Thứ Năm, 10 tháng 7, 2014

MỘT CƠN ĐAU TIM



     Tin rất hữu ích và cần nên đọc nhiều lần, để biết phải làm gì trong trường hợp xảy đến cho chính mình, qua kinh nghiệm của tác giả.

              Mt cơn đau tim.
  Ti th ba tun trước, sau khi gi ý kiến v Lá Diêu Bông vào D Đ, tôi đi ng rt ngon đến hơn 6 gi sang, dy đi tm và sa son đi làm, cm thy thoi mái bình thường, không có triu chng gì khác l. Khong 7 gi hơn, khi vi tay tt ngn đèn trên đu t (hơi cao), tôi bng thy mt nóng bng, m hôi toát ra, hai cánh tay rã ri như va khiêng vác vt nng quá sc. Khi đó, tôi hơi nghi là b stroke (đt hoc nghn mch máu dn vào óc), lin ly máy đo huyết áp, thy rt cao, khong 180/100. Tôi vi ly 2 viên thuc chng cao máu ung lin mt lúc. (Tiếc rng nhà không có sn aspirin). Ngay sau đó, tôi xung cu thang thì bt đu thy tc ngc, đau khong gia lng ngc, na như đau bao t (xót bao t khi đói), na như b ai đm vào chn thy. Nhìn vào gương, cười, nói, dơ tay lên xung thì không thy có gì biến đi hay khó khăn, không nhc đu chóng mt, hát th vài câu vn thy d như thường, nghĩa là không có nhng triu chng ca stroke. Tôi lin nghĩ ngay đến heart attack (cơn đau tim), ch không phi stroke. Không chn ch na, tôi gi s cp cu 911 ngay. Lúc đó vào khong 7 gi 20, ch chng 10 phút sau khi tôi nhn thy triu chng khó chu đu tiên.
     Qua đin thoi, nhân viên cp cu bo tôi ngi hoc nm tư thế nào thy thoi mái nht, nh người nhà ly tt c nhng th thuc tôi đang ung đ sn, và đ ng ca vào nhà. Khi đó tôi vn tnh táo, đc tên tng loi thuc và liu lượng đang ung cho h, nhưng rt khó th và hai cánh tay rt mi. Vn không thy nhc đu và không nói líu lưỡi (không phi stroke). Chng 5 phút sau, xe cp cu ti. Người paramedic (chuyên viên cp cu) cho tôi nhai ngay chng 5 hay 6 viên baby aspirin (loi 81 mg), nhai ri nut trng ch không chiêu vi nước đ cho thuc thm theo nước miếng vào các mch máu nh dưới lưỡi, mc đích là làm cho máu loãng ra. Đng thi h xt Nitroglycerin lng vào dưới lưỡi tôi ba ln, mi ln cách nhau chng 5 phút, đ cho các mch máu giãn n (không được dùng quá 3 ln, ko s giãn n mch máu quá đáng, có th gây stroke). Tôi thy bt tc ngc, th d hơn, nhưng hai cánh tay vn rã ri. Trái li, đu óc tnh táo, không nhc đu, và chân đi vn vng vàng (không stroke).
     Chng 5 phút sau, xe cu thương ti. Tôi đã cm thy d th hơn và có th t đi ra trèo lên băng-ca cp cu. Trên đường vào vào bnh vin, tôi đ ý thy xe không h còi có nghĩa là không có gì khn cp lm. Trên xe, người paramedic hi chuyn tôi liên tc, mc đích là coi tôi có tnh táo, có b stroke    khiến nói ngng không. Có người va b heart attack va b stroke, rt nguy him.
    Khong 15 phút sau đến bnh vin, h đưa tôi vào khu cp cu, có bác sĩ chăm sóc ngay lp tc. H tiếp nước bin hòa thuc làm loãng máu và làm tan máu đông (blood clots), morphine làm bt đau, chp quang tuyến X lng ngc đ tìm du vết sưng phi nếu có (pneumonia), đo tâm đng đ (EKG). Đng thi h cho th máu đ tìm ch s enzyme đnh bnh tim. Khi tim b thiếu máu, tim s tiết ra loi enzyme này. Nếu ch s enzyme cao tc là bnh nhân đã b heart attack. Ln đu, có l vì th nghim quá sm, nên ch s không cao. H ch 2 tiếng sau th li, thì mi rõ ràng là b heart attack. Vì nhp tim ca tôi đp không quá nguy cp, nên bác sĩ không m ngay. Trong thi gian đó, tuy vn nm khu cp cu, nhưng tôi rt tnh táo, bt đau ngc và tay, và còn có th ly smart phone ra tr li ngn gn mt hai emails.
L mt điu là tâm đng đ làm my ln đu không có du hiu heart attack rõ ràng. Sau này bác sĩ gii thích rng bp tht tim tôi chưa b hư hi và còn hot đng mnh dù b attacked, có l nh vào vic tôi bơi li thường xuyên (tôi thường bơi 40 đến 60 chiu dài h bơi trong mt gi, mt hai ln mi tun nhưng t sáu tháng nay bn nhiu vic quá nên chun, không bơi, không tp th dc gì hết!).
Khong 3 gi chiu thì bác sĩ chuyên khoa tim quyết đnh làm phu thut thông mch máu tim (angioplasty). Theo k thut này, bác sĩ ct mt l rt nh mch máu gn háng hay c tay trường hp ca tôi bác sĩ ct c tay ri lun mt camera cc nh đu mt catheter (ng mm rt mnh) đưa vào đến đng mch tim. Camera s chiếu lên màn nh computer ln như TV c 60 đ cho thy ch b tc nghn. Khi đó tôi vn tnh, ch hơi mơ mơ bun ng do được chích thuc an thn, không làm mê hoàn toàn, và không cm thy đau đn gì hết. Khi tìm ra ch mch máu nghn, bác sĩ s bn cho cc máu đông (blood clot) tan ra, ri đy mt bong bóng (balloon) vào ch đó, xong bơm cho bong bóng căng lên, làm phng khúc mch máu nght khiến cho máu thông d dàng, trước khi xì hơi bong bóng, còn đ li mt giàn lưới (stent) hình ng, nm lót bên trong nhm căng khúc mch máu đó ra. Lưới s nm vĩnh vin trong mch máu tim, nên bnh nhân s phi ung thuc làm loãng máu dài dài, nếu không, máu đông có th kt vào đó làm heart attack na!
    Cuc gii phu, ban đu d tính chng 45 phút, đúng hai gi mi xong! Mà vn còn hai mch máu na chưa được thông, nên vài tun na tôi s phi vào bnh vin làm tiếp. Tuy nhiên, ln sau s d dàng hơn nhiu, có th làm xong trong ngày, tr khi tôi đ cho b heart attack na. Sau khi mch máu tim được thông, tôi cm thy d chu ngay lp tc. Hai cánh tay hết mi rã ri, ngc hết tc, nhp th gn bình thường tr li.
    Bác sĩ đã m t mch máu c tay tôi, lun vào tim, nên tôi mau hi phc hơn là m t dưới háng. Sau ba ngày, m băng ra, c tay tôi ch còn vết đóng vy c như b con kiến la cn ri mình gãi ra mà thôi! Tuy nhiên, dc theo cánh tay có vết bm phía bên trong, chc là do đường ng lun qua gây nên. Không đau đn gì c. Tim không có cm giác gì mi l, vn yêu, thương, hn, gin như thường! Đc bit là sau khi được thông mch máu tim, huyết áp ca tôi xung và nm mc rt tt, rt n đnh. Bác sĩ gii thích là do mch máu được thông nên tim đ phi làm vic nhiu, không cn bơm máu mnh như trước na, nên áp sut nén vào thành mch máu cũng gim đi. Tht là mt công đôi vic!
     Qua tai biến này, tôi rút ra được vài kinh nghim quý báu như sau, xin được chia s cùng Din Đàn:
    Th nht, BÌNH TĨNH MÀ RUN! Đúng vy, ai mà không run khi nghĩ đùng mt cái mình đang b mt trong hai chng bnh giết người nhiu nht và nhanh chóng nht: Heart attack đng đu, stroke th ba, ch sau ung thư. Nhưng phi tht bình tĩnh và tnh táo đ không lãng phí tng giây phút và làm bnh thêm trm trng.
   Th hai, NGƯNG MI HOT ĐNG VÀ Đ Ý NGAY KHI CÓ TRIU CHNG L TH NHT (trường hp tôi là toát m hôi dù bui sáng khá lnh). Nếu đang lái xe, cn phi tìm ch an toàn đu li ngay. Chú ý: Nếu có cell phone, luôn luôn mang bên mình, không đ trong cp hay gi đàng sau cóp xe.
    Th ba: GI CP CU NGAY KHI CÓ NHIU HƠN MT TRIU CHNG L ca stroke hay heart attack (thí d: cánh tay mi rã, tc ngc, ngay sau khi toát m hôi). M: Không nên nh người nhà ch vô nhà thương, mà phi gi 911. Lý do: bnh vin có bn phn phi cp cu ngay lp tc khi tiếp nhn mt bnh nhân do 911 đưa ti. Người paramedic đưa mình ti phi ch cho đến khi thy mình được chăm sóc bi bác sĩ, ri mi đi được. Nếu mình t ti xin cp cu, tr khi b thương máu me đm đìa như b đng xe, còn không s phi làm nhiu th tc và ch đi trước khi được cp cu. Nếu b
stroke hay heart attack mà mt chng 15 phút là nguy lm ri.
   Th tư: C gng PHÂN BIT CÁC TRIU CHNG GIA STROKE VÀ HEART ATTACK. Khi chuyên viên cp cu đến nhà, c gng tr li rõ ràng sao cho h có th hướng s cp cu v mt loi tai biến: Stroke hay Heart Attack. Lý do: nhng giây phút cp cu đu tiên là cc k quan trng. Nếu không phi stroke vì máu nghn, mà vì đt mch máu, nhc đu mnh, mch máu chính trên đu b b, mà nhân viên cp cu cho thêm aspirin làm loãng máu, nitroglycerin làm giãn mch thì tiêu luôn ti ch! Theo các bác sĩ, khi thiếu máu vào nuôi, tế bào óc s chết mau hơn tế bào tim nhiu. Do đó, nếu nhân viên cp cu tin là bnh nhân b stroke do đt, b mch máu thì nhiu phn là h s lo ch bnh nhân vào bnh vin tht sm (bây gi M và các nước tiên tiến có thuc chích có th hi phc stroke, nếu được chích trong vòng mt, hai gi k t khi có triu chng đu tiên, càng sm càng tt.) Nếu tin là heart attack thì h s th làm cho máu loãng và mch n ti ch, mt chng 10 phút trước khi h ch đi. Mười phút phù du đu tiên đó quý giá bng 10 năm hay có th bng c quãng đi còn li!
   Th năm: Trong bnh vin, cn TNH TÁO (khi còn có th), NÓI CHUYN NHÌU vi y tá, bác sĩ (không hiu thì yêu cu người thông dch). Đt câu hi mi khi nhân viên y tế làm bt c th thut nào trên cơ th mình. Thí d: Chích thuc này làm gì? Ti sao cn chp X-ray ngc hai ln trong vòng vài gi khi tình trng không có gì thay đi? Nh hi mà tôi tránh được 1 ln X-ray vô ích do li ca y tá, người ca trước đã làm, người ca sau li đnh làm na!
    Th sáu: Khi đã lên bàn phu thut mà không b đánh thuc mê thì hãy quên hết mi s, mà ch NGHĨ V CHUYN VUI, như chuyn trên Din Đàn THTĐ, mc k h làm gì thì làm! Chng có gì phi lo lng na!

                                                                                        Nguyn Hưng
                                                                                                          

Thứ Hai, 7 tháng 7, 2014

CÁI GIÁ CỦA SỰ TỨC GIẬN



    Một bà cụ có tính tình cau có, thường xuyên nổi giận vì những sự việc nhỏ nhặt, hơn nữa, mỗi khi tức giận hay dùng lời lẽ ác độc, vô tình đã làm tổn thương nhiều người, vì thế bà ta giao tiếp với hàng xóm bạn bè đều không được hài hòa. 
    Bà ta cũng biết khuyết điểm của mình, mong muốn sửa lại lỗi lầm thành tật này.    Nhưng mỗi khi tức lên thì chính bà ta cũng không thể khống chế được tâm mình.
    Một hôm, một người đã nói với bà : “Chùa gần đây có một vị thiền sư, cũng là vị cao tăng, tại sao bà không đến xin lời chỉ dạy, biết đâu thiền sư có thể giúp được cho bà.”
    Bà ta cũng cảm thấy có lý, đã đến tham vấn với thiền sư.
    Khi bà ta thổ lộ tâm trạng của mình, bà ta có thái độ rất thành khẩn, rất mong muốn có được một vài lời khai thị từ vị thiền sư đó. Vị thiền sư im lặng nghe bà kể lể, chờ cho bà ấy nói hết, mới dẫn bà ta vào một thiền phòng, sau đó khóa cửa thiền phòng và rời khỏi đó.
    Bà ta một lòng muốn có được lời chỉ dạy của thiền sư, nhưng không ngờ thiền sư đã nhốt bà ta vào trong một thiền phòng vừa lạnh vừa u tối. Bà ta tức tối hét lên, cũng như ngày thường, bà ta buông những lời nhục mạ quái ác. Nhưng cho dù bà ta có la hét cách nào, nhưng ở ngoài vẫn im lặng, thiền sư hình như không nghe thấy lời nào.
   Khi không còn chịu đựng được nữa, thì bà ta thay đổi thái độ cầu xin thiền sư thả mình ra, nhưng thiền sư vẫn không động lòng thay đổi cách hành xử của mình, vẫn mặc kệ bà ta tiếp tục nói gì thì nói.
  Qua một hồi rất lâu, cuối cùng trong thiền phòng cũng không còn tiếng la hét hay nói năng của bà ta nữa, thì lúc này, phía ngoài thiền phòng mới có tiếng nói của thiền sư hỏi : “Bà còn giận không ?”
   Thế là bà ta giận dữ trả lời : “Tôi chỉ giận tôi, tôi hối hận sao phải nghe lời người khác, tìm đến cái nơi quỷ quái này để xin ý kiến của ngươi.”
   Thiền sư ôn tồn nói : “Kể cả chính mình bà cũng không chịu buông tha, thì bà làm sao có thể tha lỗi cho người khác chứ ?” Nói xong thiền sư lại im lặng.
   Sau một thời gian im lặng, thiền sư lại hỏi : “Bà còn giận không ?”
   Bà ta trả lời : “Hết giận rồi !”
  “Tại sao hết giận !”
  “Tôi giận thì có ích gì ? không phải vẫn bị ông nhốt tôi trong cái phòng vừa u tối vừa lạnh lẽo này hay sao ?”
   Thiền sư nói với vẻ lo lắng : “Bà xử sự kiểu này càng đáng sợ hơn đấy, bà đã đè nén cơn tức giận của mình vào một chỗ, một khi nó bộc phát ra thì càng mãnh liệt hơn.” Nói xong, thiền sư lại quay đi.
   Lần thứ 3 thiền sư quay lại hỏi bà ta, bà ta trả lời : “Tôi không giận nữa, ông không xứng đáng để tôi giận !”
  Thiền sư nói : “Cái gốc tức giận của bà vẫn còn, bà cần phải thoáng ra khỏi vòng xoáy của tức giận trước đã.”
   Sau một hồi lâu, bà ta đã chủ động hỏi thiền sư : “Bạch thiền sư, ngài có thể nói cho con biết tức giận là cái gì không ?”
   Thiền sư bước vào, vẫn không nói chuyện, chỉ có động tác như vô tình đổ đi ly nước trong cái ly trên tay.
   Lúc này thì bà ta hình như đã hiểu.
  Thì ra mình không bực tức, thì làm gì có tức tối giận hờn ? Tâm địa trống không, không có một vật gì, thì làm gì có tức tối ?
  Trong lòng không có bực tức, thì làm sao có cơn giận ?
  Thật ra tức tối không những tự làm cho mình khổ đau, và những người xung quanh cũng theo đó mà buồn lòng. Lúc tức tối tức giận, không gì ngăn cản cái miệng, buông lời quái ác, một số lời lẽ trong đó có thể làm đau lòng người nghe, thậm chí có cả những người yêu thương quan tâm mình.
   
" Nhất niệm sân tâm khởi, bách vạn chướng môn khai “, chỉ một niệm khởi sân mà kết quả là muôn ngàn chướng ngại nẩy sanh.
   Cho nên đừng nên vì sự việc nhỏ nhặt mà gây ra chuyện hại người hại mình, tức tối la hét là hành vi của kẻ ngu muội.
   Tuy chúng ta chưa thể là một người thông minh, nhưng tối thiểu chúng ta cũng đủ trí tuệ ngăn cản mình làm một con người ngu dại. Xem nhẹ hơn mọi sự việc không như ý, đồng thời tìm thấy ich lợi trong im lặng, giác ngộ ý thiền trong cuộc sống. Từ đó chúng ta sẽ cảm nhận cuộc sống không cần phải mệt mỏi như ta tưởng, cũng không phài khốn khó như ta đã gặp.
    Những sự việc nhỏ nhặt cũng giống như những hạt cát trong đôi giày đã làm cho bạn khó chịu.
   Thế thì bạn lựa chọn cách giũ bỏ hạt cát hay vứt bỏ đôi giày ? Chúng ta không thể không mang giày, vì còn con đường dài phía trước, thế thì tại sao chúng ta không chịu giũ bỏ hạt cát !

                                                                                       sưu tầm

Thứ Bảy, 5 tháng 7, 2014

ĐỨC PHẬT LÀ BẬC THẦY CÁC NHÀ KHOA HỌC


                                                               Đầu tượng Phật ở Ayutthaya - Thái Lan
(Cố đô Ayutthaya của Thái Lan được xem là quê hương của những tác phẩm tôn giáo đặc biệt, nhất là tượng Phật. Chùa Wat Mahathat (Chùa Đại Di tích) còn lưu phần đầu của một bức tượng Phật được làm từ đá sa thạch, phần còn lại của tượng đã bị thất lạc. Chiếc đầu tượng Phật này nằm kẹt trong rễ và dây leo của một cây cổ thụ. )
  

           Phật (Buddha) là một từ ngữ để chỉ người giác ngộ viên mãn.
  
 Ðức Thích Ca Mâu Ni (Sàkyãmuni) là người đã giác ngộ, nên chúng ta gọi Ngài là Phật. Giác ngộ là thấy biết mọi chân lý về vũ trụ và nhân sinh.
  Từ chỗ giác ngộ này, Đức Phật chỉ dạy các môn đồ còn ghi chép lại thành Tạng kinh.   Trong tạng kinh chứa đầy dẫy những chân lý, dù trải qua hơn 25 thế kỷ vẫn còn giá trị nguyên vẹn, không do thời gian làm suy giảm. Ngày nay chúng ta nghiên cứu Tạng kinh thật chín chắn, càng phát hiện những chân lý ấy gần gũi và thích hợp với khoa học một cách không ngờ. Trong bài viết này, chúng tôi chỉ giới thiệu tổng quát vài nét cương yếu để đọc giả suy ngẫm.
            Về vũ trụ
  Ðức Phật ra đời trên sáu thế kỷ trước công nguyên, còn các nhà khoa học được biết đến, mới có từ thế kỷ thứ 18 sau công nguyên. Thế mà ở thời kỳ ấy, đức Phật nhìn trong vũ trụ thấy thế giới không thể kể hết, nên trong kinh thuộc Hán tạng có những câu "Hằng hà sa số thế giới", nghĩa là thế giới nhiều như cát sông Hằng (Ganges), hoặc câu "vi trần sát" nghĩa là cõi nước (sát) nhiều như nhũng hạt vi trần. Ðến nay các nhà thiên văn học nhờ viễn vọng kính nhìn thấy trong bầu hư không có không biết cơ man là thế giới. Vô số ngôi sao lấp lánh hiện trên nền trời trong lúc ban đêm, mà mắt chúng ta nhìn thấy được; là những hành tinh (thế giới), còn không biết có bao nhiêu hành tinh khác quá xa mắt không thể nhìn thấy được. Chính đây là bằng chứng cụ thể, nhờ khoa học giúp chúng ta hiểu được lời Phật dậy cách đây trên 25 thế kỷ: Lại nữa, có lần Ðức Phật cùng các thầy tỳ kheo đi vào rừng, nhìn thấy những lá rơi lả tả và những lá vàng uá sắp về cành, đồng thời có nhũng chòi non vừa nẩy lộc và những mầm vừa nhú khỏi vỏ cây, Ngài dạy các Tỳ Kheo: Thế giới đang hoại, sắp hoại và đang thành cũng như lá cây trong rừng đang rụng, sắp rụng và đang nẩy chồi, sắp nẩy chồi".Vì thế, đức Phật thường dạy thế giới có bốn thời :Thành, trụ, hoại, không." Ngày nay các nhà khoa học cũng thừa nhận thế giới phải trải qua bốn thời kỳ như thế. Ðây là cái nhìn thích hợp giữa Phật học và khoa học mà cách cách nhau thời gian qúa xa.
         Về vạn vật
  Vạn vật sinh thành và hoại diệt trên đời, dưới con mắt trí tuệ của đức Phật đều do "duyên khởi". Duyên khởi là nhân duyên sinh khởi, không có một vật nào hình thành mà không do các duyên nhóm họp. Nếu nói sự vật ngẫu nhiên tự thành, hoặc có bàn tay mầu nhiệm nào tạo dựng đều không đúng sự thật. Ðức Phật xác nhận vạn vật do nhân duyên tụ họp thì thành, nhân duyên ly tán thì hoại. Sự thành hoại cuả vạn vật đều do duyên, là chỗ thấy như thật của đức Phật. Bởi thế trong kinh Phật thường dạy "Các pháp do duyên khởi, không có thực thể, các pháp do duyên khởi, không có cố định". Không có thực thể là thuyết "vô ngã". Không có cố định là thuyết "vô thường", mà trong kinh thường nói "chư hành vô thường, chư pháp vô ngã". Không khi nào có một nhân đơn thuần thành hình một vật, cũng không khi nào có sự bất ngờ sinh ra một vật, mà phải đủ duyên mới thành. Vì vậy đức Phật không chấp nhận thuyết "nhất nhân" và thuyết "vô nhân". Với sự thực này, ngày nay khoa học đã làm sáng tỏ, chúng ta không còn gì phải nghi ngại. Hơn nữa, trước mắt chúng ta thấy vô vàn sự vật, nếu đem ra phân tích đều do nhân duyên hợp thành, không có vật nào tự thành hay do một cái gì đó làm thành. Sự thật hiển nhiên này càng làm sáng tỏ lời đức Phật dạy. Chúng ta thấy rõ Phật học và khoa học tuy thời gian cách xa mà không có giới tuyến ngăn cách.

         Về con người
   Khi Phật còn tại thế, Ngài nhìn trong bát nước thấy vô số vi trùng, trong kinh Hán tạng có câu "Phật quán nhất bát thủy, bát vạn tứ thiên trùng" Nghĩa là Phật nhìn trong bát nước thấy tám muôn ngàn (84000) vi trùng. Ngày nay nhờ kính hiển vi, các nhà khoa học thấy trong nước có nhiều vi trùng. Lại nữa, Phật nhìn thấy trong thân người thấy vô số vi trùng, trong Hán tạng có câu "nhơn thân chi nội hữu vô số vi trùng tại trung nhi trú" Nghĩa là trong thân người có vô số vi trùng đang trú ẩn bên trong. Ðiều này ngày nay chúng ta chỉ cần có chút ít kiến thức khoa học là không còn nghi ngờ gì nữa.
       Nghiệp lực
   Nếu không có một đấng nào an bày, muôn vật làm sao được sanh thành, hoại diệt và sinh hoạt trong một trật tự nhất định? Nhà Phật nói "do sức nghiệp thúc đẩy và thu hút mọi vật hình thành, khi mãn nghiệp thì hoại diệt. Cũng như do động lực của nghiệp nên mọi vật sinh hoạt trong một trật tự nhất định". Nghiệp là động lực lôi cuốn các duyên tụ họp lại thành hình sự vật; khi sức nghiệp mãn các duyên ly tán thì sự vật hoại diệt. Nghiệp có khả năng cuốn hút sự vật quay cuồng trong quĩ đạo nhất định. Ngày nay các nhà khoa học đã nói do sức quay và sức hút của mọi vật trong vũ trụ, các hành tinh trong bầu vũ trụ hoặc lớn hoặc nhỏ đều quay cuồng trong hư không và trong một quỹ đạo nhất định. Cho đến nhỏ như một hạt nguyên tử cũng quay cuồng và xoắn chặt vào nhau mà thành hình muôn vật. Ðộng lực quay và hút này do nghiệp lực tạo nên. Nghiệp là đông lực lôi cuốn theo thói quen, đồng thời cảm ứng với vật khác đồng tính nên bị thu hút. Do nghiệp chi phối nên con người và muôn vật trên thế gian được thành hình và sinh hoạt trong một phạm vi nhất định nào đó, khi sức nghiệp mãn con người và muôn vật theo đó hoại diệt. Song nghiệp có thể chuyển đổi được, không phải cứng nhắc cố định, vì nó là động lực.
    Tuy nhiên thuyết nghiệp báo luân hồi đã có trước thời đức Phật, xuất phát từ các kinh Phệ Ðà (Véda); song với tinh thần tôn trọng chân lý, đức Phật xét thấy đúng sự thật liền ứng dụng đem dậy đệ tử tu hành. Trong đó, đức Phật có sửa đổi những phần lệch lạc theo quan niệm Bà la Môn giáo để lý thuyết này được hoàn chỉnh hơn. Vì vậy, ngày nay mọi người đều thừa nhận thuyết nghiệp báo luân hồi là của đạo Phật.
    Ðạo Phật đặt trọng tâm ở con người - Chỗ thấy biết của đức Phật đúng sự thật, hợp chân lý, nên trải qua thời gian dài mà không sai chạy hay lạc hậu. Ðức Phật không dùng cái thấy biết tuyệt vời ấy để phân tích ngoại cảnh, sử dụng ngoại cảnh phục vụ con người. Ngài chỉ dùng cái thấy ấy biết ấy để soi sáng thẳng vào con người, để thấy biết con người tường tận từ thể xác lẫn tinh thần. Biết rõ con người rồi, đức Phật dạy cách sống đúng tư cách con người, đồng thời chuyển hoá thân tâm đẻ được an lạc trong hiện tại và mãi sau kia. Có lần đức Phật cùng các thầy Tỳ kheo đi vào rừng Simma, Ngài dùng tay nắm một nắm lá cây đưa lên hỏi các thầy Tỳ kheo" "Lá cây trong tay ta nhiều hay lá lá cây trong từng nhiều?" Các thầy Tỳ kheo thưa :"Lá cây trong tay Thế Tôn rất ít so với lá cây trong rừng". Ðức Phật dạy "Cũng thế, cho ta thấy biết nhiều như lá cây trong rừng, những điều ta dạy các ông ít như lá cây trong nắm tay ta" Ðiều này khiến chúng ta thấy rõ, dù việc ấy đúng sự thật mà không cần thiết cho sự đào tạo xây dựng con người được an vui hạnh phúc hiện tại và mai sau, Phật vẫn không đem ra chỉ dạy. Phật chỉ dạy những điều cấp thiết để giải quyết mọi khổ đau cho kiếp sống con người. Vì tuổi thọ con người quá ngắn (60--70 năm) không đủ thì giờ để học hiểu hết mọi điều trên thế gian này.
   Phần hệ trọng nhất nơi con người là tinh thần. Tinh thần sai sử thể xác tạo thành nghiệp lành nghiệp dữ, cảm thọ quả khổ, vui ở hiện tại và vị lai. Cho nên bao nhiêu lời khuyên răn của Phật đều đặt nặng sự chuyển hoá nội tâm của con người. Con người nội tâm được trong sáng thì đời sống hiện tại đầy đủ ý nghĩa, sau khi kết thúc cuộc đời mọi sự sáng trong tươi đẹp đang sẵn sàng chờ chực. Ðây là trọng tâm cứu khổ chúng sinh của đức Phật Thích Ca, cũng là của đạo Phật.
   Ðạo Phật chủ trương giác ngộ, giải thoát, từ bi, bình đẳng - Ðức Phật do giác ngộ nên thành Phật, suốt đời giáo hoá của Ngài cũng lấy giác ngộ làm trọng tâm. Người tu Phật mà thiếu giác ngộ là không phải người đệ tử chân chính của đạo Phật. Khổ đau gốc từ vô minh, muốn hết khổ đau phải dứt sạch vô minh. Chỉ có ánh sáng giác ngộ mới dẹp tan được màn vô minh, ngoài giác ngộ ra không còn cách nào dẹp được vô minh. Như chỉ có ánh sáng mới dẹp được bóng tối, ngoài ánh sáng không có cái gì dẹp được bóng tối. Vô minh không tan thì đau khổ làm sao hết được. Vì thế, phương pháp duy nhất để cứu khổ chúng sinh là giác ngộ. Ðây là nguyên nhân đạo Phật lấy giác ngộ làm chủ yếu.
   Nhờ giác ngộ con người mới giản trạch được điều chân lẽ ngụy, thấy rõ cái gì trói buộc, cái gì tự d, nên chọn được lối sống thích ứng lẽ thật, phù hợp với tinh thần tự do. Tự do đây không có nghĩa đòi hỏi bên ngoài, nơi kẻ khác mà tụ chiến thắng những dục vọng đê hèn của mình, hàng phục được vọng tưởng điên đảo của nội tâm. Ðúng với câu đức Phật dạy: Thắng một vạn quân không bằng thắng mình, thắng mình mới là chiến công oanh liệt". Tinh thần tự do của đạo Phật là làm chủ toàn vẹn thể xác lẫn tinh thần của chính mình. Ðó là tự do tuyệt đối, cũng là giải thoát của Phật dạy.
   Ðem vui và giải khổ cho chúng sanh là lòng từ bi của đạo Phật. Muốn cho mọi người hết khổ được vui, tu sĩ Phật Giáo lúc nào cũng đưa cao ngọn đuốc chánh pháp cho mọi người mồi, để cùng thắp sáng trong căn nhà tăm tối muôn đời của mình. Bản thân mình, người tu sĩ phải chiến thắng phiền não để làm mẫu mực và chỉ dạy người dẹp trừ phiền não. Vô số khổ đau của chúng sanh đều phát xuất từ si mê và phiền não. Thiếu thốn vật chất là đau khổ đã đành, có khi thừa mứa vật chất người ta vẫn đau khổ như thường. Cho nên trí tuệ là hòn ngọc quý để đổi lấy của cải và sự nghiệp, trí tuệ là ngọn đuốc soi sáng cho chúng ta tránh khỏi lạc lối lầm đường. Dứt một phần phiền não, chúng ta được một phần an lạc, hoàn toàn sạch phiền não thì còn gì làm phiền lụy chúng ta. Sau khi mở sáng con mắt trí tuệ và dứt sạch phiền não, con người mới được an vui tự tại đầy đủ. Người tu sĩ Phật giáo tha thiết cứu khổ chúng sanh bằng cách tận lực chỉ dạy cho mọi người được trí tuệ và tự do.
   Phật giáo chỉ nhìn chúng sanh đều bình đẳng trong bản tánh, chỉ có sai khác trên nghiệp tướng. Nghiệp tướng là cái sinh diệt biến động, bản tánh chưa bao giờ sinh diệt đổi thay. Cái sanh diệt biến động là tạm bợ, đã tạm bợ dù sai khác thế mấy cũng không quan trọng. Chính cái quan trọng là bản tánh thường hằng của chúng sanh. Cho nên đức Phật thường dạy "Tất cả chúng sanh đều có tánh Phật", đó là lối nhìn bình đẳng của Phật giáo. Thấy thấu suốt được lẽ này, chúng ta sẽ dứt được tâm tự cao ngã mạn và không còn dám khinh thường một ai. Ðây là nền tảng đạo đức chân thật, nên Bồ tát Thường Bất Khinh thấy ai cũng nói "Tôi không dám khinh các ngài, các ngài sẽ thành Phật". Ðã sẵn có tánh Phật thì người nào tu mà chẳng được, chỉ do chưa thức tỉnh và lười nhác mà thôi. Do cái nhìn thấu suốt này, người tu theo đạo Phật không bao giờ có tâm kỳ thị với bất cứ nhóm nào, cũng không có tâm khinh khi miệt thị ai.
   Ðạo Phật lấy giác ngộ làm gốc rễ, lấy giải thoát làm hoa trái, lấy từ bi và bình đẳng làm nhựa sống. Bốn yếu tố này rất thiết thân với nhân loại văn minh. Bất cứ nền văn minh chân chính nào đòi hỏi con người phải có đủ trí tuệ sáng suốt, thong thả tự do, tình thương làm vơi cạn đau khổ cho con người, bình đẳng không chấp nhận giai cấp, không kỳ thị tôn giáo, chủng tộc, màu da. Nếu thiếu một trong bốn yếu tố này, dù nói văn minh vẫn chưa thực sự văn minh. Ðứng từ góc độ này mà nhìn, chúng ta thấy đức Phật đã quả thực đi trước các nhà khoa học xa; tương lai dù nhân loại văn minh tiến bộ đến đâu cũng khó qua mặt được đạo Phật.
                                                                       Nguồn  http://kienthuc.net.vn/


Thứ Sáu, 4 tháng 7, 2014

CUỘC SỐNG LUÔN CÓ HAI ĐÁP ÁN



Hãy quay về hướng mặt trời, và bạn sẽ không thấy bóng tối (Helen Keller).
   
   Thầy tôi là một người rất đặc biệt, trong mỗi vấn đề của cuộc sống, thầy luôn đưa ra hai đáp án khác nhau.
   Đối với những học sinh xuất sắc, thầy nói rằng: “Học kỳ này em thi đạt thành tích nhất lớp cũng không có gì tự hào lắm, vì học kỳ sau em chưa hẳn đạt được như vậy. Nhưng nếu học kỳ sau em lại đứng nhất cũng không có gì hãnh diện, vì thi vào đại học em chưa chắc đỗ thủ khoa nhưng nếu đạt thủ khoa cũng không có gì xuất sắc lắm, bởi vì sau này ra làm việc tham gia công tác ngoài xã hội không nhất định em sẽ luôn đứng nhất”.
   Và đối với những học sinh yếu kém khác thì thầy có cách nói ngược lại: “Nếu học kỳ này em thi không đạt kết quả tốt cũng không có gì quá lo ngại vì còn có học kỳ sau, nhưng nếu học kỳ sau lại không tốt cũng đừng quá buồn lo vì thi vào đại học em không hẳn lại như thế và nếu có thi hỏng đại học cũng không có gì đáng xấu hổ bởi còn có các trường đại học của xã hội (trường đời), thành tài không chỉ có ở con đường thi cử”.
   Thầy giáo còn kể cho chúng tôi nghe câu chuyện ngụ ngôn về kiến và dế: “Mùa thu đến, đàn kiến vất vả từ sáng đến tối lo kiếm thức ăn chuẩn bị cho mùa đông sắp tới, mà dế thì ngược lại ẩn trong đám cỏ xanh tươi cất tiếng hát vang.
   Mùa đông đến gần, kiến có thể ở trong hang ấm áp từ từ thưởng thức những món ăn ngon do mình kiếm được. Còn dế thì nằm chết dần ngoài hang và mạng sống của chúng chỉ trong vòng 3 tháng".
   Thầy cũng từng nói với học sinh chúng tôi: “Các em nên học theo cách sống của kiến hay của dế?".
   Chúng tôi đồng thanh trả lời: “kiến”.
   Thầy vui vẻ gật đầu nói: “Đúng! Chúng ta nên học tập từ kiến, cần cù làm việc tự mình tạo hạnh phúc cho mình bằng chính đôi tay của mình, bất luận thế nào cũng không nên học theo cách sống của dế, chỉ biết vui chơi mà không lo cho cuộc sống tương lai”.
   Nhưng không ít lâu sau, có một học sinh bị căn bệnh ung thư nặng không còn trị được. Lúc đó, thầy đến bệnh viện thăm cô học trò và kể lại câu chuyện ngụ ngôn lúc trước và khi thầy kể gần xong, cô học sinh liền nói : “Thưa thầy, em cũng nghĩ sẽ làm như kiến vậy”. Không ngờ thầy nói : “Không , em nên làm như dế, tuy rằng cuộc sống của chúng có ngắn ngủi nhưng chúng biết đem lời ca tiếng hát hay đẹp để lại cho đời, biết cống hiến và góp niềm vui cho nhân loại. Còn kiến tuy cả ngày vất vả công việc nhưng chúng chỉ lo cho cái ăn của chúng mà thôi”. Nghe xong, cô học sinh mỉm cười vui vẻ làm nhiều việc tốt trong những ngày còn lại và đi đến điểm cuối cùng của cuộc sống mà không âu sầu bi thương.
    Câu chuyện trên là một bài học rất hay cho chúng ta, bình thường thầy giáo nói có hai đáp án khác nhau, hoàn toàn tương phản nhưng đó là một phương thức của giáo dục. Bởi vì học sinh luôn không giống nhau về nhiều mặt nên thầy giáo phải biết cách giáo dục theo khả năng, tính cách của đối tượng, đó là điểm thành công của giáo dục cũng là cách làm cho cuộc sống trở nên hài hòa.
    Đồng thời câu chuyện này cũng giúp chúng ta hiểu rõ rằng trong mỗi một giai đoạn và hoàn cảnh khác nhau của cuộc đời, chúng ta nên tùy cơ ứng biến cho cuộc sống mỗi ngày tốt đẹp và hoàn hảo hơn. Chúng ta không nên cố chấp một phương án, một quan niệm hay một suy nghĩ nào đó mà cho là vĩnh cửu và đúng với mọi lúc mọi nơi. Chúng ta nên biết cuộc sống có muôn hình vạn trạng vì thế chúng ta cũng phải linh động mà thay đổi cách nhìn, cách sống cho phù hợp theo chiều hướng tốt đẹp.
                                                                                 Sưu tầm

Thứ Ba, 1 tháng 7, 2014

SÁ CHI SUY THỊNH VIỆC ĐỜI...

                                               (Hình trên trích trong tập NƠI ẤY BÌNH YÊN(Xem phần giới thiệu sách))
Thân như điện ảnh hữu hoàn vô
Vạn mộc xuân vinh thu hựu khô
Nhậm vận thịnh suy vô bố úy
Thịnh suy như lộ thảo đầu phô.
(Thân như bóng chớp chiều tà
Cỏ xuân tươi tốt thu qua rụng rời
Sá chi suy thịnh việc đời
Thịnh suy như hạt sương rơi đầu cành)

(HT.Thích Mật Thể dịch)


tiểu sử tác giả bài kệ
Vạn Hạnh thiền sư 萬行禪師 (?-1018) họ Nguyễn , tên thực và năm sinh đều chưa rõ, người châu Cổ Pháp, lộ Bắc Giang. Từ nhỏ đã học thông tam giáo, đặc biệt rất say mê đạo Phật.

Năm 21 tuổi, ông đi tu ở chùa Lục Tổ, hương Dịch Bảng và lập thành thế hệ thứ mười hai, dòng thiền Nam phương. Tuy theo đạo Phật, song ông vẫn quan tâm đến những biến cố chính trị, xã hội trong giai đoạn đó. Ông đã góp nhiều ý kiến giúp Lê Đại Hành (980-1005) chống giặc ngoại xâm và dựng nước, sau lại góp phần giúp Lý Công Uẩn lên ngôi (1010). Là một người có cái nhìn nhạy bén về thời cuộc như vậy nên trong thời Tiền Lê, ông được vua Lê Đại Hành tôn kính; sang thời nhà Lý càng được triều đình trọng đãi. Lý Thái Tổ (1010-1028) phong ông làm quốc sư.

Ông mất ngày 15 tháng Năm năm Mậu ngọ, niên hiệu Thuận Thiên thứ chín (tức ngày 30 tháng Sáu năm 1018).

Tác phẩm: hiện còn 5 bài thơ, có tính chất những lời sấm và lời kệ. Ngoài ra còn có một ít lời phát biểu về thời cuộc. 
                                                     Nguồn: http://www1.agu.edu.vn/gs..