Thứ Sáu, 5 tháng 8, 2022

CUỘC SỐNG QUÝ BÁU CỦA CON NGƯỜI LÀ HIẾM CÓ

 

Hình Internet

Cuộc sống làm người quý báu cung cấp nền tảng để nâng cấp cho chúng ta không chỉ kiếp này mà còn cho tất cả những kiếp sau. Nó cống hiến cho chúng ta cơ hội được giác ngộ, nhận ra an bình và hỷ lạc thật sự, và dễ dàng tỏa ra những phẩm tánh này để lợi ích vô số chúng sanh.

Nếu nhận ra tánh giác ngộ của mình, vũ trụ sẽ trở thành suối nguồn của an bình và hỷ lạc cho chúng ta, và chúng ta sẽ trở thành một nguồn an bình và hỷ lạc cho vũ trụ.

Nếu nhận ra cơ hội này quý báu ra sao và hiểu được giá trị của sự hiện hữu chính mình, chúng ta sẽ lập tức cảm thấy một cảm giác biết ơn và cảm kích to lớn về sự ban phước của cuộc sống khiến chúng ta hoan hỷ. Lòng biết ơn đó sẽ chuyển thành một quyết tâm mạnh mẽ không bao giờ dám để lãng phí một khoảnh khắc nào của cuộc sống này, và cống hiến toàn bộ cho nó trong cách tốt nhất mà chúng ta có thể.

Chúng ta hãy xem xét có bao nhiêu người trong thế gian có cơ hội phi thường này, khi làm như vậy có thể giúp chúng ta nhận ra mình thật may mắn biết bao. Nhìn chung quanh, chúng ta có thể thấy có vô số chúng sanh trong thế gian. Nếu xem xét một tảng đá, hàng trăm côn trùng đang bò lúc nhúc. Nếu có một kính hiển vi, thì hàng ngàn tỷ sinh vật có thể thấy được. Tôi có thể nói hàng tỉ vi khuẩn đang sống trong ruột chúng ta. Theo Phật giáo, mỗi một trong số chúng đều có một tâm và đều tìm kiếm hạnh phúc.

Ngoài ra, những chúng sanh mà chúng ta có thể thấy chỉ là một đỉnh của tảng băng trôi. Giống như những nền văn hóa quanh thế giới một cách truyền thống tin vào những chúng sanh vô hình như thiên, thần, thánh, ma, và quỷ, những người theo đạo Phật cũng tin vào nhiều bộ chúng sanh vô hình. Nhiều sinh linh này hiện hữu giữa chúng ta trong chính nơi chúng ta ngồi và hít thở. Lý do duy nhất chúng ta không thấy và không giao thiệp trong cuộc sống lẫn nhau là vì thiếu nghiệp kết nối chung để phát sinh mối quan hệ qua nhận thức.

Tuy nhiên, giữa sự sắp xếp bao la và kỳ diệu của cuộc sống vô hình và hữu hình, nhân loại sở hữu được tiềm năng vĩ đại nhất cho việc nhận ra giác ngộ, như chúng ta có khả năng thông minh, động cơ, và sức chịu đựng để tìm kiếm con đường tâm linh và gắn bó với nó. Hãy xem súc vật và địa ngục để lấy hai ví dụ. Những chúng sanh này chịu đựng đau khổ, sợ hãi, và trì độn khiến họ thiếu sức mạnh để gom góp thậm chí một dấu vết của những phẩm tính giác ngộ. Bây giờ hãy lấy những chúng sanh như những vị trời trường thọ, những vị dường như may mắn hơn chúng ta, với thân ánh sáng đẹp đẽ và có quyền sử dụng mọi loại ham thích. Tuy nhiên, sự thật là những vị trời đó – không giống con người nếm cả hai mùi vị hạnh phúc và đau khổ nên có động cơ và khả năng tìm kiếm giác ngộ – họ quá say mê khoái lạc sắc dục và không có bất cứ kinh nghiệm đau khổ nào để có thể thôi thúc họ thực hành hoạt động tâm linh.

Thậm chí ngay cả giữa nhân loại, nếu nhìn kỹ, chúng ta thấy thực sự có rất ít người có tính khí giống như chụp lấy cơ hội để làm việc hướng tới giác ngộ. Ngày nay nhiều người không tin vào tâm linh. Nhiều người không hề biết một chút gì về tiềm năng của tâm họ. Thậm chí ngay cả những người có học thức cũng vậy. Có lần một người trí thức đã nói với tôi: “Tâm chỉ là cây nấm trên bộ não.”

Một số người quá đắm chìm vào việc vật lộn với nghèo khó hay bệnh tật hoặc quá nhiễm vào đam mê và kích thích ham mê để phát triển tâm linh. Những người khác trút mọi năng lượng của họ vào việc đạt được thành công vật chất và danh vọng. Và cũng có người có thể có một số khuynh hướng tâm linh chưa bao giờ tiến bộ trên con đường vì rơi vào đám đông sai lầm và chọn lấy giá trị sai. Vậy khi tóm gọn lại, chỉ còn một chút phần trăm ít ỏi người có một thay đổi thực tế của việc tận dụng cơ hội cho tâm linh tăng trưởng.

Giáo lý Đạo Phật trình bày những hoàn cảnh lý tưởng cho tiến bộ tâm linh. Chúng được biết là tám tự do và mười thuận lợi. Tám tự do là thoát khỏi việc phải sinh vào cõi (1) địa ngục, (2) ngạ quỷ, (3) súc sanh, hay (4) cõi trời trường thọ, bởi vì không cõi nào có thể đem lại cơ hội tạo tiến bộ tâm linh tốt như cõi người. (Xem chương 6, “Tái sanh”, để biết thêm về các cõi.) Và cũng phải thoát khỏi việc có (5) một quan điểm đồi bại, (6) cách cư xử mọi rợ, (7) quan điểm đoạn kiến, hay (8) sinh ra ở nơi không có sự xuất hiện của một vị thầy giác ngộ.

Mười thuận lợi bao gồm việc có được: (1) thân người với (2) các giác quan đầy đủ nguyên vẹn và (3) một công việc lành mạnh, hoặc một nghề nghiệp tốt. Người đó cũng phải sinh ra ở nơi mà (4) Giáo pháp tồn tại, (5) một vị thầy giác ngộ xuất hiện, (6) vị thầy dạy Giáo Pháp như cam lồ (Giáo lý giác ngộ của Phật giáo) và (7) Giáo Pháp giảng dạy vẫn đang thịnh vượng và phát triển. Cuối cùng, người đó phải (8) có niềm tin vào giáo lý, (9) đi theo giáo lý, và (10) có sự hướng dẫn của một vị thầy chân chính còn sống.

Như bạn có thể thấy, có được tất cả mười tám điều kiện lý tưởng này là cực hiếm. Những ai có được các điều kiện này được người theo đạo Phật gọi là cuộc sống làm người quý báu. Dù cho sở hữu bao nhiêu điều kiện lý tưởng, chúng ta cần phải hoan hỷ với những điều kiện đang có, biết rằng chúng là sự ban phước và phải hoàn toàn tận dụng. Ta cũng phải làm sao để đạt những điều kiện còn thiếu. Nếu nhận ra sự ban phước quý báu mà mình có, chúng ta sẽ không bao giờ dám lãng phí cơ hội bằng vàng này, và sớm hay muộn thì chúng ta sẽ nhận ra ý nghĩa của cuộc sống quý báu – an bình, hoan hỉ và rộng mở thực sự.

Nếu không nắm lấy cơ hội để làm cho cuộc sống trở nên ý nghĩa và chuyển thành một cuộc sống làm người quý báu thì không gì bảo đảm rằng chúng ta sẽ có một cơ hội khác trong tương lai. Sau cùng, con người không chỉ có trí tuệ nhạy bén nhất trong tất cả chúng sanh mà còn có những cảm xúc mạnh mẽ nhất. Tất cả quá dễ cho chúng ta bị cuốn theo những cảm xúc mạnh và phạm những sai lầm bi thảm có thể dẫn chúng ta tái sinh vào cõi thấp hơn. Như Tổ Shantideva (Tịch Thiên) nói:

Quá khó để có một cuộc sống làm người được phú cho tự do và thuận lợi.
Ngày nay có cơ hội để hoàn thành mục đích của cuộc đời,
Nhưng nếu không tận dụng được nó,
Làm sao chúng ta có thể có lại cơ hội như vậy nữa?

Ngài Tulku Thondup Rinpoche

LẮNG TÂM (Thơ)

 


LẮNG TÂM
 
Sông mê bái vốn chung dòng,
Nghi hoặc ra vào cửa có không.
Tham đắm trần gian nên lận đận,
Tìm cầu đạo cả vẫn long đong.
Ngày qua trí cạn buồn lên mắt,
Tháng lại tay xuôi thấy nặng lòng.
Khập khnh chân tà xa chốn cũ
Sáu đường ngập lối những gai chông…
 
Sáu đường ngập lối những gai chông,
Tinh tấn đêm ngày thấu sắc không.
Xả bỏ lòng trần cho sạch bụi,
Vun bồi tuệ giác phải dày công.
Nơi nơi xoa dịu mong đời sáng,
Chốn chốn mở bày được đạo thông.
Pháp Phật nguồn chơn soi vạn ngã,
Nương cùng kệ diệu lắng tâm trong.
 
7/2019
 
TỈNH MÊ  (Đối họa)
 
Cái tỉnh cái mê rõ khác dòng
Chuyên cần lý sự  thấy huyền không
Kinh thâm rọi thấu còn chi ngại
Pháp bảo hoằng truyền chẳng phải đong
Hiểu thế ngày lên trau trí huệ
Suy ra tháng lại gọt tơ lòng
Thời gian chạy mãi nào ai đợi
Cũng sợ sáu đường đã khổ chông
 
Cũng sợ sáu đường đã khổ chông
Kinh huyền vốn dạy uẩn đều không (*)
Lòng nhơ rửa thấu đâu còn bụi
Tánh lặng hòa đầy nỏ dụng công
Chẳng bỏ vô minh, mờ tính sáng
Luôn tìm chánh đạo, lắng tâm trong
Nương Thầy nương pháp  qui nguồn cội (**)
Vạn nẻo thăng trầm sẽ rõ thông.
 
20/7/2019
Minh Đạo
--------------------------
(*) Ngũ Ấm, tức là sắc, thọ, tưởng, hành, thức.
Ngũ uẩn giai không 五蘊皆空 nghĩa là năm uẩn đều không có thật
(**)Thầy: (Mười danh hiệu của Phật: Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn
 

Thứ Năm, 4 tháng 8, 2022

CỨU MẠNG MỘT NGƯỜI KHÔNG NGỜ LẠI LÀ CỨU CHÍNH MÌNH

 


Mọi người đều nói, người phụ nữ ôm con nhỏ vào thời điểm đó chính là Quan Âm Bồ Tát hạ phàm, lợi dụng nguy nan để thử lòng thiện ác của con người.

Trong nguy nan có thể làm hiển lộ bản tính con người, những người tốt bụng có thể giúp đỡ người khác, cũng là đang giúp chính họ. Tại Sơn Đông đã từng lưu truyền một câu chuyện như sau:

Ở núi Lao Sơn có hai hang động là Đào Thạch và Sa Thạch. Dưới chân núi có hai ngôi làng nhỏ cũng tên là Đào Thạch và Sa Thạch. Tuy nhiên hiện tại chỉ còn lại mỗi làng Sa Thạch.

Nguyên do bởi năm ấy ở Sơn Đông có một toán cướp rất hung hãn, đốt phá, giết chóc, cướp bóc khắp nơi. Một ngày nọ, tin tức về bọn cướp trên đường đi lan đến làng Đào Thạch và làng Sa Thạch, vì lý do này, người dân của hai ngôi làng phải trốn vào trong động gần làng mình.

Lúc này, có một người phụ nữ đang bế một đứa bé trên đường nghe tin liền theo người dân làng Đào Thạch đến ẩn náu trong động Đào Thạch. Động không lớn lắm nên người làng cũng không muốn cho hai mẹ con vào ẩn nấp cùng.

Trong lúc mọi người đang ổn định chỗ ẩn nấp thì đứa bé đột nhiên khóc ré lên, người mẹ làm thế nào cũng không dỗ dành được. Một số người sợ tiếng khóc của đứa bé sẽ khiến bọn cướp phát hiện nên yêu cầu người phụ nữ đi khỏi hang động. Những người khác vì sợ ảnh hưởng đến sự an toàn của bản thân nên không những không can ngăn mà đồng ý đuổi người phụ nữ đi. Trong tuyệt vọng, người phụ nữ đi về phía động Sa Thạch với đứa con đang khóc trên tay.

Mặt khác, người dân làng Sa Thạch vốn ẩn náu ở đó nghe thấy tiếng trẻ con khóc từ xa đến gần liền chạy ra xem tình hình, thấy một người phụ nữ đi ngang qua mang theo đứa bé, họ nhanh chóng đưa hai mẹ con vào động và sắp xếp cho hai mẹ con ẩn nấp ở phía cuối động để tiếng khóc của đứa bé nhỏ đi nhiều. Thật kỳ lạ, sau khi người phụ nữ ổn định với đứa bé thì đứa bé cũng ngừng khóc. Mọi người ẩn nấp trong hang hơn nửa ngày, sau khi thấy tiếng chó ngừng sủa, một thanh niên đã bước ra ngoài để xem xét tình hình mới phát hiện toán cướp đã rời đi.

Sau khi người dân làng Sa Thạch bước ra khỏi hang, họ thấy hướng Đào Thạch vắng lặng nên đã nhờ một thanh niên trẻ sang thông báo cho họ biết bọn cướp đã rời đi. Tuy nhiên, khi đến động Đào Thạch, anh ta phát hiện ra rằng tất cả những người ở đó đã bị bọn cướp giết sạch. Lúc này, bỗng có người nhớ tới hai mẹ con người phụ nữ kia thì đã không thấy hai mẹ con họ đâu nữa.

Hai năm sau khi sự việc qua đi, người dân trong làng bỗng thấy xuất hiện một khóm hoa đỗ quyên trắng như tuyết mọc ở giữa hai ngôi làng, loài hoa này chỉ xuất hiện ở vùng Lao Sơn.

Vì vậy, mọi người đều nói, người phụ nữ ôm con nhỏ vào thời điểm đó chính là Quán Âm Bồ Tát hạ phàm, lợi dụng nguy nan để thử lòng thiện ác của con người.

Tố Tâm biên dịch
Nguồn: aboluowang

Thứ Tư, 3 tháng 8, 2022

ẨN Ý THÂM SÂU NGƯỜI XƯA ĐỂ LẠI SAU CÂU NÓI: “NGỰA TỐT KHÔNG QUAY ĐẦU ĂN CỎ CŨ”

 


Cổ nhân nói “Ngựa tốt không quay đầu ăn cỏ cũ” có ý gì?

Hiểu theo nghĩa hẹp, câu nói “Ngựa tốt không quay đầu ăn cỏ cũ” có nghĩa là khi một con ngựa vừa rời khỏi chuồng để đi đến thảo nguyên xanh tươi, rộng lớn thì thường nó sẽ bị đám cỏ non xanh phía trước thu hút. Nhưng một con ngựa tốt thì lại khác, nó sẽ chỉ tập trung ăn cỏ phía trước, tức là thuận theo con đường nó đã chọn, không bận tâm tới việc có nhiều cỏ non hơn, ngon hơn ở phía sau hoặc ở hai bên đường. Dù đám cỏ non xanh mơn mởn đấy ở phía sau có hấp dẫn thế nào ngựa tốt cũng sẽ chẳng quay đầu.

Còn về nghĩa rộng, cổ nhân nói câu nói này là để nhắn nhủ chúng ta một đạo lý trong cuộc sống: Dù làm bất cứ công việc gì cũng nên làm tới nơi tới chốn, học cách nhìn về phía trước đừng quay đầu lại.

Nếu một người muốn tiến bộ, muốn có sự phát triển thì nên rời khỏi nơi khiến chúng ta thoải mái và học cách nhìn về phía trước. Dù ở đó có nguy hiểm, thử thách thì chúng ta cũng nên kiên định đến cùng, không nên do dự và quyết tâm không quay đầu lại.

Thời xưa, cổ nhân nói câu nói này dùng để chỉ sự kiên trì trong làm việc, nhưng với sự thay đổi không ngừng của thời thế, ý nghĩa của câu nói này cũng đã thay đổi. Ngoài việc khuyên chúng ta không nên làm việc nửa vời, nhìn ngó xung quanh thì câu “Ngựa tốt không quay đầu ăn cỏ cũ” còn muốn nói đến sự quyết tâm của những cặp vợ chồng không quay lại với nhau sau khi chia tay.

Vế sau của câu nói “Ngựa tốt không quay đầu ăn cỏ cũ”

Rất ít người biết rằng, vế sau câu nói này của cổ nhân còn đáng quý hơn ý nghĩa của vế đầu tiên. Vế sau ẩn chứa lời căn dặn của cổ nhân, đó là “Lãng tử hồi đầu kim bất hoán”, tạm dịch: Con hư biết nghĩ quý hơn vàng.

Cổ nhân nói “Kim bất hoán” là để ám chỉ một người. Cụ thể, ngày xưa có một gia đình họ Kim giàu có nhưng mãi đến ngoài 50 tuổi mới sinh được con trai để nối dõi, vì vậy gia đình đã đặt tên cho cậu bé là Kim Bất Hoán có nghĩa là “quý hơn vàng”.

Tuy nhiên, do được nuông chiều từ bé nên tính cách của Kim Bất Hoán trở nên ngang ngược. Cậu ta chẳng những không muốn học hành còn cả ngày tiêu xài phung phí, giao du với kẻ xấu. Dù gia đình giàu có nhưng cũng chẳng đủ cho Kim Bất Hoán tiêu xài. Đến khi tiền bạc không còn, những người từng coi là bạn bè chí cốt cũng lần lượt bỏ đi thì Kim Bất Hoán mới nhận ra sai lầm của mình. May mắn là mẹ của Kim Bất Hoán không bao giờ bỏ mặc hay ghét bỏ con. Thay vào đó, bà luôn ở bên an ủi và động viên con. Chính vì vậy, Kim Bất Hoán đã thay đổi, cải tà quy chính và tự mình gây dựng sự nghiệp, làm lại cuộc đời.

Đây là câu chuyện xưa và cũng là nguồn gốc của câu mà người xưa nói “Con hư biết nghĩ quý hơn vàng”.Một người mắc sai lầm không có gì đáng sợ, chỉ cần người đó biết quay đầu đúng lúc, biết mình sai ở đâu để sửa thì làm lại từ đầu vẫn chưa muộn.

Tựu trung lại, cổ nhân nói “Ngựa tốt không quay đầu ăn cỏ cũ, con hư biết nghĩ quý hơn vàng” truyền tải cho chúng ta biết về những đạo lý làm người cơ bản trong cuộc sống. Đó là, con người nên kiên định vào con đường mình đã chọn và con người dù có mắc sai lầm nhưng nếu biết sai và sửa đổi thì vẫn chưa muộn.

Đến ngày nay, câu nói này vẫn còn giữ nguyên giá trị và được hậu thế đón nhận nhiệt tình!

Nguồn: topnews71.com

Thứ Ba, 2 tháng 8, 2022

CHÙM THƠ MÙA VU LAN 2022

 


VU LAN NHỚ MẸ

 

Vu Lan tháng bảy đã về rồi

Cách trở muôn trùng dáng Mẹ tôi

Đức hạnh Người gieo nguyền chẳng đổi

Từ bi kẻ nhận rõ luôn bồi

Nuôi mầm sữa ngọt kề bao nỗi

Dạy nghĩa quê nghèo vẹn chiếc nôi

Cháu chắt ngày sau khuyên chớ lỗi

Không vì chuyện thế bạc tình lôi.

 

 

THIẾU MẸ

 

Ngàn sương đỏng đảnh đón thu về

Thiếu Mẹ trên đời lắm cảnh thê

Vất vả hy sinh cùng với thế

Âm thầm dạy dỗ sống theo lề

Dương trần ngọt đắng Người không kể

Chướng ngại sai lầm chuyện nở chê

Gộp đức, ân dày con cháu để

An nhiên chẳng hận, kiếp buồn lê…

 

 

MẸ

 

Gánh đậu lưng còng giữa buổi trưa

Vì con chịu khổ! Nói sao vừa

Thân bằng giống cảnh ai mà tựa

Phận thế cùng quê kẻ chẳng lừa

Cách trở muôn trùng đâu gặp nữa

Xa dần vạn nẻo rõ hoài thưa

Trần gian nguyện giữ… Như thời hứa

Dưỡng dục ân nầy trả hết chưa?!!!

 

TRÔNG CHIỀU NHỚ MẸ

 

Tháng bảy mưa về đẫm giọt rơi

Trông chiều nhớ Mẹ …thể nào vơi!

Nơi trần gộp đức…thương đời hỡi!

Ngõ đạo răn lòng… cảm phúc ơi

Dẫu cực vì con buồn chẳng với

Dù đau mặc thế nản không rời

Đâu phiền phận ấy tuỳ duyên bởi

Lẽ sống thường gieo đúng vạn thời.

 

 

CHIỀU NGHĨA TRANG

 

Quạnh quẽ sương chiều thả  bước chân,         

Vương buồn nhịp mõ, khánh chùa ngân.

Vàng tươi dãy đá hoen màu bẩn,

Cỏ biếc vườn mai rộn liễu ngần.

Ngẫm Mẹ thời qua hoài khổ lấn,

Về Cha kiếp lụn mãi đau vần.

Công ơn tựa núi nào đâu lẫn

Dẫu vạn muôn đời khó trả ân.

 

Mùa Vu Lan 2022

Minh Đạo


BÁC SỸ NÓI VỚI BỆNH NHÂN: “ÔNG LÀ VỊ QUAN VÔ LIÊM SỈ, SỐNG TRÊN ĐỜI THẬT LÀ VÔ ÍCH”, VÌ SAO BỆNH LẬP TỨC KHỎI?

 


Trí huệ cổ nhân luôn là đề tài bất tận đối với hậu thế, thông qua những bài học kinh nghiệm được đúc kết và trau dồi, chúng ta sẽ học được những tinh thần vô cùng quý giá. Dưới đây là 3 hỏi kinh điển của bậc Thánh nhân, đó đều là những câu hỏi thú vị và gai góc, không phải ai cũng có thể trả lời được. Nếu bạn có thể đưa ra đáp án cho cả 3 đáp án, bạn không phải là người bình thường đâu!

Nào, cùng thử nhé:

Hoa Đà trị bệnh

Vào cuối thời Đông Hán, có một vị quan lâm bệnh nặng không ăn được nên mời Hoa Đà đến chữa bệnh. Sau khi Hoa Đà bắt mạch cho vị quan này, ông không kê đơn thuốc hay châm cứu gì cả, sau đó bèn rời đi mà không nói gì.

Người nhà vị quan nghĩ rằng việc tiếp đãi không chu đáo, nên vội vàng gửi quà và mời Hoa Đà một bữa tiệc linh đình. Hoa Đà nhận lễ rồi thưởng thức rượu trà, nhưng cuối cùng ông cũng không kê đơn thuốc.

Hơn 10 ngày sau, vị quan đó cử con trai đến hỏi Hoa Đà, sau đó Hòa Đà chỉ để lại một bức thư, trong bức thư có viết: “Vị quan vô liêm sỉ, sống trên đời thật là vô ích!”

Vị quan sau khi đọc xong phong thư, bệnh lập tức khỏi!

Hỏi: Vì sao bệnh lại khỏi?

Khổng Tử hỏi Hạng Thác

Khổng Tử nói: “Trong 3 người đi đường thì ắt có một người là thầy của ta, gặp người tốt thì theo gương, gặp người xấu thì sửa mình”.

Khổng Tử là người sáng lập Nho gia, thời kỳ Xuân Thu Chiến Quốc là thời kỳ “trăm hoa đua nở, trăm nhà đua tiếng”, gọi là bách gia chư tử.

Khổng Tử không chỉ nổi tiếng ở Trung Quốc, mà còn vang danh thiên hạ. Khổng Tử có thể có được một địa vị cao cả như vậy, sự uyên bác và kiến thức của ông được mọi người công nhận, và được hậu thế xưng là Thánh nhân. Nhưng vì sao Khổng Tử lại từng bái một đứa trẻ 7 tuổi làm thầy?

Người ta kể rằng, khi đứa trẻ này chào đời, dao kéo không cắt đứt dây rốn được, cuối cùng người mẹ lấy cỏ tranh cắt mới đứt được. Đứa trẻ này tên là Hạng Thác.

Hạng Thác từ nhỏ đã là một đứa trẻ thông minh, có tài hùng biện và là một thần đồng được nhiều người biết đến. Một hôm, Khổng Tử dẫn các đệ tử đi về phía đông để thuyết giảng, trên đường đi gặp Hạng Thác lấy cát và đất để đắp một cái thành, chặn đường đi của ông.

Khổng Tử tò mò hỏi Hạng Thác: “Cậu bé, tại sao khi nhìn thấy xe ngựa, con lại không nhường đường?”

Hạng Thác đáp: “Từ xưa đến nay, chỉ nghe nói xe phải tránh thành chứ không hề có chuyện ngược lại bao giờ.”

Khi Khổng Tử nghe câu trả lời của Hạng Thác, ông cảm thấy đây là một cậu bé đặc biệt, sau đó ông quyết định đưa ra một số câu hỏi để thử thách cậu bé.

Khổng Tử hỏi: Cậu có biết cái gì là núi mà không có đá? Cái gì là cửa mà không khóa? Cái gì là như xe mà không có bánh? Cái gì giống bò mà không sinh bê? Cái gì là ngựa mà không sinh ngựa non? Cái gì là đao mà không có khâu đao. Cái gì là lửa mà không có khói? Cái gì là cây mà không có nhánh?

Câu trả lời của bạn là gì? Hãy đọc đến cuối để tham khảo câu trả lởi của Hạng Thác!

Câu chuyện xây miếu của Lỗ Ban

Lỗ Ban, một thợ thủ công kiến trúc cổ đại nổi tiếng, đã cùng thầy học nghệ khi mới chỉ hơn 10 tuổi. Một lần, ông theo Sư phụ đến sửa chữa đền Hương Nham trong khu rừng rậm của núi Nam Sơn, khi đến đỉnh núi, bước đến trước cây cổ bách và một khóm đá khổng lồ, Sư phụ nói: “Cây cổ bách và khóm đá kì lạ này, trông thật hiếm thấy!”Lỗ Ban nói: “Nếu trên khóm đá này xây dựng một ngôi miếu, thì lại càng tốt hơn nữa”.

Sư phụ nhìn Lỗ Ban, nói: “Tốt, con có thể ở đây để tu sửa và kiến tạo nên 111 ngôi miếu!”

Nghe thấy Sư phụ nói như vậy, Lỗ Ban vô cùng sửng sốt, trong tâm nghĩ: “Ở đây có khóm đá khổng lồ như vậy, nhưng làm sao có thể dễ dàng xây nhiều chùa như vậy được?”

Mấy ngày liên tục, Lỗ Ban không nghĩ ra lời giải, trong lòng lo lắng đến mức, uống trà không thấy thơm, ăn cơm không thấy ngon.

Sau bữa sáng hôm đó, Lỗ Ban lại ngồi dưới cây cổ bách, sau đó nhìn về phía khóm đá khổng lồ. Đột nhiên ánh mắt ông trở nên sáng lên, ông vui mừng thốt lên: “111 ngôi miếu của Sư phụ có thể xây được rồi”.

Sau khi Lỗ Ban nói với Sư phụ những gì mình nghĩ, Sư phụ khen ngợi ông là người thông minh và rất sáng tạo.

Câu hỏi: Lỗ Ban đã nghĩ ra biện pháp gì?

Câu trả lời:

Đáp án cho câu hỏi thứ nhất:

Sau khi đọc bức thư, vị quan vô cùng tức giận và hét lên: “Hãy bắt và giết ông ta!”, người của vị quan chia nhau đuổi theo Hoa Đà suốt 2 tiếng đồng hồ, nhưng cuối cùng không bắt được Hoa Đà. Vì quá tức giận và lo lắng nên vị quan liên tục thở hổn hển, oán hận ngút trời, ông ho sặc sụa và phun ra một vũng máu đen.

Sau khi nôn xong, vị quan cảm thấy thoải mái hơn rất nhiều, ngày hôm sau Hoa Đà trở về, trả tiền và lễ vật cho nhà vị quan, sau đó nói với ông ta rằng: “Bệnh của ông đã được chữa khỏi rồi“. Hóa ra, đây là phương pháp mà Hoa Đà dùng để làm cho vị quan khạc ra máu, từ đó bệnh đã bình phục trở lại.

Hạng Thác nhanh trí: Khối đất là núi không có đá. Cổng của trời không có khoá. Kiệu không có bánh. Trâu không sinh bê. Ngựa gỗ không sinh ngựa non. Rìu không có khâu đao. Đèn đom đóm không bốc khói. Cây khô không có nhánh.

Đáp án cho câu hỏi thứ 2:

Hạng Thác nhanh trí: Khối đất là núi không có đá. Cổng của trời không có khoá. Kiệu không có bánh. Trâu không sinh bê. Ngựa gỗ không sinh ngựa non. Rìu không có khâu đao. Đèn đom đóm không bốc khói. Cây khô không có nhánh.

Đáp án cho câu hỏi thứ 3:

“Dưới cây bách cổ, trên khóm đá khổng lồ xây dựng nên 111 ngôi miếu” – 111 ngôi miếu mà Sư phụ nói đến, thực ra là phép chơi chữ đồng âm, ý nghĩa là: Cây bách cổ (Bách tức là là 100), 1 khóm đá (Đá tiếng Hán việt là Thạch, thạch đồng âm với thập, thập là 10) và 1 ngôi miếu.

Lan Hòa biên dịch
Nguồn: Secretchina – Kiệt Phu

Nguồn: vandieuhay.net

Thứ Hai, 1 tháng 8, 2022

BÀI HỌC CỦA CỔ NHÂN: HỌA PHÚC TỪ MIỆNG MÀ RA, KẺ ƯA NỊNH HÓT THẬT THÀ ĐỪNG MONG

 


Tục ngữ có câu: “Họa từ miệng mà ra”, cho dù là giữa bạn bè hoặc người thân, cũng không thể tùy ý nói bừa, nếu không rất có thể sẽ làm tổn thương hoặc đắc tội với người khác, dần dần mối quan hệ sẽ trở nên xa cách. Dưới đây là 4 lối nói cấm kỵ trong giao tiếp:

1. Nói lời khoe khoang

Khi nói chuyện với người khác, không thể chỉ nghĩ đến cảm xúc của cá nhân, cần phải xem xét và nghĩ đến cảm nhận của người khác, không nên quá phô trương hạnh phúc của mình trước mặt người khác.

Bởi vì hạnh phúc của bạn lại rất có thể là nỗi đau của người khác. Trong khi bạn thể hiện niềm hạnh phúc của mình, cũng có thể là lúc bạn chạm vào nỗi bất hạnh của người khác, điều này cũng tương tự với việc bạn hưởng thụ niềm vui trên nỗi thống khổ của người khác, điều này rất không tốt.

Chẳng hạn như, có người mới ly hôn hoặc gia đình bất hòa, thường xuyên xảy ra mâu thuẫn và cãi vã, nhưng vợ chồng bạn lại thể hiện tình cảm và nói những lời ngọt ngào trước mặt người khác, điều này chẳng phải đang xát muối vào vết thương lòng của người khác hay sao? Một ví dụ khác là người ta không có nhà và lo lắng về việc không mua được nhà, nhưng bạn lại khoe trước mặt họ rằng ngôi nhà của bạn tốt như thế nào, tiện nghi và sang trọng ra sao.

2. Không nói những lời thô lỗ, gây kích động

Cùng một sự việc, cùng một câu nói, nhưng cách thể hiện của mỗi người là khác nhau.

Ví dụ bạn giúp đỡ ai đó một số công việc, họ rất cảm kích và muốn nói lời cảm ơn, nhưng người nói lời thô lỗ sẽ đứng bên cạnh và nói một cách lạnh lùng: “Không cần phải cảm ơn anh ấy, chẳng qua là anh ấy cũng không có việc gì làm lúc rảnh rỗi mà thôi”.

Bạn và đám bạn đang cùng nhau đi ăn cơm, các bạn tranh nhau việc thanh toán hóa đơn, người nói lời thô lỗ sẽ lạnh lùng nói: “Cứ để cho anh ấy thanh toán đi, dù sao anh ấy cũng là người có tiền”.

Bố mẹ đau ốm, bạn tận tình chăm sóc, người khác khen bạn là người con hiếu thảo, người nói lời thô lỗ sẽ nói: “Chẳng qua anh ta bị ép buộc làm như vậy thôi, cha mẹ anh ta, anh ta không chăm sóc thì chăm sóc ai?”

3. Nói những lời chế giễu

Trong cuộc sống không phải ai lúc nào cũng thuận buồm xuôi gió, mỗi người đều có những nỗi niềm, khó khăn riêng, những lúc như vậy, chúng ta nên thông cảm, thấu hiểu và giúp đỡ lẫn nhau.

Nhưng lại có những người chỉ thích nói về những ưu điểm của bản thân và cười nhạo khuyết điểm của người khác. Ví như khi bạn thấy người khác không biết nấu ăn, bạn liền nói: “Ngay cả nấu ăn mà bạn cũng không biết“, thấy người cao tuổi không biết dùng điện thoại liền cười nhạo: “Ngay cả dùng điện thoại mà cũng không biết dùng”, thấy người khác đau ốm liền cười nhạo nói: “Đều là do bản thân tự chuốc lấy, ngay cả sức khỏe của bản thân cũng không biết giữ gìn thì có trách ai”.

Trong cuộc sống, ai cũng không tránh khỏi những thiếu sót. Thử hỏi ai trên đời là không có nhược điểm và lỗi lầm? Khi luôn cười nhạo người khác, lẽ nào bạn đã là một người hoàn hảo? Cái gì bạn cũng biết hay sao? Nếu người khác cười nhạo bạn, trong lòng bạn có cảm thấy dễ chịu không?

4. Cách nói tiêu cực

Những người luôn vui vẻ, hào phóng, lạc quan và năng động có thể mang lại cho mọi người năng lượng tích cực, có động lực để tiến về phía trước, hầu hết mọi người đều thích kết giao với những người như vậy.

Còn ngược lại, những người tiêu cực và bi quan, suốt ngày cau có mặt mày, u sầu chán nản, gặp ai cũng giống như đòi nợ vậy.

Những người như vậy khi nói chuyện, thường nói những lời tiêu cực,  mang theo năng lượng không tích cực, nào là cái này vô ích, cái kia vô ích, cảm thấy cuộc sống thật vô nghĩa và nhàm chán. Người khác nghe xong cảm thấy phản cảm, buồn phiền, vốn dĩ là tâm trạng đang rất tốt, nghe những lời tiêu cực như vậy, tâm trạng lại trở nên không tốt nữa.

Ví như, có ai đó đang giảm cân, người tiêu cực sẽ nói: “Người nhìn xấu xí như thế, giảm béo cũng vô ích”, thấy con nhà người ta học tập nỗ lực, họ sẽ nói: “Chẳng là gì cả, nếu gia thế không có điều kiện thì cố gắng đến mấy cũng vô dụng”.

Dù sao người tiêu cực luôn nói người khác làm gì cũng không đúng, làm gì cũng vô dụng, nhưng chính họ cũng không nói ra cách hữu ích để giải quyết vấn đề, họ chỉ biết đả kích, trách cứ người khác, kiểu người này khiến những người xung quanh rất khó chịu.

Người xưa nói: “Biết cách nói chuyện cũng là một nghệ thuật”, để có những mối quan hệ tốt và chất lượng, khi giao tiếp giữa người với người, chúng ta cần phải biết đặt mình vào vị trí của người khác để cảm nhận, tôn trọng đối phương, dùng những ngôn ngữ tích cực và khích lệ đối phương.

Lan Hòa biên dịch
Nguồn: Aboluowang (Vương Hòa)

Nguồn: vandieuhay.net

VÌ SAO TÍN PHẬT LẠI KHÔNG ĐƯỢC PHÙ HỘ? CÔ GÁI ĐẾN THẾ GIỚI LIÊN HOA TÌM ĐÁP ÁN!

 

Ảnh Internet

Có một số người cảm thấy người tốt trên đời không được phúc báo, người tín Phật kiền thành không được Thiên thượng phù hộ, liền nghĩ rằng “vậy còn tu luyện làm gì?”. Nhân gian vốn là tầng thứ khiến con người nhìn không thấy được chân tướng, câu chuyện này sẽ giúp mọi người giải đáp nghi ngờ.

Thời nhà Thanh, ở Ngô Giang, Giang Tô có một người tên là Khoái Lan Chu, là một cư sĩ thờ Phật tại nhà. Ngày thường, từ lúc tinh mơ ông đã thức dậy tụng “Kinh Kim Cang”, buổi tối cũng trì tụng trong điện đường xây ngay trong nhà mình, thắp một ngọn đèn lưu ly, ngồi xếp bằng trên bồ đoàn.

Nói đến sinh hoạt ngày thường của ông thì giống như một vị tăng nhân khổ hạnh, suốt hai mươi năm không hề vào phòng ngủ. Trong nhà nghiêm cấm giết chóc, chỉ phóng sinh, thức ăn từ động vật không bao giờ có trong nhà.

Trong các ngày lễ tết, ông cẩn thận chuẩn bị đậu, trái cây, rau cỏ tế tự tổ tiên, đối với người hầu, tỳ nữ thì phát cấp “tiền ăn mặn”, nhưng bảo họ tập trung ra cửa hàng bên ngoài ăn uống.

Khoái Lan Chu có đứa con gái tên là Ấu Lan, tự Tố Quyên, nhận được sự cảm hóa của cha, cũng kiền thành tín Phật, người không đeo trang sức ngọc bội, đã hai mươi tuổi rồi nhưng phát thệ không lấy chồng. Cô rất tín phụng Quan Âm Bồ Tát, mỗi ngày đều đốt hương niệm chú, trong khuê phòng khói hương vờn quanh, chẳng hề kém cạnh chùa miếu.

Khi người thân, bạn bè, hàng xóm của Khoái cư sĩ có khó khăn cần giúp đỡ, ông liền khẳng khái giúp không chút nề hà. Tuy nhiên, Khoái cư sĩ không giỏi làm ăn, cảnh nhà ngày một đi xuống.

Thời gian sau đó, quan phủ đến nhà thu tô thuế, khách đòi nợ tiền, việc nhà xoắn xuýt khiến một người đã quen với cuộc sống an dật như ông trở nên phiền não, việc bái Phật niệm kinh cũng bị ảnh hưởng lớn, đến nỗi tích chứa lo âu thành bệnh. Trên lưng ông sau đó có một vết loét lớn, thầy thuốc bó tay, trị lâu ngày cũng không khỏi, cuối cùng qua đời.

Con gái Ấu Lan gặp chuyện cha qua đời, cơ hồ đau lòng không muốn sống nữa. Họ hàng thân thích nói: “Cha con tín Phật kiền thành như thế, xưa nay hiếm thấy, nhưng Thiên thượng một chút cũng không gia hộ, Phật Tổ rốt cuộc còn linh không?

Nghe được lời này, Ấu Lan càng thêm buồn bã, đau thương. Vì thế cô đau khổ sinh bệnh, mỗi ngày chỉ uống một chén trà, một chút cơm cũng không đụng đến. Không được bao lâu, thân thể hao mòn như cây củi, tiều tụy, người hầu đều nói: “Sợ rằng tiểu thư sống không được bao lâu nữa”.

Đến một ngày nọ, Ấu Lan chật vật ngồi dậy, gọi tỳ nữ chuẩn bị nước nóng. Tỳ nữ dùng bồn tắm gỗ đựng nước, nhưng Ấu Lan lại bảo họ dùng bồn bằng đồng, còn nói: “Các người chớ để những thứ dơ bẩn chạm vào ta, sau khi ta tắm rửa sạch sẽ sẽ đích thân đến thế giới Liên Hoa diện kiến Bồ Tát”.

Ấu Lan sau khi tắm xong, liền ngồi trên bồ đoàn, hai mắt nhắm nghiền, hơi thở dần dần yếu đi. Không lâu sau, cô lại mở mắt dặn dò người nhà: “Sau khi ta chết, hãy dùng hộp bảo vệ di thể của ta, đặt trong phòng, không cần dùng quan tài, sau bảy ngày, ta sẽ hoàn dương sống lại”. Nói xong liền tắt hơi thở.

Người trong nhà theo đúng lời dặn, đặt thi thể trong phòng. Bảy ngày liên tiếp, thi thể của cô không hề bị đông cứng, sắc mặt ngược lại dần dần trở nên hồng hào, chạm vào người cô thấy vẫn còn hơi ấm.

Đến nửa đêm ngày thứ bảy, người nhà bỗng nghe âm thanh yếu ớt trong hộp, giữa bầu trời có tiếng nhạc du dương truyền đến. Mọi người đều thấy kỳ quái, hoang mang mở hộp ra, thấy Ấu Lan đã sống lại.

Cô chắp tay niệm: “Thiện tai, Thiện tai! Phật của ta không ở Tây Thiên, chỉ ở trong tâm mỗi người. Nói cho chúng sinh các người, không thể không tin địa ngục, thiện ác báo ứng, như bóng theo hình”. Mọi người khẩn thiết mong cô nói những gì tai nghe mắt thấy trong những ngày qua.

Nhân quả báo ứng, địa ngục hiển hiện

Ấu Lan liền nói những ghi chép nhân quả báo ứng mà cô nhìn thấy trong địa ngục:

Sau khi tôi chết, nhìn không thấy đường, chỉ thấy cát vàng bến mê, một mảng u tối. Thế là tôi liền mặc niệm “Diệu pháp Liên hoa kinh”, trong phút chốc ánh sáng chiếu khắp mặt đất, giống như ban ngày. Tiếp đó nhìn thấy cờ phướn (lộng che), từ từ theo đám mây giáng xuống, thẳng đến nơi gần sát mặt đất.

Tôi ở trong một khoảng hào quang chói sáng, nhìn thấy thân vàng cao khoảng một trượng sáu tấc, gương mặt hiền hòa, tươi sáng, mới biết đó là Quan Âm đại sĩ. Bèn lập tức phủ phục trên đất, thỉnh cầu cứu giúp, thoát khỏi biển khổ.

Đại sĩ nói: “Con không nên đến nơi này, mau quay về đi!”. Rồi ngài dùng cành dương lấy nước trong bình vẩy xuống khắp hạ giới, lúc vẩy lên người tôi, tôi bỗng thấy lòng nhẹ nhàng, thanh mát, bừng tỉnh.

Tôi bèn nói: “Cha con bây giờ đang ở đâu? Xin Bồ Tát cho con gặp một lần”.

Đại sĩ nói: “Cha con bây giờ đang ở tầng trời thứ hai hưởng nhận phước lành, phước đủ rồi mới thăng lên tầng trời khác. Con cần cố gắng tu thành chính quả, mới có thể gặp được cha con. Còn không, người trời cách trở mãi mãi không thể gặp nhau”. Sau khi nghe xong, tôi nghĩ mà đau lòng khóc.

Đại sĩ nói: “Đừng như vậy. Con đã đến nơi này, ta sẽ lệnh cho thị giả Chiên Đàn đưa đi tham quan địa ngục một chút, để người đời hiểu được các loại tội ác khác nhau sẽ chịu báo ứng khác nhau, nhân trước quả sau, trên đời làm việc ác, xuống địa ngục sẽ chịu tội hình, không hề bỏ sót”.

Thị giả Chiên Đàn từ trong vòng hào quang bay xuống, dẫn tôi đến Âm tào địa phủ.

Tôi được dẫn đến yết kiến Diêm La Vương, theo hầu trong điện có các quỷ tốt đầu trâu mặt ngựa, từng người đều hung dữ, giống như hình dạng mà người thế gian vẽ. Thị giả Chiên Đàn chuyển mệnh lệnh của Quan Âm đại sĩ đến Diêm La Vương. Diêm La Vương đứng lên cung kính nghe, lập tức phái quỷ tốt đi trước dẫn đường, lấy chìa khóa mở cổng địa ngục đưa cho tôi xem.

Trong mỗi tòa ngục đều có một hai người mà tôi quen. Có người họ Tiết sống ở cửa Bắc, Ngô Giang, thường ngày tinh cần niệm Phật, người trong làng đều gọi cô là “thiện nhân”, thường đến chỗ tôi khuyến mộ, nhưng bị đưa vào địa ngục băng lạnh, cái lạnh khiến khắp người run rẩy không ngừng.

Tôi bèn hỏi: “Cô ấy là người tín Phật, vì sao cũng phải chịu khổ vậy?”. Quỷ tốt nói: “Người này lòng tham vô độ, mượn danh Phật đến nơi khác hóa duyên, của cải thu được đều thu về làm lợi riêng, lại còn cho vay nặng lãi, cho nên chịu khổ nạn như vậy”.

Dẫn đến một nơi khác, nhìn thấy chị dâu góa chồng năm nay hai chân bị khóa trên ván cửa, đau đớn vô cùng. Tôi hỏi chị ấy: “Chị đến đây lúc nào? Phạm tội nghiệt gì mà chịu khổ như vậy?

Quỷ tốt trả lời thay chị ấy: “Cô ta lúc còn sống tâm ghen tuông nặng nề, không cho chồng nạp thiếp, đến nỗi nhà chồng tuyệt hâu; lại còn đối đãi tàn khốc với người hầu, đánh mắng chửi bới không việc gì không làm”.

Tôi liền nói: “Tôi nghĩ chị ấy không ăn thịt bò, mỗi khi đến nơi Phật tự đều đốt hương, vẫn không thể chuộc tội sao?”

Quỷ tốt nói: “Những việc tốt nhỏ nhặt thể hiện ra bên ngoài như thế không đủ để chuộc tội”.

Sau đó còn dẫn đến cầu Nại Hà, cầu cao khoảng mười trượng, bề mặt rộng chỉ vài tấc, không cẩn thận rơi xuống sẽ bị rắn độc dưới sông cắn. Thấy một người anh họ của tôi cũng ở trong sông, tôi thực sự cảm thấy kỳ lạ, ngày trước anh ấy còn đến nhà tôi thăm hỏi bệnh tình của tôi mà!

Lúc này, có một người hầu nói: “Anh ta hôm qua mới chết vì mắc bệnh đột ngột. Kể ra cũng là ác giả ác báo, ngày kia anh ta lấy lý do thăm bệnh, để cướp đoạt hết bảo vật tinh xảo trong phòng tiểu thư”.

Ấu Lan nói: “Còn có chuyện này, tôi ở trong địa ngục nhìn thấy dì Trương ở cửa Nam vì khó sinh mà qua đời, dì ấy cùng đứa bé đều bị dìm trong hồ máu. Tôi liền khẩn cầu thị giả Chiên Đàn cứu họ, bẩm báo dì Trương từng trong một đêm tuyết rơi lớn cứu sống hai mẹ con người ăn mày sắp chết cóng. Thị giả liền ném một đóa hoa sen về cô ấy, mẹ con cô ấy mới được lên bờ bên kia”.

Có một người phụ nữ trong đám người liền lập tức quỳ xuống khấu đầu bái lạy, nói: “Tôi chính là bảo mẫu của dì Trương ở cửa Nam. Chủ mẫu đêm qua khó sinh mà qua đời, hôm nay bỗng nhiên sống lại, nói là tiểu thư ở âm gian đã cứu bà ấy, đến nay mẹ con bình an, nên đặc biệt sai tôi đến đây khấu tạ tiểu thư trước!

Mọi người nghe Ấu Lan nói về những điều tai nghe mắt thấy ở địa ngục, ai nấy đều ngạc nhiên và xúc động. Cả đám người đều phát nguyện từ nay sửa đổi và làm việc thiện. Ấu Lan sau khi hồi phục, sống thêm ba mươi sáu năm nữa và luôn luôn kiền thành kính Phật.

Nguyệt Hòa
Theo Epochtimesviet