ta hiện tại là sự biểu lộ ra thành quả của những nhân tốt xấu trong quá khứ. Thế nên muốn tiến bộ, muốn tương lai tốt đẹp thì ngay trong hiện tại chúng ta phải gieo trồng những nhân tốt. Chúng ta không thể đổ lỗi, đổ thừa cho hoàn cảnh, cho thần thánh, cho người khác. Ta đã gieo thì ta phải gặt. Và ta muốn gặt thứ gì thì hãy gieo thứ ấy. Sự lạc quan, yêu quý đời sống, quý trọng thời gian là do tin và sống theo nhân quả. Tương lai không phải là mơ ước viễn vông, tương lai nằm trong những việc làm (hành động tốt xấu, nghĩa là nghiệp tốt xấu) ngay trong giây phút này.

Tin nhân quả làm ta an tâm. Sự hợp lý, trật tự, ý nghĩa của một cuộc đời là do nhận thức được và sống theo nhân quả. Và mọi lộn xộn, thậm chí hỗn loạn của đời sống một cá nhân hay của xã hội đều là do thiếu nhận thức về nhân quả và không sống theo nhân quả.

Tự do và bình đẳng

Với quy luật nhân quả, ta bình đẳng với mọi chúng sinh trong sự thăng tiến của ta. Đó là sự bình đẳng tuyệt đối: không ai ăn gian, hối lộ, làm đồ giả, nịnh nọt, bợ đở đối với nhân quả được. Nhân quả khiến ta bình đẳng trước mọi cơ hội để tiến bộ, cả vật chất lẫn tinh thần. Nhân quả làm ta trở thành nhà điêu khắc, kiến trúc sư cho cuộc đời tôi và là người kế thừa duy nhất mọi hành động tốt xấu của ta. Đây là sự tự do ta có được.

Tự do lựa chọn, tự do hành động và tự do xây dựng cuộc đời ta.Nếu ta nhận ra mọi sự trong cuộc đời này đều có thể chuyển hóa thành một nhân tốt cho ta, thì tự do của ta là ở khắp tất cả, quyền lực của ta ở khắp tất cả. Đó là sự lạc quan, niềm vui hướng thượng của người tin nhân quả.

Không lo sợ

“Không có điều gì có thể xảy ra với mình, nếu nơi mình không có điều đó”. Không có quả nào có thể xảy ra với ta, nếu ta không có nhân quả đó. Người Phật tử sống cuộc đời không lo sợ như vậy. Còn nếu quả xấu ấy xảy ra thì sao? Thì hãy cố gắng chịu đựng, nhẫn nhục bởi vì mình đã có nhân cho quả ấy và nay nhân đang trổ thành quả. Trách ai nữa, ngòai mình? Và hãy rút kinh nghiệm, nếu muốn không gặp điều đó nữa thì chớ gieo nhân về điều đó nữa.

Heraclite, một triết gia Hy Lạp cổ đại từng nói: Không ai tắm hai lần trên một dòng sông”. Điều đó đã nói lên sự chuyển biến liên tục của con người và thế giới sự vật hiện tượng. Tất cả hiện hữu ấy đều là hiện hữu của tương duyên, chúng luôn diễn ra trong vòng nhân quả. Nói đến nhân quả - nghiệp báo là nói đến một tiến trình tạo tác của con người, và từ đó hình thành đời sống an lạc hoặc khổ đau cho mỗi con người; trong đó, mỗi tư duy và hành động cụ thể là một nguyên động lực kiến tạo nên trạng thái tâm lý an hay bất an, kiến tạo nên cuộc sống hạnh phúc hay bất hạnh. Tất nhiên, trong suốt tiến trình tạo tác (nhân quả - nghiệp báo) đó, con người luôn luôn đóng vai trò trung tâm và chủ động. Theo lời Đức Phật dạy, không hề có bất kỳ một sự chi phối nào bởi một quyền năng, bởi một đấng tạo hóa, thần thánh... trong tiến trình tạo tác ấy, mà chỉ có con người và các hành động tâm lý của con người mà thôi.

Thế nào là "Bồ Tát sợ nhân, chúng sinh sợ quả"?

Bồ Tát nguyên chữ Phạn là Bodhisattva, dịch âm là Bồ Đề Tát Đỏa, dịch nghĩa là hữu tình giác. Tức là một chúng sinh đã giác ngộ và đang giúp cho những chúng sanh khác cũng được giác ngộ như mình, thì gọi là Bồ Tát. Nhờ đã giác ngộ thấu suốt được lý nhân quả trong ba đời, nên chỉ sợ nhân mà không sợ quả. Chúng sanh là loại hữu tình có sinh có tử còn vô minh nên đi mãi trong vòng luân hồi. Vì chưa giác ngộ, còn mê mờ không thông lý nhân quả nên chỉ sợ quả mà không sợ nhân. Vậy kiểm lại trong chúng ta, ai là người biết sợ nhân xấu đó là người giác, là Bồ Tát, ai sợ quả xấu là kẻ mê, là chúng sanh. Bồ Tát hay chúng sanh là tự chúng ta có thấy biết đúng sự thật hay không, chớ không phải Bồ Tát cỡi hạc hay cỡi sư tử đi trên hư không để cho người ngưỡng vọng lễ bái.

Nếu giác, thấy đúng lẽ thật, nhận biết một cách chính xác nhân nào đưa đến quả khổ, nhân nào đưa đến quả an lạc. Do biết rõ, nên thấy nhân nào đưa đến quả khổ quyết định không làm, vì tạo nhân rồi thì không tránh được quả, đó là Bồ Tát sợ nhân. Ngược lại, cái nhân đưa đến quả khổ nếu chúng ta không biết để tránh, mà chỉ thấy quả khổ đến lo sợ tránh né, đó là chúng sanh sợ quả. Ví dụ người có tật nóng giận, mỗi khi có người trong nhà hay hàng xóm nói hoặc làm điều gì trái ý liền la lối đánh đập. Nếu chửi bới hay đánh đập vợ con trong nhà bị thương tích thì tốn tiền thuốc thang chữa trị, bị xóm giềng cười chê là đồ bất nghĩa bất nhân, khiến tâm day dứt ân hận.
Nguồn: vuonhoaphatgiao.com

Thứ Năm, 21 tháng 7, 2022

TÁC DỤNG CỦA TỎI VỚI BỆNH TIỂU ĐƯỜNG

 


Ăn tỏi sống giúp người bệnh tiểu đường giảm lượng đường trong máu và giảm nguy cơ xơ vữa động mạch.

Từ lâu, tỏi đã được dùng để giúp giảm mức cholesterol cao và huyết áp cao. Tiêu thụ tỏi cũng có thể giảm tỷ lệ mắc bệnh tim - một biến chứng mà nhiều người bệnh tiểu đường gặp phải. Theo nghiên cứu của Đại học Kuwait (Kuwait), tỏi sống có thể giúp giảm lượng đường trong máu và nguy cơ xơ vữa động mạch. Người bệnh tiểu đường có thể tăng nguy cơ viêm liên quan đến xơ vữa động mạch.

Một nghiên cứu khác của Iran và Đức cũng chỉ ra rằng, tỏi làm giảm đáng kể lượng cholesterol toàn phần và cholesterol LDL (cholesterol xấu) trong huyết thanh và tăng vừa phải cholesterol HDL (cholesterol tốt) so với giả dược ở bệnh nhân tiểu đường. Các hợp chất chiết xuất từ tỏi như alliin, allicin, diallyl disulfide... có hiệu quả trong giảm kháng insulin.

Tỏi là một nguồn cung cấp vitamin B6, C tham gia vào quá trình chuyển hóa carbohydrate. Vitamin C đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì lượng đường trong máu. Tỏi cũng làm giảm huyết áp, có tác dụng chống khối u, ngăn chặn sự phát triển của tế bào ung thư, kháng khuẩn và kháng nấm mạnh. Nó còn có thể bảo vệ tế bào gan khỏi một số tác nhân độc hại, ức chế vi khuẩn đường ruột có hại, chống lại bệnh truyền nhiễm.

Theo Healthline, không có liều lượng ăn tỏi tiêu chuẩn, bạn có thể thêm tỏi vào bất kỳ món ăn hay công thức nấu ăn nào mà bạn muốn. Tuy nhiên, để có hiệu quả tốt nhất, người bệnh tiểu đường nên tiêu thụ tỏi thường xuyên với lượng vừa phải. Nấu chín có thể làm giảm khả năng chữa bệnh của tỏi, vì vậy, người bệnh nên sử dụng tỏi sống trong các món ăn.

Mùi vị của tỏi sống khá mạnh và nồng. Nếu bạn thấy có chút khó chịu khi sống thì có thể thay thế bằng chiết xuất tỏi tươi hoặc chiết xuất tỏi có chứa allicin. Tuy nhiên, người bệnh nên tham khảo ý kiến bác sĩ xem có phù hợp và an toàn trước khi bổ sung các chất này vào chế độ ăn uống. Bạn cũng cần lưu ý các chiết xuất từ tỏi có qua xử lý nhiệt trong quá trình sản xuất hay không vì nhiệt có thể phá hủy các hợp chất hoạt động trong tỏi, giảm tác dụng chữa bệnh. Các sản phẩm từ tỏi hoàn toàn không mùi cũng nên tránh vì nó có thể bị loại bỏ các hợp chất lưu huỳnh tạo ra mùi đặc trưng của tỏi, làm mất đi một số lợi ích sức khỏe.

Nhìn chung, tỏi an toàn cho mọi người. Tuy nhiên, trong một số trường hợp, ăn tỏi sẽ gây ra một vài vấn đề như gây ợ nóng, ợ chua, buồn nôn, nôn ói hoặc tiêu chảy. Tỏi cũng có tương tác thuốc, nếu bạn đang dùng thuốc làm loãng máu thì nên hỏi ý kiến bác sĩ vì tiêu thụ tỏi có thể làm tăng tác dụng của thuốc này.

Mai Cát

(Theo Healthline)

NGƯỜI VIỆT KHÔNG XẤU XÍ: KHI SỰ THUẦN HẬU HỒI SINH TỪ NHÀ RA PHỐ, ĐÓ LÀ LÚC GIẤC MƠ XƯA TRỞ VỀ

 


Giữa những nỗi tủi hổ của dân tộc và sự chỉ trích lẫn nhau, một gợn nước nhỏ bé hy vọng sẽ trở thành cơn sóng lớn cuốn trôi những gì được đặt tên là xấu xí trong tác phong, lối sống của người Việt hiện đại.

Thay vì cứ nói mãi về những điều chưa được, chúng ta hãy cùng thực hành với sự rộng lượng và đốc thúc lẫn nhau. Bởi cái xấu chỉ có thể bị đẩy lùi bởi cái Thiện.

Chúng ta thường hay nghe thấy cụm từ “thuần phong mỹ tục”, thậm chí còn có cả dự thảo về quy tắc ứng xử nơi công cộng trong đó có nêu vấn đề trang phục cần phù hợp với thuần phong mỹ tục.

Nhưng chắc rằng khá nhiều người trong chúng ta không biết hoặc không thể định nghĩa khái niệm này. Và thực tế là đã có rất nhiều ý kiến trái chiều quanh dự thảo kia, chủ yếu từ giới trẻ, vì họ cần một sự rõ ràng hơn về thế nào là “thuần phong mỹ tục”, bởi có chế tài cho việc vi phạm thì cũng cần một khái niệm cụ thể, một ranh giới để tuân theo.

Xét về câu từ, thuần phong mỹ tục có nghĩa là phong tục thuần hậu, tục lệ tốt đẹp. Chữ thuần trong tiếng Hán là mộc mạc, chất phác, trong sạch. Theo bách khoa toàn thư mở Wikipedia thì “phong” là nền nếp đã lan truyền rộng rãi, “tục” là thói quen lâu đời.

Trong cuốn “Thuần phong mỹ tục Việt Nam” của tác giả Sơn Nam có giải thích rằng “thuần phong mỹ tục” nôm na là ăn ở “lịch sự”. Lịch sự không chỉ là hình thức bề ngoài mà còn chỉ cách ứng xử với người trong gia đình, dòng họ, xã hội sao cho đúng phép tắc, lễ nghĩa. Vậy nên thuần phong mỹ tục bao hàm rất nhiều mặt của đời sống.

Có người cho rằng cứ cái gì mà các cụ thấy “chướng tai gai mắt” thì đó là trái với thuần phong mỹ tục. Thế nên thước đo của thuần phong mỹ tục lại phụ thuộc vào quan niệm của “các cụ” mà thôi.

Thời thế thay đổi, xã hội đổi thay, có thể một lúc nào đó quan niệm của các cụ không còn phù hợp với đám con cháu nữa, thì có cần giữ cái thuần phong mỹ tục đó nữa không?

Đó có thể là lý lẽ của các bạn trẻ mặc áo ba lỗ, quần đùi dép tông loẹt quẹt ra ngoài đường; là lý lẽ của những người ăn uống nhồm nhoàm ngồi gác chân lên ghế trong hàng ăn; của những người chen lấn xô đẩy trong siêu thị; của những anh chàng cô nàng mà lời đầu môi luôn là một từ chửi tục…

Nhưng thiết nghĩ, những tác phong, nề nếp, thói quen đã được lan truyền và gìn giữ lâu đời nghĩa là đã trải qua sự kiểm nghiệm khắt khe của thời gian.

Những gì chúng ta thấy là không phù hợp với thời đại mới chưa chắc là do nó không đúng, có thể là do thời đại mới này đang lệch dần so với đạo đức thuần hậu xưa kia mà thôi.

Chẳng phải nhiều người trong chúng ta, cũng chưa đến mức lên lão, cũng có thuộc thế hệ 8x, 7x, sống trong xã hội “văn minh” này lại ước “bao giờ cho tới ngày xưa” hay sao? Chẳng phải có những thứ xưa nhưng không bao giờ là cũ bởi nó phù hợp với một thứ tiêu chuẩn vô hình mà mỗi người chúng ta đều chỉ có thể cảm nhận được, đó là Tốt và Xấu.

Thời nay người ta thích nhanh, thoáng, tiện, mọi người đều đề cao tự do cá nhân vì đó là quyền cơ bản của con người. Nhưng mọi sự tự do cá nhân đều phải dựa trên nguyên tắc tôn trọng tự do và quyền lợi của người khác nữa.

“Các cụ” ngày xưa làm gì cũng nghĩ tới việc người khác sẽ cảm nhận ra sao, chỉ cần làm người đối diện thấy hơi chút bất tiện hay bối rối là đã không nên làm rồi chứ đừng nói là để họ phải bực bội hay thiệt thòi.

Cụ Hoàng Đạo Thúy từng viết: “Cái ‘thuần phong mỹ tục’ ấy xây dựng từ người lớn đến trẻ con… Các thầy đồ dạy học trò ‘cái mà mình không muốn, thì đừng làm cho người’. Bà cụ dặn cháu ‘được lòng ta, xót xa lòng người’.

Trẻ con khua trống, bố mẹ bảo ‘đừng làm điếc tai hàng xóm!’ Cái rãnh nước bẩn cho vào cống thấm, chớ không cho chảy ra đường. Trẻ em chơi với nhau, hay cãi nhau, bố dặn: ‘Khéo không việc trẻ con lại làm mất lòng người lớn!’ Ra quét hè, tiện chổi, quét sang cả hè hàng xóm…”

Có những tục lệ, lễ nghi rườm rà, cực đoan không còn thích hợp thì tự nó sẽ mai một, nhưng những điều đã trở thành thuần phong mỹ tục thì chỉ giúp ước thúc chúng ta hành động, cư xử tốt đẹp hơn mà thôi. Bạn có thể phá vỡ nó, nhưng không thể phủ nhận nó.

Thuần phong mỹ tục bao gồm rất nhiều mặt của cuộc sống, từ việc ăn ở với hàng xóm, khu phố ra sao, giao tiếp với mọi người thế nào, cho tới hành động nhỏ khi đưa cho ai cái gì… tất cả đều thể hiện con người bạn ở trong đó, đều là thể hiện sự tôn trọng, lịch sự đối với người khác chứ không chỉ là cốt lấy bỗ bã, suồng sã cho gần gũi, thân thiết.

Về cái thanh lịch, thuần hậu một thời, cụ Thúy cũng có viết: “…Cả xóm như một nhà. Biết ‘nể’ nhau, tránh những việc làm ‘mất lòng’ nhau. ‘Chín bỏ làm mười!’….Có lúc thấy phải góp ý thì nói ‘chân thật’, ‘thực tình’, sao cho người ta không ‘tự ái’; không ‘nói quá’.

Không ‘đao to, búa lớn’, ‘không nói tục’; nói tục thấy ‘ngượng mồm’. Cũng giữ ý, không ‘tọc mạch’ chuyện nhà người ta. ‘Chuyện đâu, bỏ đấy’….Trong phố có một ‘hòa khí’ – không khí hòa hợp, thì ‘cận duyệt, viễn lai’ – ở gần đẹp lòng, ở xa muốn đến”.

Đấy là cách người ta ứng xử với làng phố, còn với từng người là đều chú trọng lời ăn tiếng nói, xưng hô cho phải phép: “Người ngoài, biết nhau vì tiếng nói, vì thế mà ‘nói phải chọn lời’. Sao cho người khác không hiểu lầm ý mình….Nói với người dưới vẫn có lễ. Quan trên nói với thông lại: ‘Cho tôi tập hồ sơ’. Chủ nói với người làm ‘tôi xin…’”.

Cái sự lịch sự, phép tắc ấy, không chỉ là để ước thúc hành vì giữa người với người, với xã hội, cộng đồng, mà còn là chính mình với mình cũng phải có tôn kính. Người không tôn trọng mình thì ai tôn trọng họ được. Thế nên thời xưa ra đường sẽ không để cho người khác nhìn thấy nhiều phần thân thể của mình.

“Ra đường, không mặc cẩu thả, là tỏ ý tôn trọng người đi đường. Lại sao cho không hở hang. Chỉ có người đang làm việc nặng là được ở trần.

Áo quần không cần quý giá, mà phải chỉnh đốn. Mặc áo vá không sao, nhưng không mặc áo rách. Dùng áo đắt tiền, thì có áo phủ ngoài. Mặc áo vóc, gấm trần, là thấy ngượng”.

Chính vì người xưa coi trọng đạo nghĩa, coi trọng nhân phẩm hơn hình thức bề ngoài, nên họ khiêm nhường và thanh tao trong cách ăn mặc. Nhưng cũng vẫn có cái tôn kính, đường hoàng, vì thiếu thốn về vật chất không hạ lưu bằng thiếu thốn đạo đức.

Ngoài việc cư xử, ăn mặc, thuần phong mỹ tục còn có rất nhiều những hành động dù nhỏ bé, khiêm nhường, nhưng thể hiện cái tâm thế lớn lao:

….Hành động cũng chú ý, đưa cái gì cho ai, thì dùng cả hai bàn tay, bưng lên mời khách hay đưa lên người mình tôn kính thì nâng cao cái khay. Ông đồ đi chơi về, cầm miếng trầu, cũng đặt vào đĩa, đưa cho bà đồ. Gặp người không ‘khúm núm’, mà cũng không ‘vênh váo’. Chỗ hàng chợ cũng giữ được ‘lễ độ’.

Người xưa chú trọng tiểu tiết không phải vì họ cầu kì, sính lễ nghĩa, câu nệ hình thức. Những hành động giờ bị cho là thừa thãi, mất thời gian nhưng là thể hiện cái đạo ở trong đó.

Những thứ chúng ta phủ nhận và lãng quên đó ngày nay lại được người Nhật Bản giữ gìn và ứng dụng hiệu quả trong đời sống hàng ngày. Ở Nhật, bạn có thể thấy đạo ở khắp mọi nơi, trong mọi lĩnh vực, ngành nghề, từ Kiếm đạo, Trà đạo, Không Thủ đạo (môn võ nổi tiếng thế giới Karatedo), thậm chí còn có nghệ thuật Hương đạo (nghệ thuật thưởng thức hương trầm)…

Trong tác phẩm Musashi nổi tiếng, vị kiếm sĩ số một Nhật Bản đã nói đại ý thế này: “Kiếm đạo không phải là đạo luyện kiếm, đạo thì vô hình và bất biến, luyện kiếm chỉ là con đường, là công cụ để đạt đến đạo mà thôi”.

Vì thế ở Nhật, dù bạn làm công việc gì, bạn phải tập trung, tận tụy, nghiên cứu và trở thành chuyên gia ở lĩnh vực đó. Mọi kiến thức, mọi thao tác, hành động đều phải đặt tâm vào để mà thực hành, nên người Nhật làm ra cái gì thì đều chứa đựng trong đó bao sự tinh tế, khéo léo và hữu dụng.

Bởi họ đã ứng dụng được “Làm việc lớn mà không quên tiểu tiết” trong mọi suy nghĩ, hành động và đi tìm đạo bằng mọi con đường mà mình có.

Thế nên cái tiểu tiết trong sinh hoạt hàng ngày của bạn, nó không chỉ là một chi tiết nhỏ bé vô dụng, mọi thứ đều có thể giúp bạn tu tâm dưỡng tính, ước thúc bản thân, thể hiện sự tôn trọng và khiêm nhường, rèn luyện sự kiên trì, nhẫn nại và tĩnh tại.

Khi chúng ta tĩnh lại, chúng ta mới nghe thấy được những tiếng nói dẫn đường, những ý tưởng tươi đẹp mà đơn giản; Chúng ta mới nhìn thấy những điều tốt đẹp ở người khác mà bình thường có thể chúng ta đã không nhận ra.

Khi tĩnh lại chúng ta cũng mới có thể hiểu được chính bản thân mình mà không để bị cuốn theo những mong muốn, ảnh hưởng của người khác. Và khi tĩnh lại, chúng ta mới thưởng thức được những tinh tế của cuộc sống mà không cần mượn những thứ giải trí hiện đại kích động cảm xúc thái quá và ảo tưởng.

Ai cũng có quyền lựa chọn, nhưng chắc tôi vẫn chọn lối sống như “các cụ” với những thuần phong mỹ tục sống cùng năm tháng, vì nó cho tôi thấy ranh giới rất rõ ràng của cái Thiện, cho phép tôi có đủ điều kiện để phát triển bản thân tốt hơn thay vì buông thả và mông lung vì chẳng biết mình là ai và muốn gì. Những điều tốt đẹp sẽ luôn có đất sống, và người làm theo những điều tốt đẹp sẽ luôn thanh thản và tự tại.

Cụ Nguyễn Trãi đã từng viết trong bài Mạn hứng kỳ 1: “Phác tán thuần ly thánh đạo nhân”, nghĩa là khi tính chất phác tiêu tan, nét đôn hậu thành bạc bẽo, thì đạo thánh sẽ mai một.

Vậy nên khi những thuần phong mỹ tục bị lãng quên, con người không còn gì để ước thúc, đó sẽ là sự chơi vơi của đạo đức và hỗn loạn của xã hội.

Nguyệt Hòa
Theo DKN (Thu Hiền)

Thứ Tư, 20 tháng 7, 2022

CƠ THỂ BẠN SẼ THẾ NÀO KHI UỐNG NƯỚC CAM MỖI NGÀY

 


Chẳng những là thức uống thơm ngon, nước cam còn mang lại nhiều lợi ích về sức khoẻ. Vậy cơ thể sẽ thế nào khi uống nước cam mỗi ngày và dùng liên tục có tốt hay không. Cùng tìm hiểu trong bài viết này nha.

Nước cam là thức uống trái cây chẳng những giải khát tức thì mà còn là một loại thức uống bổ dưỡng giúp cung cấp nhiều dưỡng chất cho cơ thể. Chính vì thế mà nhiều bạn đã chọn nước cam là thức uống không thể thiếu mỗi ngày. Vậy uống nước cam thường xuyên như vậy có tốt không và bạn cần lưu ý điều gì khi uống nước cam mỗi ngày. Bài viết này sẽ giải đáp thắc mắc cho bạn đấy.

1Những lợi ích khi uống nước cam mỗi ngày

Tăng hệ miễn dịch

Trong cam có hàm lượng Vitamin C cao trực tiếp cung cấp cho cơ thể khi bạn uống hoặc ăn cam. Theo nguồn tin từ Viện Dinh dưỡng Quốc gia - Bộ Y tế, Vitamin C đóng vai trò như một chất phản ứng, có chức năng như một chất chống oxy hóa để bảo vệ cơ thể chống lại các tác nhân gây oxy hóa có hại . Chính vì thế uống nước cam mỗi ngày là phương thức an toàn và hiệu quả để giúp hệ miễn dịch tốt hơn.

Ổn định huyết áp

Mọi người thường nghĩ rằng cam chỉ có vitamin c nhưng thực chất trong nước cam còn chứa các chất khác như Hesperidin - một flavonoid có trong nước cam. Hesperidin có tác dụng giúp ổn định huyết áp trở lại. Chính vì thế uống nước cam mỗi ngày chẳng những cung cấp vitamin c cần thiết mà còn ổn định huyết áp rất phù hợp cho người có huyết áp thấp hoặc cao.

Tuy vậy thể trạng mỗi người sẽ cần cung cấp lượng nước cam khác nhau vì lẽ đó nếu người uống đang gặp phải những vấn đề về huyết áp hãy liên hệ bác sĩ để được tư vấn cụ thể hơn nên uống bao nhiêu là đủ với mình nhé.

Phòng ngừa ung thư

Nhờ vào hàm lượng chống oxy hoá Hesperidin có rất nhiều trong cam, người uống nước cam thường xuyên sẽ có tỉ lệ mắc phải những căn bệnh về ung thư khá là thấp. Vì thế mà bạn đừng ngại dùng một ly nước cam mỗi ngày.

Ngăn ngừa sỏi thận

Dùng nước cam thường xuyên giúp ngăn ngừa sự hình thành sỏi thận. Citrate có trong nước cam sẽ làm giảm nồng độ aicid trong nước tiểu và ngăn ngừa sự hình thành sỏi rất hiệu quả.

Cải thiện làn da và giảm cân

Vì có các chất chống oxy hoá dồi dào trong cam mà khi thường xuyên cung cấp cho cơ thể, các chất chống oxy hoá này sẽ giúp làn da của bạn được cải thiện, ngăn ngừa nếp nhăn, làm sáng màu da, phòng ngừa tác hại của tia UV.

Bên cạnh đó nước cam còn là người bạn tuyệt vời giúp bạn giảm cân hiệu quả nữa đấy. Một ly nước cam mỗi ngày sẽ ngăn chặn cơn đói, hạn chế việc ăn vặt, từ đó cuộc chiến giảm cân của bạn sẽ trở nên dễ dàng hơn.

2Uống nước cam thế nào để tốt cho sức khoẻ?

Các chuyên gia dinh dưỡng tại Viện dinh dưỡng Michigan đã chỉ ra rằng uống nước cam cũng cần có “kỹ thuật”, cần dùng đúng thời gian để tránh những tác dụng phụ không đáng có hoặc các dưỡng chất không được hấp thụ hết.

Không uống nước cam đã qua 24h

Theo các chuyên gia dinh dưỡng, chỉ sau 24h, nước cam đã vắt sẽ mất hết các chất dinh dưỡng cần thiết vì thế nước cam để qua ngày dường như không còn bổ béo gì cả.

Uống nước cam đúng lúc

Không nên uống nước cam vào lúc đói hay quá no. Bạn nên dùng nước cam sau bữa ăn khoảng từ 1 đến 2 tiếng là tốt nhất. Đặc biệt là không nên uống nước cam trước hoặc sau khi đánh răng vì axit trong cam sẽ ảnh hưởng không tốt đến men răng của bạn.

Uống lượng cam vừa đủ với mình

- Đối với nam giới (từ 19 tuổi trở lên) cần phải bổ sung 90mg vitamin C mỗi ngày (tương đương với 1 trái cam có đường kính 5cm) trong khi đó nữ giới từ cần 75mg vitamin C mỗi ngày (tương đương với 1 trái cam có đường kính khoảng 4cm).

- Đối với phụ nữ mang thai, lượng vitamin C cần thiết để cung cấp cho cơ thể là 80mg và con số này sẽ tăng lên 120mg khi bước vào giai đoạn cho con bú.

- Đối với trẻ em, bạn chỉ nên cho trẻ ăn nửa trái cam mỗi ngày, kể cả khi bé rất muốn ăn cũng không nên cho ăn nhiều vì có thể xảy ra tình trạng dị ứng cam.

- Đối với người có thói quen hút thuốc lá, bạn phải bổ sung thêm 35mg vitamin C nữa vào hàm lượng mà bạn cần thiết phải bù đắp cho cơ thể bởi vì trong quá trình hút thuốc, các tế bào gốc tự do sẽ tăng lên.

Tóm lại, cam là thức uống rất có lợi cho sức khoẻ và bạn có thể uống nước cam mỗi ngày. Thế nhưng bạn cần phải lưu ý lượng nước cam vừa đủ cho cơ thể và thời điểm uống hợp lý để hạn chế gây nên những tác dụng phụ về sau.

Nguồn: bachhoaxanh.com

CUỘC SỐNG QUÝ BÁU CỦA CON NGƯỜI LÀ HIẾM CÓ

 


Cuộc sống làm người quý báu cung cấp nền tảng để nâng cấp cho chúng ta không chỉ kiếp này mà còn cho tất cả những kiếp sau. Nó cống hiến cho chúng ta cơ hội được giác ngộ, nhận ra an bình và hỷ lạc thật sự, và dễ dàng tỏa ra những phẩm tánh này để lợi ích vô số chúng sanh.

Nếu nhận ra tánh giác ngộ của mình, vũ trụ sẽ trở thành suối nguồn của an bình và hỷ lạc cho chúng ta, và chúng ta sẽ trở thành một nguồn an bình và hỷ lạc cho vũ trụ.

Nếu nhận ra cơ hội này quý báu ra sao và hiểu được giá trị của sự hiện hữu chính mình, chúng ta sẽ lập tức cảm thấy một cảm giác biết ơn và cảm kích to lớn về sự ban phước của cuộc sống khiến chúng ta hoan hỷ. Lòng biết ơn đó sẽ chuyển thành một quyết tâm mạnh mẽ không bao giờ dám để lãng phí một khoảnh khắc nào của cuộc sống này, và cống hiến toàn bộ cho nó trong cách tốt nhất mà chúng ta có thể.

Chúng ta hãy xem xét có bao nhiêu người trong thế gian có cơ hội phi thường này, khi làm như vậy có thể giúp chúng ta nhận ra mình thật may mắn biết bao. Nhìn chung quanh, chúng ta có thể thấy có vô số chúng sanh trong thế gian. Nếu xem xét một tảng đá, hàng trăm côn trùng đang bò lúc nhúc. Nếu có một kính hiển vi, thì hàng ngàn tỷ sinh vật có thể thấy được. Tôi có thể nói hàng tỉ vi khuẩn đang sống trong ruột chúng ta. Theo Phật giáo, mỗi một trong số chúng đều có một tâm và đều tìm kiếm hạnh phúc.

Ngoài ra, những chúng sanh mà chúng ta có thể thấy chỉ là một đỉnh của tảng băng trôi. Giống như những nền văn hóa quanh thế giới một cách truyền thống tin vào những chúng sanh vô hình như thiên, thần, thánh, ma, và quỷ, những người theo đạo Phật cũng tin vào nhiều bộ chúng sanh vô hình. Nhiều sinh linh này hiện hữu giữa chúng ta trong chính nơi chúng ta ngồi và hít thở. Lý do duy nhất chúng ta không thấy và không giao thiệp trong cuộc sống lẫn nhau là vì thiếu nghiệp kết nối chung để phát sinh mối quan hệ qua nhận thức.

Tuy nhiên, giữa sự sắp xếp bao la và kỳ diệu của cuộc sống vô hình và hữu hình, nhân loại sở hữu được tiềm năng vĩ đại nhất cho việc nhận ra giác ngộ, như chúng ta có khả năng thông minh, động cơ, và sức chịu đựng để tìm kiếm con đường tâm linh và gắn bó với nó. Hãy xem súc vật và địa ngục để lấy hai ví dụ. Những chúng sanh này chịu đựng đau khổ, sợ hãi, và trì độn khiến họ thiếu sức mạnh để gom góp thậm chí một dấu vết của những phẩm tính giác ngộ. Bây giờ hãy lấy những chúng sanh như những vị trời trường thọ, những vị dường như may mắn hơn chúng ta, với thân ánh sáng đẹp đẽ và có quyền sử dụng mọi loại ham thích. Tuy nhiên, sự thật là những vị trời đó – không giống con người nếm cả hai mùi vị hạnh phúc và đau khổ nên có động cơ và khả năng tìm kiếm giác ngộ – họ quá say mê khoái lạc sắc dục và không có bất cứ kinh nghiệm đau khổ nào để có thể thôi thúc họ thực hành hoạt động tâm linh.

Thậm chí ngay cả giữa nhân loại, nếu nhìn kỹ, chúng ta thấy thực sự có rất ít người có tính khí giống như chụp lấy cơ hội để làm việc hướng tới giác ngộ. Ngày nay nhiều người không tin vào tâm linh. Nhiều người không hề biết một chút gì về tiềm năng của tâm họ. Thậm chí ngay cả những người có học thức cũng vậy. Có lần một người trí thức đã nói với tôi: “Tâm chỉ là cây nấm trên bộ não.”

Một số người quá đắm chìm vào việc vật lộn với nghèo khó hay bệnh tật hoặc quá nhiễm vào đam mê và kích thích ham mê để phát triển tâm linh. Những người khác trút mọi năng lượng của họ vào việc đạt được thành công vật chất và danh vọng. Và cũng có người có thể có một số khuynh hướng tâm linh chưa bao giờ tiến bộ trên con đường vì rơi vào đám đông sai lầm và chọn lấy giá trị sai. Vậy khi tóm gọn lại, chỉ còn một chút phần trăm ít ỏi người có một thay đổi thực tế của việc tận dụng cơ hội cho tâm linh tăng trưởng.

Giáo lý Đạo Phật trình bày những hoàn cảnh lý tưởng cho tiến bộ tâm linh. Chúng được biết là tám tự do và mười thuận lợi. Tám tự do là thoát khỏi việc phải sinh vào cõi (1) địa ngục, (2) ngạ quỷ, (3) súc sanh, hay (4) cõi trời trường thọ, bởi vì không cõi nào có thể đem lại cơ hội tạo tiến bộ tâm linh tốt như cõi người. (Xem chương 6, “Tái sanh”, để biết thêm về các cõi.) Và cũng phải thoát khỏi việc có (5) một quan điểm đồi bại, (6) cách cư xử mọi rợ, (7) quan điểm đoạn kiến, hay (8) sinh ra ở nơi không có sự xuất hiện của một vị thầy giác ngộ.

Mười thuận lợi bao gồm việc có được: (1) thân người với (2) các giác quan đầy đủ nguyên vẹn và (3) một công việc lành mạnh, hoặc một nghề nghiệp tốt. Người đó cũng phải sinh ra ở nơi mà (4) Giáo pháp tồn tại, (5) một vị thầy giác ngộ xuất hiện, (6) vị thầy dạy Giáo Pháp như cam lồ (Giáo lý giác ngộ của Phật giáo) và (7) Giáo Pháp giảng dạy vẫn đang thịnh vượng và phát triển. Cuối cùng, người đó phải (8) có niềm tin vào giáo lý, (9) đi theo giáo lý, và (10) có sự hướng dẫn của một vị thầy chân chính còn sống.

Như bạn có thể thấy, có được tất cả mười tám điều kiện lý tưởng này là cực hiếm. Những ai có được các điều kiện này được người theo đạo Phật gọi là cuộc sống làm người quý báu. Dù cho sở hữu bao nhiêu điều kiện lý tưởng, chúng ta cần phải hoan hỷ với những điều kiện đang có, biết rằng chúng là sự ban phước và phải hoàn toàn tận dụng. Ta cũng phải làm sao để đạt những điều kiện còn thiếu. Nếu nhận ra sự ban phước quý báu mà mình có, chúng ta sẽ không bao giờ dám lãng phí cơ hội bằng vàng này, và sớm hay muộn thì chúng ta sẽ nhận ra ý nghĩa của cuộc sống quý báu – an bình, hoan hỉ và rộng mở thực sự.

Nếu không nắm lấy cơ hội để làm cho cuộc sống trở nên ý nghĩa và chuyển thành một cuộc sống làm người quý báu thì không gì bảo đảm rằng chúng ta sẽ có một cơ hội khác trong tương lai. Sau cùng, con người không chỉ có trí tuệ nhạy bén nhất trong tất cả chúng sanh mà còn có những cảm xúc mạnh mẽ nhất. Tất cả quá dễ cho chúng ta bị cuốn theo những cảm xúc mạnh và phạm những sai lầm bi thảm có thể dẫn chúng ta tái sinh vào cõi thấp hơn. Như Tổ Shantideva (Tịch Thiên) nói:

Quá khó để có một cuộc sống làm người được phú cho tự do và thuận lợi.
Ngày nay có cơ hội để hoàn thành mục đích của cuộc đời,
Nhưng nếu không tận dụng được nó,
Làm sao chúng ta có thể có lại cơ hội như vậy nữa?

Ngài Tulku Thondup Rinpoche

Thứ Ba, 19 tháng 7, 2022

THƠ ĐIẾU HÀN CỐC TIÊN SINH (Thơ xướng hoạ)

 


THƠ ĐIẾU HÀN CỐC TIÊN SINH
 
Hởi ôi! Hàn Cốc vội qui thiên
Xúc động lòng đây thiếu bạn hiền!
Những tưởng đàn thi ăn nhịp phách,
Nào hay loạn phím bặt tơ duyên
Hồ thành quí tử mời du ngoạn,
Nghĩa địa đồng châu rước hạc tiên
Vỹ Dạ từ đây người khuất bóng
Chỉ còn dấu cũ chữ “Lan Hiên”. (*)
 
                Cuối xuân Tân Dậu (1981)
                   Hiền Lâm bái vãng
 
( Chỗ ngồi đàn và vịnh thơ của HÀN CỐC có treo
bức hoành sơn thếp 2 chữ “Lan Hiên” ).
 
THƠ ĐIẾU HÀN CỐC TIÊN SINH
( Cẩn họa y đề thơ Hiền Lâm tiên sinh )
 
Giả biệt đường trần dạo cảnh thiên,
Ôi thôi! khuất mãi vị huynh hiền.
“Bảy không” Chung Tử  vui tình bạn, (*)
“Tám tuyệt” Bá Nha lặng nét duyên.   (**)
Vĩ  Dạ tan sương, soi cửa thất ,
Sài Thành dõi nắng, nhớ Lan tiên.
Âm dương lẻ bóng… đời tri kỷ,
Gió thoảng như Người nhẹ bước hiên…
 
              Cuối thu Đinh Dậu (2017)
                         Minh Đạo
---------------------------------------------------
* Bảy Không : Nghe tiếng bi ai và đám tang thì không đàn, lòng nhiễu loạn thì không đàn, việc bận rộn thì không đàn, thân thể không sạch thì không đàn, y quan không tề chỉnh thì không đàn, không đốt lò hương thì không đàn, không gặp tri âm thì không đàn.
 
** Tám Tuyệt : Thanh cao, kỳ diệu, u uất, nhàn nhã, bi đát, hùng tráng, xa vời, dằng dặc.
Đàn ấy đạt đến tận thiện tận mỹ, hổ nghe không kêu, vượn nghe không hú, một thứ nhã nhạc tuyệt vời vậy.
 
https://www.daophatngaynay.com/vn/van-hoc/tho/32757-tho-dieu-han-coc-tien-sinh.html

ĂN CHAY, NIỆM PHẬT, BỐ THÍ… VÌ SAO CHẾT ĐI VẪN PHẢI XUỐNG ĐỊA NGỤC?

 

Ở một thôn trang xa xôi, có đôi vợ chồng nọ khi còn sống vẫn thường lên chùa cúng Thần bái Phật. Họ cùng ăn chay tu Phật và cũng thường xuyên tham gia các buổi hoằng Pháp. Họ thấy rằng cuộc sống thật là tốt, điều gì cũng thuận lợi, mong muốn nào cũng toại nguyện, nên trong lòng càng yên tâm, tin rằng mình thể nào cũng được vãng sinh nơi miền Cực Lạc.

Vậy mà trong những năm cuối đời, người chồng bỗng mắc một căn bệnh nặng vô phương cứu chữa. Thế là người vợ ngày ngày tụng kinh niệm Phật để cầu cho chồng mình tai qua nạn khỏi, bệnh tình sẽ có chuyển biến.

Vậy mà sau bao nhiêu ngày trì tụng như thế, bệnh tình không những không thuyên giảm mà còn nặng hơn, khiến cho người vợ nảy sinh nghi hoặc, trong lòng thầm trách vì sao Phật không nghe thấy lời cầu khấn của mình? Sao vẫn không làm cho ông nhà khỏi bệnh?

Không lâu sau cả hai vợ chồng đều tạ thế. Họ được âm binh đưa đến một nơi tối tăm và u ám, và khi nhìn lên dòng chữ trên cổng Âm Vương, cả hai vợ chồng đều rùng mình sửng sốt. “Ồ, sao lạ vậy, đáng lẽ chúng ta nên đến miền Cực Lạc mới phải chứ, sao lại tới đây?”.

Vì vậy khi vừa gặp Diêm Vương, họ bèn nói: “Chúng tôi là những người tu Phật, hằng ngày đều niệm kinh, chúng tôi nên được đến Tây phương Cực Lạc mới đúng chứ sao lại tới đây? Có phải là các ông bắt nhầm người rồi không?”.

Sau khi kiểm tra lại sổ sách, Diêm Vương trả lời một cách đầy chắc chắn: “Họ thực sự không bắt nhầm người đâu, hai ngươi đúng là phải đưa tới đây”.

Người chồng hỏi một cách khó hiểu: “Khi còn sống tôi đều ăn chay niệm Phật, cũng thường xuyên bố thí, cũng quy y tam bảo, chẳng nhẽ không được công đức gì sao? Tại sao lại bắt tôi tới đây?”.

Diêm Vương trả lời: “Mặc dù ông có tụng kinh, nhưng trong lòng là để cầu phúc báo chứ không phải chân chính tu hành, vì vậy công đức rất ít”.

Người chồng lại hỏi: “Nhưng tôi cũng thường xuyên bố thí cho người mà!”.

Diêm Vương trả lời: “Mặc dù ông có bố thí, nhưng đó là để cầu được tích đức chứ không phải vì lòng thương xót chúng sinh. Hơn nữa, phúc báo của sự bố thí đó ông đã dùng hết rồi”.

Người chồng lại hỏi: “Tôi cũng quy y tam bảo rồi mà!”.

Diêm Vương trả lời: “Mặc dù ông có quy y, nhưng lại không thật tâm tu hành, trong lòng vẫn chất chứa đầy suy nghĩ nhỏ nhen và toan tính hơn thua với đời, vì vậy nhân quả và nghiệp chướng cũng như người thường mà thôi”.

Người chồng lại hỏi: “Nhưng tôi ăn chay không sát sinh!”.

Diêm Vương trả lời: “Mặc dù ông ăn chay, miệng nói Phật nhưng tâm địa hẹp hòi. Chẳng phải ông vẫn hay mắng mỏ và nhục mạ người khác đó sao? Do đó mà khẩu nghiệp chất chồng như núi”.

Người chồng lại hỏi: “Tôi cũng đi hoằng dương Phật Pháp cơ mà!”.

Diêm Vương trả lời: “Mặc dù ông thường xuyên tới đạo tràng giảng Pháp, nhưng thực chất là giảng loạn kinh Phật, thêm thắt suy diễn của mình, làm hoại Pháp, chứ không phải lấy những lời nguyên gốc của Phật mà truyền bá, tội làm loạn Pháp này còn nghiêm trọng hơn nhiều!”.

Diêm Vương ngưng một lát rồi nói tiếp: “Có những người ở đạo tràng này tu rất tốt, nhưng cũng có những người nảy sinh tâm kiêu ngạo, soi mói và nhục mạ người tu hành khác. Bởi cử chỉ và lời nói trái ngược với Phật pháp, nên tương lai cũng sẽ phải tới chỗ ta đây báo danh”.

Người chồng lại hỏi: “Vậy còn vợ tôi, tại sao cũng bị đưa tới đây?”.

Diêm Vương trả lời: “Mỗi người đều có nhân quả của bản thân mình. Vấn đề của vợ ông, mặc dù nửa đời trước cũng bố thí và tạo phúc, nhưng không thật sự thành tâm tu hành. Bà ấy còn có một vấn đề nữa, đó là khi còn sống đã sinh tâm hoài nghi Bồ Tát và Phật pháp”.

“Khi ông bị bệnh, bởi vì khấn cầu cho ông khỏi bệnh mà không được, bà ấy sinh lòng nghi ngờ Thần Phật, trách Phật sao không giúp cho chồng mình khỏi bệnh. Sau đó liền buông lơi việc lễ Phật, không tín tâm kiên định vào Phật Pháp”.

Cuối cùng người chồng thở dài và hỏi: “Vậy chúng tôi sẽ có kết cục như thế nào?”.

Diêm Vương trả lời: “Vì hay nhục mạ người khác lại thêm tính tham lam ích kỷ, kiếp sau ông sẽ chuyển sinh thành một người nghèo khó khốn cùng. Còn vợ ông, vì có công chăm sóc ông lúc cuối đời nên sẽ chuyển sinh thành đứa con gái được ông nuôi nấng. Nhưng bà ấy vẫn phải chịu cảnh nghèo khó như ông để trả nợ cho những lỗi lầm đã gây ra trong kiếp trước.

Nếu lúc ấy cả hai vẫn còn tín tâm vào Phật Pháp, vẫn còn phát tâm tu hành, thì sẽ lại được quy y cửa Phật. Còn nếu không có cơ duyên tu luyện tiếp, thì chỉ cần ông luôn tích đức hành thiện, vẫn có thể tích được phúc báo. Hãy nhớ lấy, nhân quả là Thiên lý, tuyệt đối không sai lệch chút nào!”.

Theo dkn.tv


ĐOẠN HỘI THOẠI THÚ VỊ GIỮA HAI VỊ HÒA THƯỢNG: “CHĂN SƯỞI ẤM NGƯỜI HAY NGƯỜI LÀM ẤM CHĂN?”

 

Ảnh: Internet

Trong một ngôi chùa đổ nát, chỉ có hai vị hòa thượng, tiểu hòa thượng nói với lão hòa thượng một cách buồn bã.

Ngôi chùa nhỏ này chỉ có hai hòa thượng chúng ta, khi con xuống núi đi khất thực, người ta luôn dùng những lời ác độc nói xấu con, thường nói con là “hòa thượng hoang” , tiền nhang đèn cho chúng ta quá là ít ỏi”.

Hôm nay con đi hóa duyên, thời tiết lạnh thế này mà không có ai mở cửa cho con, đến cơm chay cũng ít đến mức đáng thương quá!

Thưa sư phụ, chùa Quan Âm của chúng ta không thể nào trở thành ngôi chùa có tiếng chuông bất tận như lời thầy đã nói được.”

Vị sư già mặc áo cà sa cũng không nói gì, chỉ nhắm mắt yên lặng lắng nghe. Tiểu hòa thượng nói một hồi, cuối cùng lão hòa thượng trầm mặc một hồi, rồi mở mắt ra hỏi: “Gió bắc thổi mạnh, bên ngoài băng tuyết, ngươi có lạnh không?

Tiểu hòa thượng rùng mình nói: “con lạnh lắm, hai chân con tê cóng rồi

Lão hòa thượng nói: “Vậy thì tại sao chúng ta không đi ngủ sớm hơn!”

Lão hòa thượng cùng tiểu hòa thượng tắt đèn nằm xuống giường, hơn một canh giờ, lão sư lại hỏi: “Ngươi hiện tại ấm hơn chưa?”

Tiểu hòa thượng nói: “Đương nhiên là ấm, giống như đang ngủ dưới ánh mặt trời.

Lão hòa thượng nói, “Chiếc chăn bông luôn lạnh khi đặt trên giường, nhưng nó sẽ trở nên ấm áp ngay khi người ta nằm vào nó. Con nghĩ xem chiếc chăn làm ấm người, hay người làm ấm chiếc chăn?”

Nghe vậy, tiểu hòa thượng mỉm cười: “Sư phụ, người hỏi kỳ vậy, làm sao chăn có thể làm ấm người chứ, dĩ nhiên là người sưởi ấm chăn bông.”

Vị sư già nói, “Vì chăn bông không thể làm ấm cho chúng ta, và thay vào đó nó phải dựa vào chúng ta để sưởi ấm nó, vậy chúng ta cần gì phải dùng chăn để đắp nhỉ?

Tiểu hòa thượng suy nghĩ một chút rồi nói: “Mặc dù chăn bông không thể cho ta ấm áp, nhưng cái chăn dày có thể giữ ấm cho ta, khiến ta ngủ thoải mái trong chăn!”

Trong bóng tối, lão hòa thượng mỉm cười đầy ẩn ý: “Những vị hòa thượng đánh chuông tụng kinh không phải là người nằm dưới lớp chăn dầy, và những chúng sinh ở nơi kia cũng không phải là những chiếc chăn dầy sưởi ấm của chúng ta!

Chỉ cần chúng ta chuyên tâm làm việc thiện, thì sau này chăn bông lạnh lẽo sẽ được chúng ta  sưởi ấm, và chăn bông của tất cả chúng sinh cũng sẽ giữ được hơi ấm của chúng ta. Được ngủ trong chăn bông như vậy chẳng phải rất ấm áp sao?” ?

Một ngôi chùa rộng lớn giữa ngàn ngôi chùa và tiếng chuông bất tận có còn là một giấc mơ?

Tiểu hòa thưởng nghe xong chợt tỉnh ngộ.

Từ ngày thứ hai trở đi, tiểu hòa thượng ngày nào cũng xuống núi đi khất thực, vẫn gặp phải không ít lời nói xấu của mọi người, nhưng tiểu hòa thượng luôn đối xử lễ phép với mọi người.

Mười năm sau, chùa Quan Âm đã trở thành một ngôi chùa lớn, bán kính hơn mười cây số, có rất nhiều tu sĩ và khách hành hương, tiểu hòa thượng năm đó cũng đã trở thành trụ trì.

Thật ra, trên đời này, chúng ta đều sống trong “chăn bông”, còn người khác là chăn bông của chúng ta, khi chúng ta làm ấm chiếc chăn bằng trái tim, thì chiếc chăn cũng sẽ sưởi ấm lại cho chúng ta.

Nguyệt Hòa
Theo Aboluowang


Thứ Hai, 18 tháng 7, 2022

LÀM MỘT NGƯỜI PHỤ NỮ ĐÚNG NGHĨA: NHU MỲ, ĐOAN TRANG VÀ NỘI TÂM THANH KHIẾT

 

Nguồn ảnh: DKN

Người phụ nữ truyền thống coi trọng đức tính cung kính, nhu thuận, mềm yếu, thuận theo đạo trời mà không ngừng phát triển, mà làm nên những câu chuyện truyền thuyết bất hủ, giúp cho nền văn minh truyền thống thêm phồn vinh, rực rỡ.

Sách Nữ Giới của Ban Chiêu

Ban Chiêu được xem là “Khổng phu tử trong phái nữ”, những lời dạy bảo của bà trong cuốn sách Nữ Giới vẫn còn giá trị cho tới ngày nay.

Ban Chiêu là con gái của nhà văn Ban Bưu thời Đông Hán, là em gái của Ban Cố – người biên soạn sách Tiền Hán Thư. Xuất thân trong một gia đình gia giáo, bà là người có phẩm hạnh đoan trang và giỏi văn chương.

Ban Chiêu được Đặng Thái Hậu triều Hán rất coi trọng, nên đã mời bà vào cung làm vị Nữ Sư, ban tặng cho danh xưng Đại Gia. Hoàng hậu và các quý nhân của triều Hán đều xem bà là thầy mà phụng sự.

Bà năm 14 tuổi đã được gả vào nhà họ Tào. Hơn 40 cần mẫn, lao tâm lao lực, tuy làm việc vất vả nhưng không oán than lấy một lời. Ngay khi con trai đã trưởng thành, bà có phần nhàn nhã hơn, nhưng lại lo lắng cho các nữ nhân nhà họ Tào. E rằng họ không sớm biết lễ nghi thì khi gả về nhà chồng sẽ dễ bị mang tiếng xấu. Vì vậy mà bà đã viết cuốn sách Nữ Giới (lời khuyên bảo dành cho nữ nhân), dùng phương pháp huấn dụ để bảo ban các nữ nhân trong nhà.

Cuốn sách đưa ra những quy tắc đạo đức cho người phụ nữ trong lập thân, xử thế, được người đương thời sôi nổi truyền tụng và học tập; trở thành sách vỡ lòng cho nữ giới qua từng triều đại Trung Quốc cho đến những năm đầu Quốc Dân. Ban Chiêu cũng được người đời ca tụng là “Khổng phu tử trong phái nữ”.

Nữ giới đẹp ở vẻ nhu mì

Ban Chiêu dạy bảo người phụ nữ phải khiêm hạ, nhẫn nhường. Khi gặp việc tốt thì nhường người lên trước, còn mình lùi lại đằng sau. Bản thân làm được việc tốt cũng không được khoe khoang; khi mắc sai lầm thì không được thoái thác trách nhiệm.

Bà cho rằng, phụ nữ nếu có thể chu toàn được ba điều: Khiêm nhường với người, chịu thương chịu khó, kế thừa tế tự, vậy thì tiếng xấu sẽ không thể đến thân.

Đại Đạo có âm dương, con người phân thành nam nữ, sách Nữ Giới viết rằng: “Âm dương có đặc tính khác nhau, nam nữ có phẩm hạnh khác nhau. Dương lấy cương làm chủ, âm lấy nhu làm chủ. Nam giới quý ở đức cương cường; nữ giới đẹp ở vẻ nhu mì”.

Vợ chồng nếu như bất hòa thì sẽ không còn ân nghĩa đạo đức, sách viết rằng: “Chồng không hiền đức thì không dẫn dắt được vợ. Vợ không hiền hậu thì không hỗ trợ được cho chồng. Chồng không quản giáo được vợ thì mất đi sự uy nghiêm. Vợ nếu như không phụng sự chồng thì sẽ mất đi đạo nghĩa”.

Cử chỉ đoan trang, nội tâm thanh khiết

Người phụ nữ xưa đa số đều không tham gia vào việc xã hội, mà chỉ làm chủ gia đình mình. Vì vậy Ban Chiêu cho rằng người phụ nữ cần thức khuya dậy sớm, siêng năng, chăm lo việc nhà; chuyên tâm may vá dệt vải, nấu ăn ngon tiếp đãi khách.

Trong nhà phải giữ gìn lễ nghĩa, cử chỉ đoan trang, thanh khiết. Tai không nên nghe điều không nên nghe, mắt không nên nhìn thứ không nên nhìn. Ra ngoài không nên trang điểm diêm dúa, ở nhà không đầu bù tóc rối.

Khiêm hạ và nhu thuận là 2 đức tính quan trọng của người phụ nữ

Trong giao tiếp với cha mẹ, anh em chồng cần khiêm tốn, nhường nhịn, khoan dung, vui vẻ hoà nhã, không được tranh chấp đúng sai, mâu thuẫn là không thể tránh khỏi, cần luôn tìm nguyên nhân ở bản thân mình: “Bản thân mỗi người không phải thánh nhân, khó tránh khỏi không phạm lỗi lầm!

Nhan Hồi đáng quý ở chỗ biết sửa sai, vì vậy Khổng Tử khen ngợi Nhan Hồi cùng một sai lầm không phạm lại lần thứ hai, huống chi là phụ nữ!” “Khiêm tốn là đức hạnh căn bản, nhu thuận là phẩm chất của người phụ nữ. Có được hai đức tính này là đủ để gia đình hoà hợp rồi”.

Phong trào “nữ quyền” nổi lên vào thời cận đại, đặc biệt là sau Đại cách mạng văn hoá, người ta nhấn mạnh nam nữ đều như nhau, cuốn sách Nữ giới của Ban Chiêu bị phê phán là xiềng xích tinh thần của lễ giáo phong kiến, rất nhiều người phụ nữ truy cầu “giải phóng”, cá tính mạnh mẽ lấn át người khác, đi ngược lại đức tính nhu thuận trời ban cho người phụ nữ, lấy sở đoản của bản thân so sánh với sở trường của nam giới.

Những giá trị truyền thống lan tỏa muôn đời

Chúng ta thường nghe thấy các đấng mày râu oán trách rằng: “Tôi muốn lấy vợ là một người phụ nữ, nhưng cô ấy đã không dịu dàng lại cũng không biết quét nhà nấu cơm, cả ngày cứ chạy ra khỏi nhà, nói còn to hơn cả tôi, chỉ cần có lý là tranh đấu đến cùng, anh nói xem tôi cần cô ấy làm gì?”

Vì điều này mà người phụ nữ đánh mất đi sự tôn trọng, yêu thương và bảo vệ của người chồng, có khó khăn vất vả cũng không dám nói, gia đình không hoà thuận, lại còn phải làm việc vất vả ngoài xã hội, cuối cùng khiến cho thân thể và tâm trí đều mệt mỏi.

Người phụ nữ truyền thống coi trọng đức tính cung kính, nhu thuận, mềm yếu, thuận theo đạo trời mà không ngừng phát triển, mà làm nên những câu chuyện truyền thuyết bất hủ, giúp cho nền văn minh Hoa Hạ phồn vinh rực rỡ, Ban Chiêu, Thái Văn Cơ, Trác Văn Quân, Lý Thanh Chiêu được liệt vào tứ đại tài nữ thời cổ đại, Ban Chiêu năm 14 tuổi gả cho Tào Thế Túc, phu thê khiêm nhường hỗ trợ bù đắp cho nhau, sinh được mấy người con trai gái, cuộc sống hạnh phúc mỹ mãn, sau cái chết của người anh trai Ban Cố, bà tiếp tục một mình viết “Hán Thư”, được mời vào trong cung làm thầy dạy cho hoàng hậu và phi tần. Bà là một người phụ nữ lỗi lạc, đức hạnh, tài năng cùng với địa vị xã hội của bà mấy ai có thể so được? Cho dù thời đại biến đổi ra sao, cuốn sách Nữ giới vẫn là bài học quý giá đối với người phụ nữ đương thời.

Cho dù thời đại có nhiều biến đổi, thì cuốn sách Nữ Giới vẫn là bài học quý giá đối với người phụ nữ đương thời; có thể xem sách Nữ Giới tại đây.

Nguồn: vandieuhay.net