Mỗi sáng Chủ Nhật , quý Sư ở tu viện Santi Forest Monastery thường chuẩn bị rời chùa, đi xuống phố hoặc vào làng khất thực. Gọi là “đi khất thực”, nhưng thực sự nên gọi là “đi gieo duyên” với quần chúng địa phương thì đúng hơn, cư dân nơi đây, họ là những người Úc thuần túy, Phật giáo đối với họ là một tôn giáo hoàn toàn xa lạ, có thể họ chỉ nghe qua cái tên “ Buddhism “ mà không hề biết đó là gì ?
Hình thức của một vị Sư Phật Giáo người Tây Phương, theo truyền thống Phật Giáo Nguyên Thủy (Theravada) với cái đầu cạo nhẵn, mình khoát tấm y màu vàng đất sét, đi chân trần, không giày dép gì cả, tay ôm một cái hộp tròn cở quả bí đỏ nhỏ có nắp đậy, họ im lặng đi hàng dọc, cách khoảng đều nhau, thanh thản từng bước chân trong chánh niệm. Khi đến một ngã rẽ, quý Sư chia làm hai toán, một toán đi vào khu cư dân, còn toán kia thì ra các dãy phố, quý Sư thường đứng lại ở các góc đường, hoặc trước cửa, cổng nhà các cư dân . Dân chúng nơi đây nhìn thấy quý Sư họ rất ngạc nhiên với nhiều thắc mắc:- “ họ là những người nào vậy nhỉ ? ” - “ họ đi đâu vậy? – và để làm gi ? ”
- Một vài người với phản ứng rất hợp lý là không tự tìm câu trả lời mà gọi điện thoại báo với cảnh sát, để đề phòng và cũng để nhờ cảnh sát đến tìm hiểu, hỏi xem “ nhóm người kỳ lạ nầy là ai? Và họ muốn gì ? “ - Một số người khác thì muốn tự mình tìm hiểu, họ mở cửa ra chào theo bản tính thân thiện và lịch sự của người Úc – “ Xin chào quý vị, chúng tôi có thể giúp gì cho quý vị đây ? “Những phản ứng nầy là một cơ hôi để quý Sư gieo chút duyên lành với người dân bản xứ, Quý Sư đã giải thích với cảnh sát và người dân địa phương:- “ Chúng tôi là những tu sĩ Phật Giáo, tu viện của chúng tôi mới được thành lập ở khu rừng gần đây, tên của tu viện chúng tôi là “Santi Forest Monastery “, hôm nay chúng tôi đi khất thực, để mong được quý vị bố thí cho chúng tôi một ít thức ăn, truyền thống tu tập của chúng tôi là đi khất thực để độ nhật và ngỏ hầu được tiếp xúc, gieo duyên với quần chúng... “Với một tư thái trang nghiêm, gương mặt điềm tĩnh, thái độ an nhiên và với một chất liệu từ bi lan tỏa được biểu hiện trong ánh mắt, trong từng lời nói nhu hòa; Từng thắc mắc của cư dân, những câu hỏi của cảnh sát đã đươc quý Sư giải thích, và cũng từ đấy, hình ảnh của những nhà Sư Phật Giáo người Úc đi khất thực vào mỗi sáng chủ nhật ở Bundanoon (*) dần dà trở nên quen thuộc. Tuy nhiên, họ chỉ cảm thấy không còn lo lắng nữa vì đã biết quý Sư là ai, ôm bình bát đứng trước nhà, trước shop của họ để làm gì, nhưng biết là biết vậy thôi, chứ ý niệm “cúng dường” vẫn là một điều gì còn quá xa lạ, quá bỡ ngỡ trong tập quán sinh hoạt của họ. Đó là chuyện cũng tự nhiên là như vậy thôi, về phần quý Sư thì vẫn cứ an nhiên tự tại, với lộ trình đi khất thực vào mổi sáng Chủ Nhật hàng tuần.
Qua những tháng ngày mới đến đây để thành lập một lâm tu viện theo truyền thống Phật Giáo Nguyên Thủy, với một nét văn hóa Phật giáo hoàn toàn xa lạ với cư dân địa phương, việc đi khất thực mỗi ngày là điều không thể thực hiện được, nhưng mỗi tuần một buổi sáng Chủ Nhật đi khất thực của quý Sư đã trở nên một sinh hoạt gần gủi thân quen, hình ảnh những nhà Sư, tay ôm bình bát, chậm rải bước đều, và những nụ cười hiền hòa tỏa sáng, những lời giải thích ân cần…, dần dần, cư dân địa phương và những vùng phụ cận, đã bắt đầu hiểu được phần nào Phật giáo là gì ! – Đức Phật là ai ! … - Ngôi tu viện trong khu rừng yên vắng, bên cạnh những ngày Thiền tập của quý Sư nay đã có những buổi thuyết giảng về giáo Pháp Phật Đà và giảng dạy phương pháp thực hành Thiền tập cho mọi tầng lớp dân chúng quanh đây.* * *Chư Sư vừa đi khất thực trở về, nhóm cư sĩ chúng tôi phụ trách buổi ngọ trai hôm nay được quý Sư giao cho những chiếc bình bát, đem vào sớt bát để sửa soạn cho việc cúng dường buổi ăn trưa. Mở những chiếc bát của quý Sư vừa đi khất thực về, chúng tôi thật sự quá đổi nghẹn ngào, có bát thì được một cái bánh Pie, có bát nhận được một trái Táo ( Apple ), một chùm nho tươi một nhánh cần tây, và hầu hết mọi bát đều có nhận được chút ít cúng dường của cư dân thí chủ và… dĩ nhiên là không thể nào đủ dùng cho một buổi trưa, vì thế nhóm Phật Tử chúng tôi vẫn luân phiên đảm nhận việc nấu bếp, cúng dường buổi trưa cho quý Sư.
Đang lay hoay với những chiếc bình bát vừa được trút ra để ghi nhận những phẩm vật cúng dường của buổi khất thực hôm nay, bổng Sư trụ trì tu viện bước xuống bếp, Sư nở một nụ cười rất đổi hân hoan:- Oh, we get a lot today ! ( Ồ, hôm nay chúng ta được nhiều nhỉ ! )
.Thưa vâng, chúng tôi hiểu, Sư nói “ hôm nay khất thực được nhiều” là so với những ngày đầu mới đi khất thực ở đây, có hôm cả đoàn khất thực trở về chùa với những chiếc bình bát trống không, có bửa chỉ mỗi bình bát của sư trụ trì có được một trái chuối, vậy mà đi khất thực về, lúc nào quý Sư cũng đều rất vui, không phải nhận được thức ăn cúng dường nhiều hay ít, mà niềm vui của quý Sư là có cơ hội để giáo hóa quần chúng, hầu mong Phật pháp sẽ lần hồi được thấm đượm vào lòng, vào nếp sống của người dân quanh đây, và đi khất thực cũng là một trong những pháp tu mà quý sư phải chuyên tâm hành tập.Sư hướng tia nhìn vào số phẩm vật rồi hỏi chúng tôi :- Các anh có tìm thấy trong bát của tôi, hôm nay có một trái ớt chín đỏ chứ nhỉ ?- Thưa Sư, dạ có,Sư mĩm cười hài lòng và ân cần dặn chúng tôi:- Các anh vui lòng cắt nhỏ quả ớt ấy vào chén xì dầu trong phần cúng dường hôm nay nhé ! – nhớ đừng quên nghe ! –quan trọng lắm đấy, vào lúc cầu nguyện cho buổi ngọ trai, tôi sẽ kể cho toàn thể đại chúng nghe về buổi khất thực hôm nay.Trong lúc làm nghi thức dâng cúng thức ăn cho quý Sư, chúng tôi ghi nhận, Sư trụ trì đều nhắc chư Sư đừng quên chan một tí xì dầu ớt vào bình bát của mình, Sư còn nói rỏ: - “ nếu quý Sư không ăn được ớt thì cũng nên chan một tí vào, không có sao đâu, nhớ là mọi người phải chan tí xì dầu ớt vào bát mình nhé !, tôi sẽ giải thích với quý vị trong nghi thức cầu nguyện khi tho trai.”* * *Trước khi thọ trai, bao giờ cũng có đôi lời của Sư Trụ trì, tiếp theo là bài kinh hồi hướng công đức của thí chủ và sau đó là phần thọ trai.
Sư lên tiếng chậm rải nói:- “Hôm nay đi khất thực, tôi đã gặp được một bà lão đang ở trong mãnh vườn nhỏ nơi sân trước của nhà bà, bà lão trông rất già yếu nhưng vẫn tự mình đi đứng được, khi gặp tôi, bà lão đã ân cần hỏi han với những câu hỏi thông thường mà những người khác trước đây vẫn hỏi, như là: – “ Ông là ai, làm gì? – tôi có thể giúp gì cho ông ? …”
Sau khi nghe tôi giới thiệu và giải thích về mình là một vị Sư Phật Giáo, đang đi khất thực để xin được bố thí thức ăn và mong được có cơ hội để tiếp xúc với quần chúng …Bà lão với một gương mặt rất thuần hậu, hướng tia nhìn về tôi với đầy nét nhân từ và cất giọng run run nói với tôi rằng: - “Thật tiếc quá, nghe Sư giải thích, tôi rất muốn cúng dường một thứ gì đó có thể ăn được, nhưng hiện tại, tôi phải chờ đến trưa thì người ta mới đem giao thức ăn cho tôi, nên chẳng biết phải làm sao đây ? !”
Nghe vậy tôi trả lời với bà lão : - “Không sao cả, cám ơn bà đã có tấm lòng và ý tốt như vậy là tôi đã nhận được sự cúng dường của bà rồi, xin bà đừng bận tâm, chúng tôi sẽ có dịp trở lại đây trong những lần tới.”Tôi chưa kịp ngỏ lời chào từ biệt bà, thì bà vội lên tiếng: - “ hay là Sư có thể cho phép tôi cúng dường một ít tiền và Sư dùng nó để mua thức ăn cho Sư để dùng cho trưa nay được chứ ?”Tôi bèn giải thích thêm với bà : - “giới khất sĩ chúng tôi đi khất thực, chỉ xin được nhận thức ăn mà thôi, trong giới luật, Đức Phật không cho phép tu sĩ chúng tôi được cầm giữ tiền.”Nghe đến đây, bà lão vụt kêu lên: - Oh, my god ! what can I do for you now ? ( Trời ơi, vậy tôi có thể giúp gì được cho Sư bây giờ đây ? )Tôi lên tiếng trấn an bà lão : - “ Không sao cả, bà có thể cúng dường cho tôi bất cứ một thứ gì có được trong vườn hiện giờ của bà là tốt rồi.”Nghe thế, mắt bà lão chợt vụt sáng lên và nhanh nhẩu: - “ Thật sao ?, Sư chờ tôi một tý nhé ! “Bà lão bước dăm bảy bước về phía góc vườn và quay lại tôi với một nụ cười chơn chất và với một trái ớt chín đỏ trên tay: - “ Thưa Sư, đây là thứ duy nhất tôi có thể có được ngay bây giờ để cúng dường Sư, mong Sư hoan hỷ nhận cho.”Kể đến đây, Sư nhắm mắt lại và lặng im trong thoáng chốc, như để mang trọn tấm lòng thành cúng dường của bà lão để chia sẻ cùng với tất cả mọi người đang nghe câu chuyện về “ Trái Ớt Cúng Dường” của buổi khất thực sáng hôm nay.
Bằng một giọng trầm tỉnh sâu xa, Sư kể tiếp : - “ Tôi vô cùng hoan hỷ, đón nhận tấm lòng cúng dường của bà lão với Trái Ớt chín đỏ của bà và nói lời cảm ơn, cùng mời bà im lặng để tôi đọc tụng chúc lành cho bà và gia đình một bài kinh ngắn bằng tiếng Pali, nghe bài Kinh xong, dầu bà không hiểu gì, nhưng tôi ghi nhận được sư rung động trong tâm thức của bà qua ngấn lệ tuông tràn trên đôi gò má nhăn nheo, tôi đã nói với bà:
- “ Trái ớt nầy vô cùng quý báu với tôi trong buổi khất thực hôm nay, buổi ngọ trai trưa nay, đích thân tôi sẽ thay mặt bà, để mời toàn thể chư Tăng Ni cùng thọ nhận sự cúng dường của bà và cùng đọc kinh hồi hướng công đức cho bà, Trái Ớt chín đỏ của bà đặt vào bình bát cúng dường là một phẩm vật được dâng cúng với cả tấm lòng, nên sự cúng dường ấy thật vô cùng to lớn với ý nghĩa của nó.”Quay về phía chư Tăng Ni, Sư tiếp : – “Thưa quý Tăng Ni và quý Phật tử, câu chuyện vừa kể để giải thích tại sao tôi ngỏ lời mời tất cả chư vị nên chan tý xì dầu ớt vào bát của mình là để thọ nhận sự cúng dường lớn lao của tấm lòng bà lão sáng nay. Kính mong chư Tăng Ni cùng đọc kinh cầu nguyện và hồi hướng công đức cúng dường đến toàn thể các thí chủ.”
Lời kinh tiếng Pali trầm hùng vang lên trong điện Phật của một ngôi tu viện Phật Giáo trong một khu rừng núi xa xôi yên vắng với các vị Sư người Tây Phương da trắng mắt xanh, như hòa quyện cùng với cảnh vật chung quanh, tiếng tung kinh lan tỏa, rừng cây rung nhẹ tiếng xào xạt của những cành lá đong đưa, tất cả đã ngân lên một tấu khúc thương yêu của tấm lòng từ bi tỏa ngát cùng hương rừng gió núi, nhẹ lan trong tâm thức nguyện cầu.
GIA HIẾU* Bundanoon là tên của một thị trấn thuộc khu vực cao nguyên của miền Tây Nam Tiểu Bang NSW – Australia, cách thành phố Sydney 150 Km.
Thứ Năm, 23 tháng 3, 2017
TRÁI ỚT CÚNG DƯỜNG
Thứ Tư, 22 tháng 3, 2017
MỖI MỘT NGÀY QUA,CHẲNG MUỘN, ẢO TƯỞNG (Tánh Thiện)
MỖI MỘT NGÀY QUA
Nghiệp thiện nên làm
Nghiệp ác tránh xa
Quyết không câu nệ
Trải nghiệm lòng ra .
Vui trong ánh đạo
Tu học vững vàng
Cung dưỡng minh sư
Phụng trì Tam Bảo .
Mê danh chấp ngã
Lạc hướng chánh tri
Vấn đạo tham thiền
Phá bỏ mạn nghi .
Mỗi một ngày qua
Mạng sống yếu dần
Niệm niệm chẳng quên
Phát tâm khởi tín .
Tánh Thiện
CHẲNG MUỘN
Đường tu chẳng muộn bao giờ
Xin đừng cố đợi cố chờ làm chi
Mai này ta có thể đi
Còn đâu học pháp từ bi thánh hiền .
Cuộc đời tiếp diễn luôn luôn
Như dòng nước chảy về miền biển xanh
Tháng ngày qua lại thật nhanh
Mới đây mà đã bạc xanh mái đầu
Phật không ban phước vái cầu
Tu thân chuyển ý đạo mầu hiển khai
Miệng không nói độc hại ai
Bao lời Phật dạy đêm ngày chẳng quên .
Tánh Thiện
ẢO TƯỞNG
Thiên nhiên biển rộng cõi trời trong
Tàu Cộng mưu đồ chiếm biển Đông
Bá đạo cường quyền tham vọng lớn
Nhân quả muôn đời chẳng suốt thông .
Nước Việt dân tôi sống bình yên
Giữ gìn bờ cõi của tổ tiên
Lịch sử trải qua ngàn năm hiến
Đuổi quân xâm chiếm mộng bá quyền .
Trái đất đoàn tàu chuyển sóng nhanh
Không gian mở rộng cả trời xanh
Ảo tưởng mê mờ từ phương Bắc
Đừng hòng manh động khởi chiến tranh .
Tánh Thiện
Thứ Sáu, 17 tháng 3, 2017
CÓ ĐƯỢC TRI KỶ TRONG ĐỜI MỚI LÀ ĐIỀU ĐÁNG GIÁ NHẤT
Trong cuộc sống có
được người bạn tri kỷ mới thật là trân quý! Tri kỷ cũng như một thứ tình
cảm ấm áp không lời, một thứ đồng hành giản dị nhưng quý báu vô ngần.
Ngày xưa có một phú ông rất thích thưởng thức
trà, mỗi khi có khách đến nhà, dù là người giàu sang hay nghèo hèn thì ông đều
cho gia nhân ra mời trà.Một ngày nọ, có lão ăn mày rách rưới đứng trước cửa nhà phú ông. Lão ăn mày không xin tiền, cũng không xin cơm, mà chỉ đến xin bát nước trà. Gia nhân bèn cho lão vào nhà rồi đun nước pha trà.
Lão ăn mày liếc qua rồi nói: “Trà này không
ngon”.
Gia nhân nhìn ông ta lấy làm lạ rồi đổi một
bát trà ngon khác.
Lão ăn mày ngửi ngửi, nói: “Trà này ngon,
nhưng nước vẫn chưa được, phải dùng nước suối trong”.
Gia nhân nghĩ rằng hắn cũng có chút hiểu
biết, liền đi lấy nước suối cất trữ từ sáng sớm ra để pha trà.
Lão ăn mày nhấp thử một ngụm, nói: “Nước
rất tốt, nhưng củi sao trà không được, củi phải dùng củi sau danh sơn. Bởi vì
củi phía trước núi đón nắng nên chất củi xốp, còn sau núi chất củi mới cứng”.
Kẻ hầu người hạ trong nhà cho
rằng người này tinh thông trà đạo, liền dùng loại củi tốt pha lại trà, rồi
mời lão gia ra tiếp đón. Sau khi trà được mang lên, phú ông và lão ăn mày đối
ẩm một bát.
Lão ăn mày nói: “Ừm, bát trà lần này, nước,
củi, lửa đều tốt, chỉ có ấm pha trà không ổn”.
Phú ông nói: “Đây là chiếc ấm pha trà tốt
nhất của ta”.
Lão ăn mày lắc đầu rồi cẩn thận lấy từ trong
áo ra một chiếc ấm quý làm bằng đất sét tử sa. Khi trà mới được mang lên, phú
ông nhấp thử mùi vị thấy quả nhiên không tầm thường, lập tức chắp tay thi lễ
với tên ăn mày: “Ta xin mua lại chiếc ấm tử sa này, bao nhiêu cũng được”.
Nhưng
lão ăn mày vốn nâng niu chiếc ấm tử sa như báu vật, nhất định không muốn bán: “Không được, chiếc ấm này là cuộc sống của
ta, ta không thể bán”. Nói rồi lão ăn mày vội vàng rót trà ra, cất
lại chiếc ấm.
Phú ông vội vã ngăn lại, nói: “Ta đổi một
nửa gia sản để lấy chiếc ấm của ông”.
Lão ăn mày không tin, vẫn bước tiếp. Phú ông
nôn nóng, nói: “Ta đổi toàn bộ tài sản để lấy chiếc ấm của ông”.
Lão ăn mày nghe vậy bèn cười lớn rồi
nói: “Nếu không phải vì tiếc chiếc ấm này thì tôi cũng không lâm vào bước
đường như ngày hôm nay”. Nói xong lão ăn mày quay người bỏ đi.
Phú ông sốt ruột nói: “Như thế này đi, ấm
là của ông, ông hãy ở lại nhà ta, ta ăn gì thì ông ăn đó. Nhưng có một điều
kiện, chính là ngày nào cũng phải cho ta nhìn chiếc ấm, ông thấy thế nào?”. Vì quá
yêu thích chiếc ấm nên trong lúc cấp bách phú ông bèn nghĩ ra cách đó.
Lão ăn mày cũng vì miếng ăn qua ngày mà túng
quẫn, chuyện tốt như vậy sao lại không đồng ý? Vậy là lão vui vẻ nhận lời phú
ông.
Cứ như vậy, lão ăn mày ở lại nhà phú ông, ăn
cùng ở cùng phú ông. Hai người ngày ngày nâng niu chiếc ấm trà quý, chia sẻ với
nhau, thưởng trà ẩm rượu, vô cùng ăn ý. Cứ thế nhiều năm qua đi, hai người
trở thành hai lão niên tri kỷ thấu hiểu nhau.
Một hôm phú ông mới nói với người bạn ăn mày
của mình: “Ông không có con cháu nối dõi, không có ai kế thừa chiếc ấm trà,
chi bằng sau khi ông đi rồi, hãy để tôi giúp ông bảo quản chiếc ấm này, ông
thấy thế nào?”.
Lão ăn mày rưng rưng đồng ý. Không lâu sau,
lão ăn mày thật sự ra đi, phú ông cũng được như mong muốn có được chiếc ấm tử
sa.
Những ngày đầu phú ông chìm trong cảm
giác vui sướng vì có được chiếc ấm tử sa. Nhưng rồi cũng đến một ngày, khi đang
ngắm nghía chiếc ấm quý này, phú ông đột nhiên cảm thấy trong lòng thiếu vắng
thứ gì đó, chén trà đưa lên miệng cũng không còn thơm ngon như trước nữa. Trước
mắt ông hiện lên hình ảnh những tháng ngày vui vẻ cùng người bạn ăn
mày thưởng trà. Hiểu rõ tất cả rồi, phú ông hai mắt nhòa lệ thả rơi chiếc ấm
xuống đất…
***Câu chuyện kết thúc đầy bất ngờ, đến mức có thể khiến người ta không thốt nên lời. Bởi vì theo thời gian, có rất nhiều thứ sẽ đổi thay, tình nghĩa giữa phú ông và lão ăn mày đã vượt qua cái giá trị ban đầu của ấm trà – thứ dù có tốt đến đâu nhưng nếu không có ai cùng thưởng thức thì cũng mất đi ý nghĩa của nó, và thứ dù đáng giá đến đâu nhưng cũng không thể sánh với tấm lòng tri kỷ. Vậy thì suy cho cùng, thứ gì mới là quan trọng nhất trong cuộc đời bạn? Có lẽ chính là người cùng bạn giao tâm thưởng trà!
Trong cuộc sống có được một người bạn tri kỷ
mới thật là trân quý! Đây là điều mà bao người từng trải đã đúc kết ra được.
Tri kỷ như một thứ tình cảm ấm áp không lời, một thứ đồng hành giản dị nhưng
quý báu vô ngần.
Tri kỷ thật sự là hiểu, là thân thiết, là đồng
điệu. Giống như một chén trà xanh, chan chát mà thấm vào tận trong tim. Có
những khi chỉ cần một cái ôm, một ánh mắt, là hiểu tất cả mà không cần dùng đến
lời nói.
Tri kỷ không cần che đậy, cũng không cần giải
thích, tự nó đã hiểu, tự nó cảm nhận. Không cần dốc hết sức, cũng không cần
chuẩn bị, tự nó sẽ đem đến niềm vui, tự nó sẽ như ý thơ. Cuộc sống có một loại
tình cảm không tác động vào thế giới mỗi người, mà chỉ đồng hành trong tâm hồn;
không trở ngại cuộc sống mỗi người, mà chỉ mang cùng tiếng nói từ con tim…
(Sưu tầm)Thứ Năm, 16 tháng 3, 2017
TÙY DUYÊN ĐỜI THẢN ĐÃNG, TIẾC DUYÊN GIEO NHÂN LÀNH
Trong dòng người vội vã, rất nhiều người đều là có
duyên với bạn. Dù chỉ là ngồi chung một chuyến xe, trú mưa cũng một chỗ, hay chỉ
nhìn thoáng qua nhau, tất cả đều là vì “hữu duyên” mà “tương ngộ”.
Vào thời cổ đại, những người tu
luyện đều mong muốn kết được thiện duyên với tất cả mọi người. Chỉ với một đôi
giày rơm, một cây thiền trượng, cùng một cái bình bát mà họ vân du tứ hải, khi
đói thì xuống phố thị khất thực, khi mệt mỏi thì ngủ tạm mái hiên, đây chính là
cách “hóa duyên” trong quá khứ.
Mặc dù cuộc sống nghèo khó nhưng
chẳng phải cũng rất thảnh thơi hay sao. Mỗi ngày đều có thể thưởng thức cảnh
sắc tươi đẹp, vô lo vô nghĩ, bốn biển là nhà. Bước chân nhàn nhã, làm bạn với
“vô dục vô cầu”, đi khắp núi cao biển rộng.
Trong cõi hồng trần, duyên phận đan
xen nhau muôn hình vạn trạng, ở giữa biển người mênh mông có thể quen biết
nhau, rồi trở nên thân thiết, cố nhiên đó là một loại duyên phận mà người ta
nên trân trọng muôn phần.
Tuy vậy, trên đời còn có vô vàn các
loại duyên khác nữa. Trong dòng người vội vã, có người bạn chỉ vô tình
nhìn thoáng qua, có người cùng trú mưa dưới hiên nhà, có người cùng đứng chờ
tín hiệu qua đường, hết thảy họ đều là có duyên với bạn.
Ví như trong biển rộng mênh mông, 2
chú cá vô tình gặp nhau, cũng là vì bên trong sinh mệnh chúng đã tồn tại
cái duyên này.
Cuộc sống cần hiểu được 2 chữ “tùy
duyên”
Tùy duyên không có nghĩa là cố công
theo đuổi mà là thuận theo tự nhiên. “Duyên” là thứ không thể cưỡng cầu mà có
được, và không phải ai cũng có duyên, cũng không phải cố công tìm kiếm là có
thể nắm bắt được.
Có câu rằng:
“Hữu duyên thiên lý năng tương ngộ, vô duyên đối diện bất tương phùng”.
Hai người xa lạ, cách nhau vạn dặm hoặc ở nơi đất khách quê người, dù chỉ
nhìn nhau nhoẻn miệng cười, đây cũng chính là duyên.
Trên bước đường
đời, chúng ta có thể gặp được rất nhiều người, rồi sau đó, đại đa số đều
là những vị khách qua đường, cũng có một số ít sẽ trở thành quen biết,
thấu hiểu, thậm chí trở thành thân thích.
Cuộc sống có quá
nhiều điều không thể đoán biết, mỗi ý niệm trong đầu, mỗi lần quyết
định, đều là có được hoặc bỏ lỡ một phần duyên. Tiếp nhận là vì duyên, mà
bỏ qua cũng bởi vì duyên, hết thảy đều có duyên tiền định. Đời người là như
thế, cuộc sống cũng là như thế.
Duyên phận đời
người là một loại quan hệ nhân quả, bất kể là ác duyên, thiện duyên, tình
duyên,… đều là vì các sinh mệnh từng kết duyên mà gặp gỡ.
Tri âm tri kỷ là
một loại duyên, tâm tình quyến luyến là một loại duyên khác, trong biển
người mênh mông, gặp nhau đều là có nguyên nhân, quen biết là duyên tục, hiểu
nhau là duyên định.
Trác Văn Quân vì Tư Mã
Tương Như mà rời bỏ chốn khuê phòng, phiêu bạt gió sương, bán rượu sống qua
ngày; Hoàng tử Edward VIII không tiếc bỏ vương vị, bỏ giang sơn để có được mỹ
nhân bên cạnh, đều bởi vì hữu duyên. Chung Tử Kỳ và Du Bá Nha, hai người xa lạ,
chỉ vì một khúc nhạc du dương, mà rung động tâm hồn, tri âm gặp được tri âm, là
duyên phận tự nhiên, vô cầu vô dục.
Khuyên người hướng thiện chính là
một cách kết thiện duyên. Lúc ở cùng người khác, mặc dù chỉ trong chốc lát,
cũng nên đem sự lương thiện gửi gắm cho đối phương, đây là cách tiếc duyên
tốt nhất. Cho nên, những người có duyên mà gặp trên đời, đừng quên khuyến
thiện, đặt một nền tảng tốt đẹp cho tương lai.
Tùy duyên là một loại trí tuệ. Mọi
sự tùy duyên, bảo trì một trái tim bình hòa chính là cảnh giới cao nhất của
nhân sinh. Chỉ cần có được một cái tâm tùy duyên, bất luận bầu trời u ám hay
sáng lạn, cuộc sống trắc trở hay êm xuôi, trong nội tâm sẽ có một phần bình hòa
thản đãng.
Bất kể tuổi thọ của một người dài
hay ngắn, trong dòng sông dài của lịch sử, thời gian trôi nhanh như chớp mắt,
người gặp nhau đều vội vã như khách qua đường. Trong cuộc sống ngắn ngủi này,
nếu như có thể hiểu được tùy duyên, tiếc duyên, thì cuộc sống sẽ càng ngày càng
thong dong, tự tại.
Tuệ
Tâm, theo Secret China
BẠN TÔI
( Thân tặng bạn VĐC nhân ngày về ĐN )
Gặp lại bạn tôi rộn phố xưa,
Lặng thầm duyên phận cứ đong đưa.
Tháng ngày nghĩa nặng, xua sao đặng,
Sớm tối tình sâu, nói chẳng vừa…
Hiểu được trần ai, đời đậm nhạt,
Nhớ ra lẽ đạo, cảnh dư thừa.
Thời gian ký ức vun chung thủy,
Gió lộng xuân tàn giữa nắng mưa…
9/3/2017
Minh Đạo
http://www.saimonthidan.com/?c=article&p=14667
Gặp lại bạn tôi rộn phố xưa,
Lặng thầm duyên phận cứ đong đưa.
Tháng ngày nghĩa nặng, xua sao đặng,
Sớm tối tình sâu, nói chẳng vừa…
Hiểu được trần ai, đời đậm nhạt,
Nhớ ra lẽ đạo, cảnh dư thừa.
Thời gian ký ức vun chung thủy,
Gió lộng xuân tàn giữa nắng mưa…
9/3/2017
Minh Đạo
http://www.saimonthidan.com/?c=article&p=14667
Thứ Ba, 14 tháng 3, 2017
TẠI SAO NGƯỜI XƯA NÓI: ‘NGƯỜI TÍNH KHÔNG BẰNG TRỜI TÍNH’
Trong
kiếp nhân sinh này, mỗi người đều có sự lựa chọn của mình, 8 câu chuyện rất
ngắn sau có thể giúp bạn nhận ra lựa chọn nào là quý trong đời.
1.
Chiếc đồng hồ ở đâu
Chiếc đồng
hồ của người cha biến đâu mất tìm không thấy, làm cha rất khó chịu, lật
khắp nơi cũng tìm không ra. Đợi người cha đi ra khỏi phòng, cậu con trai liền
lặng lẽ vào phòng, không lâu sau thì tìm thấy. Người cha hỏi: Sao con tìm thấy
vậy? Con trai trả lời: Con chỉ ngồi yên lặng một chút, không lâu sau nghe
thấy tiếng tích tắc của đồng hồ
Chúng
ta càng nôn nóng tìm kiếm, càng không tìm thấy thứ mà mình muốn, chỉ có bình
tâm, mới có thể nghe thấy tiếng vọng trong tâm mình.
2.
Khi nào thì được là chính mình
Khi cho đầy
sữa vào một cái cốc thủy tinh, mọi người nói: đây là cốc sữa; khi cho đầy dầu
vào đó, mọi người lại nói: đây là một cốc dầu. Chỉ có khi cốc trống rỗng, mọi
người mới nhìn nhận nó là cái cốc.
Khi
trong lòng chúng ta đong đầy học vấn, tiền tài, quyền lực thành quả và định
kiến, thì không phải là bản thân chúng ta. Thường thường có được tất cả, ngược
lại không thể có chính bản thân mình.
3.
Ai hạnh phúc
Có hai con
hổ, một con ở trong lồng sắt, một con ở ngoài thiên nhiên hoang dã. Cả hai con
hổ đều cho rằng hoàn cảnh sống của mình không tốt, nên đều ước ao ngưỡng mộ đối
phương.
Thế là chúng
quyết định thay đổi thân phẩn, khi mới bắt đầu cả hai đều rất vui vẻ. Nhưng
không lâu sau đó, cả hai con hổ đều bị chết; một con chết vì đói khát, một con
chết vì u buồn.
Có
lúc, mọi người coi thường hạnh phúc bản thân mình đang có mà chỉ chăm chăm
ngưỡng mộ hạnh phúc của người khác. Kỳ thực, tất cả những điều bạn có có thể
chính là điều người khác đang ngưỡng mộ. Chỉ là bạn không đủ trân trọng nó mà
thôi
4.
Nhân quả không sai
Có một người
lính bị quân địch truy sát bất ngờ nên tháo chạy vào một hang núi. Quân địch
đuối sát đằng sau gần bắt được anh ta, anh ta ở trong hang cầu nguyện để không
bị quân địch phát hiện. Bỗng nhiên cánh tay bị đau như ai cắn, hóa ra đó là một
con nhện, anh ta đang muốn giết con nhện đó, bỗng nhiên trong tâm nảy sinh
thương cảm, liền thả con nhện ra. Không ngờ con nhện bò ra cửa hang dệt một cái
mạng nhện mới hoàn chỉnh, quân địch truy sát tới cửa hang nhìn thấy một cái
mạng nhện che kín, đoán là trong động không có người liền bỏ đi.
Có
nhiều khi, giúp đỡ người khác cũng đồng thời là đang giúp đỡ chính mình.
5.
Có bao nhiêu tiền thì mua được xe
Có một chàng trai đi mua xe, cần số tiền là 10 ngàn
USD nhưng chàng trai chỉ mang có 9998 USD tiền mặt, thiếu 2 USD. Bỗng
nhiên anh ta phát hiện ngoài cửa có một người ăn mày, liền qua nói với người ăn
mày: “Cầu xin anh, cho tôi 2 USD nhé, tôi muốn mua xe” Người ăn mày nghe xong,
hào phóng đưa cho anh chàng 4 USD và nói: “ Mua giúp tôi luôn một chiếc xe
nhé.”
Nếu
bạn hoàn thành tới hơn 90% nhiệm vụ, thì người khác có thể hỗ trợ giúp bạn
thành công một cách nhẹ nhàng như trở bàn tay, ngược lại, nếu bạn không làm bất
kể việc gì, thần tiên cũng không cứu được bạn.
6.
Đun nước thế nào
Sư phụ hỏi:
Nếu con phải đun sôi một ấm nước, nhóm lửa đun được một nửa thì phát hiện không
đủ củi, vậy thì con phải làm như thế nào? Có đệ tử nói vậy thì phải nhanh chóng
đi tìm, có người nói đi mượn, có người nói đi mua. Sư phụ lại hỏi: ‘Tại sao
không đổ bớt nước trong ấm ra nhỉ?’
Vạn
sự việc trên thế giới này không phải đều như ý, có thể xả bỏ thì mới có thể đắc
được.
7.
Người tính không bằng Trời tính
Có một người
thành phố, năm 1984 vì mong muốn xuất ngoại, nên bán đi căn nhà tứ hợp viện với
giá 300 nghìn tệ, rời quê hương đến Italia để đào vàng. Dầm mưa dãi nắng chịu
bao vất vả, ban đêm thức học ngoại ngữ, bị cướp 7 lần bị đánh 3 lần ở khu dân
nghèo. Vất vả tiết kiệm, đến nay đã tóc điểm sương mai, 30 năm rồi, cuối cùng
tiết kiệm được 1 triệu ERO, (khoảng 7 triệu 450 NDT), dự định về nước để
hưởng thụ vinh hoa phú quý. Vừa về nước, phát hiện ra căn nhà tứ hợp viện mà
năm xưa bán đi môi giới treo giá bán 80 triệu NDT, trong chớp mắt giật
mình suy sụp…
Có
lẽ nhân sinh cả kiếp người ta hơn một nửa là bận rộn mù quáng… có những lúc,
lựa chọn đúng còn quan trọng hơn sự chăm chỉ.
8. Nước hoa trong các công ty mỹ phẩm,
95% đều là nước, chỉ có 5% là khác nhau, đó là bí quyết của từng công ty. Con
người cũng như vậy, 95% cơ bản là đều như nhau, sự khác biệt là tầm quan trọng
đặc biệt trong 5% kia, đó chính là những đặc biệt về phẩm chất tu dưỡng đạo đức
của con người, những vui buồn đau khổ và dục vọng của con người.
Tinh
dầu thơm của nước hoa phải chiết xuất 5 năm, 10 năm mới có thể cho vào làm
thành nước hoa, con người cũng như vậy, phải trải qua quá trình rèn luyện
trưởng thành, mới có sự thú vị độc đáo độc nhất vô nhị của bản thân.
Kiên
Định biên dịch
PHÉP THIỀN ĐỊNH CÔ ĐỌNG DỰA VÀO HƠI THỞ

Bà Upasika Kee Nanayon (1901-1970)
Lời giới thiệu của người dịch
Thiền định dựa vào hơi thở là một kỹ thuật luyện tập giúp người hành thiền phát
huy một sự chú tâm cao độ mang lại sự tĩnh lặng và thăng bằng cho tâm thức giúp
mình trở về với chính mình hầu tìm hiểu tâm thức và con người của chính mình.
Kỹ thuật đặc biệt này được áp dụng trong phép thiền định thật căn bản của Phật
giáo Theravada là Vipassana.
Vipassana là một từ ghép, tiền ngữ "vi" có nguồn gốc từ chữ visepa
có nghĩa là cao siêu hay chuyên biệt; hậu ngữ "passana" có
nguồn gốc từ chữ pasyana có nghĩa là trông thấy hay quán thấy, do đó có
thể xem Vipassana là một phép thiền định giúp mang lại một "Sự quán thấy
sâu xa", các kinh sách gốc Hán ngữ gọi là "Thiền Minh Sát" hay
"Minh Sát Tuệ".
Phép Thiền định về sự quán thấy sâu xa trên đây thường được ghép chung hay đi
đôi với một phép thiền định khác là Samatha ("Định"), hoặc là chỉ
mang ra luyện tập sau khi đã thực hiện được phép thiền định Samatha, bởi vì
phép thiền định này chỉ có thể tạo ra một thể dạng thăng bằng và tĩnh lặng cho
tâm thức, nhưng không mang lại một sự quán thấy về bản chất đích thật của mọi
hiện tượng gọi là prajna (dịch âm là "bát-nhã" và cũng có nghĩa là
"trí tuệ"). Chỉ có phép thiền định Vipassana mới thực hiện được sự
quán thấy siêu việt là Samadhi ("Quán"), hầu mang lại sự Giác
Ngộ. Chữ "cô đọng" trong tựa của bài giảng có thể hiểu như là một sự
"thu gọn" hay "rút ngắn" của phép thiền định này, và đây
cũng là một ý kiến độc đáo chứng tỏ sự thấu triệt sâu xa thâu thập từ các kinh
nghiệm bản thân của người thuyết giảng.
Thật ra không riêng gì Phật giáo Theravada mà hầu hết tất cả các học phái và
tông phái Phật giáo khác đều thực thi phép thiền định Vipassana, bởi vì đây là
phương tiện căn bản và chủ yếu nhất trong việc tu tập của toàn bộ Phật giáo nói
chung, tuy rằng nội dung và phương pháp giữa các học phái và tông phái về phép
thiền định này không hoàn toàn thống nhất với nhau. Các học phái xưa như
Sravaka và Pratyekabudddha xem phép thiền định Vipassana hay "Sự quán thấy
xâu xa" là một phương tiện giúp tìm hiểu bản chất của Bốn Sự Thật Cao Quý
(Tứ Diệu Đế) và một khái niệm vô cùng căn bản khác là quy luật Tương liên,
tương kết và tương tạo giữa mọi hiện tượng (Paticcasamuppada/
Pratityasamutpada/ Lý Duyên Khởi).
Đối với Đại Thừa nói chung thì phép thiền định Vipassana là một phương
tiện giúp quán thấy vững chắc và tối thượng về bản chất vô thực thể của mọi sự
vật tức là Tánh Không của chúng. Đối với Kim Cương Thừa (Vajrayana) thì phép
thiền định Vipassana là một lợi khí giúp tìm hiểu tâm thức là nguồn gốc của
hạnh phúc cũng như mọi thứ khổ đau. Sự hiểu biết sâu sắc đó sẽ đưa đến sự nhận
thức vững chắc và minh bạch về sự phi hiện hữu của cái "ngã" hay
"cái tôi", nói cách khác là bản chất "vô thực thể" của
chính mình.
Theo Phật giáo Theravada - tức là trong khuôn khổ của bài giảng này - thì phép
thiền định Vipassana là phương tiện duy nhất có thể mang lại sự Giải Thoát. Đó
là một phép luyện tập nhất thiết dựa vào hơi thở nhằm phát huy một sự chú tâm
thật mạnh (satipatthana/sự tỉnh giác, tỉnh thức) hướng vào bốn đối tượng
hay lãnh vực thiền định là: thân xác, giác cảm, các thể dạng của tâm thức và
các sự tạo tác của nó. Tất cả những sự hiểu biết này sẽ đưa đến sự quán thấy
minh bạch và trong sáng về vô thường, khổ đau và vô ngã của một cá thể cũng như
của tất cả mọi hiện tượng. Phương pháp thiền định Vipassana theo Phật giáo
Theravada cũng được giải thích chi tiết trong tập Visuddhimagga (Thanh
Tịnh Đạo) của Buddhaghosa (Phật Âm) trong Tạng Luận, nhưng chủ yếu là được
rút tỉa từ một bài kinh do chính Đức Phật giảng là Satipatthana-sutta
(MN 10), còn gọi là Kinh Niệm Xứ hay Kinh Tứ Niệm Xứ.
Bà Upasika Kee Nanayon, tác giả bài giảng là một cư sĩ Thái Lan và cũng là một
vị thiền sư vô cùng lỗi lạc và uyên bác. Bản dịch dưới đây được dựa vào hai bản
dịch khác nhau: một bằng tiếng Anh của nhà sư Thanissaro Bhikkhu và một bằng
tiếng Pháp của bà Jeanne Schut. Cách dịch của nhà sư Thanissaro Bhikkhu có vẻ
rất từ chương, trái lại cách dịch của bà Jeanne Schut rất thoáng và mở rộng.
Hơn nữa một bài giảng ở thể "văn nói" luôn khác với một bài viết với
một thể văn "cân nhắc" hơn. Việc dịch thuật nói chung phải dung hòa
tất cả các khía cạnh trên đây hầu mang lại sự mạch lạc và dễ hiểu cho người
đọc, tuy nhiên cũng phải tôn trọng cách diễn đạt cũng như nội dung của bản gốc.
Ngoài ra cũng còn một số các khó khăn khác không phải nhỏ, là các thuật ngữ và
cách diễn đạt tư tưởng đôi khi rất khác biệt giữa các ngôn ngữ và các nền văn
hóa khác nhau, điều này rất khó vượt qua, nhất là đối với các vấn đề khúc triết
trong giáo lý vô cùng sâu sắc của Phật giáo. Bài dịch dưới đây luôn cố gắng tôn
trọng tinh thần đó, tuy không sao tránh khỏi ít nhiều sai sót.
Nhiều người khi phải thú nhận những sự lầm lẫn của mình thì lấy làm xấu hổ, thế
nhưng họ sẽ không ngượng nghịu tí nào khi nói đến các khuyết điểm của kẻ khác.
Số người thẳng thắn sẵn sàng nhận chịu lỗi lầm của mình - tức những sự u mê tâm
thần của mình - bao giờ cũng rất ít ỏi. Do đó các căn bệnh ô nhiễm tâm thần
thường bị che đậy và dấu kín, vì thế nên chúng ta không sao biết được là chúng
trầm trọng và gây ra tác hại lớn lao đến mức độ nào. Tất cả chúng ta đều khổ đau
vì các thứ bệnh ấy thế nhưng chẳng có ai hé môi thổ lộ. Chẳng có ai chịu khó tự
chẩn bệnh hầu phát hiện các thứ ô nhiễm tâm thần ấy của chính mình.
Chính vì vậy nên chúng ta phải tìm ra một chiến lược thật khéo léo hầu giúp
mình chữa trị các chứng bệnh này, đó là cách phải nhìn thằng vào chúng, tức là
không tránh né những sự khiếm khuyết của mình, dù là thô thiển hay thật tinh tế
cũng vậy, hầu mổ xẻ và tìm hiểu chúng từng chi tiết một. Chỉ có cách đó mới
mang lại được sự thăng tiến trong việc luyện tập của mình. Nếu chỉ nhìn vào con
người mình một cách hời hợt thì mình có thể sẽ nghĩ rằng tình trạng sức khỏe
của mình trong lúc này đang còn rất tốt, và sự hiểu biết của mình cũng đã thừa
đủ, chẳng cần phải học hỏi thêm gì nữa. Thế nhưng mỗi khi các thứ ô nhiễm tâm
thần (kilesa/các xúc cảm bấn loạn trong tâm thức) bùng lên với tất cả
sức mạnh của chúng, chẳng hạn như các sự giận dữ và bấn loạn (lo âu, bám
víu, ghét bỏ...), thì mình vẫn cứ xem đấy là chuyện bình thường. Thật ra
thì đấy là cách mà các thứ ô nhiễm tâm thần tạo ra cho mình tình trạng
bệnh hoạn mà mình không hề hay biết, và các chứng bệnh đó thì rất khó nắm bắt
và chẩn đoán.
Do đó chúng ta phải cương quyết đương đầu với các thứ ô nhiễm tâm thần, các sự
bám víu và ảo giác. Chúng ta phải can đảm đọ sức với chúng hầu khắc phục chúng.
Khi đã chế ngự được chúng thì chúng ta sẽ thu phục được chúng dễ dàng hơn. Nếu
không thì chúng sẽ điều khiển mình, nắm mũi mình mà lôi đi. Chúng sẽ xúi dục
mình thèm khát mọi thứ, và khiến mình bị kiệt lực bằng đủ mọi mánh khóe.
Đăng ký:
Nhận xét (Atom)


