Chủ Nhật, 22 tháng 12, 2013

BỮA TIỆC ĐÊM TRONG NHÀ VỆ SINH


                                                        


      Chị là Oshin – người giúp việc nhà cho một ông chủ ngoại ngũ tuần, rất giàu có. Đêm xuống, xong việc, vội vàng về với đứa con trai nhỏ 5 tuổi suốt ngày ngóng đợi trong căn nhà tồi tàn..
Hôm ấy, chủ nhà có lễ lớn, mời rất nhiều bạn bè quan khách đến dự tiệc đêm. Ông chủ bảo : Hôm nay việc nhiều, chị có thể về muộn hơn không? Thưa được ạ, có điều đứa con trai nhỏ quá, ở nhà tối một mình lâu sẽ sợ hãi. Ông chủ ân cần: Vậy chị hãy mang cháu đến cùng nhé.

     Chị mang theo con trai đến. Đi đường nói với nó rằng : Mẹ sẽ cho con đi dự tiệc đêm. Thằng bé rất háo hức. Nó đâu biết là mẹ làm Oshin là như thế nào kia chứ! Vả lại, chị cũng không muốn cho trí tuệ non nớt của nó phải sớm hiểu sự khác biệt giữa người giàu kẻ nghèo. Chị âm thầm mua 2 chiếc xúc xích.

     Khách khứa đến mỗi lúc mỗi đông. Ai cũng lịch sự. Ngôi nhà rộng và tráng lệ… Nhiều người tham quan, đi lại, trò chuyện. Chị rất bận không thường xuyên để mắt được đến đứa con nhếch nhác của mình. Chị sợ hình ảnh nó làm hỏng buổi lễ của mọi người. Cuối cùng chị cũng tìm ra được cách : đưa nó vào ngồi trong phòng vệ sinh của chủ… đó có vẻ như là nơi yên tĩnh và không ai dùng tới trong buổi tiệc đêm nay. Đặt 2 miếng xúc xích vừa mua để vào chiếc đĩa sứ, chị cố lấy giọng vui vẻ nói với Con : Đây là phòng dành riêng cho con đấy, nào tiệc đêm bắt đầu! Chị dặn con cứ ngồi yên trong đó đợi chị đón về. Thằng bé nhìn “căn phòng dành cho nó” thật sạch sẽ thơm tho, đẹp đẽ quá mức mà chưa từng được biết. Nó thích thú vô cùng, ngồi xuống sàn, bắt đầu ăn xúc xích được đặt trên bàn đá có gương, và âm ư hát… tự mừng cho mình.

    Tiệc đêm bắt đầu. Người chủ nhà nhớ đến con trai chị, gặp chị đang trong bếp hỏi. Chị trả lời ấp úng: Không biết nó đã chạy đi đằng nào… Ông chủ nhìn chị làm thuê như có vẻ giấu diếm khó nói. Ông lặng lẽ đi tìm… Qua phòng vệ sinh thấy tiếng trẻ con hát vọng ra, ông mở cửa, ngây người: Cháu nấp ở đây làm gì ? Cháu biết đây là chỗ nào không ? Thằng bé hồ hởi : Đây là phòng ông chủ nhà dành riêng cho cháu dự tiệc đêm, mẹ cháu bảo thế, nhưng cháu muốn có ai cùng với cháu ngồi đây cùng ăn cơ!

    Ông chủ nhà thấy sống mũi mình cay xè, cố kìm nước mắt chảy ra, ông đã rõ tất cả, nhẹ nhàng ngồi xuống nói ấm áp: Con hãy đợi ta nhé. Rồi ông quay lại bàn tiệc nói với mọi người hãy tự nhiên vui vẻ, còn ông sẽ bận tiếp một người khác đặc biệt của buổi tối hôm nay. Ông để một chút thức ăn trên cái đĩa to, và mang xuống phòng vệ sinh. Ông gõ cửa phòng lịch sự… Thằng bé mở cửa… Ông bước vào: Nào chúng ta cùng ăn tiệc trong căn phòng tuyệt vời này nhé. Thằng bé vui sướng lắm. Hai người ngồi xuống sàn vừa ăn ngon lành vừa chuyện trò rả rích, lại còn cùng nhau nghêu ngao hát nữa chứ… Mọi người cũng đã biết. Liên tục có khách đến ân cần gõ cửa phòng vệ sinh, chào hỏi hai người rất lịch sự và chúc họ ngon miệng, thậm chí nhiều người cùng ngồi xuống sàn hát những bài hát vui của trẻ nhỏ… Tất cả đều thật chân thành, ấm áp!

    Nhiều năm tháng qua đi… Cậu bé đã rất thành đạt, trở nên giàu có, vươn lên tầng lớp thượng lưu trong xã hội. Nhưng không bao giờ quên giúp đỡ những người nghèo khó chăm chỉ. Một điều quan trọng đã hình thành trong nhân cách của anh: Ông chủ nhà năm xưa đã vô cùng nhân ái và cẩn trọng bảo vệ tình cảm và sự tự tôn của một đứa bé 5 tuổi như thế nào…
                                                                             ( Nguyên Tác: Chu Hải Lượng – TQ)

Thứ Năm, 19 tháng 12, 2013

ĐÁNH GIÁ ĐÚNG SỰ ÂN CẦN

                                                                       ĐÁNH GIÁ ĐÚNG SỰ ÂN CẦN
                                                 Khi con đói và khát, bà cho con thức ăn và uống,
                                                 khi con lạnh, là áo quần;
                                                 khi con không có gì, bà cho con mọi thứ đáng giá.
                                       - Tông Khách Ba, Đại Luận Con Đường Tiệm Tiến - Lamrim[1]
                                                                                       ***
    Các chính quyền bây giờ sử dụng những kỷ thuật phức tạp để truy tầm các kẻ có thể gây ra rắc rối, nhưng những kẻ khủng bố vẫn tiếp diễn.  Bất kể kỷ thuật là phức tạp như thế nào, phía đối kháng vẫn đáp ứng được.  Sự phòng vệ hiệu quả chỉ có thể là bên trong.  Điều này có thể nghe như ngu ngơ, nhưng phương thức duy nhất để chấm dứt khủng bố là lòng vị tha.  Vị tha có nghĩa là có một sự quan tâm căn bản đến người khác và hiểu rõ giá trị của người khác, là điều đến từ việc nhận ra lòng ân cần tử tế của họ đối với chúng ta.
   Trong bước thứ hai này chúng ta quán chiếu trên sự ân cần mà những người khác ban cho chúng ta một cách cá nhân khi qua dòng diễn biến của những kiếp sống, họ đã là cha mẹ chúng ta và ta là một đứa con.  Áp dụng sự quán chiếu này đến mỗi lần chạm trán, chúng ta sẽ thấy rằng tất cả chúng sinh đã biểu lộ lòng ân cần một cách bình đẳng đến chúng ta hoặc là trong kiếp sống này hay trong những kiếp sống khác.
                                                               Thiền quán
    Trong bước trước, chúng ta quán tưởng và nhận ra những người khác như những thân hữu của chúng ta, và bây giờ có thể trở nên chính niệm về lòng ân cần của họ khi họ là những thân hữu bậc nhất của chúng ta.  Một lần nữa, có thể dễ dàng nhất cho chúng ta bắt đầu với chính bà mẹ của chúng ta trong kiếp sống này, vì bà hầu như là người nuôi dưỡng chính yếu của chúng ta.  Nhưng nếu bà ta không làm thế, hay nếu mối quan hệ của chúng ta phức tạp, hãy liên hệ đến bất cứ  người nào có công nhất trong việc làm cho chúng ta trưởng thành trong kiếp sống này như một biểu tượng để quán chiếu, quy vào sự thiền tập theo đây như thích đáng:
   

Thứ Ba, 17 tháng 12, 2013

THỦY TỔ TRÀ ĐẠO NHẬT BẢN

                       
                                                        

                                                          Thủy Tổ Trà đạo Nhật Bản (1141-1215)        
     Thiền sư Minh Am Vinh Tây (ja. myōan eisai), Ngài được tôn vinh đệ nhất Tổ trồng Trà hay thủy Tổ Trà đạo là người có công truyền thừa dòng Thiền phái Lâm Tế vào Nhật Bản            
Ngài sinh năm Tân Dậu (1141) tại Bitchū (bây giờ là Okayama). Song thân của Ngài đều là Phật tử thuần thành, tinh thông Phật pháp. Ngài vốn bản chất thông minh bén nhạy, nổi tiếng là thần đồng. Năm lên 8 tuổi Ngài theo phụ thân đọc những kinh sách Đại thừa liễu nghĩa như Câu Xá luận, Tỳ Bà Sa luận. . .
 
Năm 11 tuổi Ngài đến chùa Anyôji (An Dưỡng Tự nơi quê nhà, đảnh lễ cầu Tịnh Tâm Thiền sư làm Bổn sư cạo tóc xuất gia. Sau đó Ngài lên núi Hieizan (Tỷ Duệ sơn) tại Kinh Đô (ja.Kyōto), trung tâm của Thiên Thai tông tại Nhật Bản để học Thiền rồi đến núi Ōyama, Tottori  học Mật Giáo. Thời gian nơi đây, Ngài chú tâm học hỏi tất cả những lý thuyết căn bản của Thiên Thai tông và cả Mật giáo của tông này (Thai mật, ja. taimitsu).
Năm 14 tuổi Ngài đã nổi tiếng hùng biện. Lúc bấy giờ có người cười Ngài rằng : “Sư tuy có tài biện luận giỏi, tinh thông Phật pháp, thế pháp, đáng tiếc pháp tướng của Sư vừa lùn lại xấu nữa. Ngài trả lời rằng : “Vua Thuấn ở huyện Xích, Yến Anh tể tướng nước Tề, chưa từng nghe nói ai là người cao lớn cả !”. Những người này nghe Ngài ứng xử nhanh nhẹn tinh tế quá, bọn họ đều cúi đầu khâm phục và hổ thẹn.
Tuy đã học rộng hiểu sâu giáo lý Thượng thừa liễu nghĩa nhưng vẫn thấy chưa đủ. Được biết Thiền tông Trung Quốc đang thịnh hành,  chính vì thế vào Năm Mậu Tý (1168) khi được 28 tuổi, Ngài xuống thuyền vượt biển đến Minh Châu vào Trung Nguyên. Ngài đến Thiên Thai sơn và A Dục vương tham học, chiêm bái thánh tích, gặp rất nhiều điềm kỳ lạ. 
Vào mùa Thu năm ấy trời hạn hán ảnh hưởng đến mùa màng của nông dân, quan Quận chủ liền thỉnh Ngài cầu mưa, Ca sa áo mão pháp phục trang nghiêm, Ngài đăng lâm bảo tọa uy nghi, hoa đăng cùng khói hương quyện tỏa, đang lúc hành Pháp sự, từ thân thể Ngài phát ánh hào quang đến tận trời xanh, một lúc sau cơn mưa lớn đổ xuống, nước tràn khắp ruộng đồng, cỏ lúa hoa màu mát mẻ xinh tươi. Dân được mùa trúng tiết.
Do sự hiệu nghiệm của việc cầu mưa, trừ được hạn hán, quan Quận chủ cùng nhân dân phong tặng Ngài với danh hiệu Thiên Quang. Người đời còn tôn vinh Ngài là Thiên Quang Tổ sư. 
 
Chuyến du học lần đầu tiên với thời gian khoảng 7 tháng, nhưng đã mang ấn tượng cho Ngài về Thiền tông tại đây. Kết quả chỉ là những bài luận Thiên Thai tông mà Ngài mang từ Trung Quốc về quê nhà. Ngài đem sách dâng lên cho Tăng chính. Tăng chính khen rằng : “Ngươi đem tông chỉ Thiên Thai tông về truyền bá rộng khắp là công đức vô lượng vậy !”.
Năm Đinh Mùi (1187),  khi 47 tuổi Ngài tiếp tục chuyến du học lần thứ hai, và chuyến đi này là mốc ngoặc quan trọng trong cuộc đời của Ngài. Ban đầu, Ngài có ý định sang tận Ấn Độ để chiêm bái Thánh tích lịch sử đức Phật Thích Ca Mâu Ni và Phật giáo quê hương đức Phật, sau chuyến du học lần thứ hai tại Trung Quốc,  Ngài hy vọng có thể từ đường Trung Quốc sang xứ Phật đất Ấn. Tháng 2 năm ấy Ngài vượt biển đến Lâm An (Hàng Châu) gặp vị quan An Phủ Thị lang, dâng sớ xin giấy Thông hành sang Ấn Độ,  nhưng vị Tri phủ lấy lý do là quan ải không thông nên từ chối, buộc Ngài phải ở lại. Đây chính là cơ hội để Ngài tham vấn các vị Thiền sư Trung Quốc. Ngài lên Thiên Đài sơn,  Chùa Vạn Niên, Xích Thành, đảnh lễ cầu pháp với lão Hòa thượng Hư Am Hoài Sưởng - một vị Thiền sư thuộc đời thứ tám chi phái Hoàng Long Huệ Nam dòng Thiền Lâm Tế, nơi đây Ngài đạt yếu chỉ Thiền tông và được ấn khả.
Thời gian du học ở Trung Quốc lần thứ hai, Ngài một mặt kết hợp thực tiễn và nghiên cứu giữa Mật giáo và Thiền giáo. Một phương diện nữa trong thời gian đó Ngài còn đi truyền thụ pháp hội quán đỉnh và viết các sách vở Mật giáo.
Ngài tuy là người kiêm tu Thiền và Mật thế nhưng lúc này Ngài chuyên sâu hơn về Mật giáo. Ngài tiếp nhận quán đỉnh của nhiều vị đại sư. Do Ngài ở Diệp Thượng phòng nên còn xưng tụng là phái Diệp Thượng.
 
Có lần Ngài sai người chiếc một cành cây Bồ đề do thiền sư Đạo Thuỵ trồng đưa cho thương thuyền mang về Nhật Bản. Khi đó Ngài nói: “Nước ta chưa có giống cây này, hãy thử trồng một cây để nghiệm chứng cho Thiền phái của ta, nếu như cây này không sống được thì đạo của ta không thịnh đó”.
Cây đem về trồng cành lá xum xuê, sáu năm sau vào tiết xuân phân liền chiếc nhánh từ cây gốc qua Đông Đại Tự (Tôdaiji), thành phố Nara., vài năm sau lại chiếc nhánh trồng ở Kiến Nguyên Tự, hai cây ở đây tới giờ vẫn đang còn xum xuê cành lá.
Sau bốn năm du học, Ngài trở về cố hương hoằng dương Thiền tông. Ngài về nước đúng lúc Hộ bộ thị lang đang xây dựng Tự viện Phật giáo nhân đó liền thỉnh Ngài ở lại trụ trì để giáo hoá, Ngài ban phát thiền môn quy cũ, lúc đầu chỉ có hơn mười người, chẳng lâu sau thì tăng chúng ngày một đông.
Năm sau Ngài khai mở rất nhiều  đàn truyền giới, khai Luật viện truyền bá giới luật, mở rộng tự viện, chế định thiền quy, tuyển thuật kinh luận dần dần càng được sự chú ý của các bậc đại sư trong nước.
 
Sau khi Ngài vào kinh truyền bá Thiền tông, dẫn tới chuyện đố kỵ của tăng đồ các tông phái cũ. Trong đó có Lương Biện tìm cách xúi giục tăng đồ dâng sớ tấu lên triều đình, cuối cùng dẫn tới lệnh cấm Thiền tông. Theo Diên Bảo Truyền Đăng lục ghi chép Hoàng đế hạ chiếu lệnh để hỏi, Ngài đáp rằng :
“Thiền tông của nước ta không phải ngày nay mới có, ngày xưa các vị truyền giáo đại sư đã có truyền pháp trực chỉ nhân tâm, kiến tánh thành Phật của Thiền tông.
Lương Biện ngu muội viết những điều xằng bậy. Thiền tông nếu đã làm điều sai thì các vị truyền giáo là sai, các vị truyền giáo là sai thì phép của phái Thiên Thai cũng là không có, thế nếu Thiên Thai đã không có rồi thì có gì để mà cự tuyệt ? Có thể thấy rằng tăng đồ không hay được ý của Tổ sư !”
Đương thời có những người hiểu biết, nghe được lời của Ngài, họ biết Ngài là bậc cao Tăng thạc đức, nên lại chung tay sức giúp đỡ để tuyên dương Thiền pháp, Ngài lại xây dựng Vạn Thánh Tự, hành giả ở khắp nơi đều đến thính giáo tham thiền, thanh danh ngày càng vang dội. Đây là một hình thức thiền viện đầu tiên của Nhật Bản.
Năm Tân Hợi (1191), Ngài đi bố giáo khắp trên đảo Kyuushuu (九州). Thế nhưng chùa Hieizan đã thành công trong việc vận động can thiệp việc chính quyền cấm truyền bá Thiền Tông. Do đó, năm Giáp Dần (1194), Ngài phải lên Kyôto phân giải. Về sau Ngài qua miền Đông, đóng vai trò chủ trì ngày giỗ lần thứ nhất của Shôgun Yoritomo (Nguyên Lại Triều 1147-1199) là vị tướng thiết lập chế độ Mạc Phủ, sáng lập "nền chính trị võ gia", khởi xướng truyền thống "thực quyền thuộc kẻ dưới" ở Nhật Bản. Với tư cách là tăng lữ Mật Giáo, Ngài đã quy y người của Mạc phủ, trong đó có vợ con Yoritomo. Gia đình Mạc phủ hiến đất xây chùa Phúc Thọ Tự, được phát tâm ủng hộ của Mạc phủ mà Thiền pháp thuận duyên truyền bá rộng khắp.
Năm Mậu Ngọ (1198), Ngài soạn bộ Hưng thiền hộ quốc luận (ja. kōzen gokokuron) để xiển dương Thiền tông và để chống đối lại sự phản bác mạnh mẽ của các vị tăng thuộc Thiên Thai tông. Trong Hưng thiền hộ quốc luận Ngài viết như sau:
"Tổ Tối Trừng (ja. saichō)(767-822) của Thiên Thai tông đã từng dạy Thiền; nếu Thiền tông chẳng có ý nghĩa gì thì Đại sư Tối Trừng cũng chẳng có ý nghĩa gì và nếu Đại sư Tối Trừng chẳng có ý nghĩa gì thì Thiên Thai tông cũng chẳng có ý nghĩa gì".
Hưng Thiền Hộ Quốc luận là một tác phẩm văn học Thiền đầu tiên của Nhật Bản, nói tới Thiền rất quan trọng đối với quốc gia dân tộc. Phật pháp và vương pháp cùng hỗ trợ cho nhau, chủ chương Phật giáo tới cùng cực là Thiền. Lại viết một cuốn Xuất Gia Đại cương, nói về những thiên chức của Tăng nhân.
 
Năm Canh Thân (1200), Ngài khai sơn chùa Jufuku Kikokuzan Kongō Jufuku Zenji.
 Năm Nhâm Tuất (1202) Ngài lại dựng chùa Kennin-ji. Chùa này được xem như một biệt viện của Hieizan. Ở đó Ngài  phối hợp 3 lối tu (kiêm tu) của Thiên Thai, Mật Giáo và Thiền. 
Năm Bính Dần (1206), Thái Thượng hoàng Go Toba bổ nhiệm Ngài việc xây cất chùa Tôdaiji (Đông Đại Tự), thành phố Nara. Ngài tận lực xây dựng chùa này. 
Năm Quý Dậu (1213), niên hiệu Kiến Bảo nguyên niên, Ngài được bổ nhiệm chức Gon Sôjô (Quyền Tăng Chính), một giáo phẩm cao cấp của Phật giáo Nhật Bản thời bấy giờ.
Năm Ất Hợi (1215), niên hiệu Kiến Bảo năm thứ ba, sau khi kiến tạo ngôi Thọ Phúc Thiền Tự (Kongō Jufuku Zenji) được hoàn thiện, Ngài thị hiện chút bệnh duyên và an nhiên thị tịch vào mùa An cư kiết hạ năm ấy. Hưởng thọ 75 Xuân. Pháp lạp 63 Thu.
Đương thời, Ngài được tôn vinh đệ nhất Tổ trồng Trà hay thủy Tổ sư Trà đạo hoặc gọi Ngài là Trà Thiền nhất vị . . . Thời kỳ Nại Lương có người mang trà đến Nhật Bản nhưng không thịnh hành. Sau khi du học Từ Trung Quốc về, Ngài mang theo một số hạt trà về trồng trước sân chùa Thánh Phúc, lại tặng cho nhiều người, ít lâu giống trà được gieo khắp đất nước. 
Sau này chính Ngài đã sáng tác ra cuốn Luận về uống trà và sức khỏe mang tên "Khiết Trà Dưỡng Sinh Ký" (Kissa Yojoki), nội dung ghi lại mọi chuyện liên quan tới thú uống trà đạo.
Thiền tông Thời Tống Trung Quốc lưu hành rộng rãi mà tục uống trà cũng trở thành một thú vui, vừa giúp người ta tỉnh táo, giải khát lại chữa được bệnh tật nên thiền lâm dần dần dấy lên phong trào uống trà. Nghi lễ của việc uống trà đi kèm với hành pháp trở thành một.
Tư tưởng Trà Thiền Nhất vị do chính Ngài đưa Trà phong vào Nhật Bản. Xây dựng phong tục Trà đạo ở trong các Thiền viện Phật giáo cũng là do công đức của Ngài. 
Năm Kiến Bảo thứ 2, Ngài chữa trị được bệnh nhiệt cho Nguyên Thực Triêu bằng Trà, từ đó phong khí uống trà cũng thịnh hành trong dân gian.
Ngài cổ suý thiền tông, đề cao tinh thần nghiên cứu Thiền, xây dựng nên học phong một thời. Về sau không ít các Thiền sư do bất mãn với chính quyền của nhà Nguyên sang Nhật Bản nên các Thiền phái trở nên phát triển, công đức của Ngài càng lớn lao.
Những tác phẩm của Ngài lưu lại cho hậu thế như :
- Kôzen Gokokuron (Hưng Thiền Hộ Quốc Luận, Mậu Ngọ 1198).
- Nihon Buppô Chuukô Ganbun (Nhật Bản Phật Pháp Trung Hưng Nguyện Văn, Giáp Tý 1204). 
- Bồ-đề tâm luận khẩu quyết (ja.bodaishinron kōketsu)
- Kissa Yôjôki (Khiết Trà Dưỡng Sinh Ký, Tân Mùi 1211).
- Xuất Gia đại cương  (ja. shukke daikō). 
- (hai quyển Kozen Gokokuron và Nippon Buppô Chuukô Ganbun bị nghi là sách giả). 

                                                                                                          Thích Vân Phong

Thứ Bảy, 14 tháng 12, 2013

CÂU CHUYỆN HAI CÁI BỊ CỦA NGƯỜI ĐỜI





                                                 CÂU CHUYỆN HAI CÁI BỊ CỦA NGƯỜI ĐỜI
                                       
   - Thưa Thầy, tôi không phải là người theo đạo Phật. Xin Thầy chỉ dẫn cho phương pháp tu tập.
  -  Quí vị muốn phương pháp tu tập với mục đích gì và tại sao lại chọn chúng tôi để đặt câu hỏi ?
 - Tôi thấy cuộc đời này sao mà khổ quá, như tôi đây cũng có trình độ học thức, có công ăn việc làm tốt, gia cảnh đầm ấm, nhưng vẫn thấy khổ tâm nhiều chuyện, nhiều lúc cảm thấy bất an đến độ ăn không ngon ngủ không yên, nhiều điều lo lắng, bực mình lắm!
  Tôi muốn được an tâm nên đì tìm phương pháp tu tập để thoát khổ.   Tôi chọn qúi Thầy để đặt câu hỏi, bởi tôi thường nhận các emails của PHTQ.CANADA do các bạn bè chuyển tới, với các bài viết tuy mang hình thức Phật giáo, nhưng nội dung hay quá, các bạn của tôi thấy có ích lợi nên chuyển cho tôi, mặc dù tôi không phải theo đạo Phật.
- Trên đời này, người nào không có tâm cố chấp, không có tâm phân biệt, không mang nặng hình thức thế gian thì người đó sống đời an lạc với hạnh phúc xuất thế gian.
-  Kính xin Thầy giảng rõ hơn.
-  Người đời thường mang hai cái đãy (cái bị).
  *Một cái trước ngực chứa đầy lỗi lầm của người khác.
  *Một cái sau lưng chứa đầy lỗi lầm của chính bản thân.
  Do đó, người đời thường bực bội, bất an trước các lỗi lầm quá dễ thấy của người khác. Trái lại, với các lỗi lầm của chính bản thân, người đời thường che giấu, không muốn ai thấy, chính mình cũng không thừa nhận, không nhận ra, cho nên khó khá được, cho nên khổ dài dài. Muốn hết khổ, muốn bớt khổ, người đời - dù theo tôn giáo nào - nên đổi vị trí của hai cái bị nói trên.
  Khi nhận thấy chính bản thân cũng có quá nhiều khuyết điểm, nhược điểm, người đời chắc chắn không còn dám cất cao giọng chỉ trích nhục mạ người khác, cũng như không còn chỉ trích tôn giáo, tín ngưỡng của người khác đang theo.
  -  Kính cảm tạ lời chỉ giáo của Thầy. Thực hay quá. Nhưng riêng tôi, tôi không muốn đổi vị trí của hai cái bị đó thì sao, thưa Thầy ?
  -  À, quí vị không muốn đổi vị trí của hai cái bị, thì quí vịđổi nội dung của chúng cũng được mà.
   - Tôi chưa hiểu rõ ý của Thầy ?
  -  Nếu quí vị vẫn giữ vị trí của hai cái bị :
  Cái bị trước ngực qúi vị chứa đựng toàn là ưu điểm của người khác. Cái bị sau lưng quí vị chứa đựng toàn là ưu điểm của bản thân.
  - Tôi vẫn chưa tỏ tường ?
  -  À, khi đó quí vị sẽ thấy ưu điểm của người khác quá nhiều, lắm khi vượt trội hơn mình, mình thực ra chẳng bằng nhiều người lắm. Từ đó, mình bớt đi tánh phê phán, phỉ báng người khác - hãy thu mình lại, quan sát chính bản thân, quan sát chính bản tâm, mình sẽ đượcbình an ngay.
- Thực là quí hoá, tôi hiểu rồi. Kính chúc Thầy tâm luôn bình an.

                                                                                 Nguồn Internet
 

Thứ Năm, 12 tháng 12, 2013

NHỮNG ÁNG VĂN RẤT NGẮN GỌN NHƯNG Ý TƯỞNG SÚC TÍCH. . . . . .


 
 Mỗi chuyện có những áng văn rất ngắn gọn nhưng ý tưởng súc tích, khiến người đọc phải suy tư.
1. Mẹ tôi! (Vương thị Vân Anh)
       Mẹ tần tảo cho tôi khôn lớn, vai Mẹ nặng hơn khi tôi vào đại học.
       Ba năm đại học xa nhà, tuần nào tôi cũng viết thư cho Mẹ, Mẹ cầm thư tôi mà rớt nước mắt, vui thật nhiều nhưng Mẹ tôi có biết tôi nói gì với Mẹ đâu.
       Mẹ tôi không biết chữ!
  2. 
Lòng Mẹ  (Kangtakhoa)
       Nhà nghèo, chạy vay mãi mới được xuất hợp tác lao động, Thanh coi đó như cách duy nhứt để giúp đở gia đình. Nhưng ảo mộng chóng tan. Xứ người chẳng phải là thiên đường. Thanh chỉ còn biết làm quần quật và dành dụm từng đồng. Để nhà khỏi buồn, trong thư Thanh tô vẽ về một cuộc sống chỉ có trong mơ.
       Ngày về, mọi người mừng rỡ nhận quà, Thanh lại tiếp tục nói về cuộc sống trong mơ.
       Đêm. Chỉ có Mẹ. Hết nắn tay, nắn chân Thanh rồi Mẹ lại sụt sùi. Thanh nghẹn ngào khi nghe Mẹ nói: "Dối Mẹ làm gì! Giơ xương thế kia thì làm sao mà sung sướng được hở con!"
  3. 
Khóc dùm
      
Cô bé đi học về muộn, ba mẹ rất lo.
       Khi thấy cô về, ba mẹ hỏi xem con đã đi đâu và làm gì?
       - Con dừng lại giúp bạn con ạ. Xe đạp của bạn ấy bị hỏng.
       - Nhưng con đâu có biết sửa xe?
       - Đúng ạ, nhưng con dừng lại để giúp bạn ấy khóc.
       Cũng như cô bé đó, không phải ai trong chúng ta cũng biết sửa xe đạp. Nhưng chúng ta biết chia sẻ những nỗi lo âu và sợ hãi. Cuộc sống là một con đường rất dài, sẽ còn nhiều lần gặp cảnh "hỏng xe" lắm. Chúng ta hãy cùng nhau chia sẻ và an ủi
  4. 
Sống ở đời (Phạm Quốc)
       Từ hồi còn học trung học, cha tôi có thói quen vặn đồng hồ chạy nhanh năm phút. Rồi vào đại học, ra trường, đi tìm việt làm, lập gia đình... cha tôi vẫn giữ thói quen như thế. Cha dạy tôi: "Phải luôn tôn trọng giờ giấc, và đừng để ai khó chịu vì mình chậm trể con ạ".
       Năm ngoái được thăng chức giám đốc, cha thay đổi thói quen đột ngột: cha vặn đồng cho chạy chậm năm phút. Tôi thắc mắc, hỏi tại sao, cha trả lời: "Phải nghiêm khắc với chính mình nhưng lại rộng lượng với người khác con ạ!"
 
5. 
Bi kịch (Huỳnh Thanh Vân)
       Sạp anh chị ít khách vãng lai. ế ẩm, vốn cạn dần, nợ nần chồng chất. Anh mượn rượu giải sầu, sanh tật đánh vợ. Chịu đòn không thấu, chị làm đơn ly hôn. Bạn bè giải hoà, góp tiền cho chị mượn vốn không lãi. Chị bỏ hàng, chia giá sỉ cho người bán lẻ đầu chợ, nhờ vậy đắt khách. Anh bỏ rượu, giúp vợ tần tảo năm, sáu năm dài, nợ trả xong, nhà có đồng ra đồng vào, con cái học giỏi. Chị vui chưa kịp nở nụ cười, cơn đau ập đến... Cầm đơn thuốc trong tay chị ước gì mình dốt, không biết đọc hai chữ: ung thư.
  6. 
Đôi mắt
       Có một cô gái không may bị mù, quen biết một chàng trai, 2 người cùng yêu nhau, dến một ngày cô gái nói với chàng trai: "Khi nào em nhìn thấy được thế giới, em sẽ lấy anh". Rồi đến một ngày kia cô gái được phẩu thuật mắt và cô đã nhìn thấy được ánh sáng. Chàng trai hỏi: "Bây giờ em đã thấy được cả thế giới, em sẽ lấy anh chứ?"
Cô gái bị ngẩn ngơ choáng váng khi thấy chàng trai cũng bị mù như mình. Cô ta từ chối anh. Chàng trai ra đi trong nước mắt và nhắn lại rằng: "Hãy giữ gìn cẩn thận đôi mắt của mình em nhé, vì đó là món quà cuối cùng anh có thể tặng em".
  7. 
Điện thoại (Võ Thành An)
       Nhà không có điện thoại, anh Hai đi làm xa muốn thăm Mẹ phải gọi nhờ nhà hàng xóm. Người hàng xóm không vui lòng nhưng chẳng nói ra. Anh Hai ngại nên những cuộc gọi về cứ thưa dần.
       Mẹ dành dụm tiền, nhà mắc được điện thoại. Cũng có khi do bận việc nên cả tuần anh Hai mới gọi về một lần. Từ ngày nhà có điện thoại Mẹ ít đi đâu, làm gì cũng loay hoay bên chiếc máy. Có người hỏi lý do, Mẹ nói: "Sợ thằng Hai gọi về mà không gặp được".
  8. 
Nghịch lý  (Văn Triều)
       Thanh minh. Bàn chuyện cải mộ Mẹ, anh Hai nói:
       - Tôi góp một phần.
       - Tôi một phần.
       - Tôi cũng một phần.
       Thím Tư chen vào, như đùa như thật:
       - Chú Út hai phần mới phải. Anh Tư đâu hưởng gì đâu?!
       Chợt nhớ lúc nhỏ, mấy anh em ngủ chung với Mẹ. Đêm, muổi vào mùng cắn Mẹ. Mẹ không đập, sợ hụt, cứ để muổi cắn Mẹ no rồi sẽ không cắn các con.
       Ôi! Tình yêu của Mẹ là thế. Có chia phần bao giờ đâu!
  9. 
Tóc sâu (Song Khê)
       Sáu tuổi. Tôi vọc tay trong vườn tóc ngoai, reo vang: "Con tìm được sợi trắng rồi!".
       Mười tuổi. Tôi cột - mở búi tóc của ngoại, phụng phịu: "Mấy sợi bạc con nhổ hết hồi hôm kia, bữa nay lại chui ra nữa!".
       Mười lăm tuổi. Tôi vừa chạy ra cửa vừa nài nỉ: "Cho con đi chơi một chút đi ngoại. Lát nữa hãy nhổ tóc sâu".
       Mười tám tuổi. Tôi nhìn lên mái tóc ngoại trắng phơ, bất động trong bức ảnh cao cao, rưng rưng thắp một điều ước.
  10. 
Tiền mừng tuổi (Trương Đình Dạ Vĩnh)
       Năm bảy tuổi, Mẹ bảo đưa tiền Mẹ cất cho ... Nó đếm mấy chục ngàn tiền lì xì rồi miễn cưỡng đưa Mẹ cất giùm vì trước kia không bao giờ thấy Mẹ trả lời.
       Năm mười tuổi, nó lén cất tiền không cho Mẹ biết.
       Mười tám tuổi, nó mang nổi nhớ quê hương bước vào đại học ở tận miền trong xa xôi.
       Tết. Ký túc xá vắng hoe. Phương bắc xa xôi nó không về được. Nó nằm co trên giường cằm giấy nhận tiền của Mẹ mà thấy ân hận, xót xa.
  11. 
Khóc (Bùi Phương Mai)
       Vừa sinh ra đã vào trại mồ côi, trừ tiếng khóc chào đời, chồng tôi không hề khóc thêm lần nào nữa.
       Năm hai mươi tuổi, qua nhiều khó khăn anh tìm được Mẹ, nhưng vì danh giá gia đình và hạnh phúc hiện tại, một lần nữa bà đành chối bỏ con. Anh ngạo nghễ ra đi, không rơi một giọt lệ.
       Hôm nay 40 tuổi, đọc tin Mẹ đăng báo tìm con, anh chợt khóc. Hỏi tại sao khóc. Anh nói:
       - Tội nghiệp Mẹ, 40 năm qua chắc Mẹ còn khổ tâm hơn anh.
  12. 
Nói dối (D.A.D)
       Ngày đó nhà nghèo Cha mất , Mẹ tần tảo nhưng không đủ ăn. Để con có bữa ngon, Mẹ gởi con về giổ họ. Giữa đám cúng đông vui, chẳng ai đoái hoài, con bơ vơ lạc lõng... Về nhà Mẹ hỏi con né tránh: "Dạ vui! Cô bác mừng con...!!!".
       Lớn lên, con đi làm xa, tạm gọi là thành đạt. Ngày giỗ họ con về cùng con trẻ, mọi người vui gặp gỡ, chăm sóc đủ điều, từ miến ăn, chiếc bánh...
       Về nhà nhìn ảnh Mẹ con thấy lòng rưng rưng.
  13. 
Chung riêng (Nga Miên)
       Chung một con ngõ hẹp, hai nhà chung một vách ngăn. Hai đứa chơi thân từ nhỏ, chung trường chung lớp, ngồi chung bàn, đi về chung lối. Chơi chung trò chơi trẻ nhỏ, cùng khóc cùng cười, chung cả số lần bị đánh đòn do hai đứa mãi chơi. Đi qua tuổi thơ với chung những kỷ niệm rồi cùng lớn lên...
       Uống chung một ly rượu mừng, chụp chung tấm ảnh...cuối cùng khi anh là chú rễ còn em chỉ là khách mời. Từ nay, hai đứa sẽ không còn có gì chung nữa, anh giờ là riêng của người ta...
  14. 
Tình già (Nguyễn Thái Sơn)
       Đêm tối đen.Tiếng con chim cú kêu đâu đó ngoài cây bàng. Ông khó ở trong mìnhđã mấy hôm. Bà lọ mọ tìm cây são rồi đẩy đưa bâng quơ trong vòm lá. Con chim cú vỗ cánh bay. Một hạt bụi sa vào mắt bà...
       Ông trách: "Nó kêu mỏi miệng rồi nó đi, bà đuổi làm gì cho khổ con mắt vậy?". Hạt bụi cộm lắm nhưng bà không thấy đau; móm mém cười, bà đáp: "Lỡ ông bỏ tôi lại thì sao?".
  15. 
Ngày sinh nhật đầu tiên (Xuân Vy)
       Tối nay bé buồn xo. Mẹ gặng mãi, bé nũng nịu: "Hôm qua, sinh nhật cái Na, nó được tặng nhiều đồ chơi đẹp! Sao con không có sinh nhật, Mẹ nhỉ?". Mẹ lặng thinhmắt đỏ hoe! Sợ Mẹ khóc, bé vỗ về: "Đừng khóc Mẹ nhỉ! Bé không đòi sinh nhật nữa đâu!". Bỗng nhiên, Mẹ ôm chầm lấy bé nức nở. Bé ngơ ngác rồi khóc ào theo.
       ... Ngày ấy, cái ngày mà toà án buộc người đàn ông phải đợi cho bé đủ 12 tháng tuổi mới ký quyết định ly hôn. Và ngày sinh nhật đầu tiên của bé đúng vào ngày Mẹ bồng bé chết lặng giữa chốn pháp đình.
  16. 
Mưa đầu mùa (Nguyễn Thanh Xuân)
       Những cơn mưa đầu mùa thường ập đến bất ngờ, nước tuôn xối xả. Hàng hiên nhà tôi đầy ngươi đến trú mưa, ồn ào như chợ vỡ, nhất là cánh bán hàng rong. Tôi thật bực mình vì công việc của tôi cần sự yên tĩnh.
       Mẹ thì khác, những lúc ấy bà vui như "cá gặp nước", những kỷ niệm vui buồn ngày xưa với gánh hàng của bà ngày xưa như không bao giờ dứt. Có lúc bà còn hào phóng mua hết những thức ăn ế ẩm của họ, dù sau đó không sao dùng hết phải đem cho đi. Tôi tỏ ý khó chịu, Mẹ chỉ cười buồn bảo: "Những thứ ấy đã một thời nuôi con khôn lớn đó...".
       Tôi nhớ lại những cơn mưa đầu mùa ngày trước, Mẹ gánh hàng về ôm tôi khóc, chợt thấy chạnh lòng...
  17.
 Vợ chồng (Tùy Nghi)
       Mỗi lần du lịch, anh vẫn bật cười vì tính nhát gan của chị. Xe qua đèo: sợ. Lên núi cao: sợ. Biển sóng lớn: sợ những lúc ấy anh lại ôm lấy chị , vỗ về:
       - Đừng sợ, có anh đây. Em hãy can đãm lên nào!
       Công ty phá sản. Từ cương vị giám đốc, anh quay về với hai bàn tay trắng. Anh hốc hác, suy sụp. Chị dịu dàng ôm anh vào lòng, xoa xoa mái tóc:
       - Đừng tuyệt vọng, anh còn có em mà. Hãy can đảm nhé anh!
  18. 
Những chiếc bao lì xì
      
Ba Mẹ làm lớn, tết đến tôi được nhận nhiều bao lì xì đỏ thật đẹp với lời chúc học giỏi và chóng lớn. Những bao lì xì xé ra tôi mua đồ chơi và tiền bỏ đầy con heo đất.
       Chiều, thấy thằng con dì Ba cầm thật nhiều bao lì xì. Tôi hỏi: "Mầy được bao nhiêu?"
       Nó đáp; "Em nhặt ở sọt rác nhà anh 50 cái bao không".
  19. 
Phần cô (H.M.N.)
       Sinh nhât cô giáo, cả lớp mang tặng cô nào hoa,nào vải may áo dài...
       Giở gói quà của Hằng ra ngạc nhiên thấy một củ khoai và một bông hồng. Hồn nhiên, Hằng bảo: "Ngày nào em cũng được ăn khoai lang nướng ngon lắm cô ạ. Chắc cô chưa bao giờ được ăn?".
       Hỏi dò mới biết ba mẹ Hằng mất sớm, nhà em phải ở ngoài triền đê, một mình vất vả nuôi hai em. Quà của Hằng là bữa trưa mà em dành phần cho cô giáo.
  20. 
Đi thi (Ngô thị Thu Vân)
         Chị Hai đi thi đệ thất. Ba thức dậy từ tờ mờ chở chị đi trên chiếc xe đạp cũ. Chị Hai đậu thủ khoa. Má bảo: "Nhờ Ba mầy mát tay". Từ đó, lần lượt tới anh Ba rồi cô Út- cấp II, cấp III, tú tài, đại học. Đứa nào cũng một tay Ba dắt đi thi. Giờ cả ba đều thành đạt.
       ...Buổi sáng trời se lạnh. Ba chuẩn bị đi thi "Hội thi sức khoẻ người cao tuổi". Má nhìn Ba ái ngại. "Để tôi gọi taxi. Tụi nhỏ đều bận cả".
         Buổi tối Má hỏi: "Ông thi sao rồỉ". Ba cười xoà bảo: "Rớt".
 

Thứ Tư, 11 tháng 12, 2013

QUANG MINH NHÂN TỪ. . . . .

                                                                          Kính tặng  :     PGS TS BS Trương Quang Bình
                                                                                              Phó GĐ -Kiêm Trưởng khoa Tim mạch
                                                                                                  BV Đại học Y Dược TP.HCM-VN
                   
                                                                                        Quang minh nhân từ đời khó gặp
                                                                                        Bình an tạc dạ  nhớ ơn Người
                                                                                                                                   Minh Đạo
 
 

Thứ Hai, 9 tháng 12, 2013

MỌI CHUYỆN RỒI SẼ QUA



                                      MỌI CHUYỆN RỒI SẼ QUA

     Một ngày nọ, vua Salomon bỗng muốn làm bẻ mặt Benaiah, một cận thần thân tín, nổi tiếng khôn ngoan, thông thái. Vua bèn nói với ông: “Benaiah này, ta muốn ông mang về cho ta một món quà nhân lễ hội lần này, và ta cho ông 6 tháng để làm việc đó” Benaiah trả lời: “ Nếu có một thứ gì đó tồn tại trên đời này, tôi sẽ tìm thấy nó và mang về cho ngài, thưa đức vua”. Nhà vua nói: “món quà đó có sức mạnh kì diệu. Nếu kẻ nào đang vui, nhìn vào nó sẽ thấy buồn, và nếu ai đang buồn nhìn thấy nó sẽ vui”. Vua Salomon biết rằng sẽ không đời nào có một món đồ như vậy tồn tại trên thế gian này, nhưng ông muốn cho người cận thần của mình nếm một chút bẽ bang. Mùa xuân trôi qua, mùa hạ đến nhưng Benaiah vẫn chưa có một ý tưởng nào để tìm ra một món quà như thế.

     Vào đêm trước ngày lễ, ông quyết định lang thang đến một trong những nơi nghèo nhất của kinh thành. Ông đi ngang qua một người bán hàng rong đang bày những món hàng trên một tấm bạt tồi tàn. Benaiah dừng chân lại hỏi: “có bao giờ ông nghe tới một món đồ kì diệu làm cho người hạnh phúc nhìn thấy nó thì quên đi niềm vui sướng và người đau khổ nhìn thấy nó thì quên đi nỗi buồn ko?” Người bán hàng lấy từ tấm bạt lên một chiếc vòng giản dị có khắc một dòng chữ. Khi Benaiah đọc dòng chữ trên chiếc vòng đó, khuôn mặt ông rạng ngời một nụ cười. Đêm đó toàn thành phố hân hoan, tưng bừng đón mùa lễ hội. “Nào ông bạn của ta-vua Salomon hỏi-ông đã tìm thấy điều ta yêu cầu chưa? Tất cả cận thần đều cười lớn và cả Salomon cũng cười.         Trước sự ngạc nhiên của mọi người, Benaiah đưa chiếc vòng ra và nói: “Nó đây thưa đức vua”. Khi vua Salomon đọc dòng chữ, nụ cười biến mất trên khuôn mặt vua. Trên chiếc vòng đó có khắc dòng chữ: MỌI VIỆC RỒI SẼ QUA. Vào chính giây phút ấy, vua Salomon nhận ra rằng tất thảy những sự khôn ngoan, vương giả và quyền uy của ông đều là phù du, bởi vì một ngày nào đó nó sẽ trôi đi, bất cứ một đế chế chính trị nào đó rồi cũng sẽ tàn, ông cũng chỉ còn là cát bụi và tất cả chỉ là vô thường. Nhân câu chuyện này xin giới thiệu bài viết dưới đây của Tiến sĩ Richard Carlson. 
                                                                     Hãy nhớ rằng, 
                                                           MỌI CHUYỆN RỒI SẼ QUA
     Điều quý giá trong sự khôn ngoan để lại của người xưa đã giúp tôi rất nhiều là câu ngạn ngữ: «Mọi việc rồi đều sẽ qua đi.» Nó đã giúp tôi trong việc vượt qua những điều bực dọc hàng ngày mà mỗi người trong chúng ta đều phải đối mặt, cũng như nhiều giai đoạn khó khăn trong đời tôi. Hãy nghĩ kỹ về điều này. Tất cả mọi việc đều đến, rồi đi. Những rắc rối được tạo thành, rồi tan biến. Một ngày kia, chúng ta đang trong kỳ đi nghỉ, ngày sau đó, trở lại với công việc. Chúng ta mắc phải một cơn cảm lạnh hay cảm cúm, và rồi nó qua đi. Chúng ta bị một vết thương, và rồi, trong hầu hết trường hợp, nó lành lặn trở lại. Chúng ta mong đợi một sự kiện, và rồi sau đó cũng biết là nó đã qua đi. Chúng ta mong đợi cúp bóng đá Super Bowl, và những ngày sau đó, lại mong đợi cho mùa bóng kế tiếp.
    Có một cảm giác tự do lớn lao khi nhớ đến câu ngạn ngữ này. Trong thực tế, nó có thể là nền tảng của một cuộc sống thanh thản. Nó có tác dụng như một sự nhắc nhở quan trọng rằng mọi thứ đều có một không gian, thời gian nhất định của nó. Nó cho phép chúng ta nhìn thấy triển vọng tương lai trong những giai đoạn đang có khó khăn, một quy luật cơ bản là không có điều gì tồn tại mãi mãi. Nó mang lại cho chúng ta hy vọng và sự tự tin rằng chúng ta rồi sẽ vượt qua điều này – mọi việc sẽ trôi qua, chắc chắn như vậy.
    Lấy ví dụ, khi bạn có con nhỏ, rất dễ có ý tưởng phàn nàn rằng: «Mình sẽ chẳng bao giờ có được một đêm yên giấc như xưa nữa.» Nếu không có triển vọng thấy trước là «Mọi việc rồi đều sẽ qua đi» thật rất dễ đi đến cảm giác quá sức chịu đựng, thậm chí thất vọng hoàn toàn trong những giai đoạn khó khăn này. Mỗi một đêm mất ngủ dường như là rồi sẽ kéo dài bất tận. Đầu óc bạn đầy sự lo sợ. Bạn cảm thấy tuyệt vọng, thấy trói buộc và như quá sức chịu đựng.
    Nhưng chắc chắn là cũng giống mọi chuyện, giai đoạn này rồi cũng sẽ qua đi. Và bạn bước vào những giai đoạn thách thức mới. Cùng một khuynh hướng này sẽ áp dụng cho tất cả những thách thức khác nữa của cuộc sống. Bạn đang trải qua một cơn khủng hoảng và cảm thấy mình chẳng bao giờ có thể vượt qua nổi, nhưng rồi, bằng cách nào đó, bạn tìm được một giải pháp. Bạn có một trận cãi cọ dữ dội với vợ (hoặc chồng) mình, và thề là sẽ không bao giờ tha thứ. Nhưng cuối cùng thì bạn nhận thấy tận đáy lòng mình vẫn yêu thương như cũ. Bạn trải qua một giai đoạn cực kỳ bận rộn trong công việc, và bạn cảm thấy không thể nào chịu đựng lâu hơn nữa. Và rồi thời biểu của bạn cuối cùng cũng trở lại như bình thường. Lần này qua lần khác, chúng ta phấn đấu và vươn tới.
     Khi chúng ta nhìn lại cuộc sống của mình, rất dễ dàng để nhận ra mọi việc đều đến rồi đi. Mùa xuân, mùa hạ, rồi mùa thu. Niềm vui, nỗi đau, sự khen ngợi, rồi chê trách. Khó khăn, dễ dàng, nghỉ ngơi và mệt nhoài. Thành đạt, thất bại, và bao nhiêu điều khác nữa. Sự thanh thản và hạnh phúc chân thật chỉ đến khi chúng ta nhận ra được nguyên lý này, không chỉ bằng cách hồi tưởng lại, mà là ngay trong khi chúng ta đang trải qua những khó khăn. Bằng cách này, chúng ta giữ được trạng thái quân bình giữa sự hỗn loạn. Khi bạn nhớ rằng mọi việc đều đến và đi, bạn giữ được cách nhìn của mình, một tâm hồn rộng mở, và thậm chí cả một tính khí khôi hài, vui vẻ trong mọi giai đoạn của đời mình.
     Tôi khuyến khích bạn tự nhắc nhở mình câu ngạn ngữ này mỗi khi bạn cảm thấy bực dọc, căng thẳng hay khó chịu, cũng như trong lúc bạn trải qua những giai đoạn cực kỳ khó khăn. Cuộc sống rất ngắn ngủi. Con cái chúng ta nhỏ dại, rồi trưởng thành. Bản thân chúng ta trẻ khỏe, rồi già yếu. Chúng ta sẽ đi qua tất cả những điều đó. Cách tốt nhất và hiệu quả nhất để duy trì một tâm hồn tươi đẹp và giữ cho chính mình không rơi vào cảm giác quá sức chịu đựng là luôn nhớ rằng, mọi việc – kể cả những việc rất khó khăn – rồi đều sẽ qua đi.
     Trích từ sách:
Đừng mất thời gian vì những điều vụn vặt ( Don’t Sweat the Small Stuff with your Family)
                                                                    Richard Carlson
                                                          Biên dịch : Nguyễn Minh Tiến


 


 
 

Chủ Nhật, 8 tháng 12, 2013

PHẬT TRI KIẾN





   

                                        NGỘ NHẬP TRI KIẾN PHẬT

.  “PHẬT TRI KIẾN” hay “TRI KIẾN PHẬT” nói nôm na là năng lực hiểu biết của Phật. Sự hiểu biết cao tột không thể nghĩ bàn nầy của Phật, chỉ có Phật với Phật mới thể hội, thông đạt với nhau mà thôi!. Tri Kiến Phật là tên khác của Chơn Tâm, Phật Tánh, Pháp Thân, Chân Như, Bản Lai Diện Mục, Ông Chủ, Tự Kỹ, Vô Sư Trí, Yêm Ma La Thức, và Bạch Tịnh Thức v.v... có nhiều tên lắm. Cũng nhờ Kinh nói: “Nhứt thiết chúng sanh giai hửu Phật Tánh”(=Tất cả chúng sanh đều có Phật Tánh) nên chúng ta mới Tin, mới Biết rằng mình cũng có “TRI KIẾN PHẬT” không khác Đức TỪ PHỤ chút nào. Nhưng, khổ một nổi TIN hay BIẾT mình có TRI KIẾN PHẬT là một chuyện, còn có được như thực “NGỘ NHẬP TRI KIẾN PHẬT” hay không lại là một chuyện khác!. Cho nên, hình ảnh anh chàng cùng tử trong Kinh Pháp Hoa có viên ngọc quí trong chéo áo, mà lại đi ăn xin, ăn mày rày đây mai đó, có phải chăng đó là hình ảnh của chính chúng ta hiện nay!?
  Đọc tụng Kinh PHÁP HOA tới phẩm “HIỆN THÁP BÁU” chúng ta thấy Đức THẾ TÔN bảo Ngài ĐẠI NHẠO THUYẾT BỒ TÁT: "Trong tháp báu nầy có tòan thân NHƯ LAI...”. Bấy giờ, do thần lực của Đức NHƯ LAI Ngài ĐẠI NHẠO THUYẾT BỒ TÁT bạch Phật rằng : “Chúng con nguyện muốn thấy thân của Đức Phật đó. (=Phật ĐA BẢO hay Pháp thân). Nói cách khác là muốn Ngộ “TRI KIẾN PHẬT”.

                                                         ___________________

                                                                     Dấu chấm đen trên tờ giấy trắng 
....Tôi lớn lên như bao chàng trai khác, vẫn hỷ nộ ái ố cuộc đời; biết yêu, biết ghét, biết giận, nhưng chưa bao giờ tôi biết tha thứ cho lỗi lầm của ai và … tôi nhìn cuộc đời, nhìn mọi người bằng lăng kính của riêng mình ! Tôi có cái nhìn rất tinh tế nên tôi dễ nhận ra những điểm không tốt của người đối diện mình và cũng chính vì thế khiến tôi không có bạn nhiều.
    Tôi quý mến tất cả, nhưng tôi không tha thứ cho ai dù vô tình hay cố ý chơi không đẹp với mình, và tôi sẽ tìm cách đối xử lại như chính họ đã làm với tôi …. Có thể như thế mà tôi trở thành người khó tánh nhất xóm.
    Và một ngày…. Mọi suy nghĩ của tôi thay đổi hết khi một vị Sư về trú tại chùa.
Xóm tôi có một ngôi chùa nhỏ nằm chơi vơi giữa đồng. Ngôi chùa nền đất vách lá ngày ngày chỉ có một vị sư già trông coi. Ngoài việc làm đồng áng, trông coi mảnh vườn và sau những giờ học tôi rất thích đến ngôi chùa này. Giữa không gian yên tỉnh, tiếng chuông, tiếng mõ, hòa cùng tiếng tụng kinh của Sư âm vọng giữa không gian tĩnh mịch, khiến lòng tôi yên bình lắm.
     Một hôm có một vị sư trẻ về trú tại chùa. Vị sư trẻ có một đôi mắt sáng, sáng đến nỗi bạn có thể soi đường trong bóng đêm và thầy có một nụ cười rất hiền, nụ cười chứa đựng niềm hạnh phúc vô biên.  
 Tôi thích nói chuyện với thầy, vì ở Thầy tôi không tìm thấy được điểm xấu nào. Như hiểu được mọi suy nghĩ trong đầu tôi, một hôm sau buổi tan trường tôi không về nhà mà chạy thẳng vào chùa để được tụng kinh cùng Thầy khi Thầy cúng chiều.    Tôi yên lặng lắng nghe từng lời Thầy tụng vì thầy có một giọng tụng rất hay như cuốn hút lòng người vào từng lời kinh, lời chú nguyện của thầy khi thầy cúng thí thực.   Sau thời kinh, khi mà thầy đã yên vị tọa cụ, Thầy nắm tay tôi dẫn ra sau vườn ngồi vào chiếc bàn gỗ. Thầy rót cho tôi một tách trà nhạt, rồi Thầy hỏi tôi:
- Con có nhiều bạn không, sao trẻ em trong xóm thì nhiều mà chỉ mình con vào chùa, mấy em đó đâu sao không đi cùng con?
- Dạ không, con không có bạn nhiều vì họ ai cũng xấu !
- Sao con nghĩ vậy ? Thầy hỏi với vẻ ngạc nhiên
- Vì họ chửi thề, họ hổn hào, họ lười học, họ lười suy nghĩ.  
 Thầy xoa đầu tôi cười rồi nói: 
- Để Thầy chỉ cho con điều này .
Rồi Thầy lấy ra một tờ giấy trắng, giấy trắng học trò, Thầy dùng bút lông nhỏ lên tờ giấy một chấm đen thật đen; Thầy giơ tờ giấy lên và hỏi:
- Con có thấy gì không?
Tôi nhanh miệng đáp mà không cần suy nghĩ:
- Dạ bạch Thầy một chấm đen ạ.
Thầy cười hỏi lại: Con nhìn rõ chưa nè?
  Dạ con nhìn thật rõ rồi, bạch Thầy - Tôi khẳng định lại
   Thầy cười tươi, nụ cười hiền hòa như chứa đựng cả tam thiên niềm an lạc vô biên:
Sao con chỉ nhìn thấy chấm đen nhỏ trên tờ giấy trắng mà không nhìn thấy tờ giấy lớn trắng tinh thầy đang cầm? 
   Tôi lặng im không nói được lời nào.  
 Thầy tiếp: Con người cũng vậy, không ai là hoàn thiện, cho nên Đức Phật mới thị hiện cõi đời này để giúp chúng sanh hoàn thiện tâm mình, giúp chúng sanh thánh thiện hơn, đạt được phật tánh (ngộ nhập Phật tri kiến) vì thể tánh chúng sanh và Phật không khác, chúng sanh cũng sẽ là những vị Phật của tương lai (ta là Phật đã thành, chúng sanh là Phật sẽ thành). Nếu con chỉ chầm chầm nhìn vào cái xấu của họ, con sẽ bỏ lỡ nhiều điểm tốt của họ, cũng như con chỉ nhìn thấy chấm đen trên tờ giấy trắng mà không nhìn thấy được tờ giấy trắng có chứa chấm đen nhỏ! Nếu con nhìn thấy điểm tốt của họ, con sẽ thấy ai cũng đáng yêu, ai cũng đáng kính cả, đó là tâm Phật trong mỗi con người luôn hiện hữu.
    Niềm an lạc, sự yêu mến không phải người khác ban phát cho con mà chính con phải tạo ra nó...


                                                                    Nguồn Internet

 

 

Thứ Năm, 5 tháng 12, 2013

CÁI BÁT GỖ

 
                                         Cái bát gỗ
     Có một người đàn ông già ốm yếu chuyển đến sống cùng với người con trai, con dâu và một cháu trai bốn tuổi. Ông đã quá già nên bàn tay ông run run, mắt thì mờ và những bước đi loạng choạng.
     Một hôm cả nhà cùng nhau ăn bữa tối nhưng bàn tay người cha già run rẩy nên rất khó khăn trong việc ăn uống, ông đã làm rơi vãi thức ăn xuống sàn. Khi ông cố cầm lấy chiếc cốc thì sữa lại sóng sánh ra khăn trải bàn.
    Người con trai và người con dâu bắt đầu trở nên khó chịu với tình trạng bừa bộn của ông. Người con trai bèn nói với vợ: "Chúng ta phải làm cái gì đó cho cha, tôi chịu đựng quá đủ những thứ như sữa tràn ra ngoài, tiếng loảng xoảng trong ăn uống và thức ăn rơi xuống sàn rồi". Thế rồi vợ chồng người con liền để một chiếc bàn nhỏ ở góc nhà.
   Vậy là từ đó người cha già ăn một mình ở chiếc bàn nhỏ trong khi cả nhà vui vẻ bên chiếc bàn lớn. Ông lại làm vỡ chiếc đĩa của mình mấy lần và người con lại chuyển cho ông sang chiếc bát gỗ để đựng thức ăn. Họ chỉ nhìn lướt qua ông rồi lại vui vẻ trò chuyện với nhau, mặc cho những giọt nước mắt ứ đọng trong đôi mắt người cha khi ông ngồi ăn một mình. Thỉnh thoảng họ lại càu nhàu khiển trách ông mỗi lần ông làm rơi thìa hay thức ăn ra ngoài. Chỉ riêng đứa con trai bốn tuổi của họ thì im lặng theo dõi tất cả.
   Vào một buổi tối trước bữa ăn, người cha chú ý đứa con nhỏ của mình đang nghịch những mảnh gỗ trên sàn. Anh ta ấu yếm hỏi đứa trẻ:
   - Con đang làm gì vậy?
    Đứa trẻ mỉm cười trả lời:
   - Con đang làm những chiếc bát gỗ nhỏ để cha mẹ đựng thức ăn khi sau này cha mẹ về già.
   Đứa trẻ tiếp tục mỉm cười nhìn cha rồi nhanh chóng quay trở lại công việc dở dang của nó. Câu trả lời của đứa trẻ khiến bố mẹ nó sững sờ.
    Nước mắt bắt đầu lăn trên má họ. Mặc dù không có một lời nào được thốt ra nhưng họ biết họ cần phải làm gì. Bữa tối hôm đó người chồng cầm lấy bàn tay của ông cụ và dịu dàng dắt ông ra bàn ăn cùng mọi người.
    Từ đó người cha già lại bắt đầu cùng ngồi ăn với con cái và đứa cháu nhỏ. Vợ chồng người con cũng không còn để ý đến những chuyện như chiếc thìa bị rơi, sữa đổ ra ngoài hay chiếc khăn trải bàn bị bẩn nữa.
    Trẻ con có những cảm nhận rất ngây thơ nhưng lại đáng chú ý cho chúng ta học hỏi. Chúng quan sát bằng mắt, chúng lắng nghe bằng đôi tai và tư duy của chúng được hình thành khi tiếp nhận những thông điệp từ người lớn.
    Nếu chúng nhìn thấy chúng ta đang cố gắng tạo dựng một bầu không khí gia đình ấm ấp và đầy yêu thương cho những thành viên trong nhà, chúng sẽ học theo thái độ đó cho cuộc sống của chúng khi lớn lên. Các bậc cha mẹ nên biết rằng từng cử chỉ nhỏ bé thôi cũng sẽ tạo nên nhân cách tương lai của đứa trẻ.
    Hãy bắt đầu xây dựng cho trẻ từ những viên gạch nhỏ của yêu thương ngay từ bây giờ, ngay ngày hôm nay và mỗi ngày đều như vậy
                                                                                 Nguồn Internet