Chỉ 20 phút, mắt phải cậu bé 8 tuổi bị ‘ăn mòn’. Thứ này hầu như nhà nào cũng có, cần cảnh giác
Con trai tôi năm nay 8 tuổi và đang học lớp 2. Một hôm đón cháu đi học về, tôi cảm thấy rất vui vì con trai được điểm tốt. Do đó, khi đi qua siêu thị, tôi đã mua một túi lớn đồ ăn nhẹ cho như là phần thưởng dành cho con.
Khi về đến nhà, con trai ngồi trên ghế sofa ăn nhẹ và xem phim hoạt hình, tôi thì bận rộn vào bếp nấu nướng cho bữa tối. Khoảng 15 phút sau đó, tôi nghe thấy tiếng hét thất thanh từ ngoài phòng khách, liền vội chạy ra và trước mắt là cảnh tượng choáng váng. Tôi thấy cháu đang lấy một tay ôm mắt lăn trên mặt đất, một chiếc chai méo mó và sàn nhà vương vãi nước…Không có thời gian để tìm hiểu nguyên nhân, tôi ngay lập tức xuống cầu thang, vẫy một xe taxi tới bệnh viện gần nhất, mất chừng 20 phút hoặc hơn.Nhưng tôi không thể tưởng tượng rằng chỉ trong vòng 20 phút, một mắt của con trai tôi đã bị hỏng vĩnh viễn.
Sau khi kiểm tra, bác sỹ nói mắt phải của cháu bị tác động của chất lỏng có tính kiềm ăn mòn, con mắt bị hoại tử, giác mạc bị thủng, dẫn đến bị mù vĩnh viễn. Các y bác sỹ đều bó tay.Lời nói của bác sỹ như tiếng sét ngang tai. Nhìn thấy tình trạng thảm thương của con trai, tôi ngồi thụp xuống đất và khóc…Bác sỹ hỏi cháu rằng tại sao lại dẫn đến chuyện như vậy, cháu liền kể lại sự việc. Khi ăn bánh xong, cháu phát hiện trong túi có một gói nhỏ. Cháu không biết đây là cái gì nên tò mò lấy ra để nghịch chơi. Cháu cầm nó, đưa lên mũi ngửi ngửi. Sau đó, cháu hòa nó vào cốc nước, không ngờ chiếc cốc phát nổ, bắn mạnh ra xung quanh và bắn cả vào mắt của cháu. Cháu cảm nhận có vật gì đó bay vào mắt, sau đó đau đớn và mắt không nhìn được.Bây giờ thì chúng ta đã biết nguyên nhân tại sao. Cái gói nhỏ mà con trai tôi nói đến chính là gói hút ẩm.
Là một người mẹ, tôi vô cùng đau đớn và hối hận vì sự sơ suất của mình. Trước đây tôi chỉ biết gói hút ẩm không thể ăn, chứ không nghĩ rằng nó lại gây ra tác hại thật nghiêm trọng.Tại sao gói hút ẩm lại nguy hiểm đến vậy?Những gói hút ẩm mà chúng ta thường thấy được làm từ silica gel hoặc vôi bột. Silica gel tuy không hút ẩm tốt bằng vôi bột, nhưng an toàn hơn.
Vôi bột giá thành rẻ nhưng có tính nguy hiểm cao. Gói hút ẩm làm từ vôi bột được dùng nhiều trong quá khứ, hiện tại thì hiếm thấy.
Trên thực tế, khi tiếp xúc với nước, không phải các chất làm khô nào trong gói hút ẩm cũng đều phát nổ. Nhưng chúng sẽ có phản ứng hóa học, tỏa nhiệt lớn và có tính ăn mòn rất cao. Nếu không may để chất này tiếp xúc trực tiếp với da, mắt sẽ để lại hậu quả vô cùng nghiêm trọng. Nếu chẳng may nuốt phải hạt hút ẩm sẽ gây bỏng khoang miệng, loét họng,…Vậy nên, để an toàn nhất cho trẻ nhỏ, các bậc cha mẹ nên kiểm tra và vứt bỏ gói hút ẩm sau khi mua bánh kẹo thực phẩm.Hướng Dương biên dịch
Thứ Sáu, 13 tháng 1, 2017
KHÔNG CHO TRẺ NHỎ CHƠI VỚI GÓI CHỐNG ẨM
BỐN PHÁP ẤN CỦA ĐẠO PHẬT
BỐN PHÁP ẤN
CỦA ĐẠO PHẬT
Đức Đạt Lai Lạt ma
CỦA ĐẠO PHẬT
Đức Đạt Lai Lạt ma
Bốn pháp ấn của Đạo Phật hay những chân lý hình thành nên một bộ phận quan trọng của giáo huấn tôn giáo của chúng ta. Liên hệ đến thời đại của chúng ta cũng là sự rèn luyện và hòa bình của tâm thức. Phương pháp của Đạo Phật về chuyển hóa tâm thức không chỉ là một vấn đềniềm tin mà cũng là một sự thuyết phục đạt đến được qua thiền phân tích. Vì thế, khảo sát là rất cần yếu.
Nhằm để thực hiện một
sự khảo sát trong sự quan tâmnày, chúng ta cần một thái độ hoài
nghi. Chúng ta không chỉ chấp nhận những vấn đề trong
một niềm tin mù quáng. Chủ nghĩa hoài nghi đưa đến những
câu hỏi, và câu hỏi kêu gọi một sự khảo sát. Sự khảo sát là thiền quán phân
tích qua điều mà chúng ta đạt đến một sự tỉnh thức trong
sáng hơn: một hình ảnh trong sáng hơn của thực tại.
Điều này phát sinh sự thuyết phục vững chắc. Chỉ qua sự thuyết
phục vững chắc mà sự chuyển hóa tinh thần có thể xãy
ra.
Nói cách khác, cái đầu
hay bộ óc chúng ta giống như một phòng thí nghiệm. Sự thông minh của con
người là đặc biệt và khác biệt với những chủng loại có vú khác.
Sự thông minh như thế là một khí cụ. Vì thế, trong phòng thí nghiệm
của não bộ, sự thông minhcủa con người hay khả năng thông
thái được sử dụng như một khí cụ để thẩm tra những cảm xúc khác
nhau, và rồi thì tiến hành những sự thể nghiệm trên một cấp độ cảm
xúc. Điều này có thể làm cho chúng ta chuyển hóa những cảm
xúc của chúng ta.
Theo một số nhà khoa
học, cảm xúc không nhất thiết là tiêu cực. Cảm
xúc là một cảm nhận rất mạnh mẽ. Trong khi một số cảm xúc là tàn
phá, những cảm xúc khác là xây dựng. Trong một gặp gở với những
nhà khoa học, chúng tôi đã kết luận rằng có những cảm
xúc ngay cả trong tâm của Đức Phật. Có một cảm giác mạnh mẽ
của việc quan tâmvà từ bi và cũng là sự thân chứng tính
không.
Lúc ban đầu, chỉ
có một cảm nhận mơ hồ của tính không. Tại một trình độ,
không có cảm xúc, nhưng một khi chúng ta trở nên quen thuộc hơn
với tính không, rồi thì cảm nhận ấy sẽ tăng lên. Tại một trình độ nào
đó, sự thân chứng tính không cũng trở thành một loại cảm
xúc. Do vậy, trong sự thực hành phát triển tuệ trí và yêu
thương ân cần / từ bi, chúng ta sẽ làm mạnh lên những
phẩm chất nội tại và rồi thì đạt đến một thể trạng nơi mà chúng
ta có một đợt bộc phát của cảm giác gọi là cảm
xúc. Chúng ta có thể thấy một cách rõ ràng sự nối kết này
giữa thông tuệ và cảm xúc. Thế nên, não bộ và trái tim có thể đi
bên cạnh nhau. Tôi nghĩ đây là sự tiếp cận của Đạo Phật.
Trong những truyền
thống tư tưởng cổ xưa của Ấn Độ, những phương pháp tương
tự đã được chấp nhận và thực hiện. Điều đặc biệt đối
với Phật Giáo là Đức Phật cho chúng tasự tự do để
đặt câu hỏi đối với những ngôn từ của chính Ngài. Đức Phật đã
nói một cách rõ ràng rằng tất cả những Tì kheo và người thông
tuệ nên thẩm tra những ngôn từcủa Ngài giống như một người thợ kim
hoàn kiểm tra vàng bằng việc đánh bóng, cắt gọt, và đặt nó trong
lửa. Ngài yêu cầu mọi người không được chấp nhận những giáo
huấncủa Ngài hoàn toàn từ niềm tin.
Do vậy, có một sự nối
kết giữa kiến thức trừu tượng và kinh nghiệm thực sự.
Chúng đi đôi với nhau. Dường như đối với tôi, mỗi quốc gia quan
trọng có một tôn giáo truyền thống. Có hai khía cạnh đối với tôn
giáo: một là sự rèn luyện tâm thức, và thứ đến là triết lý. Trong
dạng thức của sự rèn luyện tâm thức, tất cả những tôn giáo quan
trọng là giống nhau. Tất cả cùng có khả năng giống nhau để chuyển hóa tâm
thức của con người. Một sự biểu hiện rõ ràng của điều này
tất cả những truyền thống tôn giáo quan trọng chứa đựng thông
điệp của từ ái, bi mẫn, tha thứ, toại nguyện, và kỷ luật tự
giác. Thông điệp là giống nhau, nhưng trong một số trường hợp, ý
nghĩa có thể hơi khác nhau do bởi triết lý của họ khác nhau.
Có thể có những sự
khác biệt quan trọng trong triết lý của những tôn giáo khác nhau
nhưng chúng ta không thể nói rằng tôn giáo này tốt hơn tôn
giáo kia. Tất cả có cùng khả năng để chuyển hóa tâm thức. Tuy
thế, mỗi chúng ta có một thiên hướng tinh thần khác
nhau. Vì thế, chúng ta thấy có nhiều phương pháp khác nhau
để tiếp cận. Tuy vậy, kết quả hay tác dụng là giống nhau nhiều hơn
hay ít hơn.
Do vậy, chúng ta không
thể nói rằng tôn giáo này hay tôn giáo kia là tốt hơn.
Một thái độnhư vậy cho phép chúng ta phát triển sự tôn
trọng đối với những truyền thống tôn giáoquan trọng khác. Hàng
triệu người đã từng được truyền linh cảm bởi những truyền thốngkhác nhau
trong quá khứ. Nó có thể giúp họ hướng đến một đời sống đầy đủ ý
nghĩa. Trong tương lai, hàng triệu người sẽ tiếp tục được truyền cảm
hứng và, như một kết quả, đời sống của họ cũng sẽ trở nên đầy đủ ý
nghĩa hơn và tràn đầy với từ bi. Về phía triết lý, tuy thế, chúng
ta có thể nói rằng triết lý này là phức tạp hơn hay triết lý nọ
là đơn giản hơn.
Trong người Tây
Tạng, chúng tôi nói về bốn pháp ấn hay bốn chân lý của Đạo
Phật. Đây là:
1- Tất cả những hiện
tượng do duyên sinh là vô thường (chư hành vô
thường);
2- Tất cả những hiện
tượng nhiễm ô là khổ đau (nhất thiết hành khổ);
3- Tất cả những hiện
tượng là vô ngã và trống không (chư pháp vô ngã);
4- Niết bàn là
hòa bình (niết bàn tịch tĩnh).
Để giải thích pháp
ấn thứ nhất: những hiện tượng đuyên sinh là vô thường,
trước hết chúng ta phải thấu hiểu rằng căn bản của nó liên
hệ đến vô thường. Bất cứ hiện tượngđặc thù mà lệ thuộc trên
những nguyên nhân và điều kiện của nó cho sự tồn tại của
nó là được phân loại như một hiện tượng duyên sinh. Hiện tượng này lệ
thuộc đến nguyên nhân và điều kiện (nhân và duyên). Thí
dụ, trong khi ngồi trong một căn lều đặc biệt, chúng ta tỉnh
thức rằng không có cây cối gì. Do bởi sự vắng bóng của
“cây cối”, chúng ta có thể biết rằng cây cối không hiện hữu.
Trong cách này, tâm thức chúng ta có thể biết điều gì
đấy; được gọi là, sự không tồn tại của cây cối. Vì thế, điều này rõ
ràng chứng tỏvới chúng ta rằng sự không tồn tại của
cây cối là hiện hữu thật sự bởi vì nó là chủ đề đối với tri
thức của chúng ta.
Đồng thời, sự không hiện
hữu của “cây cối” rõ ràng không tồn tại trong một ý
nghĩa củavật lý vì thế chúng ta có thể thấy hay nhận
thức nó. Cũng thế, nó là sự xác nhận một đối tượng có thể nhận
thức và thực tế, nhiều thứ mà chúng ta thừa nhận phải
được làm nên trong những dạng thức của sự thông hiểu về sự không hiện
hữu của cây cối. Thí dụ, lấy những bông hoa mà chúng ta có
thể thấy. Một trong những phẩm chất mà chúng ta tìm thấy trong
những bông hoa là sự không hiện hữu của cây cối, chúng ta thấy
sự tồn tại vô tận của sự không hiện hữu của những đối
tượng khác không là bông hoa. Chắc chắnrằng sự không hiện hữu của
những đối tượng khác này trong bông hoa đặc thù này dứt khoát là đối
tượng có thể nhận thức được. Nhưng cùng lúc, nó không phải là
loại đối tượng có thể định rõ đặc điểm được.
Tương tự thế,
trong trường hợp của những đối tượng chẳng hạn như vô thường hay vô
ngã, chúng có thể được lĩnh hội và nhận thức bởi tâm thức, nhưng đồng
thời, không có một sự tồn tại được làm cho có thể từ phía của chúng.
Trong cùng cách, khi chúng
ta nói về tính đại cương hay đặc thù, tốt hơn hãy nghĩ
về những bông hoa cá thể, chúng ta có thể nghĩ về một “bông hoa”
trong một ý nghĩa tổng quát. Thí dụ, chúng ta có thể
thấy một bông hoa đặc thù ở một nơi đặc biệt tại một thời gian đặc
trưng. Rồi thì sau này, sau một thời gian nào đấy chúng ta thấy
một bông hoa khác với một màu sắc khác. Đơn giản bằng việc thấy bông
hoa thứ hai, chúng ta có thể kết luận rằng đây cũng là một
bông hoa. Do thế, khi chúng ta đặt tên thuật ngữ “bông
hoa”, đến những đối tượng đặc thù nào chúng ta đặt tên cho thuật
ngữ ấy?
Nếu thuật ngữ “bông
hoa” được đặt tên duy nhất cho bông hoa đặc thù mà chúng ta đã
thấy trước đây, rõ ràng bông hoa đặc thù ấy không thể tìm thấy trong
bông hoa mà chúng ta thấy sau này. Do vậy, có một loại “bông hoa” có
phẩm chất chung của cả hai loại hoa này. Tuy nhiên, mặc dù đây là một thực
tế, nó không có nghĩa rằng có một loại “bông hoa” chung thâm nhập khắp
tất cả những loại bông hoa và là loại hoa tồn tại khác biệt với những
loại bông hoa này.
Do thế, khi chúng
ta chú ý một bông hoa đặc thù, chúng ta đang quán chiếu một
loại phẩm chất khác biệt với những đối tượng không phải là bông hoa. Cùng phẩm
chất ấy cũng được tìm thấy trong bông hoa mà chúng ta thấy
sau này. Đấy là do bởi phẩm chất này mà chúng ta có thể
thấu hiểu, nhận thức, và phân biệt những kiểu mẫu khác nhau của
những đối tượng khác nhau này như là những ‘bông hoa’.
Bây giờ câu hỏi lại
phát sinh: một hiện tượng như thế là nguyên nhân hay điều
kiện (nhân hay duyên)? Tất cả những hiện tượng hiện hữu có
thể được phân biệt thành hai đặc trưng: những hiện tượng hiện
hữu và những đối tượng không hiện hữu. Khi chúng ta nói về
một đối tướng hiện hữu, nó được quyết định trong ý nghĩa rằng
có một ý thức thấu hiểu nó, nhận thức nó. Trong trường
hợp của một đối tượng không hiện hữu, nó là điều gì đấy không thể nhận
thức hay lĩnh hội bằng bất cứ loại ý thức nào.
Chúng ta không
bao hàm ở đây bất cứ điều gì được nhận thức bởi bất cứ loại tâm
thứcnào thật sự hiện hữu. Vì thế, một lần nữa, chúng ta phải
làm một sự phân loại riêng biệt giữa những loại tâm thức khác nhau: tâm
thức có căn cứ và tâm thức không có căn cứ. Đấy là do bởi điều
này khi chúng ta nghiên cứu nhận thức luận Phật Giáo, chúng
ta thấy những loại tâm thức được diễn tả.
Thứ Năm, 12 tháng 1, 2017
CÂU HỎI CỦA ĐỨC PHẬT: “MỘT HÒN ĐÁ NÉM XUỐNG SÔNG THÌ NỔI HAY CHÌM?”
“Một hòn đá ném xuống sông thì nổi
hay chìm?”. Từ một câu hỏi đơn giản, Đức Phật đã giảng cho chúng đệ tử những lời
dạy vô cùng ý nghĩa về mối thiện duyên.
Trong điển tích Phật giáo có câu chuyện “Hòn đá sang sông”, kể rang:
Thời Đức Phật Thích Ca còn tại thế. Một hôm Ngài cùng các đệ tử đi đến một con sông. Nước sông mênh mông, chảy xiết. Đức Phật cúi xuống nhặt một hòn đá khá to lên rồi quay lại hỏi các đệ tử:
“Các con hãy trả lời ta, hòn đá này ném xuống sông thì nổi hay chìm?”.
Vừa nói dứt lời thì Đưc Phật ném hòn đá xuống sông. Đương nhiên hòn đá đã bị chìm mất. Chúng đệ tử không hiểu ý thầy hỏi là thế nào, thầm nghĩ: “Đá ném xuống nước tất nhiên phải chìm rồi”.
Họ đồng thanh thưa: “Thưa Thế Tôn, đá chìm ạ”.
Đức Phật thở dài nói: “Ài! Hòn đá này thật là vô duyên”.
Nghe thầy than thở, đệ tử càng ngơ ngác suy nghĩ: “Đá ném xuống nước phải chìm, đấy là lẽ tự nhiên. Sao lại có hòn đá vô duyên hay hòn đá có duyên chứ?”.
Đức Phật chậm rãi nói: “Có hòn đá vuông mỗi chiều 3 thước, đặt xuống nước không những không chìm mà nó còn qua được bên kia khô ráo. Các ngươi có thể nói cho ta biết vì sao không?”.
Các đệ tử suy nghĩ một hồi lâu vẫn không tìm ra lời giải đáp, xin thầy giảng giải.
Đức Phật trả lời:
“Đơn giản quá, chẳng qua hòn đá ấy có thiện duyên. Đó là nhờ cái thuyền, đá đặt trong thuyền chở qua sông, rõ ràng không chìm mà cũng không ướt.
Con người ta cũng như vậy thôi, nếu ai gặp thiện duyên thì mọi việc tốt đẹp, sẽ trở thành người tốt. Nếu không sẽ chẳng làm nên trò trống gì, trở thành kẻ ác. Vậy nên con người ta sinh ra trên đời phải chọn thầy tốt mà học, chọn bạn tốt mà chơi, chọn điều tốt mà theo. Đấy chính là thiện duyên của con người vậy”.
Chúng đệ tử nghe Đức Phật giảng nói mới hiểu rõ đạo lý làm người nên ai nấy vui mừng khôn tả.
Khi rơi xuống dòng sông, hòn đá chỉ có thể chìm, cho dù nó chỉ nhỏ bằng một hạt sỏi. Tuy nhiên, dẫu là một tảng đá to lớn, thì nó vẫn có thể sang sông khô ráo nếu được ai đó đặt lên một chiếc thuyền.
Và điều đó là nhờ mối thiện duyên giữa hòn đá và chiếc thuyền cũng như với con người đặt nó lên chiếc thuyền kia. Có thể thấy, mối thiện duyên ấy đã làm nên những điều tưởng chừng không thể.
Trong lịch sử nhân loại, không thiếu các bậc vĩ nhân anh hùng khi chưa gặp thời, họ chỉ biết lui về ở ẩn, ngao du sơn thủy… cho đến ngày gặp được minh chủ, chính là gặp được thiện duyên của mình. Lúc đó họ như rồng gặp mây, thỏa chí mang tài mang đức ra giúp ích cho muôn dân muôn họ. Bởi vậy, có thể nói sự tỏa sáng tài năng của một người chính là kết quả của những mối lương duyên đã được an bài.
Vì thế nếu chúng ta có được một cuộc sống tốt đẹp, đạt một sự thành công nào đó, hãy hiểu rằng đó là nhờ những “thiện duyên” mà Thượng Đế đã ban tặng. Tư duy này không hề làm giảm bớt giá trị tự thân hay không thừa nhận những nỗ lực, cố gắng của con người, nó chỉ giúp chúng ta càng nhận thức đúng đắn, viên mãn hơn về nhân sinh.
Những “thiện duyên”, đó chính là chân lý, công bằng, là đạo đức nhân văn… của con người. Vậy nên, nếu có thể tìm gặp được những điều đó trong bạn bè tốt, trong những người hướng dẫn nhiệt tâm, hay trong một cuốn sách quý… thì cũng chính là chúng ta đã gặp được “thiện duyên” của mình vậy!
Và hơn hết, trong cuộc sống này, mỗi chúng ta hãy kết càng nhiều thiện duyên, và thực sự trân quý những mối thiện duyên này.
Bảo An sưu tầm
Thứ Hai, 9 tháng 1, 2017
BỀNH BỒNG
BỀNH BỒNG
Lênh đênh chìm nổi cuốn theo dòng
Nhắm hướng tìm bờ phải gắng công
Khổ cực chống chèo luôn nếm trải
Gian nan lặn lội mãi quay vòng
Chiều dần gió tạc hao tâm lực.
Đêm xuống trăng soi chạnh cõi lòng
Lơ lững thuyền trôi ngày đã hết,
Vượt qua bao nỗi thỏa chờ mong.
Chờ mong bế tắc thể nào vơi,
Đắm đuối xuôi dòng chỉ lệ rơi.
Lạc lối lang thang nguy mọi lúc,
Sai đường luẩn quẩn khốn cùng nơi.
Kinh vàng nương pháp tìm nguồn sáng,
Bè báu theo Thầy vượt biển khơi. (*)
Xả bỏ phàm tình xua nghiệp cũ,
Vun bồi trí huệ hết buông lơi...
Vun bồi trí huệ hết buông lơi,
Sức nguyện dày công sẽ đến thời
Gặp cảnh nương duyên tâm chẳng nhuốm
Sinh tình trái ý đạo không vơi.
Nguồn chơn vững lối qua muôn ngõ
Gốc pháp thuận đường tỏa khắp nơi
Thấy được thị phi cùng một tướng
Thuyền từ Bát Nhã ánh dương ngời.
______________________
(*) Deva manuṣyānāṃ śāstṛ :
Thiên Nhân Sư, là Bậc thầy của cõi người và cõi trời.
Minh Đạo
http://quangduc.com/a59969/ benh-bong
http://www.daophatngaynay.com/…/va…/tho/22992-benh-bong.html
http://www.hoavouu.com/p41a42527/benh-bong
http://www.hoavouu.com/p41a42527/benh-bong
Thứ Bảy, 7 tháng 1, 2017
CHIỀU ĐÔNG
CHIỀU ĐÔNG
Chiều mưa lạnh lẽo
cảnh đông tàn,
Xao xuyến thời qua
đắm mộng vàng.
Rêu phủ thành xưa
lòng thổn thức,
Thơ buông sách cổ
dạ mênh mang.
Hương Giang soi
bóng trơ nhành liễu,
Thế Miếu in hình
lặng nén nhang.
Thiên Mụ lưng mây
chuông vọng gió
Đêm về tiết đổi
đón mùa sang…
Minh Đạo
BẢY ĐIỂM THIỀN ĐỊNH ...
BẢY ĐIỂM THIỀN ĐỊNH
DỰA VÀO QUY LUẬT NGUYÊN NHÂN HẬU QUẢ
NHỮNG LỜI KHUYÊN GIÚP CHÚNG TA SỐNG VỚI ĐẠO PHÁP
(La méthode de cause à effet en sept points -
Conseils de méditation pour vivre le bouddhisme)
Đức Đạt-lai Lạt-ma
Hoang Phong chuyển ngữ
Phật
giáo Tây Tạng hay Kim Cương Thừa nói chung rất thực tế và cụ
thể, giúp người tu tập trực tiếp biến cải tâm thức mình
và đạt được giác ngộ. Dưới đây là một bài giảng ngắn của Đức Đạt-lai
Lạt-ma về một trong các phép luyện tập thiền định chủ yếu và thiết
thực của Phật giáo Tây Tạng, là "Phép thiền định gồm
bảy điểm" do Atisha (A-đề-sa) đề xướng.
Atisha (982-1054) là một vị đại sư xuất thântừ đại học Nalanda,
sống vào một thời kỳ nhiễu nhương dưới sự xâm lược của các
đạo quân Hồi giáo, từ thế kỷ thứ X đến XII, và đây cũng là thời
kỳđánh dấu sự suy tàn của Phật giáo trên đất Ấn.
Atisha vượt biển đến quần đảo Sumatra của Inđônêxia và lưu lại đây 12 năm, thụ
giáo với một vị thầy lỗi lạc là Dharmarakshita và học được phép thiền
định Lojong, một phép luyện tập mang lại "tâm thức giác ngộ" hay
"bồ-đề tâm" (bodhicitta). Ông trở về Ấn năm 1025 và
giảng dạy tại đây, đến năm 1042 thì được mời lên Tây Tạng để giúp phục
hồi Phật giáo tại xứ sở này. Tại đây ông đã triển khai và hệ
thống hóa phép luyện tập Lojong đưa đến sự hình thành của phép luyện tập
mới là Larim, nêu lên thật chính xác và minh bạch các giai
đoạn luyện tập tuần tự đưa đến sự giác ngộ.
Trong phép luyện tập này Atsha phân loại người tu tập theo ba cấp
bậc:
- cấp bậc thấp
gồm những người tu tập còn kém, với lòng nhiệt tình thấp và tầm nhìn
hạn hẹp, chỉ mong muốn được tái sinh trong những hoàn cảnh thuận
lợi hơn.
- cấp bậc trung bình với những người có tầm nhìn xa
hơn và lòng nhiệt tình cao hơn, có nghĩa là mong muốn được giải thoát khỏi
chu kỳ của những sự hiện hữu và hòa nhập vào cõi niết bàn.
- cấp bậc cao gồm những người có tầm nhìn thật rộng
lớn, với một lòng nhiệt tình vô song, mong muốn đạt được bồ-đề
tâm để trở thành một vị Phật toàn vẹn, hầu có thể giúp đỡ
tất cả chúng sinh.
Trong mỗi cấp bậc đều có các phép luyện tập và các chủ đề thiền
định riêng. Trong số các phép luyện tập của cấp bậc cao có một phép gọi là "Giáo
huấn về bảy điểm giúp người tu tập nhìn vào tất cả chúng sinh đều
là mẹ mình". Phép luyện tập này dựa vào ý niệm cho
rằng qua vô số kiếp sống của mình trong chu kỳ xoay vần bất tận của
các sự hiện hữu, tất cả chúng sinh đều có thể từng là mẹ mình
trong quá khứ, và đây cũng là chủ đề bài giảng của Đức Đạt-lai
Lạt-ma dưới đây.
Sở
dĩ phải dài dòng như trên trước hết là để điểm qua vị trí của
bài giảng này trong kinh sách vô cùng phong phú của Phật
giáo Tây Tạng, sau đó là nhấn mạnh đến tính cách cụ thể, thiết
thực nhưng đồng thời cũng hết sức chặt chẽ và chính
xác trong các phép luyện tập của Phật giáo Tây Tạng nói chung.
Bài chuyển ngữ dưới đây được dựa vào một tư liệu do bà
Sofia Stril-Rever vừa đưa lên trang mạng Buddhaline. Bà là một học giả và
nhà văn, đệ tử của Đức Đạt-lai Lạt-ma, được Ngài giao phó cùng
với một số nhà sư và học giả Phật giáo khác, soạn thảo bản "Tuyên
Ngôn về Trách Nhiện Toàn Cầu" mà chính Ngài cũng đã duyệt lại
trước khi phổ biền.
***
Giai đoạn chuẩn bị: phát huy
thể dạng bình lặng
Nếu muốn luyện tập về quy luật nguyên nhân hậu quả dựa vào bảy
điểm thiền định thì trước hết phải phát huy một thể dạng tâm
thức bình lặng (equanimity/bình thản, tĩnh lặng, thăng bằng). Khi
chưa thực hiện được thể dạng này thì các bạn sẽ không thể tạo ra cho
mình một tầm nhìn vị tha và vô tư được. Thiếu sự bình lặng
đó thì các bạn sẽ khó tránh khỏi thiên vị những người thân
thuộc và bạn hữu mình. Nếu muốn mang lại cho mình một thể dạng
bình lặng thật vững vàng thì các bạn phải ý thức được là
không nên có một thiển kiến, hận thù hay một sự bám víu nào
đối với bất cứ một ai, dù đấy là kẻ thù, bạn hữu hay một người hoàn
toàn xa lạ với mình.
Nhằm thực hiện căn bản đó đúng theo những lời hướng dẫn trong
tập luận "Các giai đoạn luyện tập trên Đường Giác Ngộ: Con
Đường Phúc Hạnh mang lại sự Hiểu BiếtToàn Năng" của
Panchen-lama Chökyi Gyaltsen (tức là tập luận "The Graded Stage of
the Path: A Blissful Path"/"Lam-rim bde-lam" của Ngài Ban-thiền
Lạt-ma thứ IV, 1570-1662), thì trước hết các bạn hãy hình
dung ra một người dưng hoàn toàn xa lạ với mình. Sau khi hình
ảnh người này hiện ra thật minh bạch, thì các bạn sẽ cảm
thấy không có một xúc cảm rõ rệt nào hiện lên với mình, không có
một sự cảm nhận thèm muốn hay hận thù nào, có nghĩa là mình hoàn
toàn dửng dưng (vô cảm và thờ ơ đối với con ngườixa
lạ ấy). Sau đó các bạn hãy liên tưởng đến một kẻ
thù (một người mà mình ghét cay ghét đắng chẳng hạn), thì tức
khắc một cơn giận hay sự thù hận sẽ bùng lên ngay trong tâm thức mình.
Sau đó các bạn lại gợi lên trong tâm trí mình hình ảnh một
người bạn hay một người thân thuộc trong gia đình, thì một thứ
xúc cảm quyến luyến và gắn bó nào đó sẽ tức khắc hiện
lên với mình.
(Tâm
thức là một giác quan, ba loại cá thể trên đây là các đối
tượng cảm nhận của nó. "Xa lạ", "kẻ thù" hay "thân
thuộc" là ba cách diễn đạt của tâm thức về ba cá
thểấy. Các sự diễn đạt này là kết quả phát sinh từ sự liên kết giữa
các cảm nhận của tâm thức về các cá thể trên đây và các
nghiệp tồn lưu bên trong tâm thức liên quan đến các cá thể ấy.
Sự diễn đạt này sẽ tạo ra các xúc cảm đủ loại bên trong tâm thức. Hình
ảnhmột người dưng không gây ra một xúc cảm nào đáng kể, bởi vì bên trong tâm
thứckhông hề có một nghiệp nào được ghi khắc từ trước, liên quan
đến cá thể hoàn toàn xa lạ này, "xúc cảm" nếu có
thì chỉ là các xúc cảm "dửng dưng". Trái lại nếu tâm
thức cảm nhận được hình dạng một cá thể liên hệ mật thiết với
các vết hằn của nghiệp bên trong nó - chẳng hạn như người này trước đây từng
gây ra những sự tổn thương hay oán hận- thì tức khắc các vết hằn
này sẽ tạo ra các tác động khiến tâm thức diễn đạt cá
thể này là một "kẻ thù", và sự diễn đạt đó sẽ tạo ra
các xúc cảm bấn loạn và tàn phá trong tâm thức. Ngược lại nếu là hình
ảnh một người mà mình yêu quý hay gần gũi với mình trong gia đình thì
các xúc cảm hiện lên sẽ là sự quyến luyến, bám víu hay
"thèm muốn". Ngay cả trường hợp chỉ cần tiếp xúc với
một người nào đó tuy "xa lạ" nhưng hao hao giống với một người mà
mình "quyến luyến", chẳng hạn như nghe thấy tiếng nói, trông thấy vóc
dáng, mái tóc hay gương mặt của người này thì cũng đủ để gợi lên cho mình các
xúc cảm giống như là mình gặp lại đúng người mà mình "quyến luyến"
trước đây. Điều này cho thấy "nghiệp" rất tinh tế và bén
nhạy, nó sẽ tức khắc hiện lên thành quả dưới hình thức xúc
cảm một khi nó gặp được cơ duyên phù hợp, xúc cảm này có thể đưa đến
sự hình thành của tư duy, tác ý trong tâm thức, hoặc ngôn
từ, cử chỉ hay hành động trên thân xác.
Đối với các cơ quan giác cảm khác cũng vậy, thí dụ mình
đang đói và đi ngang một tiệm phở, mùi phở và hình ảnh các miếng thịt
treo lủng lẳng ở tủ kính sẽ khiến mình thèm ăn. "Xúc cảm" thèm ăn -
tức bám víu, thèm khát - là sự thúc đẩy của bản
năngsinh tồn, phía sau bản năng đó là nghiệp của mình, trói buộc mình
với sự hiện hữu của chính mình. Thế nhưng nếu vừa ăn cơm xong thì
mình sẽ hoàn dửng dưng trước những thứ ấy.
Nói chung, đấy là các phản ứng khác nhau của tâm thức trong
cuộc sống thường nhật. Nếu biết ý thức, phân tích và theo dõi các phản
ứng đó hầu tìm hiểu nguyên nhâncủa chúng thì trước hết sẽ là
cách giúp mình nhìn thấy sự vận hành của nghiệp và các tác động của
nó bên trong tâm thức mình, sau đó cũng là một cách thiền định hướng
vào từng xúc cảm, tư duy và tác ý cùng ngôn từ và
hành động trên thân xác, giúp mình kiểm soát và chủ động chúng.
Kinh Satipatthana-Sutta/Kinh về sự Chú Tâm Tỉnh Giác gọi đó là
cách tập trung sự chú tâm tỉnh thức vào bốn lãnh vực là
thân xác, cảm giác, tâm thức và những gì hiện lên bên
trong tâm thức mình. Khi đã trở về được với tâm thức "từ
bên trong nó, không dựa vào bất cứ gì trong thế giới", thì dù
đang đói hay no, mùi phở và hình ảnh những miếng thịt treo lủng lẳng
cũng chỉ làm hiện lên trong tâm thức mình một cảm nhận duy
nhất là sự đau đớn của một con bò bị đập đầu và xẻ thịt, và ý
thức về bản chất vô thường, khổ đau và vô thực thể của
các hiện tương cấu hợp tạo ra chính mình. Sự cảm nhận đó tất sẽ khơi động trong
con tim mình một quyết tâm nào đó.
Những gì trên đây cho thấy là các thể dạng tâm thức có thể chỉ đơn
giản là các phản ứng phát sinh một cách tự động từ nghiệp và bản
năng, nhưng cũng có thể được tạo ra bởi sự quyết tâm của chính mình)
Trước kẻ thù thì các bạn sẽ cảm thấy một sự cách biệt,
một cảm tính hận thùhay ghét bỏ nào đó. Hãy tưởng tượng người Trung
Quốc là các kẻ thù của mình chẳng hạn, họ ra lệnh hủy diệt Dharma (Đạo
Pháp) không thương tiếc, gây tổn thương cho những người đồng
hương, cai trị xứ sở bằng sự độc đoán, bất chấp các phẩm tính căn bản của con
người, chẳng hạn như lòng tin và sự tín nhiệm. Các bạn hãy hình
dung ra các luận cứ nhằm biện minh tính cách chính đáng của
các xúc cảm tiêu cực trên đây của mình trước các hành vi đó
của họ. Quả thật họ đã gây ra không biết bao nhiêu đổ vỡ cho cuộc
sống này, thế nhưng trước đó thì họ có như thế hay không? Tất nhiên các bạn sẽ nhận
thấy là không, trong quá khứ họ từng mang lại nhiều điều tốt
đẹp cho mình và kẻ khác. Thế nhưng hiện nay thì họ chẳng những không còn
giữ được một chút lòng tin nào nơi Đạo Pháp mà còn làm tổn
thương đến thật nhiều người. Họ gần như không còn chủ động được
mình nữa. Tuy nhiên các khiếm khuyết đó đều là do vô minh, hận
thù, v.v. gây ra cho họ, nhưng tuyệt nhiên không phải là bản
chất tự nhiên của họ.
Các bạn đừng quên là kể cả tâm thức mình cũng không sao tránh
khỏi ảo giác, tuy không mang cùng một bản chất tàn phá như của
họ nhưng không phải vì thế mà kém ảo giác hơn. Do đó các bạn nên hiểu
rằng các phản ứng xúc cảm [tiêu cực] mà mình dán lên trán những người
mà mình xem là kẻ thù, không hề mang tính cách chính đángnào cả.
Đến đây chúng ta lại tiếp tục nhìn vào thái độ của
mình đối với những người thân thuộc và bạn hữu của mình. Có thể các
bạn nghĩ rằng đó là những người rất tốt, lúc nào cũng mang lại mọi điều tốt
đẹp cho mình, v.v. Họ đối xử tốt với các bạn đến độ các bạn cảm thấy nếu
cần thì mình cũng có thể hy sinh cả tánh mạng mình vì họ. Dù là
những người vô cùng tử tế với mình trong kiếp sống này thế nhưng
trong các kiếp quá khứ biết đâu họ cũng từng là kẻ thù của
mình, hoặc cũng có thể là những người đã gây ra cái chết cho mình trong các
kiếp sống trước đây của mình. Hoặc cũng có thể họ từng là những người thật hung
dữ, gieo rắc đau thương và tàn phá chung quanh họ. Vì thế không
có một lý do nào để bám víu vào họ một cách tuyệt đối và vĩnh
viễn như là những người thân thuộc hay bạn hữu của mình.
Tóm lại đối với mình, giữa kẻ thù và bạn hữu
không có một ranh giới tuyệt đối nào cả. Kẻ thù hay
bạn hữu cũng không khác gì nhau, lúc thì mang lại những điều tốt đẹp, lúc
thì gây ra mọi thứ đổ vỡ cho mình. Do đó không có một lý do nào để mà chấp
nhất hay thiên vị đối với bất cứ ai cả. Vậy các bạn nên tạo ra
cho mình một thể dạng bình lặng (equanimity/tĩnh lặng, thanh
thản, không phân biệt hay thiên vị) đối với tất cả chúng
sinh. Dầu sao thể dạng tâm thức đó cũng không thể hiện lên
với mình được sau một hay hai buổi hành thiền, mà cần đến một sự luyện tập kiên
trì kéo dài hàng tháng hay hàng năm.
Sau đây là bảy điểm thiền định dựa vào quy
luật nguyên nhân hậu quả:
1- Điểm thiền định thứ
nhất: trông thấy bóng dáng mẹ nơi tất cả chúng sinh
Giai đoạn đầu tiên trong phép thiền định về nguyên nhân hậu
quả dựa vào bảy điểm là phát huy một sự quán thấy tất cả chúng
sinh đều từng là mẹ của mình. Trong mỗi kiếp sống trong chu kỳ xoay vần
bất tận không khởi thủy của sự hiện hữu, chúng ta đều có một
người mẹ. Do đó chúng ta không thể nào khẳng định một cách chắc
chắn là một chúng sinh nào đó đang sống hiện nay chưa từng là một
người mẹ của mình trước kia trong quá khứ. Các bạn nên nhìn vào tất cả chúng
sinh qua góc nhìn đó. Thế nhưng các bạn cũng có thể nghĩ rằng chúng
sinh thì nhiều vô kể, vậy làm thế nào mà tất cả lại có thể từng là mẹ
mình được. Tuy nhiên cũng phải hiểu rằng nếu chúng sinh nhiều vô
kể thì các kiếp sống của mình trong chu kỳ hiện hữu cũng nhiều
như thế. Hoặc các bạn cũng có thể nghĩ rằng dù cho họ từng đúng thật là những
người mẹ của mình thì đấy cũng chỉ là các người mẹ trong quá khứ, không
phải là mẹ của mình trong kiếp sống này. Tuy nhiên các bạn cũng thử
nhìn lại xem, chẳng phải người mẹ của mình trong ngày hôm qua cũng vẫn còn là
mẹ của mình trong ngày hôm nay hay sao?
Nếu đủ sức hình dung được sự sống không khởi thủy thì các bạn
tất sẽ phải hiểu được trong quá khứ sự sống đó của mình dù là dưới hình
thức nào (trong sáu cõi luân hồi) cũng đều phải được
sinh ra từ một người mẹ - từ một quả trứng hay bên trong một tử cung. Do
đó không có một chúng sinh nào lại không có thể là mẹ mình (dù
đấy là những con thú). Chấp nhận sự thật này không phải là
chuyện dễ (dưới một góc nhìn khác thì dù chúng ta tin hay
không tin vào sự tái sinh cũng vậy, chủ đích của phép luyện
tập này là giúp mình nhìn vào tất chúng sinh đều là mẹ mình, và đó là
cách khơi động một thứ xúc cảm thật mạnh bên trong chúng ta là lòng
hiếu thảo, giúp chúng ta phát huy bồ-đề tâm thật rộng lớn
trong tâm thức mình). Vậy các bạn hãy thử suy nghĩ theo
một chiều hướng ngược lại xem sao, tức là tìm cách loại bỏ những
người không phải là mẹ mình trong quá khứ. Vậy thì đối với các chúng
sinh mà mình gạt sang một bên đó thì các bạn có thể quả quyết một
cách chắc chắn là họ chưa từng bao giờ là mẹ của mình hay
không?
(Thật
vậy, trông thấy hình bóng của mẹ trong tất cả chúng sinh kể cả những
con thú không phải là dễ thực hiện, một khi lòng từ bi bên trong
chính mình chưa chín mùi, tức có nghĩa là "cái tôi" của mình còn quá
to lớn và nặng nề, không cho phép mình "bay lượn" xuyên
qua không gian và thời gian cùng với tất cả các chúng
sinh khác trong sự xoay vần của thế giới hiện tượng. Bên trong thế
giới đó tất cả các chúng sinh khác đều hiện lên với
mình như trong một giấc mơ thật dài. Trong giấc mơ đó mình "gặp lại" cha
mẹmình, ông bà mình, những người mà mình từng thương yêu, kể cả các kẻ
thù của mình. Tất cả đều bay lượn trong thế giới ảo giác đó,
lúc thì hiện lên thật rõ ràng lúc thì mờ đi và biến mất,
hun hút trong không gian và thời gian, tương tự như ảo giác.
Thế nhưng cũng có một cái gì đó rất thật và cụ thể đó là sự hiện
hữu của chính mình. Sự hiện hữu đó chính là món nợ mà mình phải
trả cho một người mẹ, có thể là rất gần trong ngày hôm nay, nhưng cũng có thể
là rất xa, hun hút ở một nơi nào đó trong thế giới hiện tượng này.
Trong sự hiện hữu rất thật đó của mình cũng có một thứ xúc cảm cũng
rất thật và vô cùng cao quý, đó là lòng hiếu thảo đối mẹ
mình trong ngày hôm nay, hay trong ngày hôm qua thì cũng vậy. Vậy hãy biến lòng
hiếu thảo rất thật đó trở thành bồ-đề tâm cũng rất thật
trong tâm thức để hồi đáp món nợ ấy cho từng người mẹ của
chính mình).
Sau hết các bạn nên tự hỏi như thế này: vậy nếu cứ xem tất cả chúng sinh là
mẹ mình thì sẽ phải chịu thiệt thòi hay được lợi? Nếu muốn phát huy bồ-đề
tâm - tức lòng thương người - thì các bạn cũng nên ý thức một
điều là nếu không chấp nhận cách nhìn đó đối với kẻ khác (tức
xem họ là mẹ mình), thì dù có cố gắng cách mấy thì các bạn cũng
không thể thành công được. Khi nào chưa chấp nhận cách nhìn
đó thì những điều mong cầu của các bạn (bồ-đề tâm) vẫn còn hết
sức xa vời. Nên hiểu rằng trong chu kỳ xoay vần bất tận của sự hiện
hữu, các kiếp sống không có một điểm khởi thủy nào, do đó trong quá khứ tất
cả chúng sinh đều có thể từng là những người mẹ sinh ra mình và nuôi
nấng mình.
Nhìn vào kẻ lạ và xem họ từng là những người thân thuộc của mình
không có nghĩa là trong quá khứ họ nhất thiết cũng phải là
những người xa lạ với mình. Vị đại sưMaitreya (Di Lặc,
được xem là thầy của Asanga/Vô Trước, thế kỷ thứ IV) trong tập luận "Abhisamayalankara"/
"Hiện tráng trang nghiêm luận" cho biết rằng chúng
ta cũng có thể nhìn vào một người bạn quý nhất hay một người thân
thuộc gần gũi nhất với mình và xem họ cũng từng là những người thân
thiết với mình trước đây trong quá khứ. Chẳng hạn nếu mình cảm
thấy gắn bó với cha mình hơn là mẹ mình thì cứ hình dung cha
mình trong kiếp sống này cũng từng là cha mình trong quá khứ, hoặc cũng có
thể nhìn vào đứa con yêu quý hiện nay của mình và hình dung nó cũng
từng là con mình trong các kiếp sống trước, đó là cách giúp mình bộc lộ tình
thương yêu đối với những người khác. Điều quan trọng là phải làm thế nào
để phát huy một thể dạng tâm thức giúp mình bộc lộđược tình
thương yêu và sự quý mến thật sâu xa của mình đối với
tất cả chúng sinh. Đấy là cách giúp mình trông thấy được bóng dáng mẹ
mình nơi mỗi chúng sinh.
Dù có kinh sách nào bài bác quan điểm cho rằng tất cả chúng
sinh vào một lúc nào đó đều là những người mẹ hết lòng nuôi nấng
mình thì cũng không hề hấn gì. Tuy nhiên cũng phải hiểu rằng các trường
hợp ngoại lệ đó (tức có những người không phải là mẹ mình hoặc
không chăm sóc gì đến mình) không phải là một bằng chứng để phủ nhận sự
kiện trên đây. Ngay cả ngày nay cũng có những đứa con sau khi lớn lên
không còn đoái hoài gì đến mẹ của chúng nữa. Đối với trường hợp của
các bạn cũng vậy, dù được mẹ hết lòng thương yêu và chăm sóc
nhưng không phải vì thế mà các bạn bắt buộc tất cả các chúng sinh khác
cũng phải cư xử như thế đối với mình.
2- Điểm thiền định thứ
hai: biết ơn lòng tốt của tất cả chúng sinh
Giai đoạn thiền định tiếp theo là nhớ lại ơn nghĩa của
tất cả những ai đã từng chăm sóc mình. Nhằm giúp mình khơi động lòng biết
ơn đó đối với họ các bạn hãy hình dung ra một người thân
thiết nhất với mình, chẳng hạn như mẹ hay cha mình trong lúc tuổi già.
Hãy hình dung ra họ một cách thật chính xác, chẳng hạn như đang
trong hoàn cảnh phải cần đến sự chăm lo của những người chung quanh (hầu
giúp mình ý thứcđược bổn phận của mình). Đấy là cách giúp mình thiền
định (về lòng biết ơn) thật cụ thểvà thiết thực.
Sau đó các bạn hãy nghĩ đến mẹ mình chẳng hạn, không những đấy là mẹ mình trong
kiếp sống này mà cả trong các kiếp sống khác của mình trước đây.
Trong kiếp sống này, tình thương của mẹ đối với mình thật vô
biên, không những từ lúc mới lọt lòng mà cả truớc đó, khi mình còn
trong bụng. Trong những lúc đó mẹ mình cũng đã phải chịu đựng đủ mọi
thứ khổ nhọc; và gần đây hơn mẹ mình cũng vẫn còn phải hy sinh hạnh
phúc và cả các thú vui khác vì mình. Khi mình vừa lọt lòng thì mẹ cảm
thấy vô cùngsung sướng như vừa tìm thấy một kho tàng. Mẹ hết
lòng bảo vệ, chăm lo, tắm rửa, bồng bế, cho đến khi mình chập
chững biết đi.
Đối với các loài thú vật chẳng hạn như chim chóc, chó, mèo, thì cũng
vậy, các bạn cũng sẽ nhận thấy sự chăm sóc đó, tuy không được lâu bền
như con người, thế nhưng tình thương và sự hy sinh của
chúng cho con cái cũng hết sức vô biên. Dưới một góc nhìn khác thì
tình mẫu tử của các loài thú thật rõ ràng là bất vụ
lợi, khác hơn đối với con người, bởi vì con người thường nuôi hy
vọng sau này con cái sẽ đối xử hiếu thảovới mình (đôi khi chúng
ta cũng nên học điều đó nơi các loài thú vật để hiểu rằng mình
nên chắp cánh cho con cái bay cao. Nếu chúng ta từng tập chúng từng
bước khi chúng mới chập chững, thì khi lớn lên cũng nên để chúng tự
do bước đi trên con đường mà chúng đã chọn. Bám víu dù
dưới hình thức nào cũng đều không tốt cho mình cũng như cho chúng.
Phải tìm cách hóa giải nghiệp nhưng không nên ngăn chận sự vận
hành của nghiệp - dù là của chúng hay của mình - bởi vì đó chỉ là cách tạo
ra thêm nghiệp mới).
Chẳng hạn như các loài chim, một số phải tìm bắt sâu bọ để nuôi con, có khi
phải ra sức nuôi cả một đàn con trong tổ; chúng tự gánh vác một mình,
không như chúng tađược sự giúp đỡ của những người chung quanh. Cách chúng cố
gắng nuôi con không khỏi khiến chúng ta cảm động. Mỗi khi thấy
chim con gặp hiểm nguy, chẳng hạn như gặp mèo hay kên kên, thì chim mẹ có thể hy
sinh cả mạng sống của mình. Tuy thái độ đó của chúng dù chỉ là
một hình thức bám víu nhưng cũng phản ảnh cả một tình
thương bao la. Vậy nào có phải chỉ có sự hy sinh của người mẹ
nơi giống người thì mới là vô biên đâu. Sự hy sinh đó không
phải chỉ xảy ra trong một kiếp sống duy nhất mà qua không biết bao
nhiêu sự hiện hữu. Biết suy tư như thế sẽ tạo ra những tác động thật
mạnh trong tâm thức mình.
Sau khi đã hiểu được thế nào là tình thương yêu của mẹ nhất là trong
kiếp sống này, thì các bạn hãy hình dung ra những kẻ mà mình cảm
thấy xa lạ và ghê tởm, kể cả súc vật, hầu giúp mình suy tư. Các
bạn hãy suy nghĩ như thế này, các chúng sinh ấy hiện nay có
thể là nguy hại, cư xử với mình như kẻ thù, thế nhưng trong các
kiếp sống quá khứ các chúng sinh ấy cũng có thể từng là ân
nhân của mình, nhiều lần cứu mạngmình, vì thế lòng nhân từ của
họ thật vô biên. Đấy cũng là một cách suy nghĩ giúp mình luyện
tập tâm thức.
Thứ Năm, 5 tháng 1, 2017
CẬU BÉ CẦM 1 ĐÔ LA ĐI MUA THƯỢNG ĐẾ
Tình người, tình đồng loại chính là thứ tình cảm thiêng liêng, cao quý. Nó có thể vượt qua mọi khoảng cách, mọi mặc cảm thân phận. Lòng bao dung đó thậm chí có thể cứu vớt cả một sinh mệnh. Câu chuyện ý nghĩa sau đây sẽ khiến bạn phải suy ngẫm.
Một ngày nọ, có một cậu bé nhặt được 1 đô la. Cậu liền đến một cửa hàng bên cạnh đường hỏi: “Xin hỏi, ở đây bác có Thượng đế bán không ạ?”. Người chủ cửa hàng không nói gì, ngại cậu bé quấy rối nên đã mời cậu ra khỏi cửa hàng.
Trời đã sắp tối đen rồi, cậu bé lần lượt đi hết cửa hàng này đến cửa hàng sau. Không ngờ, đến cửa hàng thứ 29 thì cậu cũng được người chủ tiếp đón nhiệt tình. Ông chủ cửa hàng thứ 29 mà cậu bé vào hỏi là một ông lão hơn 60 tuổi, đầu tóc bạc phơ, vẻ mặt hiền từ. Ông nhìn cậu bé rồi hỏi: “Này cháu! Hãy nói cho ông biết, cháu mua Thượng đế để làm gì vậy?”.
Cậu bé chảy nước mắt rồi nói với ông lão rằng: “Cháu tên là Bonnie. Cha mẹ của cháu đã mất từ khi cháu còn rất bé. Chú Rupp của cháu đã nuôi dưỡng cháu từ nhỏ đến bây giờ. Chú của cháu là một công nhân xây dựng, nhưng mới đây chú đã bị ngã từ trên cao xuống đất nên bị hôn mê bất tỉnh. Bác sĩ nói rằng, chỉ có Thượng đế mới cứu được chú của cháu mà thôi. Cháu biết rằng Thượng đế chắc phải là một thứ vô cùng kỳ diệu nên cháu muốn mua về để cho chú của cháu ăn. Như thế chú mới nhanh khỏi bệnh được ạ!”.
Ông lão đỏ hoe mắt hỏi: “Vậy cháu có bao nhiêu tiền nào?”.
Cậu bé nhanh nhảu đáp: “Cháu có 1 đô la ạ!”.
Ông lão vội nói: “Ôi thật may quá! Giá của Thượng đế đúng bằng 1 đô la đấy cháu ạ!”.
Nói xong, ông đi vào ngăn kéo và lấy một chiếc chai đồ uống có nhãn hiệu “Nụ hôn của Thượng đế” và đưa cho Bonnie. Ông nói: “Cầm lấy đi cháu! Chú của cháu uống hết chai này là sẽ khỏi bệnh rồi!”. Bonnie vô cùng mừng rỡ, ôm chai nước vào trong ngực rồi lập tức trở về bệnh viện. Vừa bước vào phòng bệnh, cậu vui vẻ nói to: “Chú ơi! Cháu đã đem Thượng đế đến rồi đây! Chú sẽ nhanh chóng khỏe lại thôi!”.
Mấy ngày hôm sau, một nhóm các chuyên gia y học có trình độ cao nhất đã đến bệnh viện tiến hành hội chẩn cho chú Rupp của cậu bé Bonnie. Họ sử dụng kỹ thuật tiên tiến nhất trên thế giới để chữa bệnh và cuối cùng điều kỳ diệu đã xảy ra, chú Rupp của cậu bé đã hoàn toàn hồi phục. Khi chú của Bonnie ra viện, nhìn số tiền viện phí quá lớn được ghi trên hóa đơn, anh đã suýt ngất xỉu.
Tuy nhiên, phía bệnh viện đã nói với chú của Bonnie rằng: “Mấy hôm trước, có một ông lão đã đem tiền đến thanh toán hết tiền viện phí cho anh rồi. Ông lão ấy là một tỷ phú giàu có. Trước đây, ông ấy là chủ tịch của một tập đoàn đa quốc gia nhưng bây giờ đã về nghỉ ngơi và mở một cửa hàng tạp hóa bán qua ngày. Nhóm chuyên gia y học có trình độ cao kia cũng là do ông ấy đã bỏ ra một số tiền lớn để thuê đến đấy”.
Anh Rupp sau khi nghe xong đã cảm kích vô cùng, lập tức cùng cháu trai của mình đến tạ ơn ông lão kia. Khi họ đến nơi, mới biết được ông lão đã đóng cửa tiệm tạp hóa và ra nước ngoài.
Sau này, anh Rupp đã nhận được một lá thư do ông lão kia gửi đến. Trong thư ông viết: “Anh bạn trẻ! Anh có người cháu trai Bonnie, thực sự là quá may mắn đấy! Vì cứu anh, cậu bé đã cầm 1 đô la đi khắp nơi để mua Thượng đế. Hãy cảm tạ Thượng đế! Là Thượng đế đã cứu tính mạng của anh!”.
Nhiều năm sau, cậu bé năm nào đã trưởng thành và còn thi đỗ vào trường Y. Nhớ lại câu chuyện cũ và về ân nhân năm xưa, cậu đã cố gắng hết mình cứu chữa được rất nhiều bệnh nhân và trở thành một bác sĩ tốt. Bonnie đã đền đáp lại tình nghĩa của ân nhân cũ theo một cách không thể tuyệt vời hơn. Nếu không có câu chuyện cầm 1 đô la đi mua Thượng đế năm xưa và cuộc hội ngộ đầy bất ngờ với ông lão tỷ phú nọ, không thể nói trước rằng cuộc đời Bonnie đã rẽ sang hướng nào.
Câu chuyện khép lại ở đúng thời điểm đẹp nhất nhưng nó chưa kết thúc. Lòng bao dung, tình yêu thương sẽ còn lan tỏa mãi không ngừng. Ông lão tỷ phú đã cứu mạng người chú của Bonnie nhưng không chỉ vậy ông còn cứu vớt cả chính cậu bé. Ông gieo vào lòng cậu bé một đức tin về cái tốt, cái đẹp, đức tin vào Thượng đế. Đôi khi, một lời nói dối có thể mang đến hy vọng cho người khác. Nhất là khi lời nói dối ấy xuất phát từ lòng bao dung, thiện tâm.
Người xưa nói “Thiện ý một câu ấm ba đông“. Tình yêu thương đã gắn kết những tâm hồn vốn xa lạ. Cuộc sống không phải lúc nào cũng suôn sẻ, đời người chẳng phải lúc nào cũng đủ đầy, sướng vui. Trong những ngày bão tố, những hố sâu tuyệt vọng, chỉ một câu nói, một hành động yêu thương cũng như ngọn lửa thắp lên giữa đêm đông. Khi lòng tốt được nhân rộng, gieo trồng như thế, khắp thế gian này sẽ chỉ còn là tình yêu. Điều đó chẳng phải quá tuyệt vời ư?
Theo NTDTV
Mai Trà – Hữu Bang
CÔNG PHU
CÔNG PHU
Tinh tấn công phu suốt một đời,
Chiều tàn bóng ngã vẫn chơi vơi.
Loanh quanh theo lí đường mờ tắc,
Buông xả bình tâm đạo sáng ngời.
Cửa phật từ bi nhờ dẫn lối,
Nguồn thiền Bát Nhã giúp tìm nơi.
Tùy duyên dị ngộ men bờ giác,
Vướng tướng bỏ chơn chỉ nửa vời.
Chiều tàn bóng ngã vẫn chơi vơi.
Loanh quanh theo lí đường mờ tắc,
Buông xả bình tâm đạo sáng ngời.
Cửa phật từ bi nhờ dẫn lối,
Nguồn thiền Bát Nhã giúp tìm nơi.
Tùy duyên dị ngộ men bờ giác,
Vướng tướng bỏ chơn chỉ nửa vời.
Minh Đạo
http://quangduc.com/a59880/cong-phu http://quangduc.com/
Đăng ký:
Nhận xét (Atom)



