Thứ Sáu, 16 tháng 5, 2014

BỆNH GOUT ĐẾN TỪ ĐÂU?

  Bệnh gout nằm trong nhóm bệnh lắng tụ tinh thể (crystalline deposition disease). Acide urique là thủ phạm


  Cụ thể ở bệnh này là lắng tụ tinh thể monosodium urate ở bao khớp, gân do tình trạng acide urique tăng cao trong máu… gây ra các đợt viêm khớp ngoại biên tức là viêm các khớp chân tay đặc biệt hay xảy ra ở ngón chân cái.
   Tình trạng viêm này là do các con bạch cầu được ví như các lính chiến đấu trong cơ thể đi dọn dẹp các tinh thể này.
Tình trạng viêm này có thể tái đi tái lại nhiều lần gây ra biến dạng khớp nếu không điều trị. Không phải tất cả những người có acide urique cao trong máu là bị cơn gout, tuy nhiên nếu nồng độ acide urique trong máu cao và kéo dài càng lâu thì càng có nguy cơ bị gout.
  Thế tại sao lại bị tăng acide urique trong máu? Đó là do thận không thải được acide urique hoặc do cơ thể tạo ra quá nhiều (do ăn uống, do bịnh lý như ung thư máu dạng lim phôm, thiếu máu tán huyết, vảy nến.. ) hoặc do bất thường trong chu trình tạo ra acide này.

  Bệnh sẽ biểu hiện bằng các cơn đau ở các khớp, khớp có thể bị sưng to đỏ có thể có nước trong khớp đặc biệt là ngón chân cái (khớp bàn ngón) hay bị nhất, tuy nhiên các khớp khác đều có thể bị. Cơn đau rất nặng được mô tả dữ dội và nhiều khi bệnh nhân không dám đắp mền vì chỉ cần chạm nhẹ vào cũng gây ra cơn đau dữ dội.
   Cơn gout hay xảy ra sau 1 chấn thương nhẹ, sau bữa nhậu linh đình. Cơn gout có thể xảy ra vài ngày hoặc vài tuần và có thể tự bớt, nhưng nếu không điều trị những cơn này sẽ xuất hiện thường hơn và gây ra biến dạng hủy khớp gây tàn phế.
   Làm sao để chẩn đoán bệnh gout?

  - Các BS sẽ cho bệnh nhân đi thử nồng độ acide urique trong máu và tùy theo thông số của mỗi loại máy thử mà cho các con số khác nhau, bình thường nhỏ hơn 7mg/dL
  Tuy nhiên cơn gout khá đặc biệt nên đôi khi có thể chẩn đoán qua hỏi bệnh sử và khám bệnh nhân vì nồng độ acide urique trong máu cao giúp chẩn đoán nhưng không chuyên biệt. Nếu lấy dịch khớp đem soi dưới kính hiển vi để thấy các tinh thể urate hình kim là chắc chắn nhất nhưng ít được làm vì nhiều  lý do khác nhau.
 - Chụp x ray khớp cho thấy hình ảnh tổn thương xương dưới sụn.
   Bệnh tiến triển ra sao và có thể chữa khỏi hay không?
   Thường thì cơn gout có thể bị đẩy lui bằng các thuốc hiện có và nếu bệnh nhân chịu theo cuộc điều trị và chấp nhận ăn kiêng thì có thể ngăn chặn được bệnh nhưng nên nhớ rằng đây là loại bệnh không thể chữa dứt, nghĩa là bệnh nhân phải chấp nhận chế độ ăn kiêng và theo dõi bệnh suốt đời.


Nếu không điều trị hoặc để cơn gout xảy ra nhiều lần sẽ gây hủy khớp gây tàn phế, lúc đó cần đến các phẫu thuật tái tạo lại khớp. Khoảng 20 % bệnh nhân bị gout bị sỏi thận do chính tinh thể urate lắng tụ gây ra sỏi làm tắc nghẽn đường tiết niệu có thể gây suy chức năng thận, nhiễm trùng tiểu… có thể gây ảnh hưởng đến tính mạng. một số bệnh nhân có các cục ở dưới da như vùng khuỷu, mắt cá .. gọi là cục tophi là do lắng tụ tinh thể urate khi bể ra làm chảy ra 1 chất bột trắng giống như phấn.
Vai trò của nội soi khớp là làm sạch khớp, cắt bớt bao hoạt dịch c=E 1a khớp khi bị viêm nhiều lần gây dày, hạn chế vận động của khớp. Một khi Khớp bị hư hoàn toàn thì có thể thay khớp bằng khớp nhân tạo.
                                                                 BS Tăng Hà Nam Anh

                 Chế độ dinh dưỡng cho người bị bệnh gout



   I. Những thức ăn và đồ uống không có lợi cho người bị bệnh gout :


    1. Thức ăn :
  Kiêng tuyệt đối những thực phẩm giàu đạm có gốc Purin như : Hải sản, các loại thịt có màu đỏ như : Thịt trâu, bò, ngựa, thịt dê, thịt thú rừng…; Phủ tạng động vật như : Lưỡi, lòng, tim, gan, thận, óc…; Trứng gia cầm nói chung, nhất là các loại trứng đang phát triển thành phôi như trứng vịt lộn…
   Giảm bớt những thực phẩm giàu đạm khác trong khẩu phần ăn như :
+ Đạm động vật nói chung như: Thịt lợn, thịt chó, thịt gà, thịt vịt…; Cá và các loại thủy sản như: lươn, ếch…
+ Đạm thực vật: Đậu hạt nói chung nhất là các loại đậu ăn cả hạt như : đậu Hà Lan, đậu trắng, đậu đỏ, đậu xanh…, Các chế phẩm từ đậu nành như : Đậu phụ, sữa đậu nành, tào phớ… nhìn chung ít làm tăng acid uric hơn các loại đậu chưa chế biến.
    Kiêng tất cả các loại thực phẩm có tốc độ tăng trưởng nhanh như : Măng tre, măng trúc, măng tây, nấm, giá, bạc hà (dọc mùng) vì sẽ làm gia tăng tốc độ tổng hợp acid uric trong cơ thể. Giảm các thực phẩm giàu chất béo no như : Mỡ, da động vật, thức ăn chiên, quay, thực phẩm chế biến với các chất béo no như: Mì tôm, thức ăn nhanh.
   Bệnh nhân có tầm vóc trung bình 50 kg không nên ăn quá 100g thực phẩm giàu đạm mỗi ngày
     2.Đồ uống :
Tuyệt đối không uống bất kỳ một dạng chất cồn nào như : Rượu, bia, cơm rượu, nếp than…Hạn chế đồ uống có gaz, nước uống ngọt nhiều đường vì sẽ làm tăng nguy cơ béo phì, một trong những yếu tố tăng nặng bệnh gout.
   Giảm các đồ uống có tính toan như : nước cam, chanh, nước trái cây giàu vitamin C vì làm tăng nguy cơ kết tinh urate ở ống thận, tăng nguy cơ sỏi thận.
 II. Những thức ăn, đồ uống có lợi cho người bị bệnh gout:


    1,Thức ăn :
   Các thực phẩm giàu chất xơ nói chung như dưa leo, củ sắn, cà chua…giúp làm chậm quá trình hấp thu đạm, làm giảm thoái hoái biến đạm để sinh năng lượng nên giảm sự hình thành acid uric. Ngoài ra, Rau Tía Tô cũng là thuốc trị bịnh Gout rất hiệu nghiệm nữa - Mỗi ngày ăn cơm 2 lần sáng và chiều đều phải có lá Tía Tô ăn như rau sống. Lúc nào cũng có Tía Tô sẵn trong nhà. – Khi cãm thấy sắp bị sưng chân là nhai nuốt nhiều lá Tía Tô liền. – Nếu đang bị lên cơn đau thì nấu 1 bó lá Tía Tô để uống thì sẽ giảm đau ngay trong vòng 1/2 tiếng.

   2, Đồ uống :
Nên uống nhiều nước (tối thiểu 2,5 đến 3 lít nước mỗi ngày).
Nên uống nước khoáng không ga có độ kiềm cao giúp tăng đào thải acid uric và hạn chế sự kết tinh urate tại ống thận, làm giảm nguy cơ sỏi thận.
                                                            Trich  Email của anh QuangNgo@.....

Thứ Năm, 15 tháng 5, 2014

THÁI ĐỘ CỦA NGƯỜI TU TẬP PHẬT GIÁO TRƯỚC SỰ ĐAU ĐỚN TRÊN THỂ XÁC VÀ CÁC NỖI ĐAU BUỒN TRONG CUỘC SỐNG

   Một hôm có người nói với tôi rằng: "Là một nhà sư tất nhiên là ông hành thiền đều đặn và sống đạo đức nên nhờ đó ông sẽ không bao giờ ốm đau". Người ta cứ tưởng rằng hễ là một người tu hành thì sẽ không đau ốm và không bao giờ chết! Thế nhưng đối với một nhà sư hay một người thế tục thì cũng như nhau cả, thỉnh thoảng ốm đau là chuyện bình thường. Tuy nhiên đối với trường hợp một nhà sư thì mọi sự có khác hơn, bởi vì người này có cả một lô các phương pháp luyện tập giúp mình chủ động sự đau đớn trên thân xác và cả các khó khăn trong cuộc sống. 

Ajahn Brahmavamso Mahathera (1951-...)
Lời giới thiệu của người dịch:
             Bài thuyết giảng dưới đây của nhà sư Ajahn Brahmavamso Mahathera là một trong loạt những bài viết về chủ đề "Quan điểm của Phật Giáo đối với sự đau đớn và bệnh tật". Các bài trước đây là:
          - Đức Phật thuyết giảng về sự đau đớn (Kinh Sallata Sutta)
            - Cái chết là một thứ bệnh ung thư (Ajahn Liem)
            - Y khoa cũng chỉ là phép luyện đan (Dilgo Khyentsé Rinpoché)
            - Không nên trì hoãn sang ngày hôm sau (Eihei Dogen)
  Nhà sư Ajahn Brahmavamso Mahathera còn được các người chung quanh gọi tắt một cách thân mật là Ajahn Brahm, tên thế tục là Peter Betts, sinh năm 1951 tại Luân Đôn trong một gia đình nghèo. Ông đỗ tiến sĩ về Vật Lý Lý Thuyết năm 1960 khi mới 19 tuổi, tại đại học Cambrigde, là một trong các đại học danh tiếng nhất của nước Anh. Sau khi ra trường ông dạy học được một năm và sau đó nhân một chuyến viếng thăm Thái Lan ông biết được Phật Giáo và xin xuất gia. Năm 23 tuổi ông được thụ phong tỳ kheo tại ngôi chùa đồ sộ và nguy nga Wat Saket ở Bangkok. Sau đó tình cờ ông gặp được nhà sư nổi tiếng của Thái Lan thời bấy giờ là Ajahn Chah Bodhinyana Mahathera và đã trở thành đệ tử của nhà sư này.
  Sau chín năm tu học thật khắc khổ theo truyền thống "Tu Trong Rừng" với nhà sư Ajahn Chah trong một khu rừng trên miền bắc Thái, ông được Hiệp Hội Phật Giáo Miền Tây Úc Châu (Buddhist Society of Western Australia) đặt trụ sở ở thành phố Perth mời làm phụ tá cho nhà sư Ajahn Jagaro. Một năm sau thì nhà sư này xin rút lui và nhường chức chủ tịch cho ông. Ajahn Brahm vận động, quyên góp và xây được một ngôi chùa trên một thửa đất rộng 393 000 m² trong công viên quốc gia Serpentine thuộc vùng phía nam thành phố Perth. Ngôi chùa mang tên là Bodhinyana là tên của thầy ông và đã quy tụ được một tăng đoàn đông đảo nhất nước Úc.
  Bài chuyển ngữ dưới đây được ông thuyết giảng ngày 2 tháng 6, năm 2006 tại giảng đường của Hiệp Hội Phật Giáo Miền Tây Úc Châu (Buddhist Society of Western Australia) với tựa đề Dealing with Painbản tiếng Pháp mang tựa là L'Attitude Bouddhiste face à la douleur do Luc Guillard dịch.
Bài giảng của nhà sư Ajahn Brahmavamso
   Tôi rời Singapore đến đây từ hôm qua và đang bị trúng thực. Suốt đêm hôm qua tôi ốm liệt giường, và ngay trong lúc này thì bao tử vẫn còn không tốt lắm. Cách nay không lâu có một người hỏi tôi như thế này: "Thái độ của người tu tập Phật Giáo trước sự đau đớn trên thân xác và các nỗi đau buồn trong cuộc sống nên là như thế nào?" Tôi nghĩ rằng câu hỏi ấy có thể là một chủ đề lý thú cho buổi nói chuyện tối hôm nay.
  Bàn thảo với nhau về sự đau đớn không hề mang tính cách tiêu cực, bởi vì dù mình là ai, sinh sống ra sao, và dù nghĩ rằng mình đang khoẻ mạnh, thế nhưng nhất định vào một ngày nào đó mình cũng sẽ ốm đau, phải chịu đựng sự đau đớn, hoặc gặp phải những cảnh huống đau buồn. Một hôm có người nói với tôi rằng: "Là một nhà sư tất nhiên là ông hành thiền đều đặn và sống đạo đức nên nhờ đó ông sẽ không bao giờ ốm đau". Người ta cứ tưởng rằng hễ là một người tu hành thì sẽ không đau ốm và không bao giờ chết! Thế nhưng đối với một nhà sư hay một người thế tục thì cũng như nhau cả, thỉnh thoảng ốm đau là chuyện bình thường. Tuy nhiên đối với trường hợp một nhà sư thì mọi sự có khác hơn, bởi vì người này có cả một lô các phương pháp luyện tập giúp mình chủ động sự đau đớn trên thân xác và cả các khó khăn trong cuộc sống. Do đó sự đau đớn nhất định sẽ không mang lại cho chúng ta (Ajahn Brahm xem những người ngồi nghe đều là những người tu hành như mình và ông đã gọi chung tất cả là "chúng ta") cảm tính tiêu cực hay một sự trầm cảm nào, hơn thế nữa đau đớn dù có xảy ra cũng sẽ là một dịp giúp chúng ta tập chủ động nó, vượt lên trên nó và thoát ra khỏi nó - chẳng hạn như chúng ta vẫn cảm thấy khoẻ mạnh nhưng bao tử thì có thể là đang quặn đau!
Đức Phật đã thuyết giảng như thế nào về sự đau đớn? Ngài bảo rằng sự bất an của chúng ta gồm có hai thể dạng khác nhau - theo tôi thì sự khẳng định này chính là một trong các chiếc chìa khóa quan trọng nhất trong giáo huấn của Ngài, giúp chúng ta hiểu được sự đau đớn là gì và phải làm thế nào để thoát ra khỏi nó. Ngài dạy rằng sự đau đớn gồm có hai thứ: một trên thân xác và một trong tâm thần; đối với sự đau đớn trên thân xác thì khó có thể làm làm gì khác hơn, thế nhưng đối với sự đau đớn trong tâm thần thì trái lại người ta có thể biến cải được nó, và đấy cũng lại là thể dạng đau đớn quan trọng hơn cả. Thật vậy, thái độ tâm thần đôi khi rất mạnh và có thể làm cho sự đau đớn trên thân xác hoàn toàn tan biến hết. Tôi nghĩ rằng quý vị cũng đã từng được nghe nói đến trường hợp của các lực sĩ dù bị thương nhưng vẫn tiếp tục tranh đua, rồi sau đó thì mới cảm thấy đau và biết là mình đã bị gẫy xương chân hay xương tay. Các trường hợp như thế cũng đã từng xảy ra với tôi nhiều lần trong cuộc sống, và cũng chính nhờ đó mà tôi hiểu rằng tâm thần có thể tạo ra các tác động rất mạnh, và cường độ của sự đau đớn trên thân xác thì tùy thuộc rất nhiều vào thái độ [tâm thần] của mình.
  Lúc còn là sinh viên, một lần tôi bị cảm thật nặng. Không sao đến trường được, phải giam mình trong gian phòng sinh viên, tôi cảm thấy cơn bệnh thật gay gắt. Bên cạnh chẳng có ai chăm sóc; không ngủ được và cũng không ngồi lên được... Bất ngờ có một người gõ cửa và thúc hối: "Mở cửa! Mở cửa!". Tôi đành phải gượng dây và lết ra mở cửa. Hóa ra là một người giao hàng mang đến cho tôi một giàn âm thanh nổi mà tôi đã đặt mua từ trước. Tôi đặt ngay vào máy một đĩa nhạc mà tôi ưa thích nhất, và chỉ nửa giờ sau - quả thật hết sức bất ngờ - bệnh cảm của tôi biến mất! Nửa giờ trước đó, hai mắt còn cay xè, vừa ho lại vừa nghẹt mũi..., thế nhưng sau khi nghe xong đĩa nhạc thì tất cả các triệu chứng ấy đều hoàn toàn biến mất, tôi đã khỏi bệnh! Chuyện ấy không nhất thiết là một phép lạ, mà đơn giản chỉ là một cái gì đó trong tâm thức tôi đã biến đổi khác đi. Tôi không hề ngụ ý khuyên quý vị cứ nghe một đĩa nhạc mà quý vị ưa thích thì bệnh cúm mà quý vị có thể gặp phải sau này tất sẽ được chữa lành (!) - mà đúng hơn tôi chỉ muốn nói là một sự thay đổi thái độ [tâm thần] có thể chữa lành cho quý vị. Thành phần tâm thần của sự đau đớn là thành phần quan trọng hơn cả. Mỗi khi cảm nhận một sự đau đớn thì thông thường người ta dồn tất cả sự chú tâm của mình vào chỗ ấy và bám chặt vào đấy. Tôi tin rằng các bác sĩ chữa trị đều biết chúng ta thường hay thổi phồng một cách quá đáng sự đau đớn của mình. Sự đau đớn tất nhiên phát sinh từ nội tâm, thế nhưng nếu cứ làm cho các thớ thịt chung quanh chỗ đau căng thẳng thêm thì cũng chỉ là cách khiến cho sự chấn thương càng gia tăng thêm mà thôi. Thông thường chỉ cần phát huy một thái độ cởi mở và tạo ra sự thư giãn thì cũng đủ để khiến cho sự đau đớn trên thân xác giảm xuống một cách đáng kể. Do đó nếu càng tìm cách chống lại sự đau đớn thì lại càng làm gia tăng thêm tính cách tiêu cực của nó. Nếu chúng ta thét lên với sự đau đớn: "Hãy cút đi! không được dây dưa ở đây nữa", thì nó lại càng trở nên gay gắt hơn và trở thành một sức mạnh bất khả trị và không sao kham nổi.
  Với tư cách một nhà sư Phật Giáo tôi luôn phản ứng ngược lại với cách hành xử thường tình. Thông thường mỗi khi bị đau đớn hành hạ thì người ta tìm cách thoát ra khỏi nó. Khi ngón tay bị bỏng thì tự động người ta rút tay ra khỏi chỗ nóng; hoặc nếu bị muỗi đốt thì gãi. Dù là đối với bất cứ một sự khó khăn nào xảy ra thì người ta cũng đều hành xử theo cung cách đó, và thông thường thì đấy cũng chỉ là cách khiến cho tình trạng đau đớn trở nên tồi tệ hơn. Trong cuộc sống, tôi không tìm cách tách ra khỏi sự đau đớn có nghĩa là trốn tránh các sự bất ổn trên thân xác hay trong tâm thần, mà tôi luôn hành xử ngược lại. Nếu biết hướng tâm thức mình một cách thật tự nhiên vào sự đau đớn và không hối hả tìm cách lẩn tránh nó, thì tâm thức cũng sẽ trở nên thân thiện hơn với sự đau đớn ấy và không tìm cách chống lại nó. Tâm thức sẽ làm quen với nó thay vì hận thù nó. Đấy là nguyên tắc căn bản mà quý vị nên đem ra áp dụng trong cuộc sống của mình: hãy mang lại hòa bình và chớ bao giờ gây ra chiến tranh. Hãy tỏ ra mình là một người hiếu hòa, không những đối với tình trạng gây hấn trên thế giới mà cả với cuộc chiến mà mình đang dàn ra để đối đầu với hiện thực trong cuộc sống của chính mình; đấy là cuộc chiến mà quý vị đang bung ra để chống lại đớn đau, bệnh tật, và đôi khi cũng để chống lại các vấn đề khó khăn xảy ra bên trong tâm thần mình hay bên ngoài xã hội (quả là một lời khuyên thật đẹp: nếu không đủ sức hiếu hòa với những sự bất toại nguyện tức là các kẻ thù thật nhỏ nhoi trên thân xác và trong tâm thức mình thì làm thế nào có thể mang lại hòa bình trên toàn thế giới đươc). Chúng ta tuyên chiến với tất cả những thứ ấy: "Mọi sự không được phép xảy ra như thế..., Không thể để cho chuyện ấy xảy ra như thế được, tôi phải giải quyết ngay mới được... Này đau đớn, ta cấm mi không được lẩn quẩn nơi này nhé! Này bệnh tật, mi phải cút đi ngay! Này căng thẳng thần kinh, mi phải tan biến đi tức khắc!" Chính thái độ tiêu cực đó sẽ nuôi dưỡng và làm gia tăng thêm sự đau đớn. Thế nhưng cũng có một giải pháp khác: "Đau đớn đấy à, xin chào đón bạn! Cám ơn bạn đã đến với tôi, cho tôi được tỏ bày tình thân với bạn. Đau đớn ơi, tôi quý trọng bạn như một người bạn chân tình nhất của tôi".
  Tôi tập cách hành xử đó từ khi còn là một tỳ kheo trẻ ở Thái Lan. Cuộc sống bên cạnh thầy tôi là Ajahn Chah thật hết sức gay go. Thầy tôi không bao giờ cho phép một tỳ kheo hơi tí đã kêu đau! Chúng tôi sống trong một ngôi chùa trong một khu rừng trên miền bắc Thái, khí hậu thật nóng bức và ẩm ướt. Khổ nhất là muỗi quá nhiều - không biết bao nhiêu là muỗi! Mỗi tối sau khi mặt trời lặn thì phải ngồi thiền dưới một gốc cây, và mỗi khi ngồi xuống thì cứ như là cắm một tấm biển với hàng chữ "Nhà hàng ăn mở cửa". Những chiếc đầu trọc nhẵn thín của chúng tôi là những sân bay thật thuận tiện cho đàn muỗi hạ cánh! Dường như chúng biết được chúng tôi là những người phi-bạo-lực và sẽ không đập bẹp chúng như những người khác, nên cứ thế mà chúng tha hồ! Tôi là một trong số các tỳ kheo Tây Phương đầu tiên tu học ở đây, do đó đàn muỗi cũng tự do thưởng thức món ăn Tây Phương (mỉm cười). Tôi đoan chắc rằng chúng không khỏi kháo nhau rằng "Này, cứ đến khu rừng ấy thì sẽ nếm được món ăn Tây Phương!" (mỉm cười).
  Thật hết sức khủng khiếp. Một hôm tôi đếm trên cánh tay tôi có đến hơn năm mươi con muỗi - tôi không nói ngoa! Chỉ cần một con muỗi thôi cũng đủ làm cho mình ngứa ngáy, nếu năm mươi hay sáu mươi con muỗi đốt mình một lúc thì hãy cứ tưởng tượng xem tình trạng sẽ căng thẳng đến mức độ nào! Không có gì che thân, không có màn cũng không có kem thoa cho đỡ ngứa... Các tỳ kheo Thái Lan hầu như không hề bị muỗi đốt, trong khi đó thì đàn muỗi cứ tìm những người Tây Phương chúng tôi mà tha hồ thưởng thức. Một hôm chúng tôi kéo nhau đến tìm vị thầy chúng tôi là Ajahn Chah để xin đổi giờ hành thiền hầu tránh muỗi đốt. Thầy chúng tôi trả lời ngắn gọn bằng cách nhắc lại cho chúng tôi về ý nghĩa của chữ "ajahn" là gì - có nghĩa là người thầy hay là người giảng dạy - và bảo với chúng tôi rằng: "Kể từ giờ phút này các bạn đã có một người thầy mới là Ajahn Muỗi, nên nhớ rằng người giảng dạy cho các bạn trước đây là Ajahn Chah nay không còn phải là thầy của các bạn nữa". Thật là một bài học tuyệt vời cho tất cả chúng tôi! Và cứ thế chúng tôi phải tu học với Ajahn Muỗi... Thế nhưng đấy cũng lại là cách giúp chúng tôi thu đạt được nhiều kinh nghiệm thực tiễn hơn so với sách vở, nơi trường ốc hay việc nghe giảng. Nếu muốn chủ động sự đau đớn hoặc các cảnh huống khó khăn thì phải học trong cuộc sống của chính mình. Phải hiểu rằng nếu càng lo âu thì lại càng khiến cho mình trở nên căng thẳng hơn và càng làm cho các khó khăn trở nên trầm trọng hơn. Nếu biết tạo ra cho mình một sự thư giãn thật sự hầu giúp mình buông xả tất cả, thì các khó khăn cũng sẽ biến mất.
  Những gì đã trở thành thói quen đối với tôi - và thật ra thì đấy cũng chính là cách đã giúp tôi hành thiền một cách đúng đắn - ấy là sự chú tâm vào hơi thở. Mỗi khi tập trung được sự chú tâm thì mình cũng sẽ không còn cảm thấy lo lắng hay suy nghĩ đến các chuyện khác nữa; trái lại mỗi khi tâm thức đánh mất sự chú tâm thì tức khắc sự đau đớn và các chứng đau đầu (các sự suy nghĩ và lo sợ) sẽ hiện ra. Sau một thời gian tập luyện thiền định, tôi học được phép lắng sâu vào một thể dạng mà mình không còn cảm nhận được thân xác của mình nữa mà chỉ duy nhất cảm thấy một sự an bình tỏa rộng. Sau khi vừa xuất ra khỏi thể dạng lắng sâu ấy thì tôi nhận thấy một hiện tượng khá bất ngờ: dường như đàn muỗi bám trên hai cánh tay tôi đều ngủ say, bởi vì chẳng có một con nào đốt tôi nữa.

Thứ Ba, 13 tháng 5, 2014

HÃY ĐỂ TÂM AN TĨNH



   Hôm ấy đạo sư có việc ở làng quê hẻo lánh và đưa đệ tử đi theo. Cả hai đều cuốc bộ. Dọc đường, đạo sư bảo đệ tử tạm nghỉ chân dưới một tàn cây xanh um, như cái dù lớn che nắng trưa chói chang. Cách đó xa xa là một dòng suối nhỏ chắn ngang.
  Đạo sư bảo : “ Thầy khát. Nhờ con lấy dùm thầy chút nước.
Đệ tử mau mắn xách vò, thoăn thoắt bước tới con suối. Đến nơi, anh tần ngần nhìn dòng nước, rồi nhìn sang bên bờ kia. Bắt gặp một đàn bò còn ướt lông, hiểu ra cớ sự, anh quay lại gặp sư phụ, bộc bạch : “Thưa thầy, người ta mới vừa dắt bò qua suối. Nước bị quậy lên đục ngầu nên con không dám…”
  Đạo sư ôn tồn : “ Được con. Vậy mình chờ một chút”.
Khoảng mười lăm phút sau, đạo sư bảo : “Lấy nước đi con!”
Đệ tử sốt sắng xách vò trở lại bờ suối. Anh thấy nước bớt đục hơn, nhưng vẫn chưa thể dùng được. Lập tức quay về chỗ sư phụ, anh áy náy nói :
“Thưa thầy, cũng chưa uống được đâu ạ.”
  Đạo sư mỉm cười : “Không sao, con. Mình chờ thêm một chút nữa.”Rồi ngài xếp bằng, hai bàn tay để lên lòng, sửa dáng cho thẳng lưng, lim dim đôi mắt,  yên lặng dưỡng thân dưới bóng râm của tàn cây.
  Khoảng nửa giờ sau, đệ tử ấy trở lại bờ suối. Bây giờ nước đã trong veo, có thể nhìn thấu lớp sỏi dưới đáy. Anh rón rén bước xuống để khỏi khấy động,
 và cố lựa chỗ tốt nhất để múc đầy vò nước mát mang về dâng thầy.
  Đạo sư đón lấy cái vò, nhìn vào rồi bảo “Con xem. Làm thế nào con có được chỗ nước trong trẻo, mát ngọt này. Thật ra con chẳng làm gì cả. Con chỉ cần kiên nhẫn đợi cho cặn cáu có đủ thời gian để nó tự lắng xuống. Tâm con cũng thế. Khi tâm con nổi sóng, điên đảo, con đừng toan tính cách này cách kia để cố dẹp yên nó.
  Con hãy cho nó đủ thời gian để nó tự lắng xuống. Nên khi con giận ai,con đừng thèm nghĩ tới họ nữa, đừng ráng tranh cãi hơn thua. Con hãy hướng tư tưởng con sang việc khác. Tốt nhất là con làm thinh, giả mù, giả điếc và kiếm
một chỗ mà ngồi thở đều đặn, nhẹ nhàng. Con chỉ tập trung vào hơi thở mà thôi.”
  Đệ tử đáp: “Thưa thầy, nhưng thường đang lúc tâm trạng bất bình thì con lại không nhớ được cách để thoát ra !”
Đạo sư gật đầu : “Phải đó con. Thế nên chỉ sau khi phạm sai lầm xong rồi thì mình mới biết là mình sai lầm. Nhưng như thế vẫn còn khá hơn là không nhận ra sai lầm mình vừa mắc phải.
  Mỗi một trạng huống trong đời tu của con là một bài thi khảo sát trình độ tiến hóa tâm linh của con.
   Nhưng khi con ở vào trạng huống đó, thì con không hề nhớ là mình đang được thi,đang được thử thách. Đến khi kịp nhớ ra thì con đã thua mất rồi, thi rớt rồi !”

                                             Trích email của tonugiangtien2@......

Thứ Sáu, 9 tháng 5, 2014

KÍNH MỪNG PHẬT ĐẢN


Ý NGHĨA BẢY BƯỚC SEN 
   Hằng năm, cứ mỗi độ mùa Phật đản về – thì khắp nơi khắp chốn – ở đâu – hình ảnh đức Phật hiện hữu, ngự trị – ở đó không khí càng vui tươi, nhộn nhịp.   Đó là tất cả những người con Phật hân hoan đón mừng ngày Phật đản. Kỷ niệm Phật đản là tưởng nhớ, ôn lại và tri ân về sự ra đời vĩ đại của đức Phật.
  Nguyện vọng của tất cả chúng sinh là “muốn hạnh phúc, tránh đau khổ”. Sự mong mỏi hay xu hướng đến hạnh phúc và tránh đau khổ không hề có giới hạn. Đó là một sự kiện rất tự nhiên, và cũng rất chánh đáng. Sự hiện hữu đức Thích-ca-mâu-ni Thế Tôn trên quả đất này cách đây hai của mươi lăm thế kỷ – quả thật – cũng không ngoài mục đích đó của vạn loại chúng sinh.
  Là đệ tử của đức Phật, chắc hẳn ai trong chúng ta cũng đã hơn một lần được nghe sự giảng bày ý nghĩa về hình tượng bảy bước hoa sen. Bảy bước ấy là những bước chân trên con đường hạnh phúc, đưa đến hạnh phúc mỹ mãn, bất tận.
  Trong không khí trang nghiêm và thành kính cùng muôn vạn trái tim người con Phật – xin cùng chia sẻ với nhau, nhân mùa Phật đản, các ý nghĩa đã từng được nghe từ các bậc Thầy về những hình ảnh trong khung cảnh mà đức Từ phụ đản sinh – qua đó, chúng ta sẽ có thể hiểu được điều gì, giúp chúng ta trong đời sống nhằm có thêm phẩm chất hạnh phúc trong cuộc tồn sinh tương quan này.
  Kinh Ưu Bà Di Pháp Môn Tịnh Hạnh – phẩm Thuỵ Ứng kể rằng: “Sau khi mang thai đấng Đại thánh – gần đến ngày mãn nguyệt khai hoa, hoàng hậu Ma-gia theo phong tục trở về quê hương để sinh nở. Trên đường về, nghỉ chân ở một công viên xinh đẹp gọi là vườn Lâm-tỳ-ni, hoàng hậu khoan thai dạo bước trong vườn hưởng một bầu không khí trong lành, khỏe khoắn sau chặng đường dài mệt nhọc. Đến dưới một gốc Vô ưu, nhìn đoá Ưu-đàm ngàn năm một lần khoe sắc đưa hương – bất giác – hoàng hậu Ma-gia giơ cánh tay phải lên hái hoa – liền đó từ phía hông hữu – đức Phật đản sinh – nhẹ nhàng đi bảy bước trên bảy hoa sen, mỗi bước nhìn mỗi phương: 1, thị Đông phương giả, vị chư chúng sinh tác đạo sư cố; 2, thị Nam phương, vị chư chúng sinh tác lương phước điền cố; 3, thị Tây phương giả, ngã sinh dĩ tận thị tối hậu thân cố; 4, thị Bắc phương giả, ư nhất thiết chúng sinh, ngã đắc A-nậu-đa-la Tam-miệu-tam-bồ-đề cố; 5, thị Hạ phương giả, vị dục phá ma binh chủng linh kì thời tận cố; 6, thị Thượng phương giả, vị chư thiên nhân chi sở quy y cố; 7. Đến bước cuối cùng, một tay chỉ lên trời, một tay chỉ xuống đất và tuyên bố rằng: 'Thiên thượng thiên hạ duy ngã độc tôn'. Nói xong, chư thiên dâng hai dòng nước nóng lạnh tắm cho Ngài. Và Ngài trở lại như mọi đứa trẻ bình thường”.
  Hình ảnh đức Phật đản sinh và bảy bước hoa sen ấy là một biểu tượng rất ý nghĩa mà nhà Đại thừa mô tả sự đản sinh của đức Phật. Sự xuất hiện của một vị Phật – hay nói một cách rõ hơn, một chúng sinh từ thân phận phàm phu, muốn đạt đến quả vị Phật, phải trải qua lộ trình bảy bước hoa sen ấy.
  * Bước thứ nhất, nhìn về phương Đông, Ngài nói: "Thị Đông phương giả, vị chư chúng sinh tác đạo sư cố" (nhìn về phương Đông, vì các chúng sinh làm người dẫn đường tối thượng). Phương Đông là phương mặt trời mọc. Mặt trời biểu hiện cho ánh sáng của trí tuệ, của sự hiểu biết lớn. Đó là bao gồm toàn bộ hành trình hình thành một tri thức, xây dựng một Phàm tuệ đến Thánh tuệ. Thế nào là Phàm tuệ? Đó là ta phải có một tri thức, rồi từ đó, bằng sự suy tư chính chắn biết được như thế nào là một lẽ sống hay, đẹp ở cuộc đời – một trí tuệ ở địa vị phàm phu, chúng sinh. Nhưng là một con người khác với con người thác loạn của chúng ta trước đây. Người xưa đã từng nói, phải là một con người cho trọn trước khi thành một vị Phật. Đạo Phật chỉ dạy hai điều cốt yếu là từ bi và trí tuệ. Nói nôm na là sự hiểu biết và thương yêu. Sự hiểu biết đích thực là sự hiểu biết theo những chân lý Phật dạy. Khi ấy, sự hiểu biết chính là thương yêu, và ngược lại. Trí tuệ chính là Từ bi, Từ Bi chính là Trí Tuệ.
   Có câu: “Có hiểu mới thương được”. Tình yêu thương, ở đời, mấy ai sống mà không cần. Tình thương của thường tình không mấy khi không đượm thắm tánh chất vị kỷ. Đó là một thứ tình thương thiết tha mong muốn được (người kia) nhận ra rồi đòi hỏi được đáp lại. Và chỉ cho riêng mình – Nó, thật ra, chỉ làm khổ cho nhau thì nhiều hơn. Đến như những kẻ tỏ ra bất cần đời thì đó cũng là biểu hiện của một tình thương vị kỷ tột đỉnh mà bị phủ nhận hoặc không được đáp ứng. Cho nên, "sự thương yêu" là một thứ gì mà không thể thiếu của đời sống. Nó bàng bạc trong khắp các mối quan hệ giữa vợ chồng, cha con, bè bạn, xóm giềng, thân thích. Trong cuộc sống tương quan tương duyên này – nếu ai cũng hành xử cứng nhắc với đơn thuần trong bổn phận và trách nhiệm không thôi, mà không xuất phát từ một tấm lòng thương mến thật sự – thì cuộc sống này sẽ đơn điệu lắm, không sắc màu, và chẳng có nhịp cầu giao cảm nào được bắc nối cho tình người ấm cúng. Ta dễ dàng thấy rằng, ngoài bổn phận và trách nhiệm, tình cha mẹ thương con cái là một tình cảm thiên phú, rất tự nhiên. Cũng chính tình cảm ấy mới khơi dậy, phát sinh tấm lòng hiếu thảo của con trẻ, dù là đứa ngỗ nghịch nhất. Cũng chính từ sự thành thật mà mối thiện cảm bè bạn thêm thắt chặt. Sự quan tâm thật lòng với bà con xóm giềng thân thuộc của nhau mới làm cho tình người ngày thêm gắn bó keo sơn. Và để nuôi dưỡng tình thương ấy cho dài lâu và đúng nghĩa mang lại an lạc cho nhau, thì chất liệu duy nhất và đầu tiên phải là sự hiểu biết. Nếu hiểu chưa rõ ràng, thấu đạt – chúng ta sẽ dễ dàng có những lời nói, cử chỉ vụng về mà nó càng làm khổ cho nhau thôi. Và để có thái độ sáng suốt để sống yêu thương – ta phải học hỏi, phải hiểu biết. Hiểu biết những gì? Là Phật tử, ta phải hiểu rõ giáo lý, những phương thức sống đức Phật đã dạy – Mà không gì căn để và quan trọng hơn là giáo lý Nhân quả. "Phàm làm việc gì, trước phải nghĩ đến hậu quả của nó". Chúng ta, theo đó để nhận xét rõ về những hành vi thế nào là ác, là thiện để chọn lựa thực hiện. Vậy như thế nào là thiện? Phật dạy: một ý nghĩ, lời nói hay hành động nào đem lại lợi ích an lạc cho mình, an lạc cho người, an lạc cả hai, an lạc cho tất cả, trong hiện tại cho đến cả tương lai – đó gọi là thiện; và ngược lại. Như thế, một khi ta bắt đầu sống theo đó, tức là ta đã đi thêm một bước nữa theo chân đức Phật.
   * Bước thứ hai, nhìn về phương Nam, Kinh nói rằng: "Thị Nam phương giả, vị chư chúng sinh tác lương phước điền cố" (Nhìn về phương Nam, vì các chúng sinh làm ruộng phước tốt).
Theo lời Phật dạy để sống là chúng ta bắt đầu tạo phước đức cho mình – nghĩa là chúng ta bắt đầu tu tập, bắt đầu chuyển nghiệp, hình thành thiện nghiệp. Điều đó có nghĩa là sự quy y vậy.
  Yếu tố trở thành một Phật tử là sự quy y – nghĩa là quay lại mà nương tựa, mà sống theo Tam bảo – trong tâm thức có sự xoay chiều, đổi hướng. Đó là một quyết định quan trọng và lợi ích cho đời mình. Từ đây, ta từ bỏ chiều sống mê mờ, thác loạn hay làm khổ cho nhau, bằng thân (đánh đập...), bằng lời (nói cay nghiệt, đâm thọc, xốc nhọn hai đầu...), bằng ý (xảo quyệt, ác độc) mà thay vào đó bằng chiều sống giác ngộ – biết ý thức về nhân quả nghiệp báo, biết suy xét trước hậu quả của việc mình làm để tạo an vui cho nhau. Nên khi quy y tức là rạch đôi đời mình ra – vừa kết thúc sự sống luân hồi, khổ đau; vừa mở đầu sự sống giải thoát, hạnh phúc.
  Mở đầu sự sống giải thoát, hạnh phúc – ta phải quay về nương tựa những yếu tố mang phẩm tính giải thoát, hạnh phúc – đó là Tam bảo – Phật, Pháp, Tăng. Phật là đấng đã giác ngộ, giải thoát và thuyết minh giáo lý, sự thật. Tăng là đoàn thể những người thực hành và hoằng truyền những giáo lý giải thoát ấy. Pháp là nội dung giáo lý. Như thế gọi là Tam bảo. Bảo là quý. Tam bảo là ba sự quý báu trên thế gian. Bởi lẽ chúng ta dễ dàng thấy rõ rằng, vàng bạc, tiền của không hẳn là yếu tố quyết định sự bình an hạnh phúc, mặc dù nó có khả năng góp phần hạnh phúc. Nhưng đôi khi nó đem lại sự chia rẽ, hạân thù, giết chóc, gây khổ đau cho nhau. Chỉ có những phương thức sống vui, sự bình an trong tâm hồn mới đưa đến niềm hạnh phúc chân thực và vững bền hơn. "Không có hạnh phúc nào lớn hơn bằng sự yên tĩnh của tâm hồn". Cho nên, ta có thể định nghĩa một cách nôm na rằng, Phật giáo là một cách làm cho đời sống có ý nghĩa . Sự quy y hay học Phật Pháp cũng như sự nghe Pháp của chúng ta hôm nay – điều tiên yếu và căn trọng nhất mà người Phật tử chúng ta cần có là Chánh kiến để nhận chân đâu là lẽ sống đúng, tốt, đẹp mà mình phải theo. Và mình tự phát nguyện làm theo. Đó chính là sự phát nguyện lãnh thọ và hành trì năm giới – hay nói cách khác là năm nhân cách làm người thiện lành trong nhân loại. Vì như trước đã nói, phải là một con người trọn vẹn trước khi thành Phật (năm điều nên giữ để hoàn thiện nhân cách).
– Nhân cách thứ nhất: Ý thức rằng, thân mạng là vốn quý nhất. Vì vậy con nguyện bảo vệ thân mạng của mình một cách cẩn thận. Không tự phá hoại nó bằng những thứ có độc tố. Con nguyện làm người lương thiện, bằng cách lấy lý trí để hóa giải khổ đau, lấy từ tâm để yêu thương tất cả. Con nguyện không giết hại, cũng không tán thành sự giết hại. Không gây chiến tranh, cũng không tán thành chiến tranh.
– Nhân cách thứ hai: Ý thức rằng, sống là phải có vật cung ứng cho sự sống. Con nguyện tạo ra nguồn sống để nuôi thân bằng bàn tay, khối óc, và con tim của mình. Con nguyện không trộm cắp, cũng không tán thành sự trộm cắp dưới mọi hình thức. Con nguyện thực hiện lương thiện bằng cách lấy trí tuệ và phước đức ra làm lợi người, nhằm lành mạnh hóa thế gian, để đem đến hạnh phúc cho cuộc sống tương duyên này.
– Nhân cách thứ ba: Ý thức rằng, mưu cầu hạnh phúc lứa đôi là điều mà những người sắp trưởng thành trong thế gian đều mong ước. Con nguyện bảo vệ hạnh phúc lứa đôi, không sinh tâm ngoại tình, lang chạ nhằm bảo vệ hạnh phúc cho gia đình, thanh bình cho xã hội và an toàn cho giống nòi. Con nguyện làm người lương thiện, không gây khổ đau cho cuộc sống, cũng không tán thành những hành vi đem đến khổ đau cho mọi lứa đôi và mọi gia đình.
– Nhân cách thứ tư: Ý thức rằng, lời nói có thể đem đến hạnh phúc hay khổ đau. Con nguyện không nói những lời cộc cằn, thô lỗ, tục tĩu, mỉa mai, gây chia rẽ, hận thù, mất đoàn kết. Con nguyện không nói sai sự thật, trừ lúc vị tha. Con nguyện không loan truyền, cũng không phê phán những gì con không biết rõ. Con ý thức rằng, ngôn ngữ là tài sản chung của mọi người, nên nguyện dùng lời hay ý đẹp để đi vào cuộc sống. Nguyện thực tập hạnh ái ngữ, dùng lời nói nhẹ nhàng, êm ái, thân thương, xây dựng, đoàn kết và hòa hợp; nhằm hóa giải những nội kết do hiểu lầm nhau. Con nguyện thực hiện chánh ngữ, nhằm làm trong sáng ngôn từ, lành mạnh hóa xã hội, bảo vệ tiếng nói tốt đẹp cho giống nòi.
– Nhân cách thứ năm: Ý thức rằng, Trí tuệ là ngọn đuốc soi đường đến chân, thiện, mỹ. Con nguyện luôn luôn giữ gìn sự định tĩnh và trong sáng của tâm hồn. Nguyện không sử dụng ma túy, và những độc tố tác hại thân tâm như rượu, thuốc lá, kể cả những sản phẩm có pha chế hóa chất gây ra ung thư và bệnh tật. Con nguyện không sử dụng những sản phẩm độc hại tâm hồn như phim ảnh, sách báo, băng từ có nội dung không lành mạnh cho thân tâm, gây chiến tranh, bạo động đưa đến hận thù. Nguyện chỉ tiêu thụ những sản phẩm bổ ích cho thân tâm, nhằm bảo vệ sức khỏe cho bản thân, an vui cho gia đình, lành mạnh hóa giống nòi, thanh bình cho cuộc sống.
  Đó là năm nhân cách căn bản mà mỗi một chúng ta phải học tập và thực hành. Được vậy, loài người mới có cơ duyên tồn tại lâu dài trên trái đất này.
Như thế, nói về ý nghĩa phương Nam – tức là ruộng phước điền của chúng sinh - phương Nam là phương không có ánh nắng gay gắt như phương Đông, cũng không ảm đạm như phương Bắc – phương Nam là phương ánh sáng êm dịu và mát mẻ – dụ cho sự dứt ác làm lành của chúng ta. Chúng ta chuyên suy nghĩ, nói năng và làm việc lợi lạc cho chúng sinh, đó là tự tạo ruộng phước cho mình – tự mình mát mẻ, thanh thản mà mọi người xung quanh cũng bằng lòng, hòa lạc. Đây là giai đoạn của chúng ta, những người Phật tử bắt đầu quy hướng Tam bảo và tập tu hành phước thiện.
Nhưng lộ trình tìm kiếm một hạnh phúc vững bền, chắc thật không phải dừng lại ở đó – mà bước tiếp bước nữa. Cố nhiên là để có bước sau thì tất yếu phải có bước trước.
 

Thứ Năm, 8 tháng 5, 2014

TÔI Ở ĐÂU?


   Thiền sư Vô Căn có lần nhập định ba ngày, bị mọi người cho là đã chết, liền đem thân thể Sư thiêu hóa. Qua mấy hôm, thần thức của thiền sư Vô Căn xuất định, lại tìm không ra thân của mình. Đại chúng toàn chùa thường nghe tiếng nói một mình bi thảm của Sư:
  - Ta? Ta ở đâu?
Nhất là về đêm, tiếng tìm kiếm thân thể của thiền sư Vô Căn càng thêm bi thiết, náo động khiến mọi người đều rất bất an. Có một hôm, bạn của thiền sư Vô Căn là thiền sư Diệu Không biết được việc này, bèn bảo đại chúng trong chùa rằng:
  - Tối nay, tôi muốn ở lại phòng của thiền sư Vô Căn. Lúc Sư đến, tôi muốn đàng hoàng nói chuyện với Sư ấy. Xin các ông chuẩn bị giùm tôi một bồn lửa, và một thùng nước. tôi muốn để ông ta hiểu rõ cái gì là “ta”.
    Giữa khuya, thiền sư Vô Căn đến, rất bi thương kêu lên:
  - Tôi ư? Tôi đến đâu rồi?
Thiền sư Diệu Không rất điềm tĩnh đáp:
  - Ông ở trong bùn đất.
Thiền sư Vô Căn chui vào trong đất bùn, tìm Đông tìm Tây, tìm rất lâu, nhưng chưa tìm được, rất bi thương nói:
   - Trong đất không có ta!
Thiền sư Diệu Không nói:
   - Đó có thể ở trong hư không, ông vào trong hư không tìm xem!
Thiền sư Vô Căn vào không trung tìm rất lâu, nhưng vẫn thê thiết nói:
  - Hư không cũng không có ta! Ta rốt cuộc ở đâu?
Thiền sư Diệu Không chỉ vào thùng nước nói:
  - Đại khái ở trong đây chăng?
Thiền sư Vô Căn tự tại nhào vào thùng nước. Không bao lâu, lại chui ra đau khổ nói:
   -Tôi ở đâu? Trong nước cũng không có!
Thiền sư Diệu Không chỉ vào trong bồn lửa nói:
  - Ông ở trong lửa!
 Thiền sư Vô Căn vào lửa nhưng vẫn không tìm ra.
 Lúc đó thiền sư Diệu Không mới thật tình bảo thiền sư Vô Căn rằng:
 - Ông có thể vào đất, xuống nước, cũng có thể vào lò lửa hừng hực, lại có thể tự do tự tại ra vào hư không, ông lại còn đi đòi thân thể nhơ nhớp kia, cái vỏ màu mè nơi nào cũng chẳng tự do làm cái gì?
 Thiền sư Vô Căn nghe xong, bừng tỉnh. Từ đây không ồn ào tìm “ngã” nữa.
Trích Tinh hoa văn hóa phương đông-thiền thoại

Thứ Ba, 6 tháng 5, 2014

PHẦN QUAN TRỌNG NHẤT TRÊN CƠ THỂ


  Mẹ tôi đã ra một câu đố: "Con yêu, phần nào là quan trọng nhất trên cơ thể hả con?"
   Ngày nhỏ, tôi đã nói với mẹ rằng âm thanh là quan trọng đối với con người nên tai là bộ phận quan trọng nhất. Mẹ lắc đầu: "không phải đâu con. Có rất nhiều người trên thế giới này không nghe được đâu, con yêu ạ. Con tiếp tục suy nghĩ về câu đố đó đi nhé, sau này mẹ sẽ hỏi lại con."
  Vài năm sau, tôi đã nói với mẹ rằng hình ảnh là quan trọng nhất, vì thế đôi mắt là bộ phận mà mẹ muốn đố tôi. Mẹ lại nhìn tôi âu yếm nói: "Con đã học được nhiều điều rồi đấy, nhưng câu trả lời của con chưa đúng bởi vi vẫn còn nhiều người trên thế gian này chẳng nhìn thấy gì."
  Đã bao lần tôi muốn mẹ nói ra đáp án, và vì thế tôi toàn đoán lung tung. Mẹ chỉ trả lời tôi: "Không đúng. Nhưng con đang tiến bộ rất nhanh, con yêu của mẹ."
Rồi đến năm 1991, bà nội yêu quý của tôi qua đời. Mọi người đều khóc vì thương nhớ bà. Một mình tôi đã vừa đạp xe vừa khóc trên suốt chặng đường 26 km từ thị xã về quê trong đêm mưa rào ngày 4/5 âm lịch của năm đó. Tôi đạp thật nhanh về bệnh viện huyện để mong được gặp bà lần cuối. Nhưng tôi đến nơi thì đã muộn mất rồi. 
  Tôi đã thấy bố tôi gục đầu vào vai mẹ tôi và khóc. Lần đầu tiên tôi thấy bố khóc như tôi.
  Lúc liệm bà xong, mẹ đến cạnh tôi thì thầm: "Con đã tìm ra câu trả lời chưa?"    Tôi như bị sốc khi thấy mẹ đem chuyện đó ra hỏi tôi lúc này. Tôi chỉ nghĩ đó là một trò chơi giữa hai mẹ con thôi.
  Nhìn vẻ sững sờ trên khuôn mặt tôi, mẹ liền bảo cho tôi đáp án: "Con trai ạ, phần quan trọng nhất trên cơ thể con chính là cái vai."
  Tôi hỏi lại: "Có phải vì nó đỡ cái đầu con không hả mẹ?" 
Mẹ lắc đầu: "Không phải thế, bởi vì đó là nơi người thân của con có thể dựa vào khi họ khóc. Mỗi người đều cần có một cái vai để nương tựa trong cuộc sống. Mẹ chỉ mong con có nhiều bạn bè và nhận được nhiều tình thương để mỗi khi con khóc lại có một cái vai cho con có thể ngả đầu vào."  Từ lúc đó, tôi hiểu rằng phần quan trọng nhất của con người không phải là "phần ích kỷ", mà là phần biết cảm thông với nỗi đau của người khác'
                                                          Trích email của phuvuive@....


Thứ Hai, 5 tháng 5, 2014

CÁM ƠN



Ngày càng thêm nhiều người gia nhập tu viện, và vì thế cần phải xây dựng một ngôi nhà lớn hơn. Một thương gia viết tấm séc một triệu đôla và trao cho Thầy. Thầy cầm và nói: “Được. Tôi nhận”. 
Người thương gia lộ rõ vẻ bất mãn. Một triệu đôla là một món tiền lớn, song Thầy chẳng buồn nói một lời cám ơn! 
“Đó là tấm séc một triệu đôla, thưa Thầy!” 
“Vâng, tôi biết.” 
“Dù tôi là người giàu có, song một triệu đôla vẫn không phải là một món tiền nhỏ đối với tôi, thưa Thầy!” 
“Anh muốn tôi cám ơn anh à?” 
“Lẽ ra phải thế.” 
“Sao tôi phải cám ơn nhỉ? Chính người cho mới phải biết ơn chứ!” Thầy nói.
                                                                   Anthony de Mello, S.J.

Thứ Bảy, 3 tháng 5, 2014

ĐẠO PHẬT VÀ MỘT SỐ TÁC PHẨM CỦA R.TAGORE


           Bài viết phân tích sự ngưỡng mộ bộc lộ mạnh mẽ trong cả cuộc đời lẫn tác phẩm của Tagore đối với tầm vĩ đại của Đức Phật và văn hoá Phật giáo. Những bài ca, bài thơ, vở kịch của ông thường mang âm hưởng ca ngợi những giá trị vĩnh cửu về đạo đức và tính nhân văn của Đạo Phật cho đến nay vẫn chưa có ai có thể so sánh nổi tại Ấn Độ. Lòng yêu mến và sự quan tâm sâu sắc của Tagore đối với sự phục hưng của văn hoá Đạo Phật tại Ấn Độ cũng có thể coi như một lời tuyên bố của ông đối với tôn giáo này.
  Nhiều nhà nghiên cứu coi Tagore như người đã giương cao ngọn đuốc của Đạo Phật và mang cảm hứng mới về sự kết hợp hài hoà giữa thông điệp của Đạo Phật về sự bác ái, từ bi hỉ xả với những nguyên tắc của đức vua Asoka. Nhưng trong khi những thông điệp của Asoka và Đức Phật ít khi vượt ra ngoài biên giới của Ấn Độ khi họ còn sống thì Tagore đã đi vòng quanh thế giới với thông điệp về tình yêu và sự thân thiện hoà bình. Vì thế, bài viết cố gắng làm rõ phần nào sự đóng góp của tư tưởng Phật giáo đối với việc hình thành tư tưởng của Tagore và tác phẩm của ông.
  Nội dung
  R. Tagore sinh trưởng trong một gia đình có tư tưởng tự do. Ông nội của Tagore là ông hoàng Dwarkanath Tagore đã từng đi Anh để xem xét và nghiên cứu những vấn đề xã hội trong giai đoạn đó. Ông hoàng cũng là một người bạn của Raja Ram Mohan Roy. Cha ông, Maharsi Devendranath Tagore, đã rời bỏ những tục lệ chính thống của Hindu giáo và chấp nhận tôn giáo của những người Brahmo dựa trên giáo lý Upanishads. Các anh trai của Tagore như Satyendranath và Jyotirindranath Tagore đều là những nhà cải cách xã hội nổi tiếng. Đương nhiên là Tagore đã hấp thụ những tư tưởng tự do này và phát triển tầm nhìn rộng rãi của mình về thế giới bên ngoài.
  Trong suốt hai thập kỷ cuối thế kỷ XIX, R. Tagore đã lôi cuốn các học giả của Ấn Độ vào những cuộc tranh luận nhằm chứng tỏ sự vô nghĩa của những lễ nghi và tập tục trong xã hội Hindu giáo. Pandit Shashadhar Tarkachuramani và Shri Chandranath Basu là những người nổi tiếng nhất trong các học giả này. Họ cố gắng chứng minh rằng mọi tập tục xã hội và tôn giáo của đạo Hindu đều dựa trên những nền tảng khoa học cơ bản nhất của sự hiểu biết trong tác phẩm cổ đạiRishis. Nếu như có bất cứ phát minh khoa học nào mới tại phương Tây thì họ lại vội chứng minh rằng những người Hindu đã biết điều đó từ rất lâu rồi. Tagore đã cay đắng châm biếm sự trống rỗng cũng như thói không khoan dung của nhân dân mình qua tác phẩm của ông.
  1. Nền tảng tư tưởng của Tagore
  Tagore sinh ra trong một thời kỳ có ít nhất là ba phong trào chính trị xã hội đã đưa lại cho xã hội Ấn Độ những trào lưu và khuynh hướng mới. Một trong ba phong trào đó là phong trào mang tính tôn giáo với những tư tưởng cấp tiến do Raja Ram Mohun Roy đứng đầu. Phong trào thứ hai là phong trào mang tính văn học do Bankim Chandra Chatterjee khởi xướng và phong trào thứ ba là phong trào mang tính chất chính trị xã hội của rất nhiều những người mong muốn đi tìm tiếng nói cá nhân của mình.
  Trong ba phong trào đó, phong trào thứ nhất đã ảnh hưởng đến tư tưởng của Tagore nhiều nhất. Mục đích của nó là đem lại một cuộc cách mạng về văn hoá và xã hội mới. Phương tiện của nó chính là Brahmo Samaj, trong đó, cha của Tagore, ông Maharashi Devendranath, chính là một thành viên. Chính ông đã lãnh đạo phong trào này trong nhiều thập kỷ. Đây là một cuộc cách mạng của những con người là những nhà khoa học, những trí thức mới kết hợp với truyền thống tinh hoa của Hindu giáo. Trong trường hợp của Tagore thì cần phải kể thêm đến những ảnh hưởng của Đạo Phật, Đạo Thiên Chúa và những tư tưởng cấp tiến của châu Âu mà ông nhận được. ở đây, chúng tôi chỉ xin chú ý đến Đạo Phật.
2. Bản chất tôn giáo theo quan điểm của Tagore
  Tagore nói: “ Theo khí chất của riêng tôi, tôi không thể nào chấp nhận một cách thụ động bất kỳ một sự giảng dạy về tôn giáo nào chỉ dựa trên lý lẽ rằng tất cả những người quanh tôi tin rằng nó là đúng”. Ông cũng nhận xét: “ Chúng ta nên nhớ rằng tôn giáo và các tổ chức tôn giáo khác nhau như lửa và tàn tro. Khi tôn giáo phải tìm đường đi qua các tổ chức tôn giáo thì cũng giống như dòng sông bị tắc nghẽn bởi các đụn cát chắn ngang, dòng chảy bị nghẽn lại và chẳng mấy chốc chỉ còn là sa mạc[1]. Ông còn nói: “Trong các tôn giáo chính thống, tất cả các câu hỏi đều được trả lời, tất cả sự hoài nghi phải tìm ra sự cứu rỗi. Nhưng tôn giáo của một nhà thơ thì khác, nó giống như bầu khí quyển bao quanh quả Đất nơi ánh sáng và bóng tối chơi trò đuổi bắt...Nó không bao giờ dẫn bất kỳ ai tới bất kỳ đâu vĩnh cửu hay tới bất kỳ một kết luận tuyệt đối chắc chắn nào. Nó hé mở cho người ta những vầng sáng không bao giờ cạn kiệt và không có một bức tường nào có thể bao quanh nó hoàn toàn[2]. Qua những điều mà ông bày tỏ, chúng ta có thể thấy rằng Tagore có những quan điểm của riêng mình về vấn đề tôn giáo.
Tôn giáo không phải là sự ẩn dật
  Theo Tagore, tôn giáo không phải là cách để người ta lẩn trốn khỏi thế giới đời thường. Ông viết: “Một số người coi mục đích của tôn giáo là đi tìm một nơi mà người ta có thể thở ra một hơi thư giãn, tránh khỏi những bổn phận của cuộc sống. Đó chính là những thầy tu khổ hạnh. Điều đó thật là xa lạ đối với tôi[3].
Tagore không đả kích các thầy tu khổ hạnh, ông chỉ không tin rằng sự giải thoát có thể xảy ra với chính ông thông qua sự hành xác và hy sinh quên mình. “Sự giải thoát không đến với tôi dưới hình ảnh của sự hy sinh quên mình. Tôi cảm thấy vòng ôm của tự do trong hàng ngàn tia sáng... Không, tôi không bao giờ đóng chặt những cảm giác của mình. Niềm vui sướng tột cùng của việc ngắm nhìn, lắng nghe hay động chạm sẽ đem đến cho bạn niềm vui sống[4]. Đối với Tagore, con người cần phải thu được và cảm thấy sức thu hút của mọi vật và điều này chỉ có thể xảy ra khi anh ta hiến dâng toàn bộ sức lực của mình cho những bổn phận và trách nhiệm đối với thế giới này.
  Chính vì vậy mà đối với Tagore, tôn giáo cũng giống như thứ tình cảm khi người ta nhớ nhà. Người sùng đạo đang trên con đường thiêng liêng trở về ngôi nhà vĩnh cửu của mình, giống như bầy sếu nhớ nhà bay ngày bay đêm để trở về nơi quê hương yêu dấu.  Trong GitanjaliThơ Dâng, Tagore đã viết với tất cả sự nhiệt tình:
  “Không còn phải trôi từ bến này sang bến khác với chiếc thuyền tôi nay đã bão vùi gió dập...
  Giờ đây, tôi đang háo hức để chết trong sự bất tử”...

Thứ Năm, 1 tháng 5, 2014

XÔN XAO TRONG CÕI TA BÀ

                                                                               Xôn xao trong cõi ta bà 
                                                   Thịnh suy vinh nhục chỉ là sắc không
                                                                                                                     Sưu tầm