BẢY ĐIỂM THIỀN ĐỊNH
DỰA VÀO QUY LUẬT NGUYÊN NHÂN HẬU QUẢ
NHỮNG LỜI KHUYÊN GIÚP CHÚNG TA SỐNG VỚI ĐẠO PHÁP
(La méthode de cause à effet en sept points -
Conseils de méditation pour vivre le bouddhisme)
Đức Đạt-lai Lạt-ma
Hoang Phong chuyển ngữ
Phật
giáo Tây Tạng hay Kim Cương Thừa nói chung rất thực tế và cụ
thể, giúp người tu tập trực tiếp biến cải tâm thức mình
và đạt được giác ngộ. Dưới đây là một bài giảng ngắn của Đức Đạt-lai
Lạt-ma về một trong các phép luyện tập thiền định chủ yếu và thiết
thực của Phật giáo Tây Tạng, là "Phép thiền định gồm
bảy điểm" do Atisha (A-đề-sa) đề xướng.
Atisha (982-1054) là một vị đại sư xuất thântừ đại học Nalanda,
sống vào một thời kỳ nhiễu nhương dưới sự xâm lược của các
đạo quân Hồi giáo, từ thế kỷ thứ X đến XII, và đây cũng là thời
kỳđánh dấu sự suy tàn của Phật giáo trên đất Ấn.
Atisha vượt biển đến quần đảo Sumatra của Inđônêxia và lưu lại đây 12 năm, thụ
giáo với một vị thầy lỗi lạc là Dharmarakshita và học được phép thiền
định Lojong, một phép luyện tập mang lại "tâm thức giác ngộ" hay
"bồ-đề tâm" (bodhicitta). Ông trở về Ấn năm 1025 và
giảng dạy tại đây, đến năm 1042 thì được mời lên Tây Tạng để giúp phục
hồi Phật giáo tại xứ sở này. Tại đây ông đã triển khai và hệ
thống hóa phép luyện tập Lojong đưa đến sự hình thành của phép luyện tập
mới là Larim, nêu lên thật chính xác và minh bạch các giai
đoạn luyện tập tuần tự đưa đến sự giác ngộ.
Trong phép luyện tập này Atsha phân loại người tu tập theo ba cấp
bậc:
- cấp bậc thấp
gồm những người tu tập còn kém, với lòng nhiệt tình thấp và tầm nhìn
hạn hẹp, chỉ mong muốn được tái sinh trong những hoàn cảnh thuận
lợi hơn.
- cấp bậc trung bình với những người có tầm nhìn xa
hơn và lòng nhiệt tình cao hơn, có nghĩa là mong muốn được giải thoát khỏi
chu kỳ của những sự hiện hữu và hòa nhập vào cõi niết bàn.
- cấp bậc cao gồm những người có tầm nhìn thật rộng
lớn, với một lòng nhiệt tình vô song, mong muốn đạt được bồ-đề
tâm để trở thành một vị Phật toàn vẹn, hầu có thể giúp đỡ
tất cả chúng sinh.
Trong mỗi cấp bậc đều có các phép luyện tập và các chủ đề thiền
định riêng. Trong số các phép luyện tập của cấp bậc cao có một phép gọi là "Giáo
huấn về bảy điểm giúp người tu tập nhìn vào tất cả chúng sinh đều
là mẹ mình". Phép luyện tập này dựa vào ý niệm cho
rằng qua vô số kiếp sống của mình trong chu kỳ xoay vần bất tận của
các sự hiện hữu, tất cả chúng sinh đều có thể từng là mẹ mình
trong quá khứ, và đây cũng là chủ đề bài giảng của Đức Đạt-lai
Lạt-ma dưới đây.
Sở
dĩ phải dài dòng như trên trước hết là để điểm qua vị trí của
bài giảng này trong kinh sách vô cùng phong phú của Phật
giáo Tây Tạng, sau đó là nhấn mạnh đến tính cách cụ thể, thiết
thực nhưng đồng thời cũng hết sức chặt chẽ và chính
xác trong các phép luyện tập của Phật giáo Tây Tạng nói chung.
Bài chuyển ngữ dưới đây được dựa vào một tư liệu do bà
Sofia Stril-Rever vừa đưa lên trang mạng Buddhaline. Bà là một học giả và
nhà văn, đệ tử của Đức Đạt-lai Lạt-ma, được Ngài giao phó cùng
với một số nhà sư và học giả Phật giáo khác, soạn thảo bản "Tuyên
Ngôn về Trách Nhiện Toàn Cầu" mà chính Ngài cũng đã duyệt lại
trước khi phổ biền.
***
Giai đoạn chuẩn bị: phát huy
thể dạng bình lặng
Nếu muốn luyện tập về quy luật nguyên nhân hậu quả dựa vào bảy
điểm thiền định thì trước hết phải phát huy một thể dạng tâm
thức bình lặng (equanimity/bình thản, tĩnh lặng, thăng bằng). Khi
chưa thực hiện được thể dạng này thì các bạn sẽ không thể tạo ra cho
mình một tầm nhìn vị tha và vô tư được. Thiếu sự bình lặng
đó thì các bạn sẽ khó tránh khỏi thiên vị những người thân
thuộc và bạn hữu mình. Nếu muốn mang lại cho mình một thể dạng
bình lặng thật vững vàng thì các bạn phải ý thức được là
không nên có một thiển kiến, hận thù hay một sự bám víu nào
đối với bất cứ một ai, dù đấy là kẻ thù, bạn hữu hay một người hoàn
toàn xa lạ với mình.
Nhằm thực hiện căn bản đó đúng theo những lời hướng dẫn trong
tập luận "Các giai đoạn luyện tập trên Đường Giác Ngộ: Con
Đường Phúc Hạnh mang lại sự Hiểu BiếtToàn Năng" của
Panchen-lama Chökyi Gyaltsen (tức là tập luận "The Graded Stage of
the Path: A Blissful Path"/"Lam-rim bde-lam" của Ngài Ban-thiền
Lạt-ma thứ IV, 1570-1662), thì trước hết các bạn hãy hình
dung ra một người dưng hoàn toàn xa lạ với mình. Sau khi hình
ảnh người này hiện ra thật minh bạch, thì các bạn sẽ cảm
thấy không có một xúc cảm rõ rệt nào hiện lên với mình, không có
một sự cảm nhận thèm muốn hay hận thù nào, có nghĩa là mình hoàn
toàn dửng dưng (vô cảm và thờ ơ đối với con ngườixa
lạ ấy). Sau đó các bạn hãy liên tưởng đến một kẻ
thù (một người mà mình ghét cay ghét đắng chẳng hạn), thì tức
khắc một cơn giận hay sự thù hận sẽ bùng lên ngay trong tâm thức mình.
Sau đó các bạn lại gợi lên trong tâm trí mình hình ảnh một
người bạn hay một người thân thuộc trong gia đình, thì một thứ
xúc cảm quyến luyến và gắn bó nào đó sẽ tức khắc hiện
lên với mình.
(Tâm
thức là một giác quan, ba loại cá thể trên đây là các đối
tượng cảm nhận của nó. "Xa lạ", "kẻ thù" hay "thân
thuộc" là ba cách diễn đạt của tâm thức về ba cá
thểấy. Các sự diễn đạt này là kết quả phát sinh từ sự liên kết giữa
các cảm nhận của tâm thức về các cá thể trên đây và các
nghiệp tồn lưu bên trong tâm thức liên quan đến các cá thể ấy.
Sự diễn đạt này sẽ tạo ra các xúc cảm đủ loại bên trong tâm thức. Hình
ảnhmột người dưng không gây ra một xúc cảm nào đáng kể, bởi vì bên trong tâm
thứckhông hề có một nghiệp nào được ghi khắc từ trước, liên quan
đến cá thể hoàn toàn xa lạ này, "xúc cảm" nếu có
thì chỉ là các xúc cảm "dửng dưng". Trái lại nếu tâm
thức cảm nhận được hình dạng một cá thể liên hệ mật thiết với
các vết hằn của nghiệp bên trong nó - chẳng hạn như người này trước đây từng
gây ra những sự tổn thương hay oán hận- thì tức khắc các vết hằn
này sẽ tạo ra các tác động khiến tâm thức diễn đạt cá
thể này là một "kẻ thù", và sự diễn đạt đó sẽ tạo ra
các xúc cảm bấn loạn và tàn phá trong tâm thức. Ngược lại nếu là hình
ảnh một người mà mình yêu quý hay gần gũi với mình trong gia đình thì
các xúc cảm hiện lên sẽ là sự quyến luyến, bám víu hay
"thèm muốn". Ngay cả trường hợp chỉ cần tiếp xúc với
một người nào đó tuy "xa lạ" nhưng hao hao giống với một người mà
mình "quyến luyến", chẳng hạn như nghe thấy tiếng nói, trông thấy vóc
dáng, mái tóc hay gương mặt của người này thì cũng đủ để gợi lên cho mình các
xúc cảm giống như là mình gặp lại đúng người mà mình "quyến luyến"
trước đây. Điều này cho thấy "nghiệp" rất tinh tế và bén
nhạy, nó sẽ tức khắc hiện lên thành quả dưới hình thức xúc
cảm một khi nó gặp được cơ duyên phù hợp, xúc cảm này có thể đưa đến
sự hình thành của tư duy, tác ý trong tâm thức, hoặc ngôn
từ, cử chỉ hay hành động trên thân xác.
Đối với các cơ quan giác cảm khác cũng vậy, thí dụ mình
đang đói và đi ngang một tiệm phở, mùi phở và hình ảnh các miếng thịt
treo lủng lẳng ở tủ kính sẽ khiến mình thèm ăn. "Xúc cảm" thèm ăn -
tức bám víu, thèm khát - là sự thúc đẩy của bản
năngsinh tồn, phía sau bản năng đó là nghiệp của mình, trói buộc mình
với sự hiện hữu của chính mình. Thế nhưng nếu vừa ăn cơm xong thì
mình sẽ hoàn dửng dưng trước những thứ ấy.
Nói chung, đấy là các phản ứng khác nhau của tâm thức trong
cuộc sống thường nhật. Nếu biết ý thức, phân tích và theo dõi các phản
ứng đó hầu tìm hiểu nguyên nhâncủa chúng thì trước hết sẽ là
cách giúp mình nhìn thấy sự vận hành của nghiệp và các tác động của
nó bên trong tâm thức mình, sau đó cũng là một cách thiền định hướng
vào từng xúc cảm, tư duy và tác ý cùng ngôn từ và
hành động trên thân xác, giúp mình kiểm soát và chủ động chúng.
Kinh Satipatthana-Sutta/Kinh về sự Chú Tâm Tỉnh Giác gọi đó là
cách tập trung sự chú tâm tỉnh thức vào bốn lãnh vực là
thân xác, cảm giác, tâm thức và những gì hiện lên bên
trong tâm thức mình. Khi đã trở về được với tâm thức "từ
bên trong nó, không dựa vào bất cứ gì trong thế giới", thì dù
đang đói hay no, mùi phở và hình ảnh những miếng thịt treo lủng lẳng
cũng chỉ làm hiện lên trong tâm thức mình một cảm nhận duy
nhất là sự đau đớn của một con bò bị đập đầu và xẻ thịt, và ý
thức về bản chất vô thường, khổ đau và vô thực thể của
các hiện tương cấu hợp tạo ra chính mình. Sự cảm nhận đó tất sẽ khơi động trong
con tim mình một quyết tâm nào đó.
Những gì trên đây cho thấy là các thể dạng tâm thức có thể chỉ đơn
giản là các phản ứng phát sinh một cách tự động từ nghiệp và bản
năng, nhưng cũng có thể được tạo ra bởi sự quyết tâm của chính mình)
Trước kẻ thù thì các bạn sẽ cảm thấy một sự cách biệt,
một cảm tính hận thùhay ghét bỏ nào đó. Hãy tưởng tượng người Trung
Quốc là các kẻ thù của mình chẳng hạn, họ ra lệnh hủy diệt Dharma (Đạo
Pháp) không thương tiếc, gây tổn thương cho những người đồng
hương, cai trị xứ sở bằng sự độc đoán, bất chấp các phẩm tính căn bản của con
người, chẳng hạn như lòng tin và sự tín nhiệm. Các bạn hãy hình
dung ra các luận cứ nhằm biện minh tính cách chính đáng của
các xúc cảm tiêu cực trên đây của mình trước các hành vi đó
của họ. Quả thật họ đã gây ra không biết bao nhiêu đổ vỡ cho cuộc
sống này, thế nhưng trước đó thì họ có như thế hay không? Tất nhiên các bạn sẽ nhận
thấy là không, trong quá khứ họ từng mang lại nhiều điều tốt
đẹp cho mình và kẻ khác. Thế nhưng hiện nay thì họ chẳng những không còn
giữ được một chút lòng tin nào nơi Đạo Pháp mà còn làm tổn
thương đến thật nhiều người. Họ gần như không còn chủ động được
mình nữa. Tuy nhiên các khiếm khuyết đó đều là do vô minh, hận
thù, v.v. gây ra cho họ, nhưng tuyệt nhiên không phải là bản
chất tự nhiên của họ.
Các bạn đừng quên là kể cả tâm thức mình cũng không sao tránh
khỏi ảo giác, tuy không mang cùng một bản chất tàn phá như của
họ nhưng không phải vì thế mà kém ảo giác hơn. Do đó các bạn nên hiểu
rằng các phản ứng xúc cảm [tiêu cực] mà mình dán lên trán những người
mà mình xem là kẻ thù, không hề mang tính cách chính đángnào cả.
Đến đây chúng ta lại tiếp tục nhìn vào thái độ của
mình đối với những người thân thuộc và bạn hữu của mình. Có thể các
bạn nghĩ rằng đó là những người rất tốt, lúc nào cũng mang lại mọi điều tốt
đẹp cho mình, v.v. Họ đối xử tốt với các bạn đến độ các bạn cảm thấy nếu
cần thì mình cũng có thể hy sinh cả tánh mạng mình vì họ. Dù là
những người vô cùng tử tế với mình trong kiếp sống này thế nhưng
trong các kiếp quá khứ biết đâu họ cũng từng là kẻ thù của
mình, hoặc cũng có thể là những người đã gây ra cái chết cho mình trong các
kiếp sống trước đây của mình. Hoặc cũng có thể họ từng là những người thật hung
dữ, gieo rắc đau thương và tàn phá chung quanh họ. Vì thế không
có một lý do nào để bám víu vào họ một cách tuyệt đối và vĩnh
viễn như là những người thân thuộc hay bạn hữu của mình.
Tóm lại đối với mình, giữa kẻ thù và bạn hữu
không có một ranh giới tuyệt đối nào cả. Kẻ thù hay
bạn hữu cũng không khác gì nhau, lúc thì mang lại những điều tốt đẹp, lúc
thì gây ra mọi thứ đổ vỡ cho mình. Do đó không có một lý do nào để mà chấp
nhất hay thiên vị đối với bất cứ ai cả. Vậy các bạn nên tạo ra
cho mình một thể dạng bình lặng (equanimity/tĩnh lặng, thanh
thản, không phân biệt hay thiên vị) đối với tất cả chúng
sinh. Dầu sao thể dạng tâm thức đó cũng không thể hiện lên
với mình được sau một hay hai buổi hành thiền, mà cần đến một sự luyện tập kiên
trì kéo dài hàng tháng hay hàng năm.
Sau đây là bảy điểm thiền định dựa vào quy
luật nguyên nhân hậu quả:
1- Điểm thiền định thứ
nhất: trông thấy bóng dáng mẹ nơi tất cả chúng sinh
Giai đoạn đầu tiên trong phép thiền định về nguyên nhân hậu
quả dựa vào bảy điểm là phát huy một sự quán thấy tất cả chúng
sinh đều từng là mẹ của mình. Trong mỗi kiếp sống trong chu kỳ xoay vần
bất tận không khởi thủy của sự hiện hữu, chúng ta đều có một
người mẹ. Do đó chúng ta không thể nào khẳng định một cách chắc
chắn là một chúng sinh nào đó đang sống hiện nay chưa từng là một
người mẹ của mình trước kia trong quá khứ. Các bạn nên nhìn vào tất cả chúng
sinh qua góc nhìn đó. Thế nhưng các bạn cũng có thể nghĩ rằng chúng
sinh thì nhiều vô kể, vậy làm thế nào mà tất cả lại có thể từng là mẹ
mình được. Tuy nhiên cũng phải hiểu rằng nếu chúng sinh nhiều vô
kể thì các kiếp sống của mình trong chu kỳ hiện hữu cũng nhiều
như thế. Hoặc các bạn cũng có thể nghĩ rằng dù cho họ từng đúng thật là những
người mẹ của mình thì đấy cũng chỉ là các người mẹ trong quá khứ, không
phải là mẹ của mình trong kiếp sống này. Tuy nhiên các bạn cũng thử
nhìn lại xem, chẳng phải người mẹ của mình trong ngày hôm qua cũng vẫn còn là
mẹ của mình trong ngày hôm nay hay sao?
Nếu đủ sức hình dung được sự sống không khởi thủy thì các bạn
tất sẽ phải hiểu được trong quá khứ sự sống đó của mình dù là dưới hình
thức nào (trong sáu cõi luân hồi) cũng đều phải được
sinh ra từ một người mẹ - từ một quả trứng hay bên trong một tử cung. Do
đó không có một chúng sinh nào lại không có thể là mẹ mình (dù
đấy là những con thú). Chấp nhận sự thật này không phải là
chuyện dễ (dưới một góc nhìn khác thì dù chúng ta tin hay
không tin vào sự tái sinh cũng vậy, chủ đích của phép luyện
tập này là giúp mình nhìn vào tất chúng sinh đều là mẹ mình, và đó là
cách khơi động một thứ xúc cảm thật mạnh bên trong chúng ta là lòng
hiếu thảo, giúp chúng ta phát huy bồ-đề tâm thật rộng lớn
trong tâm thức mình). Vậy các bạn hãy thử suy nghĩ theo
một chiều hướng ngược lại xem sao, tức là tìm cách loại bỏ những
người không phải là mẹ mình trong quá khứ. Vậy thì đối với các chúng
sinh mà mình gạt sang một bên đó thì các bạn có thể quả quyết một
cách chắc chắn là họ chưa từng bao giờ là mẹ của mình hay
không?
(Thật
vậy, trông thấy hình bóng của mẹ trong tất cả chúng sinh kể cả những
con thú không phải là dễ thực hiện, một khi lòng từ bi bên trong
chính mình chưa chín mùi, tức có nghĩa là "cái tôi" của mình còn quá
to lớn và nặng nề, không cho phép mình "bay lượn" xuyên
qua không gian và thời gian cùng với tất cả các chúng
sinh khác trong sự xoay vần của thế giới hiện tượng. Bên trong thế
giới đó tất cả các chúng sinh khác đều hiện lên với
mình như trong một giấc mơ thật dài. Trong giấc mơ đó mình "gặp lại" cha
mẹmình, ông bà mình, những người mà mình từng thương yêu, kể cả các kẻ
thù của mình. Tất cả đều bay lượn trong thế giới ảo giác đó,
lúc thì hiện lên thật rõ ràng lúc thì mờ đi và biến mất,
hun hút trong không gian và thời gian, tương tự như ảo giác.
Thế nhưng cũng có một cái gì đó rất thật và cụ thể đó là sự hiện
hữu của chính mình. Sự hiện hữu đó chính là món nợ mà mình phải
trả cho một người mẹ, có thể là rất gần trong ngày hôm nay, nhưng cũng có thể
là rất xa, hun hút ở một nơi nào đó trong thế giới hiện tượng này.
Trong sự hiện hữu rất thật đó của mình cũng có một thứ xúc cảm cũng
rất thật và vô cùng cao quý, đó là lòng hiếu thảo đối mẹ
mình trong ngày hôm nay, hay trong ngày hôm qua thì cũng vậy. Vậy hãy biến lòng
hiếu thảo rất thật đó trở thành bồ-đề tâm cũng rất thật
trong tâm thức để hồi đáp món nợ ấy cho từng người mẹ của
chính mình).
Sau hết các bạn nên tự hỏi như thế này: vậy nếu cứ xem tất cả chúng sinh là
mẹ mình thì sẽ phải chịu thiệt thòi hay được lợi? Nếu muốn phát huy bồ-đề
tâm - tức lòng thương người - thì các bạn cũng nên ý thức một
điều là nếu không chấp nhận cách nhìn đó đối với kẻ khác (tức
xem họ là mẹ mình), thì dù có cố gắng cách mấy thì các bạn cũng
không thể thành công được. Khi nào chưa chấp nhận cách nhìn
đó thì những điều mong cầu của các bạn (bồ-đề tâm) vẫn còn hết
sức xa vời. Nên hiểu rằng trong chu kỳ xoay vần bất tận của sự hiện
hữu, các kiếp sống không có một điểm khởi thủy nào, do đó trong quá khứ tất
cả chúng sinh đều có thể từng là những người mẹ sinh ra mình và nuôi
nấng mình.
Nhìn vào kẻ lạ và xem họ từng là những người thân thuộc của mình
không có nghĩa là trong quá khứ họ nhất thiết cũng phải là
những người xa lạ với mình. Vị đại sưMaitreya (Di Lặc,
được xem là thầy của Asanga/Vô Trước, thế kỷ thứ IV) trong tập luận "Abhisamayalankara"/
"Hiện tráng trang nghiêm luận" cho biết rằng chúng
ta cũng có thể nhìn vào một người bạn quý nhất hay một người thân
thuộc gần gũi nhất với mình và xem họ cũng từng là những người thân
thiết với mình trước đây trong quá khứ. Chẳng hạn nếu mình cảm
thấy gắn bó với cha mình hơn là mẹ mình thì cứ hình dung cha
mình trong kiếp sống này cũng từng là cha mình trong quá khứ, hoặc cũng có
thể nhìn vào đứa con yêu quý hiện nay của mình và hình dung nó cũng
từng là con mình trong các kiếp sống trước, đó là cách giúp mình bộc lộ tình
thương yêu đối với những người khác. Điều quan trọng là phải làm thế nào
để phát huy một thể dạng tâm thức giúp mình bộc lộđược tình
thương yêu và sự quý mến thật sâu xa của mình đối với
tất cả chúng sinh. Đấy là cách giúp mình trông thấy được bóng dáng mẹ
mình nơi mỗi chúng sinh.
Dù có kinh sách nào bài bác quan điểm cho rằng tất cả chúng
sinh vào một lúc nào đó đều là những người mẹ hết lòng nuôi nấng
mình thì cũng không hề hấn gì. Tuy nhiên cũng phải hiểu rằng các trường
hợp ngoại lệ đó (tức có những người không phải là mẹ mình hoặc
không chăm sóc gì đến mình) không phải là một bằng chứng để phủ nhận sự
kiện trên đây. Ngay cả ngày nay cũng có những đứa con sau khi lớn lên
không còn đoái hoài gì đến mẹ của chúng nữa. Đối với trường hợp của
các bạn cũng vậy, dù được mẹ hết lòng thương yêu và chăm sóc
nhưng không phải vì thế mà các bạn bắt buộc tất cả các chúng sinh khác
cũng phải cư xử như thế đối với mình.
2- Điểm thiền định thứ
hai: biết ơn lòng tốt của tất cả chúng sinh
Giai đoạn thiền định tiếp theo là nhớ lại ơn nghĩa của
tất cả những ai đã từng chăm sóc mình. Nhằm giúp mình khơi động lòng biết
ơn đó đối với họ các bạn hãy hình dung ra một người thân
thiết nhất với mình, chẳng hạn như mẹ hay cha mình trong lúc tuổi già.
Hãy hình dung ra họ một cách thật chính xác, chẳng hạn như đang
trong hoàn cảnh phải cần đến sự chăm lo của những người chung quanh (hầu
giúp mình ý thứcđược bổn phận của mình). Đấy là cách giúp mình thiền
định (về lòng biết ơn) thật cụ thểvà thiết thực.
Sau đó các bạn hãy nghĩ đến mẹ mình chẳng hạn, không những đấy là mẹ mình trong
kiếp sống này mà cả trong các kiếp sống khác của mình trước đây.
Trong kiếp sống này, tình thương của mẹ đối với mình thật vô
biên, không những từ lúc mới lọt lòng mà cả truớc đó, khi mình còn
trong bụng. Trong những lúc đó mẹ mình cũng đã phải chịu đựng đủ mọi
thứ khổ nhọc; và gần đây hơn mẹ mình cũng vẫn còn phải hy sinh hạnh
phúc và cả các thú vui khác vì mình. Khi mình vừa lọt lòng thì mẹ cảm
thấy vô cùngsung sướng như vừa tìm thấy một kho tàng. Mẹ hết
lòng bảo vệ, chăm lo, tắm rửa, bồng bế, cho đến khi mình chập
chững biết đi.
Đối với các loài thú vật chẳng hạn như chim chóc, chó, mèo, thì cũng
vậy, các bạn cũng sẽ nhận thấy sự chăm sóc đó, tuy không được lâu bền
như con người, thế nhưng tình thương và sự hy sinh của
chúng cho con cái cũng hết sức vô biên. Dưới một góc nhìn khác thì
tình mẫu tử của các loài thú thật rõ ràng là bất vụ
lợi, khác hơn đối với con người, bởi vì con người thường nuôi hy
vọng sau này con cái sẽ đối xử hiếu thảovới mình (đôi khi chúng
ta cũng nên học điều đó nơi các loài thú vật để hiểu rằng mình
nên chắp cánh cho con cái bay cao. Nếu chúng ta từng tập chúng từng
bước khi chúng mới chập chững, thì khi lớn lên cũng nên để chúng tự
do bước đi trên con đường mà chúng đã chọn. Bám víu dù
dưới hình thức nào cũng đều không tốt cho mình cũng như cho chúng.
Phải tìm cách hóa giải nghiệp nhưng không nên ngăn chận sự vận
hành của nghiệp - dù là của chúng hay của mình - bởi vì đó chỉ là cách tạo
ra thêm nghiệp mới).
Chẳng hạn như các loài chim, một số phải tìm bắt sâu bọ để nuôi con, có khi
phải ra sức nuôi cả một đàn con trong tổ; chúng tự gánh vác một mình,
không như chúng tađược sự giúp đỡ của những người chung quanh. Cách chúng cố
gắng nuôi con không khỏi khiến chúng ta cảm động. Mỗi khi thấy
chim con gặp hiểm nguy, chẳng hạn như gặp mèo hay kên kên, thì chim mẹ có thể hy
sinh cả mạng sống của mình. Tuy thái độ đó của chúng dù chỉ là
một hình thức bám víu nhưng cũng phản ảnh cả một tình
thương bao la. Vậy nào có phải chỉ có sự hy sinh của người mẹ
nơi giống người thì mới là vô biên đâu. Sự hy sinh đó không
phải chỉ xảy ra trong một kiếp sống duy nhất mà qua không biết bao
nhiêu sự hiện hữu. Biết suy tư như thế sẽ tạo ra những tác động thật
mạnh trong tâm thức mình.
Sau khi đã hiểu được thế nào là tình thương yêu của mẹ nhất là trong
kiếp sống này, thì các bạn hãy hình dung ra những kẻ mà mình cảm
thấy xa lạ và ghê tởm, kể cả súc vật, hầu giúp mình suy tư. Các
bạn hãy suy nghĩ như thế này, các chúng sinh ấy hiện nay có
thể là nguy hại, cư xử với mình như kẻ thù, thế nhưng trong các
kiếp sống quá khứ các chúng sinh ấy cũng có thể từng là ân
nhân của mình, nhiều lần cứu mạngmình, vì thế lòng nhân từ của
họ thật vô biên. Đấy cũng là một cách suy nghĩ giúp mình luyện
tập tâm thức.



