Thứ Sáu, 13 tháng 1, 2017

KHÔNG CHO TRẺ NHỎ CHƠI VỚI GÓI CHỐNG ẨM




Chỉ 20 phút, mắt phải cậu bé 8 tuổi bị ‘ăn mòn’. Thứ này hầu như nhà nào cũng có, cần cảnh giác

chau-be

Con trai tôi năm nay 8 tuổi và đang học lớp 2. Một hôm đón cháu đi học về, tôi cảm thấy rất vui vì con trai được điểm tốt. Do đó, khi đi qua siêu thị, tôi đã mua một túi lớn đồ ăn nhẹ cho như là phần thưởng dành cho con. 

hut-am-8

Khi về đến nhà, con trai ngồi trên ghế sofa ăn nhẹ và xem phim hoạt hình, tôi thì bận rộn vào bếp nấu nướng cho bữa tối. Khoảng 15 phút sau đó, tôi nghe thấy tiếng hét thất thanh từ ngoài phòng khách, liền vội chạy ra và trước mắt là cảnh tượng choáng váng. Tôi thấy cháu đang lấy một tay ôm mắt lăn trên mặt đất, một chiếc chai méo mó và sàn nhà vương vãi nước…

Không có thời gian để tìm hiểu nguyên nhân, tôi ngay lập tức xuống cầu thang, vẫy một xe taxi tới bệnh viện gần nhất, mất chừng 20 phút hoặc hơn.

Nhưng tôi không thể tưởng tượng rằng chỉ trong vòng 20 phút, một mắt của con trai tôi đã bị hỏng vĩnh viễn.

hut-am-1

Sau khi kiểm tra, bác sỹ nói mắt phải của cháu bị tác động của chất lỏng có tính kiềm ăn mòn, con mắt bị hoại tử, giác mạc bị thủng, dẫn đến bị mù vĩnh viễn. Các y bác sỹ đều bó tay.

Lời nói của bác sỹ như tiếng sét ngang tai. Nhìn thấy tình trạng thảm thương của con trai, tôi ngồi thụp xuống đất và khóc…

Bác sỹ hỏi cháu rằng tại sao lại dẫn đến chuyện như vậy, cháu liền kể lại sự việc. Khi ăn bánh xong, cháu phát hiện trong túi có một gói nhỏ. Cháu không biết đây là cái gì nên tò mò lấy ra để nghịch chơi. Cháu cầm nó, đưa lên mũi ngửi ngửi. Sau đó, cháu hòa nó vào cốc nước, không ngờ chiếc cốc phát nổ, bắn mạnh ra xung quanh và bắn cả vào mắt của cháu. Cháu cảm nhận có vật gì đó bay vào mắt, sau đó đau đớn và mắt không nhìn được.

Bây giờ thì chúng ta đã biết nguyên nhân tại sao. Cái gói nhỏ mà con trai tôi nói đến chính là gói hút ẩm.

hut-am-3

Là một người mẹ, tôi vô cùng đau đớn và hối hận vì sự sơ suất của mình. Trước đây tôi chỉ biết gói hút ẩm không thể ăn, chứ không nghĩ rằng nó lại gây ra tác hại thật nghiêm trọng.

Tại sao gói hút ẩm lại nguy hiểm đến vậy?

Những gói hút ẩm mà chúng ta thường thấy được làm từ silica gel hoặc vôi bột. Silica gel tuy không hút ẩm tốt bằng vôi bột, nhưng an toàn hơn.

hut-am-6

Vôi bột giá thành rẻ nhưng có tính nguy hiểm cao. Gói hút ẩm làm từ vôi bột được dùng nhiều trong quá khứ, hiện tại thì hiếm thấy.

hut-am-7

Trên thực tế, khi tiếp xúc với nước, không phải các chất làm khô nào trong gói hút ẩm cũng đều phát nổ. Nhưng chúng sẽ có phản ứng hóa học, tỏa nhiệt lớn và có tính ăn mòn rất cao. Nếu không may để chất này tiếp xúc trực tiếp với da, mắt sẽ để lại hậu quả vô cùng nghiêm trọng. Nếu chẳng may nuốt phải hạt hút ẩm sẽ gây bỏng khoang miệng, loét họng,…

Vậy nên, để an toàn nhất cho trẻ nhỏ, các bậc cha mẹ nên kiểm tra và vứt bỏ gói hút ẩm sau khi mua bánh kẹo thực phẩm.

                                                                                            Hướng Dương biên dịch

BỐN PHÁP ẤN CỦA ĐẠO PHẬT





BỐN PHÁP ẤN
CỦA ĐẠO PHẬT

Đức Đạt Lai Lạt ma 

Bốn pháp ấn của Đạo Phật hay những chân lý hình thành nên một bộ phận quan trọng của giáo huấn tôn giáo của chúng ta. Liên hệ đến thời đại của chúng ta cũng là sự rèn luyện và hòa bình của tâm thức. Phương pháp của Đạo Phật về chuyển hóa tâm thức không chỉ là một vấn đềniềm tin mà cũng là một sự thuyết phục đạt đến được qua thiền phân tích. Vì thế, khảo sát là rất cần yếu.

Nhằm để thực hiện một sự khảo sát trong sự quan tâmnày, chúng ta cần một thái độ hoài nghi. Chúng ta không chỉ chấp nhận những vấn đề trong một niềm tin mù quáng. Chủ nghĩa hoài nghi đưa đến những câu hỏi, và câu hỏi kêu gọi một sự khảo sát. Sự khảo sát là thiền quán phân tích qua điều mà chúng ta đạt đến một sự tỉnh thức trong sáng hơn: một hình ảnh trong sáng hơn của thực tại. Điều này phát sinh sự thuyết phục vững chắc. Chỉ qua sự thuyết phục vững chắc mà sự chuyển hóa tinh thần có thể xãy ra.

Nói cách khác, cái đầu hay bộ óc chúng ta giống như một phòng thí nghiệm. Sự thông minh của con người là đặc biệt và khác biệt với những chủng loại có vú khác. Sự thông minh như thế là một khí cụ. Vì thế, trong phòng thí nghiệm của não bộ, sự thông minhcủa con người hay khả năng thông thái được sử dụng như một khí cụ để thẩm tra những cảm xúc khác nhau, và rồi thì tiến hành những sự thể nghiệm trên một cấp độ cảm xúc. Điều này có thể làm cho chúng ta chuyển hóa những cảm xúc của chúng ta.

Theo một số nhà khoa học, cảm xúc không nhất thiết là tiêu cực. Cảm xúc là một cảm nhận rất mạnh mẽ. Trong khi một số cảm xúc là tàn phá, những cảm xúc khác là xây dựng. Trong một gặp gở với những nhà khoa học, chúng tôi đã kết luận rằng có những cảm xúc ngay cả trong tâm của Đức Phật. Có một cảm giác mạnh mẽ của việc quan tâmvà từ bi và cũng là sự thân chứng tính không.

Lúc ban đầu, chỉ có một cảm nhận mơ hồ của tính không. Tại một trình độ, không có cảm xúc, nhưng một khi chúng ta trở nên quen thuộc hơn với tính không, rồi thì cảm nhận ấy sẽ tăng lên. Tại một trình độ nào đó, sự thân chứng tính không cũng trở thành một loại cảm xúc. Do vậy, trong sự thực hành phát triển tuệ trí và yêu thương ân cần / từ bi, chúng ta sẽ làm mạnh lên những phẩm chất nội tại và rồi thì đạt đến một thể trạng nơi mà chúng ta có một đợt bộc phát của cảm giác gọi là cảm xúc. Chúng ta có thể thấy một cách rõ ràng sự nối kết này giữa thông tuệ và cảm xúc. Thế nên, não bộ và trái tim có thể đi bên cạnh nhau. Tôi nghĩ đây là sự tiếp cận của Đạo Phật.

Trong những truyền thống tư tưởng cổ xưa của Ấn Độ, những phương pháp tương tự đã được chấp nhận và thực hiện. Điều đặc biệt đối với Phật Giáo là Đức Phật cho chúng tasự tự do để đặt câu hỏi đối với những ngôn từ của chính Ngài. Đức Phật đã nói một cách rõ ràng rằng tất cả những Tì kheo và người thông tuệ nên thẩm tra những ngôn từcủa Ngài giống như một người thợ kim hoàn kiểm tra vàng bằng việc đánh bóng, cắt gọt, và đặt nó trong lửa. Ngài yêu cầu mọi người không được chấp nhận những giáo huấncủa Ngài hoàn toàn từ niềm tin.

Do vậy, có một sự nối kết giữa kiến thức trừu tượng và kinh nghiệm thực sự. Chúng đi đôi với nhau. Dường như đối với tôi, mỗi quốc gia quan trọng có một tôn giáo truyền thống. Có hai khía cạnh đối với tôn giáo: một là sự rèn luyện tâm thức, và thứ đến là triết lý. Trong dạng thức của sự rèn luyện tâm thức, tất cả những tôn giáo quan trọng là giống nhau. Tất cả cùng có khả năng giống nhau để chuyển hóa tâm thức của con người. Một sự biểu hiện rõ ràng của điều này tất cả những truyền thống tôn giáo quan trọng chứa đựng thông điệp của từ ái, bi mẫn, tha thứ, toại nguyện, và kỷ luật tự giác. Thông điệp là giống nhau, nhưng trong một số trường hợp, ý nghĩa có thể hơi khác nhau do bởi triết lý của họ khác nhau.

Có thể có những sự khác biệt quan trọng trong triết lý của những tôn giáo khác nhau nhưng chúng ta không thể nói rằng tôn giáo này tốt hơn tôn giáo kia. Tất cả có cùng khả năng để chuyển hóa tâm thức. Tuy thế, mỗi chúng ta có một thiên hướng tinh thần khác nhau. Vì thế, chúng ta thấy có nhiều phương pháp khác nhau để tiếp cận. Tuy vậy, kết quả hay tác dụng là giống nhau nhiều hơn hay ít hơn.

Do vậy, chúng ta không thể nói rằng tôn giáo này hay tôn giáo kia là tốt hơn. Một thái độnhư vậy cho phép chúng ta phát triển sự tôn trọng đối với những truyền thống tôn giáoquan trọng khác. Hàng triệu người đã từng được truyền linh cảm bởi những truyền thốngkhác nhau trong quá khứ. Nó có thể giúp họ hướng đến một đời sống đầy đủ ý nghĩa. Trong tương lai, hàng triệu người sẽ tiếp tục được truyền cảm hứng và, như một kết quả, đời sống của họ cũng sẽ trở nên đầy đủ ý nghĩa hơn và tràn đầy với từ bi. Về phía triết lý, tuy thế, chúng ta có thể nói rằng triết lý này là phức tạp hơn hay triết lý nọ là đơn giản hơn.

Trong người Tây Tạng, chúng tôi nói về bốn pháp ấn hay bốn chân lý của Đạo Phật. Đây là:

1- Tất cả những hiện tượng do duyên sinh là vô thường (chư hành vô thường);

2- Tất cả những hiện tượng nhiễm ô là khổ đau (nhất thiết hành khổ);

3- Tất cả những hiện tượng là vô ngã và trống không (chư pháp vô ngã);

4- Niết bàn là hòa bình (niết bàn tịch tĩnh).

Để giải thích pháp ấn thứ nhất: những hiện tượng đuyên sinh là vô thường, trước hết chúng ta phải thấu hiểu rằng căn bản của nó liên hệ đến vô thường. Bất cứ hiện tượngđặc thù mà lệ thuộc trên những nguyên nhân và điều kiện của nó cho sự tồn tại của nó là được phân loại như một hiện tượng duyên sinh. Hiện tượng này lệ thuộc đến nguyên nhân và điều kiện (nhân và duyên). Thí dụ, trong khi ngồi trong một căn lều đặc biệt, chúng ta tỉnh thức rằng không có cây cối gì. Do bởi sự vắng bóng của “cây cối”, chúng ta có thể biết rằng cây cối không hiện hữu. Trong cách này, tâm thức chúng ta có thể biết điều gì đấy; được gọi là, sự không tồn tại của cây cối. Vì thế, điều này rõ ràng chứng tỏvới chúng ta rằng sự không tồn tại của cây cối là hiện hữu thật sự bởi vì nó là chủ đề đối với tri thức của chúng ta.

Đồng thời, sự không hiện hữu của “cây cối” rõ ràng không tồn tại trong một ý nghĩa củavật lý vì thế chúng ta có thể thấy hay nhận thức nó. Cũng thế, nó là sự xác nhận một đối tượng có thể nhận thức và thực tế, nhiều thứ mà chúng ta thừa nhận phải được làm nên trong những dạng thức của sự thông hiểu về sự không hiện hữu của cây cối. Thí dụ, lấy những bông hoa mà chúng ta có thể thấy. Một trong những phẩm chất mà chúng ta tìm thấy trong những bông hoa là sự không hiện hữu của cây cối, chúng ta thấy sự tồn tại vô tận của sự không hiện hữu của những đối tượng khác không là bông hoa. Chắc chắnrằng sự không hiện hữu của những đối tượng khác này trong bông hoa đặc thù này dứt khoát là đối tượng có thể nhận thức được. Nhưng cùng lúc, nó không phải là loại đối tượng có thể định rõ đặc điểm được.

Tương tự thế, trong trường hợp của những đối tượng chẳng hạn như vô thường hay vô ngã, chúng có thể được lĩnh hội và nhận thức bởi tâm thức, nhưng đồng thời, không có một sự tồn tại được làm cho có thể từ phía của chúng.

Trong cùng cách, khi chúng ta nói về tính đại cương hay đặc thù, tốt hơn hãy nghĩ về những bông hoa cá thể, chúng ta có thể nghĩ về một “bông hoa” trong một ý nghĩa tổng quát. Thí dụ, chúng ta có thể thấy một bông hoa đặc thù ở một nơi đặc biệt tại một thời gian đặc trưng. Rồi thì sau này, sau một thời gian nào đấy chúng ta thấy một bông hoa khác với một màu sắc khác. Đơn giản bằng việc thấy bông hoa thứ hai, chúng ta có thể kết luận rằng đây cũng là một bông hoa. Do thế, khi chúng ta đặt tên thuật ngữ “bông hoa”, đến những đối tượng đặc thù nào chúng ta đặt tên cho thuật ngữ ấy?

Nếu thuật ngữ “bông hoa” được đặt tên duy nhất cho bông hoa đặc thù mà chúng ta đã thấy trước đây, rõ ràng bông hoa đặc thù ấy không thể tìm thấy trong bông hoa mà chúng ta thấy sau này. Do vậy, có một loại “bông hoa” có phẩm chất chung của cả hai loại hoa này. Tuy nhiên, mặc dù đây là một thực tế, nó không có nghĩa rằng có một loại “bông hoa” chung thâm nhập khắp tất cả những loại bông hoa và là loại hoa tồn tại khác biệt với những loại bông hoa này.

Do thế, khi chúng ta chú ý một bông hoa đặc thù, chúng ta đang quán chiếu một loại phẩm chất khác biệt với những đối tượng không phải là bông hoa. Cùng phẩm chất ấy cũng được tìm thấy trong bông hoa mà chúng ta thấy sau này. Đấy là do bởi phẩm chất này mà chúng ta có thể thấu hiểu, nhận thức, và phân biệt những kiểu mẫu khác nhau của những đối tượng khác nhau này như là những ‘bông hoa’.

Bây giờ câu hỏi lại phát sinh: một hiện tượng như thế là nguyên nhân hay điều kiện (nhân hay duyên)? Tất cả những hiện tượng hiện hữu có thể được phân biệt thành hai đặc trưng: những hiện tượng hiện hữu và những đối tượng không hiện hữu. Khi chúng ta nói về một đối tướng hiện hữu, nó được quyết định trong ý nghĩa rằng có một ý thức thấu hiểu nó, nhận thức nó. Trong trường hợp của một đối tượng không hiện hữu, nó là điều gì đấy không thể nhận thức hay lĩnh hội bằng bất cứ loại ý thức nào.

Chúng ta không bao hàm ở đây bất cứ điều gì được nhận thức bởi bất cứ loại tâm thứcnào thật sự hiện hữu. Vì thế, một lần nữa, chúng ta phải làm một sự phân loại riêng biệt giữa những loại tâm thức khác nhau: tâm thức có căn cứ và tâm thức không có căn cứ. Đấy là do bởi điều này khi chúng ta nghiên cứu nhận thức luận Phật Giáo, chúng ta thấy những loại tâm thức được diễn tả.

Thứ Năm, 12 tháng 1, 2017

CÂU HỎI CỦA ĐỨC PHẬT: “MỘT HÒN ĐÁ NÉM XUỐNG SÔNG THÌ NỔI HAY CHÌM?”

                                                        đá nổi hay chìm, thiện duyên, hòn đá sang sông, câu hỏi của đức phật,



“Một hòn đá ném xuống sông thì nổi hay chìm?”. Từ một câu hỏi đơn giản, Đức Phật đã giảng cho chúng đệ tử những lời dạy vô cùng ý nghĩa về mối thiện duyên.

Trong điển tích Phật giáo có câu chuyện “Hòn đá sang sông”, kể rang:
Thời Đức Phật Thích Ca còn tại thế. Một hôm Ngài cùng các đệ tử đi đến một con sông. Nước sông mênh mông, chảy xiết. Đức Phật cúi xuống nhặt một hòn đá khá to lên rồi quay lại hỏi các đệ tử:
“Các con hãy trả lời ta, hòn đá này ném xuống sông thì nổi hay chìm?”.
Vừa nói dứt lời thì Đưc Phật ném hòn đá xuống sông. Đương nhiên hòn đá đã bị chìm mất. Chúng đệ tử không hiểu ý thầy hỏi là thế nào, thầm nghĩ: “Đá ném xuống nước tất nhiên phải chìm rồi”.
Họ đồng thanh thưa: “Thưa Thế Tôn, đá chìm ạ”.
Đức Phật thở dài nói: “Ài! Hòn đá này thật là vô duyên”.
Nghe thầy than thở, đệ tử càng ngơ ngác suy nghĩ: “Đá ném xuống nước phải chìm, đấy là lẽ tự nhiên. Sao lại có hòn đá vô duyên hay hòn đá có duyên chứ?”.
Đức Phật chậm rãi nói: “Có hòn đá vuông mỗi chiều 3 thước, đặt xuống nước không những không chìm mà nó còn qua được bên kia khô ráo. Các ngươi có thể nói cho ta biết vì sao không?”.
Các đệ tử suy nghĩ một hồi lâu vẫn không tìm ra lời giải đáp, xin thầy giảng giải.
Đức Phật trả lời:
“Đơn giản quá, chẳng qua hòn đá ấy có thiện duyên. Đó là nhờ cái thuyền, đá đặt trong thuyền chở qua sông, rõ ràng không chìm mà cũng không ướt.
Con người ta cũng như vậy thôi, nếu ai gặp thiện duyên thì mọi việc tốt đẹp, sẽ trở thành người tốt. Nếu không sẽ chẳng làm nên trò trống gì, trở thành kẻ ác. Vậy nên con người ta sinh ra trên đời phải chọn thầy tốt mà học, chọn bạn tốt mà chơi, chọn điều tốt mà theo. Đấy chính là thiện duyên của con người vậy”.
Chúng đệ tử nghe Đức Phật giảng nói mới hiểu rõ đạo lý làm người nên ai nấy vui mừng khôn tả.
Khi rơi xuống dòng sông, hòn đá chỉ có thể chìm, cho dù nó chỉ nhỏ bằng một hạt sỏi. Tuy nhiên, dẫu là một tảng đá to lớn, thì nó vẫn có thể sang sông khô ráo nếu được ai đó đặt lên một chiếc thuyền.
Và điều đó là nhờ mối thiện duyên giữa hòn đá và chiếc thuyền cũng như với con người đặt nó lên chiếc thuyền kia. Có thể thấy, mối thiện duyên ấy đã làm nên những điều tưởng chừng không thể.
Trong lịch sử nhân loại, không thiếu các bậc vĩ nhân anh hùng khi chưa gặp thời, họ chỉ biết lui về ở ẩn, ngao du sơn thủy… cho đến ngày gặp được minh chủ, chính là gặp được thiện duyên của mình. Lúc đó họ như rồng gặp mây, thỏa chí mang tài mang đức ra giúp ích cho muôn dân muôn họ. Bởi vậy, có thể nói sự tỏa sáng tài năng của một người chính là kết quả của những mối lương duyên đã được an bài.
Vì thế nếu chúng ta có được một cuộc sống tốt đẹp, đạt một sự thành công nào đó, hãy hiểu rằng đó là nhờ những “thiện duyên” mà Thượng Đế đã ban tặng. Tư duy này không hề làm giảm bớt giá trị tự thân hay không thừa nhận những nỗ lực, cố gắng của con người, nó chỉ giúp chúng ta càng nhận thức đúng đắn, viên mãn hơn về nhân sinh.
Những “thiện duyên”, đó chính là chân lý, công bằng, là đạo đức nhân văn… của con người. Vậy nên, nếu có thể tìm gặp được những điều đó trong bạn bè tốt, trong những người hướng dẫn nhiệt tâm, hay trong một cuốn sách quý… thì cũng chính là chúng ta đã gặp được “thiện duyên” của mình vậy!
Và hơn hết, trong cuộc sống này, mỗi chúng ta hãy kết càng nhiều thiện duyên, và thực sự trân quý những mối thiện duyên này.
Bảo An sưu tầm

Thứ Hai, 9 tháng 1, 2017

BỀNH BỒNG



                     BỀNH BỒNG

Lênh đênh chìm nổi cuốn theo dòng 
Nhắm hướng tìm bờ phải gắng công
Khổ cực chống chèo luôn nếm trải
Gian nan lặn lội  mãi quay vòng
Chiều dần gió tạc hao tâm lực.
Đêm xuống trăng soi chạnh cõi lòng
Lơ lững thuyền trôi ngày đã hết,
Vượt qua bao nỗi thỏa chờ mong.

Chờ mong bế tắc thể nào vơi, 
Đắm đuối xuôi dòng chỉ lệ rơi.
Lạc lối lang thang nguy mọi lúc,
Sai đường luẩn quẩn khốn cùng nơi.
Kinh vàng nương pháp tìm nguồn sáng,
Bè báu theo Thầy vượt biển khơi. (*)
Xả bỏ phàm tình xua nghiệp cũ,
Vun bồi trí huệ hết buông lơi...

Vun bồi trí huệ hết buông lơi,
Sức nguyện dày công sẽ đến thời
Gặp cảnh nương duyên tâm chẳng nhuốm
Sinh tình trái ý đạo không vơi.
Nguồn chơn vững lối qua muôn ngõ
Gốc pháp thuận đường tỏa khắp nơi
Thấy được thị phi cùng một tướng
Thuyền từ Bát Nhã ánh dương ngời.
______________________

  (*) Deva manuṣyānāṃ śāstṛ : Thiên Nhân Sư, là Bậc thầy của cõi người và cõi trời.
                                       Minh Đạo



Thứ Bảy, 7 tháng 1, 2017

CHIỀU ĐÔNG

Kết quả hình ảnh cho chiều đông xứ huế
                                                                       


           
      CHIỀU ĐÔNG 

Chiều mưa lạnh lẽo cảnh đông tàn,
Xao xuyến thời qua đắm mộng vàng.
Rêu phủ thành xưa lòng thổn thức,
Thơ buông sách cổ dạ mênh mang.
Hương Giang soi bóng trơ nhành liễu,
Thế Miếu in hình lặng nén nhang.
Thiên Mụ lưng mây chuông vọng gió
Đêm về tiết đổi đón mùa sang…

                               Minh Đạo



BẢY ĐIỂM THIỀN ĐỊNH ...

                                                                            







BẢY ĐIỂM THIỀN ĐỊNH
DỰA VÀO QUY LUẬT NGUYÊN NHÂN HẬU QUẢ
NHỮNG LỜI KHUYÊN GIÚP CHÚNG TA SỐNG VỚI ĐẠO PHÁP
(La méthode de cause à effet en sept points -
Conseils de méditation pour vivre le bouddhisme)
Đức Đạt-lai Lạt-ma
Hoang Phong chuyển ngữ

Lời giới thiệu của người dịch

            Phật giáo Tây Tạng hay Kim Cương Thừa nói chung rất thực tế và cụ thể, giúp người tu tập trực tiếp biến cải tâm thức mình và đạt được giác ngộ. Dưới đây là một bài giảng ngắn của Đức Đạt-lai Lạt-ma về một trong các phép luyện tập thiền định chủ yếu và thiết thực của Phật giáo Tây Tạng, là "Phép thiền định gồm bảy điểm" do Atisha (A-đề-sa) đề xướng.

             Atisha (982-1054) là một vị đại sư xuất thântừ đại học Nalanda, sống vào một thời kỳ nhiễu nhương dưới sự xâm lược của các đạo quân Hồi giáo, từ thế kỷ thứ X đến XII, và đây cũng là thời kỳđánh dấu sự suy tàn của Phật giáo trên đất Ấn. Atisha vượt biển đến quần đảo Sumatra của Inđônêxia và lưu lại đây 12 năm, thụ giáo với một vị thầy lỗi lạc là Dharmarakshita và học được phép thiền định Lojong, một phép luyện tập mang lại "tâm thức giác ngộ" hay "bồ-đề tâm" (bodhicitta). Ông trở về Ấn năm 1025 và giảng dạy tại đây, đến năm 1042 thì được mời lên Tây Tạng để giúp phục hồi Phật giáo tại xứ sở này. Tại đây ông đã triển khai và hệ thống hóa phép luyện tập Lojong đưa đến sự hình thành của phép luyện tập mới là Larim, nêu lên thật chính xác và minh bạch các giai đoạn luyện tập tuần tự đưa đến sự giác ngộ.

            Trong phép luyện tập này Atsha phân loại người tu tập theo ba cấp bậc:


      - cấp bậc thấp gồm những người tu tập còn kém, với lòng nhiệt tình thấp và tầm nhìn hạn hẹp, chỉ mong muốn được tái sinh trong những hoàn cảnh thuận lợi hơn. 
      - cấp bậc trung bình với những người có tầm nhìn xa hơn và lòng nhiệt tình cao hơn, có nghĩa là mong muốn được giải thoát khỏi chu kỳ của những sự hiện hữu và hòa nhập vào cõi niết bàn.
       - cấp bậc cao gồm những người có tầm nhìn thật rộng lớn, với một lòng nhiệt tình vô song, mong muốn đạt được bồ-đề tâm để trở thành một vị Phật toàn vẹn, hầu có thể giúp đỡ tất cả chúng sinh.

            Trong mỗi cấp bậc đều có các phép luyện tập và các chủ đề thiền định riêng. Trong số các phép luyện tập của cấp bậc cao có một phép gọi là "Giáo huấn về bảy điểm giúp người tu tập nhìn vào tất cả chúng sinh đều là mẹ mình". Phép luyện tập này dựa vào ý niệm cho rằng qua vô số kiếp sống của mình trong chu kỳ xoay vần bất tận của các sự hiện hữu, tất cả chúng sinh đều có thể từng là mẹ mình trong quá khứ, và đây cũng là chủ đề bài giảng của Đức Đạt-lai Lạt-ma dưới đây.

            Sở dĩ phải dài dòng như trên trước hết là để điểm qua vị trí của bài giảng này trong kinh sách vô cùng phong phú của Phật giáo Tây Tạng, sau đó là nhấn mạnh đến tính cách cụ thể, thiết thực nhưng đồng thời cũng hết sức chặt chẽ và chính xác trong các phép luyện tập của Phật giáo Tây Tạng nói chung. Bài chuyển ngữ dưới đây được dựa vào một tư liệu do bà Sofia Stril-Rever vừa đưa lên trang mạng Buddhaline. Bà là một học giả và nhà văn, đệ tử của Đức Đạt-lai Lạt-ma, được Ngài giao phó cùng với một số nhà sư và học giả Phật giáo khác, soạn thảo bản "Tuyên Ngôn về Trách Nhiện Toàn Cầu" mà chính Ngài cũng đã duyệt lại trước khi phổ biền.     

*** 

Giai đoạn chuẩn bị: phát huy thể dạng bình lặng

            Nếu muốn luyện tập về quy luật nguyên nhân hậu quả dựa vào bảy điểm thiền định thì trước hết phải phát huy một thể dạng tâm thức bình lặng (equanimity/bình thản, tĩnh lặng, thăng bằng). Khi chưa thực hiện được thể dạng này thì các bạn sẽ không thể tạo ra cho mình một tầm nhìn vị tha và vô tư được. Thiếu sự bình lặng đó thì các bạn sẽ khó tránh khỏi thiên vị những người thân thuộc và bạn hữu mình. Nếu muốn mang lại cho mình một thể dạng bình lặng thật vững vàng thì các bạn phải ý thức được là không nên có một thiển kiến, hận thù hay một sự bám víu nào đối với bất cứ một ai, dù đấy là kẻ thù, bạn hữu hay một người hoàn toàn xa lạ với mình.

            Nhằm thực hiện căn bản đó đúng theo những lời hướng dẫn trong tập luận "Các giai đoạn luyện tập trên Đường Giác Ngộ: Con Đường Phúc Hạnh mang lại sự Hiểu BiếtToàn Năng" của Panchen-lama Chökyi Gyaltsen (tức là tập luận "The Graded Stage of the Path: A Blissful Path"/"Lam-rim bde-lam" của Ngài Ban-thiền Lạt-ma thứ IV, 1570-1662), thì trước hết các bạn hãy hình dung ra một người dưng hoàn toàn xa lạ với mình. Sau khi hình ảnh người này hiện ra thật minh bạch, thì các bạn sẽ cảm thấy không có một xúc cảm rõ rệt nào hiện lên với mình, không có một sự cảm nhận thèm muốn hay hận thù nào, có nghĩa là mình hoàn toàn dửng dưng (vô cảm và thờ ơ đối với con ngườixa lạ ấy). Sau đó các bạn hãy liên tưởng đến một kẻ thù (một người mà mình ghét cay ghét đắng chẳng hạn), thì tức khắc một cơn giận hay sự thù hận sẽ bùng lên ngay trong tâm thức mình. Sau đó các bạn lại gợi lên trong tâm trí mình hình ảnh một người bạn hay một người thân thuộc trong gia đình, thì một thứ xúc cảm quyến luyến và gắn bó nào đó sẽ tức khắc hiện lên với mình.

            (Tâm thức là một giác quan, ba loại cá thể trên đây là các đối tượng cảm nhận của nó. "Xa lạ", "kẻ thù" hay "thân thuộc" là ba cách diễn đạt của tâm thức về ba cá thểấy. Các sự diễn đạt này là kết quả phát sinh từ sự liên kết giữa các cảm nhận của tâm thức về các cá thể trên đây và các nghiệp tồn lưu bên trong tâm thức liên quan đến các cá thể ấy. Sự diễn đạt này sẽ tạo ra các xúc cảm đủ loại bên trong tâm thức. Hình ảnhmột người dưng không gây ra một xúc cảm nào đáng kể, bởi vì bên trong tâm thứckhông hề có một nghiệp nào được ghi khắc từ trước, liên quan đến cá thể hoàn toàn xa lạ này, "xúc cảm" nếu có thì chỉ là các xúc cảm "dửng dưng". Trái lại nếu tâm thức cảm nhận được hình dạng một cá thể liên hệ mật thiết với các vết hằn của nghiệp bên trong nó - chẳng hạn như người này trước đây từng gây ra những sự tổn thương hay oán hận- thì tức khắc các vết hằn này sẽ tạo ra các tác động khiến tâm thức diễn đạt cá thể này là một "kẻ thù", và sự diễn đạt đó sẽ tạo ra các xúc cảm bấn loạn và tàn phá trong tâm thức. Ngược lại nếu là hình ảnh một người mà mình yêu quý hay gần gũi với mình trong gia đình thì các xúc cảm hiện lên sẽ là sự quyến luyến, bám víu hay "thèm muốn". Ngay cả trường hợp chỉ cần tiếp xúc với một người nào đó tuy "xa lạ" nhưng hao hao giống với một người mà mình "quyến luyến", chẳng hạn như nghe thấy tiếng nói, trông thấy vóc dáng, mái tóc hay gương mặt của người này thì cũng đủ để gợi lên cho mình các xúc cảm giống như là mình gặp lại đúng người mà mình "quyến luyến" trước đây. Điều này cho thấy "nghiệp" rất tinh tế và bén nhạy, nó sẽ tức khắc hiện lên thành quả dưới hình thức xúc cảm một khi nó gặp được cơ duyên phù hợp, xúc cảm này có thể đưa đến sự hình thành của tư duy, tác ý trong tâm thức, hoặc ngôn từ, cử chỉ hay hành động trên thân xác.

            Đối với các cơ quan giác cảm khác cũng vậy, thí dụ mình đang đói và đi ngang một tiệm phở, mùi phở và hình ảnh các miếng thịt treo lủng lẳng ở tủ kính sẽ khiến mình thèm ăn. "Xúc cảm" thèm ăn - tức bám víu, thèm khát -  là sự thúc đẩy của bản năngsinh tồn, phía sau bản năng đó là nghiệp của mình, trói buộc mình với sự hiện hữu của chính mình. Thế nhưng nếu vừa ăn cơm xong thì mình sẽ hoàn dửng dưng trước những thứ ấy.

            Nói chung, đấy là các phản ứng khác nhau của tâm thức trong cuộc sống thường nhật. Nếu biết ý thức, phân tích và theo dõi các phản ứng đó hầu tìm hiểu nguyên nhâncủa chúng thì trước hết sẽ là cách giúp mình nhìn thấy sự vận hành của nghiệp và các tác động của nó bên trong tâm thức mình, sau đó cũng là một cách thiền định hướng vào từng xúc cảm, tư duy và tác ý cùng ngôn từ và hành động trên thân xác, giúp mình kiểm soát và chủ động chúng.

            Kinh Satipatthana-Sutta/Kinh về sự Chú Tâm Tỉnh Giác gọi đó là cách tập trung sự chú tâm tỉnh thức vào bốn lãnh vực là thân xác, cảm giác, tâm thức và những gì hiện lên bên trong tâm thức mình. Khi đã trở về được với tâm thức "từ bên trong nó, không dựa vào bất cứ gì trong thế giới", thì dù đang đói hay no, mùi phở và hình ảnh những miếng thịt treo lủng lẳng cũng chỉ làm hiện lên trong tâm thức mình một cảm nhận duy nhất là sự đau đớn của một con bò bị đập đầu và xẻ thịt, và ý thức về bản chất vô thường, khổ đau và vô thực thể của các hiện tương cấu hợp tạo ra chính mình. Sự cảm nhận đó tất sẽ khơi động trong con tim mình một quyết tâm nào đó.

            Những gì trên đây cho thấy là các thể dạng tâm thức có thể chỉ đơn giản là các phản ứng phát sinh một cách tự động từ nghiệp và bản năng, nhưng cũng có thể được tạo ra bởi sự quyết tâm của chính mình)

            Trước kẻ thù thì các bạn sẽ cảm thấy một sự cách biệt, một cảm tính hận thùhay ghét bỏ nào đó. Hãy tưởng tượng người Trung Quốc là các kẻ thù của mình chẳng hạn, họ ra lệnh hủy diệt Dharma (Đạo Pháp) không thương tiếc, gây tổn thương cho những người đồng hương, cai trị xứ sở bằng sự độc đoán, bất chấp các phẩm tính căn bản của con người, chẳng hạn như lòng tin và sự tín nhiệm. Các bạn hãy hình dung ra các luận cứ nhằm biện minh tính cách chính đáng của các xúc cảm tiêu cực trên đây của mình trước các hành vi đó của họ. Quả thật họ đã gây ra không biết bao nhiêu đổ vỡ cho cuộc sống này, thế nhưng trước đó thì họ có như thế hay không? Tất nhiên các bạn sẽ nhận thấy là không, trong quá khứ họ từng mang lại nhiều điều tốt đẹp cho mình và kẻ khác. Thế nhưng hiện nay thì họ chẳng những không còn giữ được một chút lòng tin nào nơi Đạo Pháp mà còn làm tổn thương đến thật nhiều người. Họ gần như không còn chủ động được mình nữa. Tuy nhiên các khiếm khuyết đó đều là do vô minh, hận thù, v.v. gây ra cho họ, nhưng tuyệt nhiên không phải là bản chất tự nhiên của họ.   

            Các bạn đừng quên là kể cả tâm thức mình cũng không sao tránh khỏi ảo giác, tuy không mang cùng một bản chất tàn phá như của họ nhưng không phải vì thế mà kém ảo giác hơn. Do đó các bạn nên hiểu rằng các phản ứng xúc cảm [tiêu cực] mà mình dán lên trán những người mà mình xem là kẻ thù, không hề mang tính cách chính đángnào cả.

            Đến đây chúng ta lại tiếp tục nhìn vào thái độ của mình đối với những người thân thuộc và bạn hữu của mình. Có thể các bạn nghĩ rằng đó là những người rất tốt, lúc nào cũng mang lại mọi điều tốt đẹp cho mình, v.v. Họ đối xử tốt với các bạn đến độ các bạn cảm thấy nếu cần thì mình cũng có thể hy sinh cả tánh mạng mình vì họ. Dù là những người vô cùng tử tế với mình trong kiếp sống này thế nhưng trong các kiếp quá khứ biết đâu họ cũng từng là kẻ thù của mình, hoặc cũng có thể là những người đã gây ra cái chết cho mình trong các kiếp sống trước đây của mình. Hoặc cũng có thể họ từng là những người thật hung dữ, gieo rắc đau thương và tàn phá chung quanh họ. Vì thế không có một lý do nào để bám víu vào họ một cách tuyệt đối và vĩnh viễn như là những người thân thuộc hay bạn hữu của mình.

            Tóm lại đối với mình, giữa kẻ thù và bạn hữu không có một ranh giới tuyệt đối nào cả. Kẻ thù hay bạn hữu cũng không khác gì nhau, lúc thì mang lại những điều tốt đẹp, lúc thì gây ra mọi thứ đổ vỡ cho mình. Do đó không có một lý do nào để mà chấp nhất hay thiên vị đối với bất cứ ai cả. Vậy các bạn nên tạo ra cho mình một thể dạng bình lặng (equanimity/tĩnh lặng, thanh thản, không phân biệt hay thiên vị) đối với tất cả chúng sinh. Dầu sao thể dạng tâm thức đó cũng không thể hiện lên với mình được sau một hay hai buổi hành thiền, mà cần đến một sự luyện tập kiên trì kéo dài hàng tháng hay hàng năm.

            Sau đây là bảy điểm thiền định dựa vào quy luật nguyên nhân hậu quả:

1- Điểm thiền định thứ nhất: trông thấy bóng dáng mẹ nơi tất cả chúng sinh

            Giai đoạn đầu tiên trong phép thiền định về nguyên nhân hậu quả dựa vào bảy điểm là phát huy một sự quán thấy tất cả chúng sinh đều từng là mẹ của mình. Trong mỗi kiếp sống trong chu kỳ xoay vần bất tận không khởi thủy của sự hiện hữu, chúng ta đều có một người mẹ. Do đó chúng ta không thể nào khẳng định một cách chắc chắn là một chúng sinh nào đó đang sống hiện nay chưa từng là một người mẹ của mình trước kia trong quá khứ. Các bạn nên nhìn vào tất cả chúng sinh qua góc nhìn đó. Thế nhưng các bạn cũng có thể nghĩ rằng chúng sinh thì nhiều vô kể, vậy làm thế nào mà tất cả lại có thể từng là mẹ mình được. Tuy nhiên cũng phải hiểu rằng nếu chúng sinh nhiều vô kể thì các kiếp sống của mình trong chu kỳ hiện hữu cũng nhiều như thế. Hoặc các bạn cũng có thể nghĩ rằng dù cho họ từng đúng thật là những người mẹ của mình thì đấy cũng chỉ là các người mẹ trong quá khứ, không phải là mẹ của mình trong kiếp sống này. Tuy nhiên các bạn cũng thử nhìn lại xem, chẳng phải người mẹ của mình trong ngày hôm qua cũng vẫn còn là mẹ của mình trong ngày hôm nay hay sao?   

            Nếu đủ sức hình dung được sự sống không khởi thủy thì các bạn tất sẽ phải hiểu được trong quá khứ sự sống đó của mình dù là dưới hình thức nào (trong sáu cõi luân hồi) cũng đều phải được sinh ra từ một người mẹ - từ một quả trứng hay bên trong một tử cung. Do đó không có một chúng sinh nào lại không có thể là mẹ mình (dù đấy là những con thú). Chấp nhận sự thật này không phải là chuyện dễ (dưới một góc nhìn khác thì dù chúng ta tin hay không tin vào sự tái sinh cũng vậy, chủ đích của phép luyện tập này là giúp mình nhìn vào tất chúng sinh đều là mẹ mình, và đó là cách khơi động một thứ xúc cảm thật mạnh bên trong chúng ta là lòng hiếu thảo, giúp chúng ta phát huy bồ-đề tâm thật rộng lớn trong tâm thức mình). Vậy các bạn hãy thử suy nghĩ theo một chiều hướng ngược lại xem sao, tức là tìm cách loại bỏ những người không phải là mẹ mình trong quá khứ. Vậy thì đối với các chúng sinh mà mình gạt sang một bên đó thì các bạn có thể quả quyết một cách chắc chắn là họ chưa từng bao giờ là mẹ của mình hay không? 

            (Thật vậy, trông thấy hình bóng của mẹ trong tất cả chúng sinh kể cả những con thú không phải là dễ thực hiện, một khi lòng từ bi bên trong chính mình chưa chín mùi, tức có nghĩa là "cái tôi" của mình còn quá to lớn và nặng nề, không cho phép mình "bay lượn" xuyên qua không gian và thời gian cùng với tất cả các chúng sinh khác trong sự xoay vần của thế giới hiện tượng. Bên trong thế giới đó tất cả các chúng sinh khác đều hiện lên với mình như trong một giấc mơ thật dài. Trong giấc mơ đó mình "gặp lại" cha mẹmình, ông bà mình, những người mà mình từng thương yêu, kể cả các kẻ thù của mình. Tất cả đều bay lượn trong thế giới ảo giác đó, lúc thì hiện lên thật rõ ràng lúc thì mờ đi và biến mất, hun hút trong không gian và thời gian, tương tự như ảo giác. Thế nhưng cũng có một cái gì đó rất thật và cụ thể đó là sự hiện hữu của chính mình. Sự hiện hữu đó chính là món nợ mà mình phải trả cho một người mẹ, có thể là rất gần trong ngày hôm nay, nhưng cũng có thể là rất xa, hun hút  ở một nơi nào đó trong thế giới hiện tượng này. Trong sự hiện hữu rất thật đó của mình cũng có một thứ xúc cảm cũng rất thật và vô cùng cao quý, đó là lòng hiếu thảo đối mẹ mình trong ngày hôm nay, hay trong ngày hôm qua thì cũng vậy. Vậy hãy biến lòng hiếu thảo rất thật đó trở thành bồ-đề tâm cũng rất thật trong tâm thức để hồi đáp món nợ ấy cho từng người mẹ của chính mình).

            Sau hết các bạn nên tự hỏi như thế này: vậy nếu cứ xem tất cả chúng sinh là mẹ mình thì sẽ phải chịu thiệt thòi hay được lợi? Nếu muốn phát huy bồ-đề tâm - tức lòng thương người - thì các bạn cũng nên ý thức một điều là nếu không chấp nhận cách nhìn đó đối với kẻ khác (tức xem họ là mẹ mình), thì dù có cố gắng cách mấy thì các bạn cũng không thể thành công được. Khi nào chưa chấp nhận cách nhìn đó thì những điều mong cầu của các bạn (bồ-đề tâm) vẫn còn hết sức xa vời. Nên hiểu rằng trong chu kỳ xoay vần bất tận của sự hiện hữu, các kiếp sống không có một điểm khởi thủy nào, do đó trong quá khứ tất cả chúng sinh đều có thể từng là những người mẹ sinh ra mình và nuôi nấng mình.

            Nhìn vào kẻ lạ và xem họ từng là những người thân thuộc của mình không có nghĩa là trong quá khứ họ nhất thiết cũng phải là những người xa lạ với mình. Vị đại sưMaitreya (Di Lặc, được xem là thầy của Asanga/Vô Trước, thế kỷ thứ IV) trong tập luận "Abhisamayalankara"/ "Hiện tráng trang nghiêm luận" cho biết rằng chúng ta cũng có thể nhìn vào một người bạn quý nhất hay một người thân thuộc gần gũi nhất với mình và xem họ cũng từng là những người thân thiết với mình trước đây trong quá khứ. Chẳng hạn nếu mình cảm thấy gắn bó với cha mình hơn là mẹ mình thì cứ hình dung cha mình trong kiếp sống này cũng từng là cha mình trong quá khứ, hoặc cũng có thể nhìn vào đứa con yêu quý hiện nay của mình và hình dung nó cũng từng là con mình trong các kiếp sống trước, đó là cách giúp mình bộc lộ tình thương yêu đối với những người khác. Điều quan trọng là phải làm thế nào để phát huy một thể dạng tâm thức giúp mình bộc lộđược tình thương yêu và sự quý mến thật sâu xa của mình đối với tất cả chúng sinh. Đấy là cách giúp mình trông thấy được bóng dáng mẹ mình nơi mỗi chúng sinh.

            Dù có kinh sách nào bài bác quan điểm cho rằng tất cả chúng sinh vào một lúc nào đó đều là những người mẹ hết lòng nuôi nấng mình thì cũng không hề hấn gì. Tuy nhiên cũng phải hiểu rằng các trường hợp ngoại lệ đó (tức có những người không phải là mẹ mình hoặc không chăm sóc gì đến mình) không phải là một bằng chứng để phủ nhận sự kiện trên đây. Ngay cả ngày nay cũng có những đứa con sau khi lớn lên không còn đoái hoài gì đến mẹ của chúng nữa. Đối với trường hợp của các bạn cũng vậy, dù được mẹ hết lòng thương yêu và chăm sóc nhưng không phải vì thế mà các bạn bắt buộc tất cả các chúng sinh khác cũng phải cư xử như thế đối với mình.

2- Điểm thiền định thứ hai: biết ơn lòng tốt của tất cả chúng sinh

            Giai đoạn thiền định tiếp theo là nhớ lại ơn nghĩa của tất cả những ai đã từng chăm sóc mình. Nhằm giúp mình khơi động lòng biết ơn đó đối với họ các bạn hãy hình dung ra một người thân thiết nhất với mình, chẳng hạn như mẹ hay cha mình trong lúc tuổi già. Hãy hình dung ra họ một cách thật chính xác, chẳng hạn như đang trong hoàn cảnh phải cần đến sự chăm lo của những người chung quanh (hầu giúp mình ý thứcđược bổn phận của mình). Đấy là cách giúp mình thiền định (về lòng biết ơn) thật cụ thểvà thiết thực. 

            Sau đó các bạn hãy nghĩ đến mẹ mình chẳng hạn, không những đấy là mẹ mình trong kiếp sống này mà cả trong các kiếp sống khác của mình trước đây. Trong kiếp sống này, tình thương của mẹ đối với mình thật vô biên, không những từ lúc mới lọt lòng mà cả truớc đó, khi mình còn trong bụng. Trong những lúc đó mẹ mình cũng đã phải chịu đựng đủ mọi thứ khổ nhọc; và gần đây hơn mẹ mình cũng vẫn còn phải hy sinh hạnh phúc và cả các thú vui khác vì mình. Khi mình vừa lọt lòng thì mẹ cảm thấy vô cùngsung sướng như vừa tìm thấy một kho tàng. Mẹ hết lòng bảo vệ, chăm lo, tắm rửa, bồng bế, cho đến khi mình chập chững biết đi.   

            Đối với các loài thú vật chẳng hạn như chim chóc, chó, mèo, thì cũng vậy, các bạn cũng sẽ nhận thấy sự chăm sóc đó, tuy không được lâu bền như con người, thế nhưng tình thương và sự hy sinh của chúng cho con cái cũng hết sức vô biên. Dưới một góc nhìn khác thì tình mẫu tử của các loài thú thật rõ ràng là bất vụ lợi, khác hơn đối với con người, bởi vì con người thường nuôi hy vọng sau này con cái sẽ đối xử hiếu thảovới mình (đôi khi chúng ta cũng nên học điều đó nơi các loài thú vật để hiểu rằng mình nên chắp cánh cho con cái bay cao. Nếu chúng ta từng tập chúng từng bước khi chúng mới chập chững, thì khi lớn lên cũng nên để chúng tự do bước đi trên con đường mà chúng đã chọn. Bám víu dù dưới hình thức nào cũng đều không tốt cho mình cũng như cho chúng. Phải tìm cách hóa giải nghiệp nhưng không nên ngăn chận sự vận hành của nghiệp - dù là của chúng hay của mình - bởi vì đó chỉ là cách tạo ra thêm nghiệp mới).

            Chẳng hạn như các loài chim, một số phải tìm bắt sâu bọ để nuôi con, có khi phải ra sức nuôi cả một đàn con trong tổ; chúng tự gánh vác một mình, không như chúng tađược sự giúp đỡ của những người chung quanh. Cách chúng cố gắng nuôi con không khỏi khiến chúng ta cảm động. Mỗi khi thấy chim con gặp hiểm nguy, chẳng hạn như gặp mèo hay kên kên, thì chim mẹ có thể hy sinh cả mạng sống của mình. Tuy thái độ đó của chúng dù chỉ là một hình thức bám víu nhưng cũng phản ảnh cả một tình thương bao la. Vậy nào có phải chỉ có sự hy sinh của người mẹ nơi giống người thì mới là vô biên đâu. Sự hy sinh đó không phải chỉ xảy ra trong một kiếp sống duy nhất mà qua không biết bao nhiêu sự hiện hữu. Biết suy tư như thế sẽ tạo ra những tác động thật mạnh trong tâm thức mình.   

            Sau khi đã hiểu được thế nào là tình thương yêu của mẹ nhất là trong kiếp sống này, thì các bạn hãy hình dung ra những kẻ mà mình cảm thấy xa lạ và ghê tởm, kể cả súc vật, hầu giúp mình suy tư. Các bạn hãy suy nghĩ như thế này, các chúng sinh ấy hiện nay có thể là nguy hại, cư xử với mình như kẻ thù, thế nhưng trong các kiếp sống quá khứ các chúng sinh ấy cũng có thể từng là ân nhân của mình, nhiều lần cứu mạngmình, vì thế lòng nhân từ của họ thật vô biên. Đấy cũng là một cách suy nghĩ giúp mình luyện tập tâm thức.

Thứ Năm, 5 tháng 1, 2017

CẬU BÉ CẦM 1 ĐÔ LA ĐI MUA THƯỢNG ĐẾ


Kết quả hình ảnh cho thượng đế


Tình người, tình đồng loại chính là thứ tình cảm thiêng liêng, cao quý. Nó có thể vượt qua mọi khoảng cách, mọi mặc cảm thân phận. Lòng bao dung đó thậm chí có thể cứu vớt cả một sinh mệnh. Câu chuyện ý nghĩa sau đây sẽ khiến bạn phải suy ngẫm.

Một ngày nọ, có một cậu bé nhặt được 1 đô la. Cậu liền đến một cửa hàng bên cạnh đường hỏi: “Xin hỏi, ở đây bác có Thượng đế bán không ạ?”. Người chủ cửa hàng không nói gì, ngại cậu bé quấy rối nên đã mời cậu ra khỏi cửa hàng.

Trời đã sắp tối đen rồi, cậu bé lần lượt đi hết cửa hàng này đến cửa hàng sau. Không ngờ, đến cửa hàng thứ 29 thì cậu cũng được người chủ tiếp đón nhiệt tình. Ông chủ cửa hàng thứ 29 mà cậu bé vào hỏi là một ông lão hơn 60 tuổi, đầu tóc bạc phơ, vẻ mặt hiền từ. Ông nhìn cậu bé rồi hỏi: “Này cháu! Hãy nói cho ông biết, cháu mua Thượng đế để làm gì vậy?”.

Cậu bé chảy nước mắt rồi nói với ông lão rằng: “Cháu tên là Bonnie. Cha mẹ của cháu đã mất từ khi cháu còn rất bé. Chú Rupp của cháu đã nuôi dưỡng cháu từ nhỏ đến bây giờ. Chú của cháu là một công nhân xây dựng, nhưng mới đây chú đã bị ngã từ trên cao xuống đất nên bị hôn mê bất tỉnh. Bác sĩ nói rằng, chỉ có Thượng đế mới cứu được chú của cháu mà thôi. Cháu biết rằng Thượng đế chắc phải là một thứ vô cùng kỳ diệu nên cháu muốn mua về để cho chú của cháu ăn. Như thế chú mới nhanh khỏi bệnh được ạ!”.

Ông lão đỏ hoe mắt hỏi: “Vậy cháu có bao nhiêu tiền nào?”.

Cậu bé nhanh nhảu đáp: “Cháu có 1 đô la ạ!”.

Ông lão vội nói: “Ôi thật may quá! Giá của Thượng đế đúng bằng 1 đô la đấy cháu ạ!”.

Nói xong, ông đi vào ngăn kéo và lấy một chiếc chai đồ uống có nhãn hiệu “Nụ hôn của Thượng đế” và đưa cho Bonnie. Ông nói: “Cầm lấy đi cháu! Chú của cháu uống hết chai này là sẽ khỏi bệnh rồi!”. Bonnie vô cùng mừng rỡ, ôm chai nước vào trong ngực rồi lập tức trở về bệnh viện. Vừa bước vào phòng bệnh, cậu vui vẻ nói to: “Chú ơi! Cháu đã đem Thượng đế đến rồi đây! Chú sẽ nhanh chóng khỏe lại thôi!”.

Mấy ngày hôm sau, một nhóm các chuyên gia y học có trình độ cao nhất đã đến bệnh viện tiến hành hội chẩn cho chú Rupp của cậu bé Bonnie. Họ sử dụng kỹ thuật tiên tiến nhất trên thế giới để chữa bệnh và cuối cùng điều kỳ diệu đã xảy ra, chú Rupp của cậu bé đã hoàn toàn hồi phục. Khi chú của Bonnie ra viện, nhìn số tiền viện phí quá lớn được ghi trên hóa đơn, anh đã suýt ngất xỉu.

Tuy nhiên, phía bệnh viện đã nói với chú của Bonnie rằng: “Mấy hôm trước, có một ông lão đã đem tiền đến thanh toán hết tiền viện phí cho anh rồi. Ông lão ấy là một tỷ phú giàu có. Trước đây, ông ấy là chủ tịch của một tập đoàn đa quốc gia nhưng bây giờ đã về nghỉ ngơi và mở một cửa hàng tạp hóa bán qua ngày. Nhóm chuyên gia y học có trình độ cao kia cũng là do ông ấy đã bỏ ra một số tiền lớn để thuê đến đấy”.

Anh Rupp sau khi nghe xong đã cảm kích vô cùng, lập tức cùng cháu trai của mình đến tạ ơn ông lão kia. Khi họ đến nơi, mới biết được ông lão đã đóng cửa tiệm tạp hóa và ra nước ngoài.

Sau này, anh Rupp đã nhận được một lá thư do ông lão kia gửi đến. Trong thư ông viết: “Anh bạn trẻ! Anh có người cháu trai Bonnie, thực sự là quá may mắn đấy! Vì cứu anh, cậu bé đã cầm 1 đô la đi khắp nơi để mua Thượng đế. Hãy cảm tạ Thượng đế! Là Thượng đế đã cứu tính mạng của anh!”.

Nhiều năm sau, cậu bé năm nào đã trưởng thành và còn thi đỗ vào trường Y. Nhớ lại câu chuyện cũ và về ân nhân năm xưa, cậu đã cố gắng hết mình cứu chữa được rất nhiều bệnh nhân và trở thành một bác sĩ tốt. Bonnie đã đền đáp lại tình nghĩa của ân nhân cũ theo một cách không thể tuyệt vời hơn. Nếu không có câu chuyện cầm 1 đô la đi mua Thượng đế năm xưa và cuộc hội ngộ đầy bất ngờ với ông lão tỷ phú nọ, không thể nói trước rằng cuộc đời Bonnie đã rẽ sang hướng nào.

Câu chuyện khép lại ở đúng thời điểm đẹp nhất nhưng nó chưa kết thúc. Lòng bao dung, tình yêu thương sẽ còn lan tỏa mãi không ngừng. Ông lão tỷ phú đã cứu mạng người chú của Bonnie nhưng không chỉ vậy ông còn cứu vớt cả chính cậu bé. Ông gieo vào lòng cậu bé một đức tin về cái tốt, cái đẹp, đức tin vào Thượng đế. Đôi khi, một lời nói dối có thể mang đến hy vọng cho người khác. Nhất là khi lời nói dối ấy xuất phát từ lòng bao dung, thiện tâm.

Người xưa nói “Thiện ý một câu ấm ba đông“. Tình yêu thương đã gắn kết những tâm hồn vốn xa lạ. Cuộc sống không phải lúc nào cũng suôn sẻ, đời người chẳng phải lúc nào cũng đủ đầy, sướng vui. Trong những ngày bão tố, những hố sâu tuyệt vọng, chỉ một câu nói, một hành động yêu thương cũng như ngọn lửa thắp lên giữa đêm đông. Khi lòng tốt được nhân rộng, gieo trồng như thế, khắp thế gian này sẽ chỉ còn là tình yêu. Điều đó chẳng phải quá tuyệt vời ư?

                                                         Theo NTDTV
                                                   Mai Trà – Hữu Bang

CÔNG PHU


             

 
                   CÔNG PHU
 
Tinh tấn công phu suốt một đời,
Chiều tàn bóng ngã vẫn chơi vơi.
Loanh quanh theo lí đường mờ tắc,
Buông xả bình tâm đạo sáng ngời.
Cửa phật từ bi nhờ dẫn lối,
Nguồn thiền Bát Nhã giúp tìm nơi.
Tùy duyên dị ngộ men bờ giác,
Vướng tướng bỏ chơn chỉ nửa vời.

                                     Minh Đạo
 
                                                                            http://quangduc.com/a59880/cong-phu                         
                                                                                  http://quangduc.com/