Thứ Bảy, 7 tháng 1, 2017

BẢY ĐIỂM THIỀN ĐỊNH ...

                                                                            







BẢY ĐIỂM THIỀN ĐỊNH
DỰA VÀO QUY LUẬT NGUYÊN NHÂN HẬU QUẢ
NHỮNG LỜI KHUYÊN GIÚP CHÚNG TA SỐNG VỚI ĐẠO PHÁP
(La méthode de cause à effet en sept points -
Conseils de méditation pour vivre le bouddhisme)
Đức Đạt-lai Lạt-ma
Hoang Phong chuyển ngữ

Lời giới thiệu của người dịch

            Phật giáo Tây Tạng hay Kim Cương Thừa nói chung rất thực tế và cụ thể, giúp người tu tập trực tiếp biến cải tâm thức mình và đạt được giác ngộ. Dưới đây là một bài giảng ngắn của Đức Đạt-lai Lạt-ma về một trong các phép luyện tập thiền định chủ yếu và thiết thực của Phật giáo Tây Tạng, là "Phép thiền định gồm bảy điểm" do Atisha (A-đề-sa) đề xướng.

             Atisha (982-1054) là một vị đại sư xuất thântừ đại học Nalanda, sống vào một thời kỳ nhiễu nhương dưới sự xâm lược của các đạo quân Hồi giáo, từ thế kỷ thứ X đến XII, và đây cũng là thời kỳđánh dấu sự suy tàn của Phật giáo trên đất Ấn. Atisha vượt biển đến quần đảo Sumatra của Inđônêxia và lưu lại đây 12 năm, thụ giáo với một vị thầy lỗi lạc là Dharmarakshita và học được phép thiền định Lojong, một phép luyện tập mang lại "tâm thức giác ngộ" hay "bồ-đề tâm" (bodhicitta). Ông trở về Ấn năm 1025 và giảng dạy tại đây, đến năm 1042 thì được mời lên Tây Tạng để giúp phục hồi Phật giáo tại xứ sở này. Tại đây ông đã triển khai và hệ thống hóa phép luyện tập Lojong đưa đến sự hình thành của phép luyện tập mới là Larim, nêu lên thật chính xác và minh bạch các giai đoạn luyện tập tuần tự đưa đến sự giác ngộ.

            Trong phép luyện tập này Atsha phân loại người tu tập theo ba cấp bậc:


      - cấp bậc thấp gồm những người tu tập còn kém, với lòng nhiệt tình thấp và tầm nhìn hạn hẹp, chỉ mong muốn được tái sinh trong những hoàn cảnh thuận lợi hơn. 
      - cấp bậc trung bình với những người có tầm nhìn xa hơn và lòng nhiệt tình cao hơn, có nghĩa là mong muốn được giải thoát khỏi chu kỳ của những sự hiện hữu và hòa nhập vào cõi niết bàn.
       - cấp bậc cao gồm những người có tầm nhìn thật rộng lớn, với một lòng nhiệt tình vô song, mong muốn đạt được bồ-đề tâm để trở thành một vị Phật toàn vẹn, hầu có thể giúp đỡ tất cả chúng sinh.

            Trong mỗi cấp bậc đều có các phép luyện tập và các chủ đề thiền định riêng. Trong số các phép luyện tập của cấp bậc cao có một phép gọi là "Giáo huấn về bảy điểm giúp người tu tập nhìn vào tất cả chúng sinh đều là mẹ mình". Phép luyện tập này dựa vào ý niệm cho rằng qua vô số kiếp sống của mình trong chu kỳ xoay vần bất tận của các sự hiện hữu, tất cả chúng sinh đều có thể từng là mẹ mình trong quá khứ, và đây cũng là chủ đề bài giảng của Đức Đạt-lai Lạt-ma dưới đây.

            Sở dĩ phải dài dòng như trên trước hết là để điểm qua vị trí của bài giảng này trong kinh sách vô cùng phong phú của Phật giáo Tây Tạng, sau đó là nhấn mạnh đến tính cách cụ thể, thiết thực nhưng đồng thời cũng hết sức chặt chẽ và chính xác trong các phép luyện tập của Phật giáo Tây Tạng nói chung. Bài chuyển ngữ dưới đây được dựa vào một tư liệu do bà Sofia Stril-Rever vừa đưa lên trang mạng Buddhaline. Bà là một học giả và nhà văn, đệ tử của Đức Đạt-lai Lạt-ma, được Ngài giao phó cùng với một số nhà sư và học giả Phật giáo khác, soạn thảo bản "Tuyên Ngôn về Trách Nhiện Toàn Cầu" mà chính Ngài cũng đã duyệt lại trước khi phổ biền.     

*** 

Giai đoạn chuẩn bị: phát huy thể dạng bình lặng

            Nếu muốn luyện tập về quy luật nguyên nhân hậu quả dựa vào bảy điểm thiền định thì trước hết phải phát huy một thể dạng tâm thức bình lặng (equanimity/bình thản, tĩnh lặng, thăng bằng). Khi chưa thực hiện được thể dạng này thì các bạn sẽ không thể tạo ra cho mình một tầm nhìn vị tha và vô tư được. Thiếu sự bình lặng đó thì các bạn sẽ khó tránh khỏi thiên vị những người thân thuộc và bạn hữu mình. Nếu muốn mang lại cho mình một thể dạng bình lặng thật vững vàng thì các bạn phải ý thức được là không nên có một thiển kiến, hận thù hay một sự bám víu nào đối với bất cứ một ai, dù đấy là kẻ thù, bạn hữu hay một người hoàn toàn xa lạ với mình.

            Nhằm thực hiện căn bản đó đúng theo những lời hướng dẫn trong tập luận "Các giai đoạn luyện tập trên Đường Giác Ngộ: Con Đường Phúc Hạnh mang lại sự Hiểu BiếtToàn Năng" của Panchen-lama Chökyi Gyaltsen (tức là tập luận "The Graded Stage of the Path: A Blissful Path"/"Lam-rim bde-lam" của Ngài Ban-thiền Lạt-ma thứ IV, 1570-1662), thì trước hết các bạn hãy hình dung ra một người dưng hoàn toàn xa lạ với mình. Sau khi hình ảnh người này hiện ra thật minh bạch, thì các bạn sẽ cảm thấy không có một xúc cảm rõ rệt nào hiện lên với mình, không có một sự cảm nhận thèm muốn hay hận thù nào, có nghĩa là mình hoàn toàn dửng dưng (vô cảm và thờ ơ đối với con ngườixa lạ ấy). Sau đó các bạn hãy liên tưởng đến một kẻ thù (một người mà mình ghét cay ghét đắng chẳng hạn), thì tức khắc một cơn giận hay sự thù hận sẽ bùng lên ngay trong tâm thức mình. Sau đó các bạn lại gợi lên trong tâm trí mình hình ảnh một người bạn hay một người thân thuộc trong gia đình, thì một thứ xúc cảm quyến luyến và gắn bó nào đó sẽ tức khắc hiện lên với mình.

            (Tâm thức là một giác quan, ba loại cá thể trên đây là các đối tượng cảm nhận của nó. "Xa lạ", "kẻ thù" hay "thân thuộc" là ba cách diễn đạt của tâm thức về ba cá thểấy. Các sự diễn đạt này là kết quả phát sinh từ sự liên kết giữa các cảm nhận của tâm thức về các cá thể trên đây và các nghiệp tồn lưu bên trong tâm thức liên quan đến các cá thể ấy. Sự diễn đạt này sẽ tạo ra các xúc cảm đủ loại bên trong tâm thức. Hình ảnhmột người dưng không gây ra một xúc cảm nào đáng kể, bởi vì bên trong tâm thứckhông hề có một nghiệp nào được ghi khắc từ trước, liên quan đến cá thể hoàn toàn xa lạ này, "xúc cảm" nếu có thì chỉ là các xúc cảm "dửng dưng". Trái lại nếu tâm thức cảm nhận được hình dạng một cá thể liên hệ mật thiết với các vết hằn của nghiệp bên trong nó - chẳng hạn như người này trước đây từng gây ra những sự tổn thương hay oán hận- thì tức khắc các vết hằn này sẽ tạo ra các tác động khiến tâm thức diễn đạt cá thể này là một "kẻ thù", và sự diễn đạt đó sẽ tạo ra các xúc cảm bấn loạn và tàn phá trong tâm thức. Ngược lại nếu là hình ảnh một người mà mình yêu quý hay gần gũi với mình trong gia đình thì các xúc cảm hiện lên sẽ là sự quyến luyến, bám víu hay "thèm muốn". Ngay cả trường hợp chỉ cần tiếp xúc với một người nào đó tuy "xa lạ" nhưng hao hao giống với một người mà mình "quyến luyến", chẳng hạn như nghe thấy tiếng nói, trông thấy vóc dáng, mái tóc hay gương mặt của người này thì cũng đủ để gợi lên cho mình các xúc cảm giống như là mình gặp lại đúng người mà mình "quyến luyến" trước đây. Điều này cho thấy "nghiệp" rất tinh tế và bén nhạy, nó sẽ tức khắc hiện lên thành quả dưới hình thức xúc cảm một khi nó gặp được cơ duyên phù hợp, xúc cảm này có thể đưa đến sự hình thành của tư duy, tác ý trong tâm thức, hoặc ngôn từ, cử chỉ hay hành động trên thân xác.

            Đối với các cơ quan giác cảm khác cũng vậy, thí dụ mình đang đói và đi ngang một tiệm phở, mùi phở và hình ảnh các miếng thịt treo lủng lẳng ở tủ kính sẽ khiến mình thèm ăn. "Xúc cảm" thèm ăn - tức bám víu, thèm khát -  là sự thúc đẩy của bản năngsinh tồn, phía sau bản năng đó là nghiệp của mình, trói buộc mình với sự hiện hữu của chính mình. Thế nhưng nếu vừa ăn cơm xong thì mình sẽ hoàn dửng dưng trước những thứ ấy.

            Nói chung, đấy là các phản ứng khác nhau của tâm thức trong cuộc sống thường nhật. Nếu biết ý thức, phân tích và theo dõi các phản ứng đó hầu tìm hiểu nguyên nhâncủa chúng thì trước hết sẽ là cách giúp mình nhìn thấy sự vận hành của nghiệp và các tác động của nó bên trong tâm thức mình, sau đó cũng là một cách thiền định hướng vào từng xúc cảm, tư duy và tác ý cùng ngôn từ và hành động trên thân xác, giúp mình kiểm soát và chủ động chúng.

            Kinh Satipatthana-Sutta/Kinh về sự Chú Tâm Tỉnh Giác gọi đó là cách tập trung sự chú tâm tỉnh thức vào bốn lãnh vực là thân xác, cảm giác, tâm thức và những gì hiện lên bên trong tâm thức mình. Khi đã trở về được với tâm thức "từ bên trong nó, không dựa vào bất cứ gì trong thế giới", thì dù đang đói hay no, mùi phở và hình ảnh những miếng thịt treo lủng lẳng cũng chỉ làm hiện lên trong tâm thức mình một cảm nhận duy nhất là sự đau đớn của một con bò bị đập đầu và xẻ thịt, và ý thức về bản chất vô thường, khổ đau và vô thực thể của các hiện tương cấu hợp tạo ra chính mình. Sự cảm nhận đó tất sẽ khơi động trong con tim mình một quyết tâm nào đó.

            Những gì trên đây cho thấy là các thể dạng tâm thức có thể chỉ đơn giản là các phản ứng phát sinh một cách tự động từ nghiệp và bản năng, nhưng cũng có thể được tạo ra bởi sự quyết tâm của chính mình)

            Trước kẻ thù thì các bạn sẽ cảm thấy một sự cách biệt, một cảm tính hận thùhay ghét bỏ nào đó. Hãy tưởng tượng người Trung Quốc là các kẻ thù của mình chẳng hạn, họ ra lệnh hủy diệt Dharma (Đạo Pháp) không thương tiếc, gây tổn thương cho những người đồng hương, cai trị xứ sở bằng sự độc đoán, bất chấp các phẩm tính căn bản của con người, chẳng hạn như lòng tin và sự tín nhiệm. Các bạn hãy hình dung ra các luận cứ nhằm biện minh tính cách chính đáng của các xúc cảm tiêu cực trên đây của mình trước các hành vi đó của họ. Quả thật họ đã gây ra không biết bao nhiêu đổ vỡ cho cuộc sống này, thế nhưng trước đó thì họ có như thế hay không? Tất nhiên các bạn sẽ nhận thấy là không, trong quá khứ họ từng mang lại nhiều điều tốt đẹp cho mình và kẻ khác. Thế nhưng hiện nay thì họ chẳng những không còn giữ được một chút lòng tin nào nơi Đạo Pháp mà còn làm tổn thương đến thật nhiều người. Họ gần như không còn chủ động được mình nữa. Tuy nhiên các khiếm khuyết đó đều là do vô minh, hận thù, v.v. gây ra cho họ, nhưng tuyệt nhiên không phải là bản chất tự nhiên của họ.   

            Các bạn đừng quên là kể cả tâm thức mình cũng không sao tránh khỏi ảo giác, tuy không mang cùng một bản chất tàn phá như của họ nhưng không phải vì thế mà kém ảo giác hơn. Do đó các bạn nên hiểu rằng các phản ứng xúc cảm [tiêu cực] mà mình dán lên trán những người mà mình xem là kẻ thù, không hề mang tính cách chính đángnào cả.

            Đến đây chúng ta lại tiếp tục nhìn vào thái độ của mình đối với những người thân thuộc và bạn hữu của mình. Có thể các bạn nghĩ rằng đó là những người rất tốt, lúc nào cũng mang lại mọi điều tốt đẹp cho mình, v.v. Họ đối xử tốt với các bạn đến độ các bạn cảm thấy nếu cần thì mình cũng có thể hy sinh cả tánh mạng mình vì họ. Dù là những người vô cùng tử tế với mình trong kiếp sống này thế nhưng trong các kiếp quá khứ biết đâu họ cũng từng là kẻ thù của mình, hoặc cũng có thể là những người đã gây ra cái chết cho mình trong các kiếp sống trước đây của mình. Hoặc cũng có thể họ từng là những người thật hung dữ, gieo rắc đau thương và tàn phá chung quanh họ. Vì thế không có một lý do nào để bám víu vào họ một cách tuyệt đối và vĩnh viễn như là những người thân thuộc hay bạn hữu của mình.

            Tóm lại đối với mình, giữa kẻ thù và bạn hữu không có một ranh giới tuyệt đối nào cả. Kẻ thù hay bạn hữu cũng không khác gì nhau, lúc thì mang lại những điều tốt đẹp, lúc thì gây ra mọi thứ đổ vỡ cho mình. Do đó không có một lý do nào để mà chấp nhất hay thiên vị đối với bất cứ ai cả. Vậy các bạn nên tạo ra cho mình một thể dạng bình lặng (equanimity/tĩnh lặng, thanh thản, không phân biệt hay thiên vị) đối với tất cả chúng sinh. Dầu sao thể dạng tâm thức đó cũng không thể hiện lên với mình được sau một hay hai buổi hành thiền, mà cần đến một sự luyện tập kiên trì kéo dài hàng tháng hay hàng năm.

            Sau đây là bảy điểm thiền định dựa vào quy luật nguyên nhân hậu quả:

1- Điểm thiền định thứ nhất: trông thấy bóng dáng mẹ nơi tất cả chúng sinh

            Giai đoạn đầu tiên trong phép thiền định về nguyên nhân hậu quả dựa vào bảy điểm là phát huy một sự quán thấy tất cả chúng sinh đều từng là mẹ của mình. Trong mỗi kiếp sống trong chu kỳ xoay vần bất tận không khởi thủy của sự hiện hữu, chúng ta đều có một người mẹ. Do đó chúng ta không thể nào khẳng định một cách chắc chắn là một chúng sinh nào đó đang sống hiện nay chưa từng là một người mẹ của mình trước kia trong quá khứ. Các bạn nên nhìn vào tất cả chúng sinh qua góc nhìn đó. Thế nhưng các bạn cũng có thể nghĩ rằng chúng sinh thì nhiều vô kể, vậy làm thế nào mà tất cả lại có thể từng là mẹ mình được. Tuy nhiên cũng phải hiểu rằng nếu chúng sinh nhiều vô kể thì các kiếp sống của mình trong chu kỳ hiện hữu cũng nhiều như thế. Hoặc các bạn cũng có thể nghĩ rằng dù cho họ từng đúng thật là những người mẹ của mình thì đấy cũng chỉ là các người mẹ trong quá khứ, không phải là mẹ của mình trong kiếp sống này. Tuy nhiên các bạn cũng thử nhìn lại xem, chẳng phải người mẹ của mình trong ngày hôm qua cũng vẫn còn là mẹ của mình trong ngày hôm nay hay sao?   

            Nếu đủ sức hình dung được sự sống không khởi thủy thì các bạn tất sẽ phải hiểu được trong quá khứ sự sống đó của mình dù là dưới hình thức nào (trong sáu cõi luân hồi) cũng đều phải được sinh ra từ một người mẹ - từ một quả trứng hay bên trong một tử cung. Do đó không có một chúng sinh nào lại không có thể là mẹ mình (dù đấy là những con thú). Chấp nhận sự thật này không phải là chuyện dễ (dưới một góc nhìn khác thì dù chúng ta tin hay không tin vào sự tái sinh cũng vậy, chủ đích của phép luyện tập này là giúp mình nhìn vào tất chúng sinh đều là mẹ mình, và đó là cách khơi động một thứ xúc cảm thật mạnh bên trong chúng ta là lòng hiếu thảo, giúp chúng ta phát huy bồ-đề tâm thật rộng lớn trong tâm thức mình). Vậy các bạn hãy thử suy nghĩ theo một chiều hướng ngược lại xem sao, tức là tìm cách loại bỏ những người không phải là mẹ mình trong quá khứ. Vậy thì đối với các chúng sinh mà mình gạt sang một bên đó thì các bạn có thể quả quyết một cách chắc chắn là họ chưa từng bao giờ là mẹ của mình hay không? 

            (Thật vậy, trông thấy hình bóng của mẹ trong tất cả chúng sinh kể cả những con thú không phải là dễ thực hiện, một khi lòng từ bi bên trong chính mình chưa chín mùi, tức có nghĩa là "cái tôi" của mình còn quá to lớn và nặng nề, không cho phép mình "bay lượn" xuyên qua không gian và thời gian cùng với tất cả các chúng sinh khác trong sự xoay vần của thế giới hiện tượng. Bên trong thế giới đó tất cả các chúng sinh khác đều hiện lên với mình như trong một giấc mơ thật dài. Trong giấc mơ đó mình "gặp lại" cha mẹmình, ông bà mình, những người mà mình từng thương yêu, kể cả các kẻ thù của mình. Tất cả đều bay lượn trong thế giới ảo giác đó, lúc thì hiện lên thật rõ ràng lúc thì mờ đi và biến mất, hun hút trong không gian và thời gian, tương tự như ảo giác. Thế nhưng cũng có một cái gì đó rất thật và cụ thể đó là sự hiện hữu của chính mình. Sự hiện hữu đó chính là món nợ mà mình phải trả cho một người mẹ, có thể là rất gần trong ngày hôm nay, nhưng cũng có thể là rất xa, hun hút  ở một nơi nào đó trong thế giới hiện tượng này. Trong sự hiện hữu rất thật đó của mình cũng có một thứ xúc cảm cũng rất thật và vô cùng cao quý, đó là lòng hiếu thảo đối mẹ mình trong ngày hôm nay, hay trong ngày hôm qua thì cũng vậy. Vậy hãy biến lòng hiếu thảo rất thật đó trở thành bồ-đề tâm cũng rất thật trong tâm thức để hồi đáp món nợ ấy cho từng người mẹ của chính mình).

            Sau hết các bạn nên tự hỏi như thế này: vậy nếu cứ xem tất cả chúng sinh là mẹ mình thì sẽ phải chịu thiệt thòi hay được lợi? Nếu muốn phát huy bồ-đề tâm - tức lòng thương người - thì các bạn cũng nên ý thức một điều là nếu không chấp nhận cách nhìn đó đối với kẻ khác (tức xem họ là mẹ mình), thì dù có cố gắng cách mấy thì các bạn cũng không thể thành công được. Khi nào chưa chấp nhận cách nhìn đó thì những điều mong cầu của các bạn (bồ-đề tâm) vẫn còn hết sức xa vời. Nên hiểu rằng trong chu kỳ xoay vần bất tận của sự hiện hữu, các kiếp sống không có một điểm khởi thủy nào, do đó trong quá khứ tất cả chúng sinh đều có thể từng là những người mẹ sinh ra mình và nuôi nấng mình.

            Nhìn vào kẻ lạ và xem họ từng là những người thân thuộc của mình không có nghĩa là trong quá khứ họ nhất thiết cũng phải là những người xa lạ với mình. Vị đại sưMaitreya (Di Lặc, được xem là thầy của Asanga/Vô Trước, thế kỷ thứ IV) trong tập luận "Abhisamayalankara"/ "Hiện tráng trang nghiêm luận" cho biết rằng chúng ta cũng có thể nhìn vào một người bạn quý nhất hay một người thân thuộc gần gũi nhất với mình và xem họ cũng từng là những người thân thiết với mình trước đây trong quá khứ. Chẳng hạn nếu mình cảm thấy gắn bó với cha mình hơn là mẹ mình thì cứ hình dung cha mình trong kiếp sống này cũng từng là cha mình trong quá khứ, hoặc cũng có thể nhìn vào đứa con yêu quý hiện nay của mình và hình dung nó cũng từng là con mình trong các kiếp sống trước, đó là cách giúp mình bộc lộ tình thương yêu đối với những người khác. Điều quan trọng là phải làm thế nào để phát huy một thể dạng tâm thức giúp mình bộc lộđược tình thương yêu và sự quý mến thật sâu xa của mình đối với tất cả chúng sinh. Đấy là cách giúp mình trông thấy được bóng dáng mẹ mình nơi mỗi chúng sinh.

            Dù có kinh sách nào bài bác quan điểm cho rằng tất cả chúng sinh vào một lúc nào đó đều là những người mẹ hết lòng nuôi nấng mình thì cũng không hề hấn gì. Tuy nhiên cũng phải hiểu rằng các trường hợp ngoại lệ đó (tức có những người không phải là mẹ mình hoặc không chăm sóc gì đến mình) không phải là một bằng chứng để phủ nhận sự kiện trên đây. Ngay cả ngày nay cũng có những đứa con sau khi lớn lên không còn đoái hoài gì đến mẹ của chúng nữa. Đối với trường hợp của các bạn cũng vậy, dù được mẹ hết lòng thương yêu và chăm sóc nhưng không phải vì thế mà các bạn bắt buộc tất cả các chúng sinh khác cũng phải cư xử như thế đối với mình.

2- Điểm thiền định thứ hai: biết ơn lòng tốt của tất cả chúng sinh

            Giai đoạn thiền định tiếp theo là nhớ lại ơn nghĩa của tất cả những ai đã từng chăm sóc mình. Nhằm giúp mình khơi động lòng biết ơn đó đối với họ các bạn hãy hình dung ra một người thân thiết nhất với mình, chẳng hạn như mẹ hay cha mình trong lúc tuổi già. Hãy hình dung ra họ một cách thật chính xác, chẳng hạn như đang trong hoàn cảnh phải cần đến sự chăm lo của những người chung quanh (hầu giúp mình ý thứcđược bổn phận của mình). Đấy là cách giúp mình thiền định (về lòng biết ơn) thật cụ thểvà thiết thực. 

            Sau đó các bạn hãy nghĩ đến mẹ mình chẳng hạn, không những đấy là mẹ mình trong kiếp sống này mà cả trong các kiếp sống khác của mình trước đây. Trong kiếp sống này, tình thương của mẹ đối với mình thật vô biên, không những từ lúc mới lọt lòng mà cả truớc đó, khi mình còn trong bụng. Trong những lúc đó mẹ mình cũng đã phải chịu đựng đủ mọi thứ khổ nhọc; và gần đây hơn mẹ mình cũng vẫn còn phải hy sinh hạnh phúc và cả các thú vui khác vì mình. Khi mình vừa lọt lòng thì mẹ cảm thấy vô cùngsung sướng như vừa tìm thấy một kho tàng. Mẹ hết lòng bảo vệ, chăm lo, tắm rửa, bồng bế, cho đến khi mình chập chững biết đi.   

            Đối với các loài thú vật chẳng hạn như chim chóc, chó, mèo, thì cũng vậy, các bạn cũng sẽ nhận thấy sự chăm sóc đó, tuy không được lâu bền như con người, thế nhưng tình thương và sự hy sinh của chúng cho con cái cũng hết sức vô biên. Dưới một góc nhìn khác thì tình mẫu tử của các loài thú thật rõ ràng là bất vụ lợi, khác hơn đối với con người, bởi vì con người thường nuôi hy vọng sau này con cái sẽ đối xử hiếu thảovới mình (đôi khi chúng ta cũng nên học điều đó nơi các loài thú vật để hiểu rằng mình nên chắp cánh cho con cái bay cao. Nếu chúng ta từng tập chúng từng bước khi chúng mới chập chững, thì khi lớn lên cũng nên để chúng tự do bước đi trên con đường mà chúng đã chọn. Bám víu dù dưới hình thức nào cũng đều không tốt cho mình cũng như cho chúng. Phải tìm cách hóa giải nghiệp nhưng không nên ngăn chận sự vận hành của nghiệp - dù là của chúng hay của mình - bởi vì đó chỉ là cách tạo ra thêm nghiệp mới).

            Chẳng hạn như các loài chim, một số phải tìm bắt sâu bọ để nuôi con, có khi phải ra sức nuôi cả một đàn con trong tổ; chúng tự gánh vác một mình, không như chúng tađược sự giúp đỡ của những người chung quanh. Cách chúng cố gắng nuôi con không khỏi khiến chúng ta cảm động. Mỗi khi thấy chim con gặp hiểm nguy, chẳng hạn như gặp mèo hay kên kên, thì chim mẹ có thể hy sinh cả mạng sống của mình. Tuy thái độ đó của chúng dù chỉ là một hình thức bám víu nhưng cũng phản ảnh cả một tình thương bao la. Vậy nào có phải chỉ có sự hy sinh của người mẹ nơi giống người thì mới là vô biên đâu. Sự hy sinh đó không phải chỉ xảy ra trong một kiếp sống duy nhất mà qua không biết bao nhiêu sự hiện hữu. Biết suy tư như thế sẽ tạo ra những tác động thật mạnh trong tâm thức mình.   

            Sau khi đã hiểu được thế nào là tình thương yêu của mẹ nhất là trong kiếp sống này, thì các bạn hãy hình dung ra những kẻ mà mình cảm thấy xa lạ và ghê tởm, kể cả súc vật, hầu giúp mình suy tư. Các bạn hãy suy nghĩ như thế này, các chúng sinh ấy hiện nay có thể là nguy hại, cư xử với mình như kẻ thù, thế nhưng trong các kiếp sống quá khứ các chúng sinh ấy cũng có thể từng là ân nhân của mình, nhiều lần cứu mạngmình, vì thế lòng nhân từ của họ thật vô biên. Đấy cũng là một cách suy nghĩ giúp mình luyện tập tâm thức.

Thứ Năm, 5 tháng 1, 2017

CẬU BÉ CẦM 1 ĐÔ LA ĐI MUA THƯỢNG ĐẾ


Kết quả hình ảnh cho thượng đế


Tình người, tình đồng loại chính là thứ tình cảm thiêng liêng, cao quý. Nó có thể vượt qua mọi khoảng cách, mọi mặc cảm thân phận. Lòng bao dung đó thậm chí có thể cứu vớt cả một sinh mệnh. Câu chuyện ý nghĩa sau đây sẽ khiến bạn phải suy ngẫm.

Một ngày nọ, có một cậu bé nhặt được 1 đô la. Cậu liền đến một cửa hàng bên cạnh đường hỏi: “Xin hỏi, ở đây bác có Thượng đế bán không ạ?”. Người chủ cửa hàng không nói gì, ngại cậu bé quấy rối nên đã mời cậu ra khỏi cửa hàng.

Trời đã sắp tối đen rồi, cậu bé lần lượt đi hết cửa hàng này đến cửa hàng sau. Không ngờ, đến cửa hàng thứ 29 thì cậu cũng được người chủ tiếp đón nhiệt tình. Ông chủ cửa hàng thứ 29 mà cậu bé vào hỏi là một ông lão hơn 60 tuổi, đầu tóc bạc phơ, vẻ mặt hiền từ. Ông nhìn cậu bé rồi hỏi: “Này cháu! Hãy nói cho ông biết, cháu mua Thượng đế để làm gì vậy?”.

Cậu bé chảy nước mắt rồi nói với ông lão rằng: “Cháu tên là Bonnie. Cha mẹ của cháu đã mất từ khi cháu còn rất bé. Chú Rupp của cháu đã nuôi dưỡng cháu từ nhỏ đến bây giờ. Chú của cháu là một công nhân xây dựng, nhưng mới đây chú đã bị ngã từ trên cao xuống đất nên bị hôn mê bất tỉnh. Bác sĩ nói rằng, chỉ có Thượng đế mới cứu được chú của cháu mà thôi. Cháu biết rằng Thượng đế chắc phải là một thứ vô cùng kỳ diệu nên cháu muốn mua về để cho chú của cháu ăn. Như thế chú mới nhanh khỏi bệnh được ạ!”.

Ông lão đỏ hoe mắt hỏi: “Vậy cháu có bao nhiêu tiền nào?”.

Cậu bé nhanh nhảu đáp: “Cháu có 1 đô la ạ!”.

Ông lão vội nói: “Ôi thật may quá! Giá của Thượng đế đúng bằng 1 đô la đấy cháu ạ!”.

Nói xong, ông đi vào ngăn kéo và lấy một chiếc chai đồ uống có nhãn hiệu “Nụ hôn của Thượng đế” và đưa cho Bonnie. Ông nói: “Cầm lấy đi cháu! Chú của cháu uống hết chai này là sẽ khỏi bệnh rồi!”. Bonnie vô cùng mừng rỡ, ôm chai nước vào trong ngực rồi lập tức trở về bệnh viện. Vừa bước vào phòng bệnh, cậu vui vẻ nói to: “Chú ơi! Cháu đã đem Thượng đế đến rồi đây! Chú sẽ nhanh chóng khỏe lại thôi!”.

Mấy ngày hôm sau, một nhóm các chuyên gia y học có trình độ cao nhất đã đến bệnh viện tiến hành hội chẩn cho chú Rupp của cậu bé Bonnie. Họ sử dụng kỹ thuật tiên tiến nhất trên thế giới để chữa bệnh và cuối cùng điều kỳ diệu đã xảy ra, chú Rupp của cậu bé đã hoàn toàn hồi phục. Khi chú của Bonnie ra viện, nhìn số tiền viện phí quá lớn được ghi trên hóa đơn, anh đã suýt ngất xỉu.

Tuy nhiên, phía bệnh viện đã nói với chú của Bonnie rằng: “Mấy hôm trước, có một ông lão đã đem tiền đến thanh toán hết tiền viện phí cho anh rồi. Ông lão ấy là một tỷ phú giàu có. Trước đây, ông ấy là chủ tịch của một tập đoàn đa quốc gia nhưng bây giờ đã về nghỉ ngơi và mở một cửa hàng tạp hóa bán qua ngày. Nhóm chuyên gia y học có trình độ cao kia cũng là do ông ấy đã bỏ ra một số tiền lớn để thuê đến đấy”.

Anh Rupp sau khi nghe xong đã cảm kích vô cùng, lập tức cùng cháu trai của mình đến tạ ơn ông lão kia. Khi họ đến nơi, mới biết được ông lão đã đóng cửa tiệm tạp hóa và ra nước ngoài.

Sau này, anh Rupp đã nhận được một lá thư do ông lão kia gửi đến. Trong thư ông viết: “Anh bạn trẻ! Anh có người cháu trai Bonnie, thực sự là quá may mắn đấy! Vì cứu anh, cậu bé đã cầm 1 đô la đi khắp nơi để mua Thượng đế. Hãy cảm tạ Thượng đế! Là Thượng đế đã cứu tính mạng của anh!”.

Nhiều năm sau, cậu bé năm nào đã trưởng thành và còn thi đỗ vào trường Y. Nhớ lại câu chuyện cũ và về ân nhân năm xưa, cậu đã cố gắng hết mình cứu chữa được rất nhiều bệnh nhân và trở thành một bác sĩ tốt. Bonnie đã đền đáp lại tình nghĩa của ân nhân cũ theo một cách không thể tuyệt vời hơn. Nếu không có câu chuyện cầm 1 đô la đi mua Thượng đế năm xưa và cuộc hội ngộ đầy bất ngờ với ông lão tỷ phú nọ, không thể nói trước rằng cuộc đời Bonnie đã rẽ sang hướng nào.

Câu chuyện khép lại ở đúng thời điểm đẹp nhất nhưng nó chưa kết thúc. Lòng bao dung, tình yêu thương sẽ còn lan tỏa mãi không ngừng. Ông lão tỷ phú đã cứu mạng người chú của Bonnie nhưng không chỉ vậy ông còn cứu vớt cả chính cậu bé. Ông gieo vào lòng cậu bé một đức tin về cái tốt, cái đẹp, đức tin vào Thượng đế. Đôi khi, một lời nói dối có thể mang đến hy vọng cho người khác. Nhất là khi lời nói dối ấy xuất phát từ lòng bao dung, thiện tâm.

Người xưa nói “Thiện ý một câu ấm ba đông“. Tình yêu thương đã gắn kết những tâm hồn vốn xa lạ. Cuộc sống không phải lúc nào cũng suôn sẻ, đời người chẳng phải lúc nào cũng đủ đầy, sướng vui. Trong những ngày bão tố, những hố sâu tuyệt vọng, chỉ một câu nói, một hành động yêu thương cũng như ngọn lửa thắp lên giữa đêm đông. Khi lòng tốt được nhân rộng, gieo trồng như thế, khắp thế gian này sẽ chỉ còn là tình yêu. Điều đó chẳng phải quá tuyệt vời ư?

                                                         Theo NTDTV
                                                   Mai Trà – Hữu Bang

CÔNG PHU


             

 
                   CÔNG PHU
 
Tinh tấn công phu suốt một đời,
Chiều tàn bóng ngã vẫn chơi vơi.
Loanh quanh theo lí đường mờ tắc,
Buông xả bình tâm đạo sáng ngời.
Cửa phật từ bi nhờ dẫn lối,
Nguồn thiền Bát Nhã giúp tìm nơi.
Tùy duyên dị ngộ men bờ giác,
Vướng tướng bỏ chơn chỉ nửa vời.

                                     Minh Đạo
 
                                                                            http://quangduc.com/a59880/cong-phu                         
                                                                                  http://quangduc.com/
 

Thứ Tư, 4 tháng 1, 2017

BÁT NHÃ QUÁN CHIẾU

Kết quả hình ảnh cho trí bat nhã



Nói đến Bát-nhã (Trí huệ), các luận thường phân làm ba: Bát-nhã văn tự, Bát-nhã quán chiếu, và Bát-nhã thật tướng. Bát-nhã văn tự là sự nghiên cứu ở cấp độ ý thức những bản văn của hệ thống Kinh Bát-nhã. Sự nghiên cứu này chưa đủ để đi vào Bát-nhã, phải thực hành Bát-nhã. Bát-nhã quán chiếu là sự thực hành Bát-nhã để đạt đến thật tướng của Bát-nhã, tức là tánh Không.
Chân lý, hay thực tại, đối với người Hy Lạp cổ là aletheia, lột bỏ sự che đậy, vén màn. Nhưng chân lý hay thực tại thì không tự che đậy, không phủ màn. Sơ tổ Vô Ngôn Thông đã nói về chân lý hay thực tại: “Không từng che dấu”, và “Khắp tất cả chỗ”. Thế thì sự che đậy, phủ màn này là do chúng ta. Chính chúng ta tự bịt mắt mình bằng những lớp màn chấp ngã chấp pháp để cái thấy về thực tại bị khúc xạ, méo mó, phân mảnh.
Sự quán chiếu của Bát-nhã là để lột bỏ những tấm màn ấy, đang ngăn che chúng ta với thực tại của mọi sự vật là tánh Không, bởi vì sự vật thì từ vô thủy đến vô chung vẫn chính là tánh Không: “Sắc tức thị Không, Không tức thị sắc”. Sự vật vẫn bình thường là tánh Không như vậy. Nhưng chính sự bất bình thường của tâm, chính những bệnh tật trong tâm của chúng ta khiến cho chúng ta thấy sắc chẳng phải là Không, Không chẳng phải là sắc. Vậy thì Bát-nhã quán chiếu là chỉnh sửa lại cái thấy cho đúng, thấy không điên đảo méo mó. Cái thấy đúng (chánh kiến) này giải thoát chúng ta khỏi những bất bình thường, những bệnh tật thấy biết sai lầm của chúng ta, cũng những thứ này nuôi dưỡng cho thế giới khổ đau sanh tử của chúng ta.
Dùng thuật ngữ hiện đại thì Bát-nhã quán chiếu là giải cấu trúc, giải kiến lập (déconstruire) hệ thống những mê lầm vô minh của chúng ta.
Tác phẩm Trung Đạo luận hay Trung luận của Bồ-tát Long Thọ là một luận giải về tánh Không. Nhưng thật ra, 27 phẩm của cuốn luận là 27 pháp quán để thấy ra tánh Không: quán nhân duyên, quán sự đến đi, quán sáu giác quan, quán năm ấm, quán sự nhiễm ô và người nhiễm ô, cho đến quán có không, quán Niết-bàn, quán 12 nhân duyên… Những chữ “quán” này ngài Cưu-ma-la-thập phần nhiều dịch thành chữ “phá”: phá nhân duyên, phá sự đến đi, phá sáu giác quan… Quán các tướng là để phá các tướng do vọng chấp phân biệt tạo thành. Khi các giả tướng tiêu trừ đến đâu thì thật tướng tánh Không hiện ra đến đó.
Kinh Đại Bát-nhã có rất nhiều pháp quán chiếu, đủ mọi góc cạnh, đủ mọi phương diện, đủ mọi đối tượng, cho đủ mọi khuynh hướng cá nhân. Ở đây chúng ta chỉ trích ra vài pháp quán trong phẩm Vô Sanh thứ 26, để thấy con đường Văn, Tư, Tu của Bát-nhã, để nghiên cứu, tư duy và thực hành Bát-nhã hầu thể nhập tánh Không.
Tánh Không này là Nền tảng của mọi bậc thánh Thanh văn, Độc giác, Bồ-tát và Phật. Tánh Không là Nền tảng của mọi tông phái Phật giáo. Phẩm Vô Sanh nói:
“Bát-nhã ba-la-mật hay sanh và dung chứa tất cả pháp lành của Thanh văn, Độc giác Phật, Bồ-tát và Phật”.
Phẩm Vô Sanh bắt đầu từ những câu hỏi căn bản của ngài Xá-lợi-phất hỏi ngài Tu-bồ-đề trước sự hiện diện của Đức Phật:
“Đại Bồ-tát thực hành Bát-nhã ba-la-mật quán các pháp. Những gì là Bồ-tát? Những gì là Bát-nhã ba-la-mật? Những gì là quán?
Ngài Tu-bồ-đề nói: Vì Vô thượng chánh đẳng chánh giác mà phát đại tâm, người này gọi là Bồ-tát. Người này cũng biết tất cả tướng tất cả pháp mà chẳng bám nắm, biết tướng của sắc cho đến biết tướng của các pháp bất cọng nhưng cũng chẳng bám nắm”.
Phát Bồ-đề tâm, muốn đạt đến tánh Không để cứu độ chúng sanh là con đường Bồ-tát. Bồ-đề tâm gồm đủ cả giới và hạnh của Bồ-tát, gồm cả bi và trí. Tất cả giới hạnh ấy phải được tiến hành trong sự không bám nắm, nghĩa là trong sự tương ưng với tánh Không. Bồ-đề tâm tương đối do có phát nguyện, có thực hành này dần dần thể nhập vào Bồ-đề tâm tuyệt đối, tức là tánh Không.
“Ngài Xá-lợi-phất hỏi: Những gì là tất cả tướng, tất cả pháp?
Ngài Tu-bồ-đề nói: Nếu dùng danh tự và các nhân duyên hòa hợp để biết các pháp, đây là sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp, đây là pháp hữu vi, đây là pháp vô vi. Dùng danh tự ngôn ngữ để biết các pháp thì gọi là biết tướng của pháp.
Như lời ngài Xá-lợi-phất hỏi những gì là Bát-nhã ba-la-mật? Vì viễn ly nên gọi là Bát-nhã ba-la-mật. Những gì là viễn ly? Viễn ly ấm, giới, nhập. Viễn ly ba-la-mật. Viễn ly Không. Do đây nên viễn ly gọi là Bát-nhã ba-la-mật”.
Các pháp là do danh tự và những nhân duyên hòa hợp mà có. Không có danh thì không có sự gọi tên phân biệt sự vật này với sự vật khác. Không có những nhân duyên hòa hợp thì cũng không có tướng của sự vật. Tướng do những nhân duyên sanh và những nhân duyên diệt nên tướng không có tự thể, tướng không có tự tánh. Quán thấy các pháp chỉ là danh tướng, duyên sanh nên vô tự tánh, như vậy là quán tánh Không của tất cả các pháp. Bát-nhã quán chiếu hay Trí huệ quán chiếu là nhìn thấy thật tướng của tất cả các pháp, thật tướng đó là tánh Không. Như vậy tánh Không là sự giải thoát cho tất cả mọi tướng, nghĩa là giải thoát cho sanh tử.
Bắt đầu thấy tánh Không là bắt đầu viễn ly (xa lìa). Các tướng tiêu dung đến đâu, tánh Không hiện ra đến đâu thì viễn ly rộng ra đến đó. Viễn ly này là tự động vì tướng không có thật thì bám nắm cái gì? Mọi pháp có đó, nhưng không cứng đặc, không cốt lõi, không hình tướng, không có thật, như cầu vồng, như dợn nắng mà tưởng là nước, như mắt nhặm thấy tóc rủ hay con ruồi trước mặt, như thấy hoa đốm giữa không trung…
Sự viễn ly này không chỉ áp dụng cho đối tượng cần viễn ly, mà cho cả chủ thể đang sử dụng những phương tiện để viễn ly: “Viễn ly ba-la-mật. Viễn ly Không. Lại viễn ly bốn niệm xứ đến viễn ly mười tám pháp bất cọng, viễn ly Nhất thiết trí. Do đây nên viễn ly gọi là Bát-nhã ba-la-mật”.
“Những gì là Quán? Lúc thực hành Bát-nhã ba-la-mật, đại Bồ-tát quán sắc chẳng phải thường chẳng phải vô thường, chẳng phải vui chẳng phải khổ, chẳng phải ngã chẳng phải vô ngã, chẳng phải không chẳng phải chẳng không, chẳng phải tướng chẳng phải vô tướng, chẳng phải tác chẳng phải vô tác, chẳng phải tịch diệt chẳng phải chẳng tịch diệt, chẳng phải ly chẳng phải chẳng ly. Thọ tưởng hành thức, các ba-la-mật… cho đến Nhất thiết chủng trí cũng như vậy. Đây gọi là đại Bồ-tát quán các pháp khi thực hành Bát-nhã ba-la-mật”.
Quán là phá các tướng do bám nắm phân biệt mà có. Quán là phá các giả tướng để đưa chúng trở về thật tướng của chúng là tánh Không. Các tướng không còn che đậy thì thực tại tánh Không và cũng là thực tại tối hậu hiện ra: “Thấy các tướng chẳng phải tướng tức thấy Như Lai” (Kinh Kim Cương).
“Ngài Xá-lợi-phất hỏi: Do nhân duyên gì mà sắc chẳng sanh là chẳng phải sắc, cho đến Nhất thiết chủng trí chẳng sanh là chẳng phải Nhất thiết chủng trí?
Ngài Tu-bồ-đề nói: Sắc và sắc tướng rỗng không. Trong sắc rỗng không ấy không có sắc cũng không có sanh, cho đến Nhất thiết chủng trí cũng như vậy. Do đây nên sắc chẳng sanh là chẳng phải sắc, cho đến Nhất thiết chủng trí chẳng sanh là chẳng phải Nhất thiết chủng trí”.
Sắc thọ tưởng hành thức cho đến Nhất thiết chủng trí là rỗng không; rỗng không nên không có chỗ sanh ra. Sắc cho đến Nhất thiết chủng trí đã chẳng sanh nên chúng không phải là sắc cho đến Nhất thiết chủng trí. Chẳng sanh thì không có gì để gọi là sắc cho đến Nhất thiết chủng trí.
Chữ “chẳng phải” ở đây đồng nghĩa với chữ “chẳng phải” trong câu kinh Kim Cương đã trích dẫn ở trên.
Quán sắc chẳng sanh, mà vốn đã chẳng sanh nên chẳng phải sắc, đó là quán chiếu của Bát-nhã ba-la-mật.
“Ngài Xá-lợi-phất hỏi: Do nhân duyên gì mà nói rằng sắc chẳng hai là chẳng phải sắc, cho đến Nhất thiết chủng trí chẳng hai là chẳng phải Nhất thiết chủng trí?
Ngài Tu-bồ-đề nói: Có sắc là có chẳng hai, cho đến có Nhất thiết chủng trí là có chẳng hai. Tất cả những pháp này chẳng hợp chẳng tan, không sắc, không hình, không đối, một tướng, tức là không có tướng. Do đây nên sắc chẳng hai là chẳng phải sắc, cho đến Nhất thiết chủng trí chẳng hai là chẳng phải Nhất thiết chủng trí”.
Sắc là chẳng hai, là vô tướng. Đã chẳng hai, vô tướng thì đó chẳng phải là sắc.
“Ngài Tu-bồ-đề nói: Sắc chẳng khác vô sanh, vô sanh chẳng khác sắc. Sắc tức là vô sanh, vô sanh tức là sắc. Do đây nên sắc ở trong không có hai. Cho đến Nhất thiết chủng trí cũng như vậy”.
Sắc là vô sanh cho đến tất cả các pháp là vô sanh. Đây là cái thấy giải thoát của Bát-nhã.
“Bấy giờ ngài Tu-bồ-đề bạch với Đức Phật: Bạch Thế Tôn! Nếu đại Bồ-tát thực hành Bát-nhã ba-la-mật mà quán các pháp như vậy thì thấy sắc là vô sanh, vì rốt ráo thanh tịnh vậy. Thấy thọ tưởng hành thức vô sanh, vì rốt ráo thanh tịnh vậy. Cho đến thấy Phật và Phật pháp vô sanh vì rốt ráo thanh tịnh vậy”.
Vì tất cả các pháp là vô sanh cho nên tất cả đều rốt ráo thanh tịnh, nghĩa là chưa từng bị nhiễm ô bởi sanh tử. Tại sao chưa từng bị nhiễm ô bởi sanh tử? Bởi vì trong Bát-nhã quán chiếu thì sanh tử là vô sanh, chưa từng sanh ra nên chẳng có sự nhiễm ô và cái gì bị nhiễm ô cả.
“Ngài Tu-bồ-đề nói với ngài Xá-lợi-phất: Tôi chẳng nghĩ pháp vô sanh có sở đắc. Tôi cũng chẳng nghĩ trong pháp vô sanh có được quả Tu-đà-hoàn, cho đến có được quả Độc giác Phật. Tôi cũng chẳng cho rằng trong pháp vô sanh có Bồ-tát làm việc khó làm là chịu khổ cho chúng sanh, Bồ-tát cũng chẳng dùng tâm khó làm để hành đạo. Tại sao vậy? Vì nếu sanh tâm khó tâm khổ thì chẳng có thể lợi ích cho vô lượng vô số chúng sanh.
Này ngài Xá-lợi-phất! Ở đây Bồ-tát thương xót chúng sanh. Với chúng sanh, Bồ-tát tưởng như cha mẹ anh em con cháu, cũng tưởng như thân mình. Thế nên Bồ-tát có thể lợi ích vô lượng vô số chúng sanh, vì chỗ dụng vô sở đắc vậy.
Bồ-tát nên sanh tâm như thế này: Như ngã là bất khả đắc, nơi tất cả chỗ, tất cả nội pháp ngoại pháp cũng đều bất khả đắc. Nếu sanh tâm như thế thì Bồ-tát không có tâm khó tâm khổ. Vì sao thế? Vì Bồ-tát này nơi tất cả chỗ, tất cả pháp đều chẳng lãnh thọ”.
Vì tất cả đều ở trong thật tướng vô sanh nên sự chứng đắc của các bậc thánh và sự khổ đau của chúng sanh đều vô sở đắc. Tánh Không có thể hòa giải và hợp nhất hai điều đối nghịch: Sự tự giải thoát cho mình (Trí huệ) và làm việc cho sự giải thoát của người khác (Đại bi).
“Ngài Tu-bồ-đề nói: Đúng như vậy. Theo danh tự thế gian nên có trí, có đắc. Sáu loài sai khác cũng do danh tự thế gian mà có, chẳng phải đệ nhất nghĩa đế.
Vì sao thế? Vì trong Đệ nhất nghĩa đế (tánh Không) không có nghiệp, không có báo, không có sanh không có diệt, không có tịnh không có cấu”.
Nghiệp và nghiệp báo có ra là do tâm phân biệt dựa trên danh tướng hư vọng, từ ý nghiệp này sanh ra khẩu nghiệp và thân nghiệp. Khi tâm và danh tướng đều Không, tâm và cảnh đều Không, thì nghiệp và báo cũng không còn chỗ để mọc mầm, thành cây, ra quả. Ba nghiệp chấm dứt thì sanh tử chấm dứt vậy.
“Ngài Xá-lợi-phất hỏi tiếp: Pháp chẳng sanh sanh chăng? Pháp sanh sanh chăng?
Ngài Tu-bồ-đề nói: Tôi chẳng cho rằng pháp chẳng sanh có sanh, cũng chẳng cho rằng pháp sanh có sanh.
Ngài Xá-lợi-phất hỏi: Pháp chẳng sanh nào không cho là có sanh?
Ngài Tu-bồ-đề nói: Sắc là pháp chẳng sanh, tự tánh nó rỗng không chẳng cho là có sanh. Cho đến Vô thượng Bồ-đề là pháp chẳng sanh, tự tánh nó rỗng không chẳng cho là có sanh”.
‘Cái chẳng sanh cũng chẳng sanh’, đây là một trong những Văn tự Bát-nhã rốt ráo, Quán chiếu Bát-nhã rốt ráo và Thật tướng Bát-nhã rốt ráo.
Kinh tiếp tục những đoạn về Bát-nhã quán chiếu:
“Ngài Xá-lợi-phất hỏi: Thế nào là các pháp không có chỗ y tựa?
Ngài Tu-bồ-đề nói: Tánh sắc thường Không, chẳng y tựa trong, chẳng y tựa ngoài, chẳng y tựa trung gian. Cho đến tánh Nhất thiết trí thường Không, chẳng y tựa trong, chẳng y tựa ngoài, chẳng y tựa trung gian. Do đây nên tất cả pháp không chỗ y tựa, vì tánh thường Không vậy”.
Với sự quán sát liên tục và tinh tế các pháp thường Không, không có chỗ y tựa, danh tướng của chúng mờ nhạt dần nhường cho tánh Không hiển lộ. Khi những tấm màn che của phiền não chướng và sở tri chướng đã bị loại bỏ một phần nào, người ta thấy trực tiếp tánh Không, tức là Đệ nhất nghĩa đế. Thấy trực tiếp, dù còn chưa thật rõ, nghĩa là từ đây người ta không bao giờ mất Nó nữa, dù trong bất cứ hoàn cảnh nào, thời gian nào, không gian nào. Dùng chữ của kinh Pháp Hoa, đây gọi là Ngộ. Dùng chữ của Thiền tông gọi là thấy Tánh. Rồi tiếp tục đi sâu vào và sống trong tánh Không, thấm nhuần một cách trọn vẹn, đây là Nhập. Đến lúc chỉ còn là sự thanh tịnh tuyệt đối, vì không còn manh mún nào của phiền não và danh tướng của sanh tử.
Chúng ta trích một đoạn về Bố thí ba-la-mật:
“Này ngài Xá-lợi-phất! Thế nào là sự Bố thí ba-la-mật xuất thế gian? Chính là ba phần thanh tịnh vậy. Những gì là ba? Lúc bố thí, đại Bồ-tát chẳng thấy có mình, chẳng thấy có người nhận, chẳng thấy có vật bố thí, cũng chẳng trông mong báo đáp. Đây gọi là đại Bồ-tát bố thí ba-la-mật ba phần thanh tịnh.
Lại lúc bố thí, đại Bồ-tát bố thí cho chúng sanh mà không thấy có chúng sanh, đem sự bố thí này hồi hướng vô thượng bồ-đề, thậm chí không thấy có tướng pháp vi tế nào”.
Bố thí mà an trụ trong tánh Không thì càng bố thí người ta càng thâm nhập tánh Không. Bố thí là việc làm phước đức. Không thấy có ba phần nên ba phần thanh tịnh là trí huệ quán chiếu tánh Không. Cả hai, phước đức và trí huệ, được hợp nhất trong cùng một quá trình. Nói cách khác, đây là sự hợp nhất của Phương tiện và Trí huệ.
Phần cuối của phẩm Vô Sanh, chữ “niệm đại bi” được nhắc tới ba lần.
“Người thực hành Bồ-tát đạo vì cứu tất cả chúng sanh nên tâm chẳng rời bỏ tất cả chúng sanh, bởi vì chúng sanh vô sở đắc vậy.
Bồ-tát phải thường chẳng rời niệm này: chính là đại bi niệm”.
Chỉ có trong Bát-nhã ba-la-mật mới hợp nhất được hai thực tại, mà với thế gian là mâu thuẫn với nhau, thành một. Đó là tánh Không vô sở đắc và đại bi chẳng rời bỏ chúng sanh.
“Ngài Tu-bồ-đề nói: Vì chúng sanh không có nên niệm cũng không. Vì chúng sanh tánh Không nên tánh niệm cũng Không. Vì pháp chúng sanh không có nên pháp niệm cũng không. Vì chúng sanh ly nên niệm cũng ly. Vì chúng sanh rỗng không nên niệm cũng rỗng không.
Này ngài Xá-lợi-phất! Vì sắc không có nên niệm cũng không. Vì tánh sắc không có nên tánh niệm cũng không. Vì pháp sắc không có nên pháp niệm cũng không. Vì sắc ly nên niệm cũng ly. Vì sắc rỗng không nên niệm cũng rỗng không. Cho đến Vô thượng bồ-đề cũng như vậy.
Này ngài Xá-lợi-phất! Đại Bồ-tát thực hành Bồ-tát đạo, tôi mong muốn vị ấy chẳng rời niệm này: chính là đại bi niệm”.
Sự thấu đạt tánh Không là Trí. Sự không bỏ chúng sanh là Bi. Trí và Bi phải có từ bắt đầu con đường, khi phát Bồ-đề tâm. Bồ-đề tâm này là tương đối vì có sanh khởi, tác ý phát nguyện, nhưng cũng gồm đủ sự song hành của sơ trí và sơ bi. Cho đến khi đạt đến Bồ-đề tâm tuyệt đối (tức là tâm của các bậc giác ngộ) thì Trí viên mãn và Bi viên mãn hợp nhất trong Bồ-đề tâm tuyệt đối này.
Chính nhờ tánh Không mà Bi mới trở thành Đại. Nhờ tánh Không mà lòng bi mới mở rộng vô biên thành đại bi. Nhờ tánh không vô tự tánh và vô ngại mà có sự hợp nhất trọn vẹn của Trí và Bi. Một bậc giác ngộ thì có đủ ba thân hợp nhất: Pháp thân là Đại Trí, Báo thân và Hóa thân là Đại Bi.
Phẩm này kết thúc bằng đoạn kinh:
“Bấy giờ Đức Phật khen ngợi: Lành thay, lành thay! Đây chính là Bát-nhã ba-la-mật của đại Bồ-tát. Vị nào muốn nói thì phải nói như vậy. Tu-bồ-đề nói về Bát-nhã ba-la-mật đều là tuân thừa ý của Phật. Đại Bồ-tát học Bát-nhã ba-la-mật phải học như lời tôn giả Tu-bồ-đề nói.
Lúc ngài Tu-bồ-đề nói phẩm Bát-nhã ba-la-mật, cõi đại thiên chấn động sáu cách.
Bấy giờ Đức Phật mỉm cười.
Ngài Tu-bồ-đề bạch hỏi nguyên do.
Đức Phật nói: Này Tu-bồ-đề! Như ta nói Bát-nhã ba-la-mật tại quốc độ này, chư Phật ở trong vô số vô lượng quốc độ trong mười phương cũng nói Bát-nhã ba-la-mật như vậy.
Lúc Đức Phật nói phẩm Bát-nhã ba-la-mật, có mười hai na-do-tha người và trời được Vô sanh pháp nhẫn. Lúc chư Phật mười phương nói Bát-nhã ba-la-mật cũng có vô lượng vô số chúng sanh phát tâm Vô thượng Bồ-đề”.
Con đường Bồ-tát, con đường hợp nhất của Trí và Bi, là con đường thực hành Bát-nhã ba-la-mật. Đây là con đường chung và phổ quát cho mọi thế giới, mọi cõi để đến giải thoát và giác ngộ.

                                                                                    Nguyễn Thế Đăng
                                                                                 Văn Hóa Phật Giáo số 166

SỢI NẮNG






                                                          SỢI NẮNG

Sợi nắng len vào những tán cây,
Lặng nhìn bướm lượn cánh hoa lay,
Mây vờn lạc bóng trời se lạnh
Gió quyện quên hương lá ngủ say.
Vạn vật chung vui giai điệu trỗi,
Quần sinh hòa nhập ánh dương thay.
Tịnh bình rưới mát thêm quang rạng.
Thấu rõ lòng an với tháng ngày.


                                Minh Đạo


Thứ Ba, 3 tháng 1, 2017

HƯỚNG ĐẾN (Tánh Thiện)






        HƯỚNG ĐẾN

Năm mới tâm hồn đổi mới
Giận hờn ganh ghét bỏ đi
Con đường quy y hướng đến
Xa lìa khổ não ưu bi .

Hỷ xã từ bi rộng mở
Con tim tràn ngập yêu thương
Trí tuệ vượt tầm chia cách
Viễn ly bao nỗi chán chường .

Giang tay đón chào tin sáng
Hương trà sưởi ấm lòng ta
Niềm vui sẻ chia giáo pháp
Đạo tình tươi đẹp thiết tha .

Trầm hương dâng lên Đức Phật
Trọn niềm chánh tín chẳng thay
Chuyên tu một lòng sống đạo
Chân Như Phật Tánh hiển bày .

                    Tánh Thiện
                   31-12-2016

Thứ Hai, 2 tháng 1, 2017

CUỘC SỐNG KHÔNG NHẤT THIẾT CHUYỆN GÌ CŨNG PHẢI PHÂN RÕ TRẮNG ĐEN

 Kết quả hình ảnh cho loai hoa



Có câu “nước quá trong thì không có cá, người xét nét quá thì không có bạn.”
 
Tranh chấp với ngư...ời nhà, giành được rồi thì tình thân cũng mất đi
 
Tính toán với người yêu, rõ ràng rồi thì tình cảm cũng phai nhạt
 
Hơn thua với bạn bè, chiến thắng rồi thì tình nghĩa cũng không còn.
 
Khi tranh luận, người ta chỉ hướng đến lý lẽ mà quên rằng cái mất đi là tình cảm, còn lại sự tổn thương là chính mình.
 
Cái gì đã đen thì sẽ đen, trắng là trắng, tốt nhất hãy để thời gian chứng minh.
 
Rủ bỏ sự cố chấp của bản thân, dùng lòng khoan dung để nhìn người xét việc; thêm một chút nhiệt tình, một chút điềm tĩnh và ấm áp thì cuộc sống sẽ luôn có ánh mặt trời và suốt đời mình sẽ là người thắng cuộc.
 
Ở đời, sống là để bản thân mình xem, đừng tham vọng mọi người đều hiểu bạn; cũng đừng mong cầu mọi việc đều theo ý mình.
 
Khi đau buồn hay mỏi mệt, nên biết tự an ủi lấy bản thân
 
Không có người lo lắng thì càng phải mạnh mẽ
 
Không có ai cổ vũ cũng phải biết tự bay lên
 
Không có người chiêm ngưỡng cũng cần thơm tho và tươm tất.
 
Cuộc sống, không có khuôn mẫu cố định, chỉ cần một trái tim trong sáng và nhiệt huyết
 
Gặp phiền não thì tự tìm lấy niềm vui riêng, đừng quên đi hạnh phúc
 
Dù bận rộn cũng nhớ giữ lại chút thanh nhàn, đừng để mất sức khỏe
 
Mệt mỏi rồi thì tạm dừng lại nghĩ ngơi, đừng đánh mất niềm vui cuộc sống.
 
Chỉ cần trong lòng luôn nhớ đích đến và biết hiện giờ mình đang làm gì ở đâu thì yên tâm, sẽ không bị lạc đường!
 
                                                                                        Suối Thông lược dịch
 
 

ĐIỂM YẾU CỦA NHÂN TÍNH: NGẠO MẠN VÀ ĐỊNH KIẾN



Trong Tam Tự Kinh có câu: “Nhân chi sơ, tính bổn thiện”. Con người lúc mới sinh ra, chưa tiếp thụ những thứ ô nhiễm ở bên ngoài, cho nên bản tính là thuần thiện. Nhưng sống trong một xã hội ô nhiễm, con người dần dần mất đi bản tính tự nhiên trở nên bất thuần.

Trong bản tính của con người, có một nhược điểm lớn đó là “Tư” (ích kỷ). Con người bởi vì có “Tư” mà sinh ra rất nhiều các chủng tâm không tốt, trong đó có một loại tâm gọi là “ngạo mạn”.

Phàm là người ngạo mạn đều thích đề cao bản thân, thường tự cho rằng mình vượt trội hơn người khác. Vượt trội ở đây có thể là ở phương diện tinh thần, hoặc phương diện vật chất.

Loại người này bất giác đem bản thân mình đặt ở chỗ cao, dùng ánh mắt ‘hơn người’ để đánh giá thế giới cùng người khác. Biểu hiện bên ngoài của người này, bất luận là khiêm tốn thanh cao, hay cuồng vọng tự phụ, thì bản chất đều là đề cao bản thân mình, xem thường người khác.

Trong văn học hiện đại, có lưu truyền một câu nói: “Bạn không hiểu tôi, tôi không trách bạn“. Trên bề mặt, đây là một loại biểu hiện của rộng lượng và khoan dung, nhưng thực chất lại ẩn chứa sự ngạo mạn.

Bởi vì trong lời nói này, vẫn ẩn chứa ý muốn người khác có thể hiểu mình, hoặc vẫn muốn bảo vệ quan điểm của mình khi nó không được chấp nhận hoặc quan tâm, biểu hiện ra chính là một loại tâm lý cao ngạo. Đây đều là một loại thể hiện của chữ “Tư”.

Trong Đạo Đức Kinh có nói: “Thượng thiện nhược thủy”. Người tốt thực sự, chính là có thể bao dung giống như nước vậy. Trường phái triết học cổ điển Trung Quốc cũng đề xướng tư tưởng:“Nước làm lợi vạn vật mà không tranh giành”. Thế nhưng, đằng sau người ngạo mạn, lại thiếu đi sự bao dung này.

Ngạo mạn còn có thể mang đến định kiến. Bản chất của ngạo mạn chính là muốn bảo vệ chính mình, chứng tỏ bản thân. Như vậy, trong cách nhìn, cách nghe, cách nghĩ và cách nói của anh ta đều sẽ mang theo quan niệm chủ quan, cho nên không thể thấy được bản chất khách quan của một sự vật.

Bất kể một người học vấn cao hay thấp, thành tựu lớn hay nhỏ, nếu lời nói và hành vi của người ấy đều là vì chính mình, khi không được người khác chú ý thì tỏ ra khó chịu, hoặc thấy người khác không bằng mình mà tỏ ra khinh bỉ, cái đó vẫn là có mang theo định kiến. Trí giả thực sự nhất định sẽ khiêm tốn, đó mới là người lương thiện chân chính.

Tuệ Tâm, theo Kannewyorkhttp://tinhhoa.net/wpcontent/uploads/2014/08/BcKCN8.jpg


BÂNG KHUÂNG NGÀY MỚI (Tâm Lễ)

Kết quả hình ảnh cho hoa sen


     BÂNG KHUÂNG NGÀY MỚI

Thêm một năm đã trôi về quá khứ
Chẳng còn chi bao kỷ niệm vui buồn
Nắng đã tắt và hoàng hôn về trước mặt
Dấu tình sầu cũng theo giọt đông phai!...
Ta đón xuân về trong nắng ban mai
Tờ lịch mới cùng ta vào tuổi mới
Trôi giửa dòng đời thế sự nổi trôi!
Ta cám ơn đời trong mỗi sớm mai
Chim vẫn hót reo vang trước ngõ
Thêm một ngày để trang trải yêu thương
.


                Tâm Lễ - Nguyễn Ngọc luật



Chủ Nhật, 1 tháng 1, 2017

CHÚC MỪNG NĂM MỚI 2017





CHÚC MỪNG NĂM MỚI 2017

Năm mới hanh thông đến vạn nhà.
Mong cầu hạnh phúc mãi đơm hoa
Buồn vui được mất cùng chia sẻ.
Luôn nở nụ cười lúc sáng ra.

                                  Minh Đạo