Thứ Sáu, 19 tháng 8, 2022

MÙA VU LAN, NGẪM LẠI QUAN NIỆM “CHA MẸ LÀ PHẬT”

 

Ảnh: Songdep

Hằng năm, cứ đến tháng 7 Âm lịch là mùa Vu Lan báo Hiếu, rất nhiều người lại cử hành những hoạt động đặc biệt để đền đáp hoặc tưởng nhớ đến ơn đức sinh thành dưỡng dục của cha mẹ. Đây vốn là điều rất có ý nghĩa, nhưng khi nhận thức về tín ngưỡng trở nên thay đổi hay méo mó, người ta có thể dễ dàng đi sang cực đoan.

Ngày nay, đã xuất hiện rất nhiều người có quan niệm cho rằng “cha mẹ là Phật”, thậm chí có người mang cha mẹ của mình để ngang hàng với Thần Phật trong các chùa,… điều này có thật sự thỏa đáng hay không?

Vu Lan là ngày lễ của Phật giáo, bắt nguồn từ câu chuyện cổ Mục Kiền Liên cứu mẹ.

Mục Kiền Liên là vị đệ tử có “thần thông đệ nhất” của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, mẹ ông là bà Thanh Đề vì tạo nhiều ác nghiệp nên sau khi chết bị đọa vào kiếp Ngạ quỷ. Mục Kiền Liên dùng thiên nhãn quan sát thấy mẹ đang chịu muôn vàn đau khổ, trong lòng thương xót, nhưng dù có tài phép siêu phàm thì một mình ông cũng không thể cứu được mẹ mình thoát khỏi khổ hình, vì vậy ông đã cầu xin Đức Phật.

Theo lời chỉ dạy của Đức Phật, vào ngày rằm tháng 7, Mục Kiền Liên tổ chức cúng dường, thỉnh mời các vị cao tăng khắp mười phương đến cùng ông cầu nguyện, phát Thiện niệm, hồi hướng công đức cho những chúng sinh đang chịu khổ hình trong ác đạo.

Nhờ vào thần lực và năng lượng từ bi thuần chính của chư tăng, rất nhiều vong linh ở cõi Ngạ quỷ đã được siêu độ, trong đó có cả mẹ của Mục Kiền Liên. Sau đó, bà sám hối sửa sai, thành tâm hướng Thiện, nên được hóa sinh về cõi Trời.

Từ đó, ngày rằm tháng 7 (Âm lịch) hằng năm trở thành ngày Vu Lan, là dịp con cái báo hiếu cho cha mẹ, và cũng gọi là dịp “xá tội vong nhân” – thường tổ chức siêu độ cho những vong linh đang chịu khổ hình trong cõi ngạ quỷ, địa ngục.

Câu chuyện Mục Kiền Liên cứu mẹ của Phật giáo có một tầng ý nghĩa nhắc nhở người làm con không được quên ơn nghĩa sinh thành của cha mẹ, tương đồng với “hiếu đạo” trong truyền thống của người Việt Nam chúng ta và với tư tưởng của Nho giáo, nên dễ dàng được tiếp thu và trở thành một nét văn hóa của nước Việt từ ngàn năm nay.

Thực tế, hễ là tôn giáo chân chính thì đều dạy người hướng Thiện, và có câu rằng “Bách Thiện, Hiếu vi tiên” (trong trăm điều Thiện, trước tiên là Hiếu), nên “hiếu” đương nhiên trở thành nền tảng của đạo đức con người. Trong các điều răn của Thiên Chúa cũng có nhắc đến việc phải “hiếu kính với ông bà cha mẹ”, cho thấy dù là văn hóa phương Đông hay phương Tây cũng đều đồng thuận về điểm này.

Tuy nhiên, ngày nay khi phát triển đến cực đoan, nhiều người đã cho rằng Phật giáo là “đạo hiếu”, điều này có lẽ đã sai khác so với nội hàm chân chính của những lời Đức Phật giảng trong kinh sách. Như trên đã nói, bất cứ chính giáo nào, dù là Nho giáo, Phật giáo, hay Thiên Chúa giáo… cũng đều giảng về “hiếu”, bởi vì đây là gốc rễ của Thiện, chứ không riêng gì Phật giáo.

Phật giáo hướng đến việc tu hành để giải thoát, trong quá trình tu hành, vì tâm từ bi mà làm điều tốt cho rất nhiều chúng sinh, chứ không chỉ riêng với cha mẹ của mình. Nghĩa là, lòng từ bi của người tu Phật, là cái tâm to lớn hướng đến vô số sinh mệnh trong lục đạo luân hồi, trong đó có cả cha mẹ, chứ không phải chỉ là những tình cảm nhỏ bé dành riêng cho cha mẹ của mình.

Mục Kiền Liên khi cùng tăng chúng siêu độ vong linh, thì không chỉ là mẹ ông, mà còn có rất nhiều chúng sinh khác ở cõi Ngạ quỷ cũng nhờ đó mà siêu thoát, gồm cả những sinh mệnh không phải là người thân hoặc người quen của ông.

Điều ông muốn là cứu độ tất cả chúng sinh mà ông đủ năng lực cứu, chứ không chỉ riêng gì mẹ ông. Không thể lầm lẫn giữa lòng từ bi của một người tu Phật đã đắc đạo như Mục Kiền Liên với cái tình thông thường của con người.

Như vậy, trọng điểm của nhà Phật là tu Thiện, từ bi với chúng sinh, chứ không hoàn toàn chỉ nhấn mạnh chữ “hiếu”. Thực chất, tư tưởng đặt nặng chữ “hiếu” và chữ “trung” là của Nho giáo. Nho giáo giảng “nhập thế”, đạo làm người, trong nhà thì hiếu kính và phụng dưỡng cha mẹ, ra ngoài thì dốc lòng trung thành với quốc gia xã tắc, phò tá minh quân,…

Còn Phật giáo giảng “xuất thế”, “xuất gia”, nên cần rũ bỏ thất tình lục dục và các tâm chấp trước của người thường. “Trung” và “hiếu” là điều đương nhiên phải làm của người thường, nhưng với người tu hành Phật giáo thì đây là chấp trước cần dần dần trừ bỏ trong quá trình tu tập, bởi nếu còn đặt nặng nó trong tâm thì không cách gì ngộ đạo và đạt được giải thoát.

Nguyên nhân không phải cái nào đúng cái nào sai, mà là người tu có Pháp lý của người tu, còn người thường có Đạo lý làm người của người thường, hai cảnh giới này không giống nhau.

Nhưng vào thời nhà Tống, hoàng đế Huy Tông từng có chính sách “cải cách” Phật giáo, ép nhiều tăng ni phải học tập “Hiếu kinh” của Nho giáo, nên mới khiến nhiều điều chân chính trong Phật giáo bị thất truyền hoặc lẫn lộn với tư tưởng Nho giáo, đến ngày nay thì không còn tìm ra nguyên nghĩa của nó nữa.

Thậm chí đã xuất hiện quan niệm cho rằng “cha và mẹ là hai vị Phật”, rất nhiều tín đồ Phật giáo cũng cho là vậy. Đương nhiêu, hiếu kính cha mẹ là không sai, hơn nữa là việc chắc chắn phải làm của một con người. Nhưng điều đó không đồng nghĩa với việc có thể đưa cha mẹ xếp ngang hàng với Thần Phật.

Phật Đà là bậc Đại Giác Giả, là người đã giác ngộ chân lý vũ trụ, có trí huệ và năng lực vượt rất xa người thường, có lòng từ bi vĩ đại bao dung tất cả chúng sinh, có thể phổ độ chúng sinh,… những bậc cha mẹ thông thường liệu có thể làm được đến mức ấy hay không?

Thuận theo việc đạo đức đang ngày càng trượt dốc, những kẻ làm điều ác trên thế gian càng ngày càng nhiều: khủng bố, phóng hỏa giết người, trộm cướp, tham nhũng,… xuất hiện khắp nơi. Những người đang hằng ngày làm ác ấy, có ai nói rằng họ không thể làm cha mẹ, có ai nói rằng họ không thể sinh con? Hễ sinh được con thì họ liền thành “Phật” hay sao? Ngay cả người rất tốt mà muốn thành Phật thì còn phải tu hành gian khổ, huống hồ những kẻ ác đó!

Tất nhiên người làm con không thể vì cha mẹ đã phạm sai lầm mà oán trách hay thù ghét cha mẹ được, hơn nữa nếu biết đó là sai thì cần ra sức khuyên ngăn cha mẹ, hoặc cố gắng giúp cha mẹ bù đắp lỗi lầm,… đó cũng là trách nhiệm của con cái, xưa nay đều nhìn nhận như vậy. Nhưng không thể vì tôn kính cha mẹ mà xem cha mẹ như là Phật được. Cha mẹ nếu không tu hành đắc đạo thì vẫn chỉ là những người thường.

Nhiều người giàu có và quyền thế, sau khi cha mẹ qua đời, thậm chí còn cử hành tang lễ cho cha mẹ một cách phô trương quá mức, sau đó gửi các chùa thờ cúng cha mẹ mình giống như thờ Phật, thờ chung một gian phòng với Phật và các vị Bồ Tát, có người còn xây tượng Phật trong nghĩa địa cạnh mộ cha mẹ, mong Phật “giữ mộ” giúp mình,…

Nếu hiểu được sự vĩ đại và uy nghiêm của Thần Phật, thì người ta sẽ minh bạch rằng đây chính là đang phỉ báng Phật. Những người quá cố kia sẽ vì hành vi này của người sống mà gánh chịu thêm biết bao nhiêu tội nghiệp? Như thế sao có thể nói là “hiếu” với cha mẹ đây?

Người ta chỉ có dốc lòng kính Phật và hướng Thiện, biểu hiện ra không phải ở việc cúng kiếng mâm cao cỗ đầy, mà là trong đời sống hằng ngày, đối xử tốt với mọi người xung quanh, ra sức làm nhiều việc thiện và trừ bỏ việc ác, giúp đỡ người gặp nạn, tha thứ cho người phạm sai lầm, nuôi dưỡng tình yêu thương và bao dung, tích thật nhiều công đức mà hồi hướng cho cha mẹ của mình. Chỉ những điều này mới thật sự là có ích cho cha mẹ.

Đức Mục Kiền Liên năm xưa cứu độ mẹ mình và vô số chúng sinh ra khỏi cõi Ngạ quỷ, cũng dựa vào uy đức và năng lượng từ bi của các vị cao tăng thập phương, dựa vào công đức đã tạo được mà hồi hướng cho người đã khuất, chứ không phải nhờ cúng bái và cầu xin mà đạt được.

Nguyệt Hòa
Theo Tinhhoa (Thế Di)

Thứ Năm, 18 tháng 8, 2022

CAO NHÂN KHÔNG LỘ TƯỚNG, HIỀN ĐỨC CHẲNG KHOE MÌNH


 Booth Tarkington (1869 – 1946), nhà văn và nhà soạn kịch "nổi đình nổi đám" trên văn đàn nước Mỹ thế kỷ 20. (Ảnh: Wikipedia)

Chuyện kể rằng một lần nhà văn Booth Tarkington được mời tới tham dự một cuộc triển lãm Văn học nghệ thuật lớn do hội Chữ thập đỏ Mỹ tổ chức với tư cách là một vị khách mời đặc biệt.

Khi đang đứng trong gian trưng bày, bỗng Booth Tarkington thấy có hai cô gái chừng 17-18 tuổi tiến lại trước mặt mình và chân thành xin ông chữ ký.

Booth Tarkington mỉm cười nhìn hai cô gái rồi nói:

– Rất xin lỗi là tôi không mang theo bút máy, vậy tôi có thể dùng bút chì để ký tên được không, thưa hai quý cô?

Booth Tarkington nói vậy chẳng qua cũng chỉ muốn tỏ ra là mình có phong thái của người nổi tiếng thôi, chứ thật ra trong bụng ông thừa biết hai cô gái sẽ không đời nào từ chối việc được ‘người nổi tiếng’ tặng chữ ký bằng bút chì. Quả nhiên hai cô đồng thanh nói:

– Dạ, tất nhiên là được ạ!

Nhìn nét mặt hân hoan vui sướng của các cô, Booth Tarkington khoan khoái và tự mãn vô cùng.

Vậy là đôi bạn lấy từ trong túi sách ra hai cuốn sổ bìa cứng có gáy mạ vàng và ríu rít trao cho Booth Tarkington.

Nhà văn lịch lãm rút bút chì, đề tặng mấy dòng khích lệ họ rồi ký tên mình vào hai cuốn sổ đầy vẻ trang trọng.

Hai "quý cô" cũng tỏ ra vô cũng dễ mến, họ lễ phép nói:

– Xin cảm ơn ngài!

Nhưng lạ thay, sau khi nhìn thấy chữ ký của Booth Tarkington, một trong hai cô gái bỗng nhíu đôi hàng chân mày chăm chú nhìn kỹ nhà văn rồi hỏi:

– Thế ra ông không phải là Robert Sherwood [1] ạ”?

Booth Tarkington nheo nheo mắt, đáp lại với một vẻ hết sức tự mãn:

– Ồ, không phải! – Tôi là Booth Tarkington, tác giả cuốn Alice Adams, hai lần đoạt giải Pulitzer.

Tức thời cô gái nọ liền quay đầu lại phía bạn mình rồi nhún vai bảo:

– Mary, cho tớ mượn cái cục tẩy của cậu một tý!

Booth Tarkington (1869 – 1946), nhà văn và nhà soạn kịch "nổi đình nổi đám" trên văn đàn nước Mỹ thế kỷ 20. Hai cuốn tiểu thuyết “The Magnificent Ambersons” và “Alice Adams” của ông từng được tặng giải thưởng Pulitzer danh giá. Mỗi lúc rảnh rỗi Booth Tarkington thường kể lại câu chuyện trên cho người thân, đồng nghiệp và bạn bè của mình nghe rồi trầm ngâm kết luận:

– Trong giây phút ấy, tất cả mọi niềm kiêu hãnh, tự phụ của tôi lập tức tan như bong bóng xà phòng. Từ đó trở đi, tôi luôn tự nhắc nhở bản thân: “Cho dù có tài giỏi đến đâu đi chăng nữa thì cũng chớ bao giờ tưởng rằng mình ghê gớm lắm”.

Đường Phong
Nguồn: dkn.tv

[1]. Robert Emmet Sherwood (1896-1995): nhà soạn kịch Mỹ 4 lần đoạt giải Pulitzer với các vở kịch Idio’s Delight (1936), Abe Lincohn in Illinois (1939), There Shall No Light (1940), và truyện tiểu sử Roosevelt and Hopkins (1949).

Thứ Ba, 16 tháng 8, 2022

TIỄN CHỊ (Thơ)

 



Kính nguyện Hương Linh  chị Nguyễn Thị Yến, Pháp danh: Tâm Oanh – Liên Hoa Tâm Oanh sớm Siêu Sinh Tịnh Độ.
 
Giã biệt thân nầy đến nẻo xa
Về nơi cõi tịnh đúng quê nhà…
Bà con trải dạ đời như đã
Cửa Phật nguyền tu kiếp dẫu đà
Giũa phận theo lề không để quá
Nương người sống đạo cũng dần qua
Còn mang tứ đại… đều hư lã
Trọn nghĩa trần gian… Đức chẳng nhoà
 
Trọn nghĩa trần gian …Đức chẳng nhoà
Nương về cửa Phật ngát đầy hoa
Gia đình phúc trọng… Đều như cả
Chuyện thế người khoan… Cũng bởi là
Nhận khắp tình thâm nào để rã
Thương cùng dạ lắng mãi còn ca…
Hương lòng khấn nguyện… Đài sen toả
Sáng rạng đường thênh ở cõi  Đà (*)
 
13/08/2022
Minh Đạo (Kính đề)
 
-----------
(*) Cõi Phật Di Đà

Thứ Hai, 15 tháng 8, 2022

MÙ PHẬT PHÁP, PHÓNG SINH THÀNH SÁT SINH

 

Ảnh: Nguyễn Đức

Nhiều người cứ nghĩ phát tâm phóng sinh là tạo được phúc lớn mà không biết rằng, phóng sinh mà không hiểu rõ nguồn gốc, ý nghĩa thì sẽ trở thành "phóng tử".

Để phóng sinh không có những giọt nước mắt

Điểm tinh túy, căn cốt nhất, là kim chỉ nam trong triết lý Đạo Phật được chính Người truyền dạy trong kinh Pháp cú (kệ 183): “Không làm các việc ác, siêng làm các việc lành, giữ tâm ý trong sạch, chính là lời Phật dạy”.

Việc ác tột cùng - theo Đạo Phật là sát sinh, việc thiện tột cùng là thương yêu muôn loài, giữ gìn, mang lại sự sống cho muôn loài.

Chính vì thế, mà những người mong muốn làm con của Phật (Phật tử) trong lễ Quy y Tam bảo (quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng) đã phát nguyện tuân theo Ngũ giới với giới thứ nhất là Không sát sinh.

Các đời sau, phóng sinh được ghi rõ trong hai bộ kinh Phật giáo Bắc Tông là Phạm Võng Bồ Tát Giới và Kim Quang Minh khiến tục lệ phóng sinh phát triển mạnh ở Trung Hoa, rồi truyền sang nhiều nước.

Các Phật tử học theo kinh Phạm Võng: “Người con Phật vì lòng từ bi mà làm việc phóng sinh và khuyên bảo người khác làm. Nếu thấy người đời sát sinh thì nên tìm cách cứu cho chúng được thoát khỏi nạn khổ”.

Đức tin của các Phật tử lại càng được củng cố khi trong kinh Kim Quang Minh ghi chép để lưu truyền lại lại những thí dụ về lòng từ bi cứu giúp chúng sinh khỏi chết.

Đạo Phật từ bi dạy Phật tử, khuyến khích Phật tử tự mình tôn trọng sự sống của muôn loài như sự sống của chính mình, phát lòng từ tâm cứu giúp mỗi khi mạng sống của mỗi chúng sinh bị đe dọa.

Khi Đạo Phật du nhập vào Việt Nam, rất nhiều điểm trong giáo lý Phật giáo phù hợp những nét đẹp trong đạo lý con dân nước Việt, văn hóa Việt Nam. Những nét đẹp được hun đúc trong ca dao như: Bầu ơi thương lấy bí cùng, Một con ngựa đau cả tàu bỏ cỏ… như là những biểu hiện rõ ràng của triết lý từ bi trong Đạo Phật.

Tín ngưỡng Đạo Phật - trong đó có tục lệ phóng sinh - hòa quyện với đạo đức người Việt khiến nhiều nghi lễ Phật giáo cũng được lan tỏa và gần gũi với văn hóa Việt Nam và đã được lưu truyền hàng ngàn năm.

Tuy nhiên, bên cạnh Từ bi, Đạo Phật cũng là đạo của Trí tuệ. Chính vì thế, không hiểu được tầng sâu trong triết lý Phật giáo cũng như văn hóa Việt Nam những phong tục tốt đẹp sẽ bị biến thành hủ tục. Tục lệ phóng sinh tốt đẹp sẽ dần trở thành hủ tục, để phóng sinh không còn những giọt nước mắt rơi.

Lúc còn sống, Đức Phật dạy: “Ai tin Ta mà không hiểu Ta tức phỉ báng Ta”. Chúng ta tin lời Phật dạy phóng sinh là việc thiện xuất phát từ lòng từ bi là việc nên làm vì thế đã làm hàng ngàn năm nay và đến nay vẫn làm.

Nhưng vì sao phóng sinh đang bị người đời phê phán, đang dần bị biến thành hủ tục? Đó là do chúng ta không hiểu giáo lý của Phật, tham lam dẫn đến tà kiến nghĩ rằng mình làm phúc để cầu danh tài, lợi lộc. Cứ tham dục như thế mà thành vô minh, càng vô minh lại càng tham dục.

Hãy tự quán chiếu:

Có phải hôm trước ra chợ đặt hàng để hôm sau phóng sinh thì chính chúng ta đã phạm giới không sát sinh là bảo người khác giết? Cụ thể: Khi ta đặt hàng đã khơi gợi lòng tham của người săn bắt, kẻ bán buôn dẫn đến những sinh vật đang sống an lành bỗng trở thành tù binh của kẻ mù Phật pháp.

Khi ta phóng sinh các con vật đều đã bị bắt nhốt, kinh sợ, đói ăn nên khi thả sẽ không còn đủ sức để sống. Những con cá được người đời đứng trên cầu cao cả chục mét khi vừa thả xuống sông đã ngửa bụng từ giã cõi đời.

Lại có những chú chim bị nhốt lâu trong lồng khi tung lên để trả chúng về với tự do không còn sức bay bỗng rơi bịch xuống, hay gắng gượng đập cánh rồi không thể bay xa cũng lìa dương thế…

Thương thay, việc phóng sinh như thế khác gì phóng tử!

Việc làm như thế là do tham cầu lợi ích ích kỷ cho mình mà làm. Nó không phải xuất phát từ lòng từ bi như lời Đức Phật dạy. Những việc làm như thế tưởng là lợi cho mình, nhưng thực ra mang lại nghiệp xấu theo luật nhân quả.

Nó cũng không phải là việc thiện! Vì việc phóng sinh là đem lại sự sống cho những con vật vô tình bị bắt giữ, đương nhiên sẽ bị giết hại và việc phóng sinh phải chắc chắn mang lại sự sống cho chúng.

Những hành động khuyến khích săn bắt, cầm tù rồi mới thả chim muông, tôm cá đi chỉ là những hành động đạo đức giả xuất phát từ tham dục, vô minh tà kiến.

Hãy tin vào chính mình, hãy soi mình vào lời dạy của Đức Phật là “không làm việc ác, siêng làm việc lành, giữ tâm ý trong sạch” trước mỗi việc làm để phân biệt thiện ác, để hiểu rõ việc gì nên làm việc gì không nên làm.

Hiểu việc thiện là việc mình thích thì cố công làm cho người, hiểu việc ác là việc mình không thích thì đừng hành xử với người, giữ tâm ý trong sạch là luôn nghĩ đến hạnh phúc của người khác, vì hạnh phúc của người khác mà làm thì mỗi chúng ta sẽ tốt đẹp hơn, xã hội sẽ tốt đẹp hơn.

Tin Phật thì phải hiểu Phật qua cuộc đời của Phật, muốn học theo Phật thì lại càng phải hiểu Phật qua giáo lý của Phật, như vậy mới tránh khỏi phỉ báng Đức Phật, phỉ báng Đạo Phật. Và, cũng qua đó giữ được đạo đức của người Việt, văn hóa Việt Nam.

DIỆU NHÃ
Nguồn: /vtc.vn

Chủ Nhật, 14 tháng 8, 2022

HÔN NHÂN GIỐNG NHƯ MỘT BỮA TIỆC: TÌNH YÊU LÀ MÓN CHÍNH; BAO DUNG VÀ THẤU HIỂU CHÍNH LÀ HƯƠNG VỊ THƠM NGON

 


Sống ở đời, ai ai cũng khát vọng có được một người bạn đời lý tưởng, có thể cùng mình “đồng cam cộng khổ”, vượt qua mọi trắc trở, chông gai. 

Có được một gia đình ấm áp và hòa ái, một cuộc hôn nhân bền chặt và mỹ mãn, chúng ta mới có thể hạnh phúc trọn vẹn. 

Sống cùng “nửa kia” yêu thương, mỗi ngày đều cảm thấy hạnh phúc khi nhìn con cái trưởng thành, có những người bạn thân cùng chung chí hướng, cuộc sống như vậy ai mà không mong nghĩ?

Thế nào là vợ chồng?

Người xưa có câu: “Tu trăm năm mới đi chung thuyền, tu nghìn năm mới nên duyên vợ chồng”, vợ chồng với nhau cũng giống như hai cái chân, nếu muốn đứng vững và muốn tiến xa, thì không ai được rời xa ai, nhất định phải đồng hành, hòa thuận và bổ trợ lẫn nhau.

Là một đôi chân, tại sao cái chân này lại phàn nàn, oán trách cái chân kia? Nếu có một cặp vợ chồng nói rằng, họ đã kết hôn hàng chục năm trời mà không có mâu thuẫn, khác biệt, vậy thì có thể nói rằng, ít nhất một trong hai người đối với gia đình thì không có trách nhiệm, không có sự quan tâm cho đối phương.

Bởi vì hôn nhân là một “cuộc phiền não” rất dễ chịu. Yêu thương một đời, tranh luận một đời, nhẫn nại một đời,… một cuộc hôn nhân có “đắng, cay, ngọt, bùi”,… đó mới chính là vợ chồng.

Thế nào là gia đình?

Gia đình là tổ ấm mà vợ chồng cùng nhau “điều hành”, thêu dệt nên bao ước mơ đắng cay ngọt bùi.

Gia đình là một phần gánh vác, một phần trách nhiệm, gia đình là nơi các thành viên đối xử chân thành với nhau, gia đình là nơi chứng kiến hành trình chúng ta sinh ra, lớn lên, trưởng thành và già đi.

Nhà chính là toàn bộ những cảm xúc khi chúng ta ở bên gia đình: Là hạnh phúc, là đắng cay, là ngọt bùi, là biết ơn, là lo lắng, quan tâm,…

Gia đình không phải là nơi để giảng đạo lý, nếu mọi người trong gia đình không nhường nhịn, nghĩ cho nhau, thì gia đình đó sẽ không có ngày nào yên ổn.

Thế nào là hôn nhân?

Hôn nhân giống như một bữa tiệc. Tình yêu là thực phẩm chính. Bao dung, thấu hiểu, tin tưởng và tôn trọng là các loại gia vị. Biết ơn, hài hước và vui vẻ là rượu và đồ uống.

Một bữa tiệc hoàn hảo phải bao gồm món chính, các món phụ và đồ uống, cũng giống như một cuộc hôn nhân: Có tình yêu, có sự bao dung, thấu hiểu, tin tưởng, tôn trọng, biết ơn,… có như vậy, hạnh phúc mới thực sự là viên mãn.

Hy vọng mọi người có thể ăn uống thoải mái, tận hưởng vị ngon của bữa tiệc cũng như trân quý hôn nhân của chính mình, cho đến những giây phút cuối của cuộc đời.

Thế nào là hạnh phúc?

Có một ngôi nhà để về, đó chính là hạnh phúc.

Gia đình là nơi thoải mái và an nhiên, mang đến cho chúng ta cảm giác tự tại, thong dong và thư thái. 

Buồn, trở về nhà, vui cũng trở về nhà. 

Đau, trở về nhà, khỏe mạnh cũng trở về nhà. 

Thành công, trở về nhà, thất bại cũng trở về nhà.

Về nhà, bạn có thể hoàn toàn cởi mở và thoải mái, có thể hoàn toàn có được sự tin tưởng, bạn cũng có thể nhận được sự yêu thương và thấu hiểu,…

Có gia đình bên cạnh, chúng ta sẽ cảm thấy đủ đầy và hài lòng.

Có một nửa kia bên cạnh, sẵn sàng chia sẻ ngọt bùi, đó chính là hạnh phúc.

Trên đường đời có nhiều phiền não, trên chặng đường chông gai có người có thể đồng hành cùng mình vượt qua mưa gió, dìu dắt và nâng đỡ lẫn nhau, cùng nhau tạo dựng nên tổ ấm gia đình ấm áp, cho đến khi già đi, vẫn có người tương trợ lẫn nhau. Đó chính là cái mà người ta hay gọi là “Sống chết cùng nhau, vượt qua gian khổ”. 

Con cái là lộc Trời cho, đó cũng chính là hạnh phúc mà tạo hóa ban cho.

Con cái là hậu duệ nối tiếp cuộc đời chúng ta, mỗi ngày bạn đều nhìn thấy con trưởng thành và lớn khôn, từng đời từng đời nối tiếp, bạn có thể nói đó không phải là niềm hạnh phúc sao?

Có những người bạn đồng hành, đó chính là hạnh phúc.

Có bạn bè, vui vẻ sẽ có người chia sẻ, đau khổ có người an ủi, đau khổ có người lắng nghe,…

Bất kể là xa hay gần, chỉ cần nhớ rằng, cuộc đời mình có vài người luôn yêu thương, quan tâm và nhớ đến mình, thì hạnh phúc không đâu là không tồn tại.

Lan Hoà biên dịch
Nguồn: Sound Of Hope 

NHƯ LAI (thơ)



 
Sen vàng tháp cổ quyện trầm hương
Thị hiện Như Lai giữa nẻo thường
Cõi mộng nhân gian Thầy xua lối (*)
Cơ duyên chánh đạo pháp soi đường
Triêm ân chỉ hướng nguyền xin tỏ
Rõ lý qui nguồn xả hết vương
Bát Nhã đèn thiền luôn sáng rạng 
Mê lầm hóa giải thoát tai ương.
 
Tai ương hoạn nạn bởi tâm mờ 
Buộc mãi u sầu lại rối tơ
Vạn kiếp trầm luân ai hiểu được
Ngàn thu lưỡng lự kẻ còn chờ
Tìm Thầy sám lỗi nương về đạo (*)
Rõ lý cầu chân để đến bờ…
Cõi thế làm người đâu phải dễ
Cơ duyên pháp dẫn… biết bao giờ!

2018
Minh Đạo 
------------- 
(*) Deva manuyānā śāst :
Thiên Nhân Sư, là bậc thầy của cõi người và cõi trời.

Thứ Bảy, 13 tháng 8, 2022

“BẦN” CHỈ LÀ NGHÈO, NHƯNG “CÙNG” MỚI THỰC LÀ KHẢO NGHIỆM Ý CHÍ NGƯỜI QUÂN TỬ

 

Ảnh: Pinterest

Trong ngôn ngữ hiện đại, hai chữ “bần cùng” thường gắn liền với nhau. “Bần” và “cùng” đều có nghĩa là nghèo, nhưng hàm nghĩa lại không như nhau. Bần không đáng sợ, nhưng “cùng” mới thực sự là khảo nghiệm nhân tâm. Vì sao nói như vậy?

Trước hết, nên hiểu thế nào là “bần”?

Chữ “Bần” (貧) gồm hai chữ ghép thành, phía trên là “Bối” (貝), phía dưới là “Phân” (分).

Thời cổ đại, người ta dùng vỏ sò làm phương tiện trao đổi hàng hóa, gọi là bối tệ. Do đó chữ “Bối” (貝 – vỏ sò) đại biểu cho tài phú, hầu hết những chữ có bộ Bối đều có liên quan đến tiền, như “Tài” (財 – tiền tài), “Quý” (貴 – phú quý), “Tiện” (賤 – rẻ), “Quý” (貴 – đắt), “Bồi” (賠 – lỗ), “Trám” (賺 – lãi), v.v. Còn chữ “Phân” (分 – phân chia) vừa biểu ý lại vừa biểu âm, hợp lại thì nhiều mà phân ra thì ít. Kết hợp cả “Bối” và “Phân” tạo thành chữ “Bần” (貧), mang ý nghĩa ít tiền, thiếu tiền.

Cổ nhân nhìn nhận rằng thanh bần không đáng ngại, nghèo mà trong sạch thì đâu có gì đáng lo? Khổng Tử lo Đạo chứ không lo bần, Nhan Hồi tuy thân ở nhà hẹp, sống trong ngõ hẻm, ăn cơm thô canh nhạt, người khác có thể không chịu được nhưng Nhan Hồi thì vẫn phơi phới niềm vui.

Ngược lại, đại phú đại quý mà không tu dưỡng đức hạnh thì sẽ chiêu mời tai họa. Có câu chuyện kể rằng, vào thời Tây Tấn có một người vô cùng xa hoa giàu có tên là Thạch Sùng. Thạch Sùng sở hữu rất nhiều lầu các nguy nga, bên trong giăng toàn lụa là gấm vóc, có thể nói là vinh hoa phú quý bậc nhất trong thiên hạ. Ấy vậy nhưng Thạch Sùng vẫn luôn tranh giành với người khác, vì tiền mà chiêu mời tai họa, kết quả khiến toàn gia bị hại, bản thân ông cũng phải bỏ mạng trên pháp trường.

“Quốc Ngữ – Tấn Ngữ” viết: “Nhược bất ưu đức chi bất kiến, nhi hoạn hóa chi bất túc, tương điếu bất hạ”. Nghĩa là: Nếu như không lo tu dưỡng đức hạnh mà chỉ sầu não vì tài sản không đủ, vậy mới thực sự khiến người ta bi ai.

Vậy thì, nên đối diện thế nào khi sống trong thanh bần và phú quý?

Tử Cống là người giàu có nhất trong các học trò của Khổng Tử, được mệnh danh là ‘Nho thương thủy tổ’. Mặc dù gia cảnh tài phú, nhưng Tử Cống lại trăn trở về cảnh giàu và nghèo trong đời người. Trong “Luận Ngữ – Học nhi đệ thập ngũ”, Tử Cống hỏi: “Nghèo mà không siểm nịnh, giàu mà không kiêu ngạo, như vậy thì sao?”. Khổng Tử đáp: “Như thế cũng được, nhưng vẫn không bằng nghèo mà sống hạnh phúc vui vẻ, giàu mà sống có yêu thích lễ”.

Khổng Tử dạy học trò theo nguyên tắc “nhân tài thi giáo” (theo tài năng của từng người mà dạy). Trước câu hỏi của Tử Cống, ông biểu thị sự tán thành và đồng thời nói rõ quan điểm của mình: làm được như vậy là tốt nhưng vẫn chưa đạt đến cảnh giới cao thâm.

Khổng Tử cho rằng, thái độ đối đãi với giàu và nghèo nên là: “Tuy bần cùng khước lạc ư đạo, tuy phú hữu khước khiêm tốn hiếu lễ” (Tuy bần cùng nhưng vui với Đạo, tuy phú quý nhưng khiêm tốn hiếu lễ).

Thế nào là “Cùng”?

Nếu như “bần” chỉ là nghèo về vật chất thì “cùng” lại không chỉ là thiếu thốn về tiền tài, mà còn là chịu đựng nỗi thống khổ về mặt tinh thần.

“Thuyết văn giải tự” viết: “Cùng, cực dã, tòng huyệt cung thanh”.

“Cùng” là chữ hình thanh hội ý, bên trên là chữ “Huyệt” (穴), bên dưới là chữ “Cung” (躬). Về chữ “Huyệt”, hầu hết những từ có bộ “Huyệt” đều có quan hệ với lỗ hổng, lỗ thủng, ví dụ như “Không” (空 – trống rỗng), “Diêu” (窯 – lò nung), “Đột” (突 – xuyên qua, chọc thủng), “Oa” (窩 – lỗ, lõm, lúm), v.v. Còn chữ “Cung” (躬) là chỉ thân thể. Thân nằm dưới huyệt, bị giam hãm trong không gian chật hẹp, không thể vươn duỗi cũng không thể tự do cử động, khiến bản thân rơi vào trạng thái vô cùng túng quẫn, khốn khó.

Do đó, chữ “Cùng” (窮) ngoài ý nghĩa là cuối cùng, tận cùng, ví dụ như “lý khuất từ cùng” (cạn lời đuối lý), “cùng đồ mạt lộ” (đến bước đường cùng), “kiềm lư kỹ cùng” (tài cùng lực kiệt), “cùng hung cực ác” (tà ác cùng cực), v.v. thì còn có ý là nghèo túng, thiếu thốn. Nhưng đó không chỉ là nghèo đơn thuần, mà là nghèo đến cực điểm, hoàn toàn không có gì cả. Trong “Tuân Tử – Đại lược”, Tuân Tử nói: “Người có nhiều thì phú, người có ít thì bần, người không có gì thì cùng”.

So với “bần”, “cùng” là thể hiện cảnh ngộ khốn ách, có chí nhưng bất thành, chứ không chỉ là nghèo về vật chất tiền tài. Nhân thế ngả nghiêng, nhân sinh chìm nổi, mọi việc trong đời đều nằm ngoài tay với, khi đối mặt với những thuận nghịch trong đời, mỗi người lại có cách nhìn nhận và thái độ khác nhau.

Bậc quân tử đối đãi với bần cùng

Khổng Tử chu du liệt quốc, có lúc ông gặp phải kẻ đương quyền khinh miệt, bị hiểu lầm và bị nhạo báng, lại có lúc gặp phải khốn khó, chịu đói khát nhiều ngày trời. Ban đầu Khổng Tử đến nước Vệ, Vệ Linh Công nghi ngờ ông là gian tế nên đã sai người giám sát.

Sau đó Khổng Tử đến nước Tống, đại phu nước Tống đố kỵ tài năng của ông nên lập kế hãm hại. Khi đến nước Trần thì hết sạch lương thực, những đệ tử đi theo ông đều ốm đói đến mức không thể dậy được.

Tử Lộ chứng kiến cảnh ấy thì vô cùng bi thương, bèn nói với Khổng Tử: “Quân tử cũng có lúc túng quẫn đến mức không còn biện pháp nào sao?”.

Khổng Tử đáp: “Người quân tử khi khốn cùng vẫn vững lòng giữ tiết tháo chí hướng, nhưng kẻ tiểu nhân khốn cùng thì phóng túng, làm càn”.

Tuy quân tử cũng có lúc hết đường xoay xở, nhưng điểm khác biệt giữa quân tử và tiểu nhân là: Quân tử khi khốn cùng vẫn có thể kiên trì chính Đạo, còn tiểu nhân gặp lúc nguy nan sẽ dám tùy tiện làm xằng.

Mạnh Tử cũng cho rằng: “Cùng bất thất nghĩa, đạt bất ly đạo” (bần cùng nhưng không thất nghĩa, hiển đạt nhưng không xa rời Đạo), và: “Cùng tắc độc thiện kỳ thân, đạt tắc kiêm tể thiên hạ“ (Bần cùng thì lo tu dưỡng đạo đức bản thân, thành đạt thì tạo phúc cho thiên hạ).

Khuất Nguyên khi đối mặt với hiện thực nghiệt ngã, không cách nào xoay xở, ông đã lựa chọn giữ gìn danh tiết, ngọc nát hơn ngói lành. Trong “Cửu chương – Thiệp giang”, ông viết: “Ngô bất năng biến tâm nhi tòng tục hề, cố tương sầu khổ nhi chung cùng”. Nghĩa là: Ta không thể thay đổi lòng mà theo thế tục, ta đành trọn đời mà ôm sầu. Ông không thay đổi chí hướng, không thuận sóng theo dòng, thà rằng sầu khổ mà suốt đời bất đắc chí.

Cảnh ngộ càng cùng quẫn gian nan, tâm chí càng phải kiên cường. Trong “Đằng vương các tự”, Vương Bột đã để lại những câu thơ đầy cảm hứng:

“Lão đương ích tráng, ninh tri bạch thủ chi tâm?
Cùng thả ích kiên, bất truỵ thanh vân chi chí”.

Dịch thơ: (bản dịch của Mai Lăng)

(Phải mạnh lên lúc đà có tuổi. Nên hiểu lòng cho lão tóc sương. Lúc cùng càng phải kiên cường. Không nên làm lỡ bước đường mây xanh).

“Chu Dịch – Hệ Từ” viết: “Cùng tắc biến, biến tắc thông, thông tắc cửu”, nghĩa là: Sự vật phát triển tới cực điểm, khi cùng tận thì tất phải biến hóa, sau khi biến hóa liền thông đạt, nhờ thông đạt mà được trường cửu, dài lâu.

Sự vật phát triển đến cực điểm sẽ phát sinh biến hóa, gọi là “vật cực tất phản”, “bĩ cực thái lai”. Cho dù bần cũng vậy, cùng cũng vậy, cho dù đã đến nơi sơn cùng thủy tận tưởng chừng như không còn đường đi, thì chỉ cần giữ được cái tâm ban đầu, kiên trì theo chính Đạo, thì sẽ phát hiện phía trước là bầu trời, ngày mai sẽ là một ngày tươi sáng.

Nguyệt Hòa
Theo NTDVN

Thứ Sáu, 12 tháng 8, 2022

CHUYỆN VỚI TÁCH TRÀ (Thơ)

 



  
Rạng sáng ngồi vui với tách trà
Bao điều đắng ngọt chuyện cùng ta
Hương tràn đọng thấm quanh thềm cỏ
Khói tỏa quen đùa khắp nhánh hoa
Mấy khoảng xuân sang nào chậm lại
Nhiêu lần hạ đến vẫn đều qua
Thời yên,vạn vật luôn bình thản
Khổ mãi con người… cứ thở ra….
 
Đối hoạ:
 
Canh đêm sắp dứt bạn chung trà
Đắng ngọt thơm lừng quyện lấy ta
Gió thoảng sương mờ vin ngọn nến
Hương thầm vị chát đọng thềm hoa
Đong đưa nẻo phận nay còn lại
Gặp gỡ đường trần hẳn chóng qua
Tuổi hạc ai quên lần quá khứ
Yên bình chẳng được bởi lo ra…


Minh Đạo

HẠNH PHÚC GIẢN ĐƠN LÀ KHI: CÓ NHÀ ĐỂ VỀ, CÓ CƠM ĐỂ ĂN VÀ CÓ MỘT TÂM HỒN THANH TỊNH!

 


Thời còn trẻ, chúng ta luôn cho rằng: Một cuộc sống lý tưởng chính là theo đuổi một cuộc sống khá giả, ngày còn son sắt, chúng ta truy cầu nhà to cửa rộng, ôm giấc mộng xe xịn giàu sang, hay một sự nghiệp khiến người khác phải ngước nhìn ngưỡng mộ.

Những người thông minh đều hiểu rằng: Con người một khi rơi vào vòng xoáy của dục vọng, quá truy cầu vật chất, cơ thể sẽ rất mệt mỏi, tâm hồn cũng ngày càng trở nên héo úa. 

Sống trên đời, giảm đi một chút dục vọng, học cách ‘biết đủ thường vui’, trân trọng những gì mình đang có, cuộc sống mới có thể trở nên ung dung, tự tại.

Một gia đình hạnh phúc, đó chính là sự nghiệp lớn nhất của đời người

Lâm Ngữ Đường đã từng nói: Một cuộc sống gia đình lý tưởng, chính là có một người vợ dịu dàng, ăn nói nhỏ nhẹ, và một vài đứa con đáng yêu có thể cùng anh chạy dưới bầu trời đầy mưa.

Sau này, ông đã dùng trọn tình yêu của cuộc đời, biến lý tưởng sống đó thành sự thật. Sau khi kết hôn, ngoài việc viết lách ra, hầu hết toàn bộ thời gian ông đều dành cho gia đình.

Lâm Ngữ Đường thường dùng đất sét và ngọn nến để làm đồ chơi thật đẹp cho lũ trẻ. Mỗi khi có thời gian rảnh, ông sẽ cùng các con thổi bong bóng, cùng chúng nô đùa.

Khi gia đình gặp khó khăn về tài chính, ông cùng vợ san sẻ ngọt bùi, đắng cay, chia nhau từng đồng tiền để sinh hoạt. Sau khi cuộc sống dần ổn định, họ cùng nhau hưởng thụ cuộc sống tươi đẹp.

Hai vợ chồng có lúc cũng xảy ra mâu thuẫn, nhưng mỗi lần như vậy, Lâm Ngữ Đường sẽ luôn là người chủ động làm hòa, khiến vợ cười vui.

Kỉ niệm ngày cưới, ông đã đặc biệt đúc một chiếc trâm cài có tên là: “Kim Ngọc Duyên”, trên đó có khắc bài thơ “Lão tình nhân” của Moss Whitcan Lilai và dành tặng riêng cho vợ.

Càng trưởng thành, chúng ta sẽ phát hiện ra, gia đình mới chính là sự nghiệp quan trọng nhất của đời người. Mức độ dụng tâm đối với gia đình, sẽ quyết định mức độ hạnh phúc của mỗi người chúng ta.

Tiền tài, giàu có nhiều đến mấy cũng không sánh được một mái ấm hòa thuận, hay tiếng cười của con trẻ. Danh tiếng, sự nghiệp lẫy lừng đến đâu cũng không sánh được một gia đình hạnh phúc!

Biết đủ thường vui

Có một câu nói rất hay: “Biết đủ chính là báu vật quý giá của tự nhiên, dục vọng chính là sự nghèo khổ của kiếp làm người”.

Nếu bạn cảm thấy hài lòng với những gì mình đang có, vậy thì niềm vui mà cảm giác hài lòng đó mang lại sẽ là bảo vật vô giá!

Hồ Cửu Thiều, là người Kim Khê, triều đại nhà Minh. Ông là một giáo viên chăm chỉ dạy học, mặc dù cuộc sống không mấy khá giả nhưng hàng ngày vẫn có thể lo được cơm ngon, áo ấm.

Mỗi ngày, lúc chạng vạng tối, Hồ Cửu Thiều đều ra tận cửa thắp hương cảm tạ Trời đất, cảm ơn ông Trời đã ban cho ông một ngày tươi đẹp, tốt lành.

Người vợ nhìn thấy vậy, bèn nói: “Chúng ta một ngày ăn ba bận cháo, làm sao có thể nói là có phúc đây?”

Hồ Cửu Thiều nói: “Đầu tiên, ta cảm thấy may mắn khi sinh ra trong thời Thái bình thịnh thế, không có chiến tranh họa loạn. Chúng ta cũng may mắn vì cả nhà đều có cơm ăn, áo mặc, không phải chết đói, chết khát. Điều may mắn thứ ba là trong nhà không có ai nằm bệnh trên giường, điều đó không phải may mắn, phúc phận là gì?

Cổ nhân có câu: Dục vọng ít thì tâm thanh tịnh, tâm thanh tịnh thì mọi chuyện ắt giản đơn. Có một trái tim biết đủ, bạn sẽ càng cảm thấy vui vẻ. Người biết đủ, không có nhiều ham muốn dục vọng, đó mới chính là người thực sự giàu có. 

Một tâm hồn thong dong tự tại, đó mới là niềm vui lớn nhất

Schopenhauer đã từng nói: “Nhu cầu của một người đối với vật chất bên ngoài càng thấp, thì yêu cầu của họ đối với nội tâm sẽ ngày càng cao. Một người cả đời chỉ sống trong thế giới vật chất xa hoa, sẽ phải chịu nhiều vất vả, phiền não, tâm trống rỗng, hư không”.

Khi chúng ta không truy cầu, không đặt quá nhiều kì vọng vào sự theo đuổi vật chất, thì trong tâm sẽ luôn giữ được một tâm thái bình hòa, thư thái, sẽ dễ có được sự thăng hoa trong tâm hồn.

Gia Cát Lượng trong “Giới Tử Thư” đã viết: “Giữ tĩnh lặng để tu thân, cần kiệm để dung dưỡng đức độ”, đạm bạc và bình an, là một cảnh giới rộng lượng, đạm nhiên, trưởng thành và bao dung, cũng là một cảnh giới của tâm hồn thanh cao.

“Nhún nhường” không phải là chịu thiệt, thua kém hoặc không có ý chí tiến thủ, mà là không so bì, cạnh tranh, không ham muốn quá nhiều. Làm được như vậy, ắt sẽ đạt được mọi thành công trong cuộc sống!

Lan Hòa biên dịch
Nguồn: Aboluowang – Vương Hòa

Thứ Năm, 11 tháng 8, 2022

ĐỨC PHẬT GIẢNG: TƯƠNG LAI PHẬT GIÁO SẼ XUẤT HIỆN RẤT NHIỀU “TẶC TRÚ”

 

Ảnh: Dân Việt

Lúc Phật Thích Ca Mâu Ni tại thế đã từng dự ngôn với các đệ tử về việc Phật giáo sẽ xuất hiện bại hoại trong tương lai. Nhìn lại tình huống thực tế hiện nay, chúng ta không khỏi giật mình trước những gì đang diễn ra.

Trong thời đại của Phật Thích Ca Mâu Ni, Phật giáo mà ông truyền càng ngày càng hưng thịnh, người theo học ngày càng nhiều, nhưng trong số họ không phải ai cũng thật tâm đến để tu luyện.

Lúc ấy đã xảy ra một chuyện, có một người vì gia tộc bị phá sản, không thể tự mưu sinh, cảm thấy việc lao động để nuôi sống bản thân là quá cực khổ. Người này thấy những người xuất gia hằng ngày đều có người cấp dưỡng, nên liền muốn xuất gia để không phải lo lắng vấn đề cơm ăn áo mặc.

Vì vậy, người này đã tự cạo trọc đầu, mặc tăng y, tay bưng bát, miệng nói mình là đệ tử nhà Phật đi các nơi xin ăn. Khi những tăng nhân khác gặp người này, thấy rằng một chút Phật Pháp cũng không biết, nghi ngờ người này có vấn đề nên về nói cho Ưu Ba Ly (một trong 10 đại đệ tử của Thích Ca Mâu Ni được biết đến là “trì giới đệ nhất”) biết.

Nghe xong, Ưu Ba Ly đã đích thân tìm đến gặp và hỏi thăm, không thể gạt được Ưu Ba Ly, người này đành phải thừa nhận mình là vì kiếm miếng cơm ăn nên mới làm như vậy.

Sau đó, mọi người kể lại chuyện này cho Phật Thích Ca Mâu Ni. Đức Phật liền nói với các đệ tử, đây gọi là “tặc trú”, là nhập môn nhưng không thụ giới, không phải là tu luyện đích thực, tương lai Phật giáo sẽ xuất hiện rất nhiều loại người này, họ chính là những người phá hoại Phật giáo.

“Kinh Pháp diệt tận” là bộ sách kinh điển của nhà Phật, theo tính toán của tiền nhân thì nó được dịch từ thời Lưu Tống (420 – 479). Nội dung của bộ sách là những dự đoán của Phật Đà về quá trình tiêu vong của Phật giáo, cũng chính là nói về thời mạt pháp khiến nhiều hiện tượng dị thường xuất hiện.

<Kinh Pháp diệt tận> viết: “Tự cung vu hậu bất tu đạo đức, tự miếu không hoang, vô phục tu lý, chuyển tựu hủy hoại. Đãn tham tài vật, tích tụ bất tán, bất tác phúc đức; phán mại nô tì, canh điền xung thực, phần hủy sơn lâm, thương hại chúng sinh, vô hữu từ tâm; nô vi tì khưu, tì vi tì khưu ni, vô hữu đạo đức, dâm điệt trọc loạn, nam nữ bất biệt. Lệnh đạo bạc đạm, giai do tư bối; hoặc tị huyện quan, y ỷ ngô đạo, cầu tác sa môn, bất tu giới luật, nguyệt bán nguyệt tận, tuy danh tụng giới, yếm quyện giải đãi, bất dục thính văn, sao lược tiền hậu, thiết hữu đậu giả, bất thức tự câu, vi cường ngôn thị, bất tư minh giả, cống cao cầu danh, hư hiển nha bộ, dĩ vi vinh ký, vọng nhân cung dưỡng”.

Giải thích: Phật giáo thời tận diệt, sư sãi sau khi tạo nghiệp vẫn không dùng tâm tu đạo đức, chùa chiền thành nơi của con buôn, thậm chí hoang phế mà không ai thèm tu chỉnh, cuối cùng bị hủy hoại hết.

Chúng sinh chỉ tham tiền tài vật chất, tích lũy để giàu có, không tu cho có phúc đức chân chính. Có kẻ còn quá quắt buôn bán nô tì, bắt nô tì cày ruộng trồng trọt, tích lũy để giàu có. Ngoài ra còn đốt hủy rừng, làm tổn hại sinh mạng súc vật, không còn một chút thiện tính từ bi.

Đến thời đại này, chúng sinh trở thành nô lệ cho đồng tiền hoặc danh lợi lại xuống tóc đi tu trở thành sư hoặc ni cô, không những vô đạo đức mà còn dâm dục phóng túng, hành vi hỗn loạn bẩn thỉu, tăng nhân nam nữ chung sống với nhau, không còn băn khoăn về lễ độ luật pháp. Chính đạo suy yếu đều vì đám sư sãi ma quỷ này.

Có kẻ vì trốn quan trường truy xét mới nương nhờ cửa Phật, cầu nơi dung thân, họ trở thành thầy tu nhưng không thể giữ được giới luật, tuy bề ngoài vẫn tụng niệm giới luật nhưng trong lòng chán ngán, buông thả, cơ bản là không muốn nghe Phật Pháp, hoặc lược bớt nội dung, không dám nói hết.

Thêm nữa không thể học thuộc kinh điển, cho dù thỉnh thoảng có người đọc được nhưng lại không thể hiểu chữ nghĩa và câu cú, người béo phệ mặt to phù, vì nói mình thông hiểu kinh sách mà không đi tham khảo ý kiến người minh trí, tự cao tự đại, ham danh tiếng mà làm ra những trò hư ngụy, cố ra vẻ tao nhã, tự cho mình vinh quang, hy vọng người khác đến phụng dưỡng mình.

Thực tế ngày nay, những người tìm đến nơi cửa Phật hỏi mấy ai mang tâm thành kính đứng trước tượng Phật mong muốn được tu luyện, nguyện ý trở thành người tốt, nguyện ý buông bỏ bớt đi những thói hư tật xấu? Đa số người ta khi đến nơi cửa Phật thì đều mang trong tâm là những gì? Nào là cầu được tai qua nạn khỏi, cầu được tiền tài danh vọng, cầu thuận lợi, cầu tình duyên v.v… đều là tư lợi và dục vọng của bản thân mình.

Hiện nay, trong chùa còn xuất hiện rất nhiều hiện tượng trụ trì, tăng nhân có cái nhìn, cách làm hoàn toàn sai biệt so với hàm nghĩa đích thực của Phật giáo. Ví dụ ở Trung Quốc có 3 hòa thượng đã tự xây dựng một ngôi chùa tại Ô Đang, Quý Dương, sống buông thả phóng túng. Họ hút thuốc, uống rượu, vẽ tranh, đọc sách, tham thiền, tự xưng mình là người cải cách. Ba hòa thượng này còn đang dự định đưa ra quan niệm Phật học mới, phá vỡ hình tượng tăng nhân vốn có, tương dung với thời đại. Trong đó một hòa thượng còn muốn vẽ bộ tranh tượng Phật khỏa thân.

Hoặc có hòa thượng chủ trương chính trị hóa tôn giáo, đặt yếu tố chính trị trên cả tín ngưỡng Thần Phật, vì như trong “Lớp bồi dưỡng học tập tinh thần Đại hội 19” của Hiệp hội Phật giáo tỉnh Hải Nam – Trung Quốc, hòa thường Ấn Thuận, đương nhiệm Phó hội trưởng Hiệp hội Phật giáo Trung Quốc kiêm Hội trưởng Hiệp hội Phật giáo tỉnh Hải Nam chủ trì lớp học đã đề xướng các Phật tử chép lại “báo cáo Đại hội 19”, ông nói “báo cáo Đại hội 19 là Phật kinh đương đại, tôi đã chép tay 3 lần, và còn đang chuẩn bị tiếp tục chép thêm 10 lần”. Ông Ấn Thuận còn nói, đồ đệ Phật giáo đầu tiên cần phải “yêu nước yêu đảng”, sau đó mới nói đến tín ngưỡng Phật giáo.

Thậm chí những ngôi chùa có lịch sử lâu đời cũng bị tha hóa, ví dụ như Trụ trì chùa Thiếu Lâm còn kinh doanh hóa ngôi chùa này với nhiều công ty được thành lập, trong đó có một công ty điện ảnh, truyền hình, học viện mỹ thuật, nhà xuất bản, và đoàn biểu diễn kịch. Chùa Thiếu Lâm cho thuê khuôn viên làm địa điểm tổ chức các sự kiện, trong đó có cả cuộc thi “thời trang bikini” diễn ra vào mùa hè năm 2009.

Phật giáo ở Việt Nam cũng không ngoại lệ, những ‘tặc trú’ như thế liên tục xuất hiện, mượn danh Phật để thu tiền bất chính, làm ra những việc mà ngay cả người thường cũng khó chấp nhận được. Những việc này báo chí đã đăng rất nhiều, ở đây không nêu ra ví dụ nữa.

Tuy nhiên hiện nay vẫn có những hòa thượng thật tâm tu luyện, cũng có những ngôi chùa còn thanh tịnh, nhưng con số này quá ít ỏi. Phật giáo mấy nghìn năm truyền thụ, cũng đã đến lúc suy tàn, ngẫm mà buồn thay…

Nguồn: tinhhoa.net