Thứ Tư, 22 tháng 10, 2014

TỊNH HÓA TÂM HỒN


        CUỐN SÁCH VÀ GIỎ ĐỰNG THAN
  
 
            Tại một trang trai xa xôi, có một ông cụ sống vơí người cháu của mình.Cứ mỗi sáng, ông cụ đều dậy sớm để đọc sách.Người cháu cũng bắt chước ông, cũng cố gắng mỗi ngaỳ ngồi đọc sách.Rồi một ngày, cậu hỏi ông:
- Ông ơi, cháu cũng đọc sách như ông nhưng cháu không hiểu gì cả!Có những đoạn cháu hiểu, có những đoạn gấp lại và cháu quên ngay.Thế đọc sách có ích gì đâu mà ông đọc thường xuyên thế!
Ông cụ quay lại, nhìn cháu và nói:”Cháu hãy mang giỏ đựng than này ra sông và mang về cho ông một giỏ nước nhé!”.Cậu bé làm theo lời ông nhưng về đến nhà, nước trong giỏ đã chảy hết.Nhìn thấy thế, ông cụ cười và nói:”Nước chảy hết mất rồi, lần sau cháu phải đi nhanh hơn nhé!”
            Những lần sau, cậu bé đi nhanh hơn nhưng về đến nhà, nước vẫn chảy hết, cậu nói với ông:
-          Cháu đi lấy cái xô để múc nước cho ông.
Nhưng ông cụ ngăn lại và nói:
-  Ông không muốn lấy một xô nước mà muốn lấy một giỏ nước.Cháu có thể làm được.Chỉ có điều, cháu chưa cố gắng hết sức thôi.
Cậu bé lại tiếp tục nhưng đi lấy nước bằng giỏ nhưng không lần nào thành công.
-          Thật là vô ích thôi ông ạ!
-          Tại sao cháu lại nghĩ nó là vô ích?Cháu thử nhìn lại cái giỏ xem.
Cậu bé nhìn lại cái giỏ và nhận ra rằng:Cái giỏ trông đã khác hẳn ban đầu, nó rất sạch sẽ, không đen nhèm nữa.
Ông cụ nói:
-          Đó là những gì diễn ra khi cháu đọc sách.Có thể cháu không hiểu hay không nhớ nhưng khi đọc sách, sách sẽ làm thay đổi cháu từ bên trong tâm hồn như nước đã làm sạch giỏ than kia vậy.


Cổ đức thường dạy “tụng Kinh giả minh Phật chi lý” là nhằm vào ý này vậy.
Đọc, tụng Kinh, hiểu được Ý kinh, '' miệng Tụng tâm Hành'', ứng dụng Kinh vào trong đời sống 
chính là người tụng Kinh đúng nghĩa nhất.
Mỗi ngày đọc Kinh như thế là '' Gạn đục khơi trong '' cho tâm hồn
                                            
                                                                                     (Sưu tầm)


Thứ Hai, 20 tháng 10, 2014

CÁCH CHỮA BỆNH "GIỜI LEO" NHANH VÀ HIỆU QUẢ

             Thuốc dân gian  hiệu quả mà nhanh lành bệnh. Nhưng trước hết bạn cần hiểu đúng về bệnh giời leo để có biện pháp chữa trị đúng.
                               
Hình ảnh Cách chữa bệnh giời leo cực nhanh và hiệu quả số 1
  "Giời leo" thực chất là một bệnh viêm da, nổi mụn nước cấp tính. Do loại virus có tên là varicella-zoster virus gây nên. Mảng "giời leo" có thể xuất hiện ở bất kỳ vị trí nào, nhưng thường gặp nhất là ở ngực, bụng, vai, lưng, cổ, mặt và hố mắt.
    "Giời leo" trong Y học hiện đại (Tây y) có tên là bệnh Zona (Herpes Zoster). Bệnh có những chứng trạng chủ yếu: Khởi đầu thấy sốt nhẹ 37,5-38oC, đau mỏi toàn thân; trên da xuất hiện mảng sung huyết, trên có những nốt phỏng nước, gây đau buốt, nóng rát như bị bỏng lửa. Lúc đầu mảng “giời leo” chỉ bằng 1-2 đồng xu, mọc kề nhau, dần dần lan thành mảng lớn. Mảng “giời leo” có thể xuất hiện ở bất kỳ vị trí nào, nhưng thường gặp nhất là ở ngực, bụng, vai, lưng, cổ, mặt, hố mắt. Sau 15-20 ngày, mảng “giời leo” dịu dần, các nốt phỏng bay hết, chỉ để lại những vết thâm trên da, nói chung không để lại sẹo.
   Lương y Lê Ngọc Vân, Chủ tịch Hội Đông y TP Phan Rang - Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận cho biết, trong dân gian có nhiều bài thuốc chữa trị bệnh giời leo đơn giản, nhanh lành bệnh lại ít tốn kém. Sau đây là một số bài thuốc chữa bệnh giời leo hiệu quả, đã được kiểm chứng qua thực tế:
  Khi bệnh ở mức độ nhẹ, ta lấy một nắm đậu xanh hoặc lá khổ qua (mướp đắng) hay gạo nếp, nhai nhuyễn đắp lên điểm giời leo, vài ngày sau sẽ lành bệnh.
  Nếu bệnh ở mức độ nặng thì sử dụng một trong các bài thuốc sau đây: trùn hổ, rau húng dũi, rau răm, mỗi thứ một ít, đốt thành than, tán mịn, sau đó hòa với dầu dừa bôi lên vùng giời leo.
  Lấy mủ trong trái sung non hay mủ từ vỏ cây sung bôi lên vùng giời leo, mỗi ngày 2 lần (sáng, chiều) chừng 2 - 3 ngày là có kết quả. Hái lá trúc đào, đốt thành than, tán mịn hòa với dầu dừa bôi lên vùng giời leo 2 lần/ngày hoặc lá xương cá thêm một ít vôi tôi, vò hứng bọt trên tô nước sạch, sau đó bôi bọt lên vùng giời leo 2 lần/ngày, trong vòng 3 ngày là có kết quả.
Hoặc có thể sử dụng các bài thuốc dưới đây:
     Rau sam:
  Rau sam lượng thích hợp, băng phiến một chút. Rau sam giã nát vắt lấy nước, thêm chút băng phiến vào đều, bôi lên chỗ bị bệnh, ngày 3-4 lần.
Dùng rau sam 30g, ý dĩ nhân 30g, sắc nước uống.
Lá sung: Lá sung rửa sạch, hong khô, cắt nhỏ, thêm chút giấm ăn, giã nhuyễn, đắp vào chỗ bị bệnh, thuốc khô lại thay. Một kết qủa nghiên cứu lâm sàng cho thấy: điều trị 21 ca, trong 1-2 ngày đều khỏi cả.
Lá cây xấu hổ: Dùng một nắm lá cây xấu hổ, gĩa nát, đắp vào chỗ bị bệnh.
Rau dừa nước : Dùng rau dừa nước tươi, rửa sạch, gĩa vắt lấy nước cốt, trộn với bột gạo nếp đắp vào những chỗ bị bệnh.
Cỏ nhọ nồi: Cỏ nhọ nồi tươi, rửa sạch, vò nát, vắt nước bôi, ngày bôi 3-4 lần.
Mơ leo: Dùng cành lá mơ leo lượng thích hợp, gia nát, xát vào chỗ bị bệnh, ngày vài lần.
Ngoài ra, người bệnh nên chú ý về chế độ ăn uống để cơ thể được giải nhiệt
- Lúc này cơ thể bệnh nhân có sức đề kháng rất yếu nên cần bổ sung vitamin, các loại khoáng chất, chất dinh dưỡng cần thiết để nâng cao sức đề kháng chống lại virus gây bệnh.
- Uống nhiều nước mỗi ngày, bổ sung thêm nước chanh, nước cam tươi để tăng khả năng giải độc và hàm lượng vitamin cho cơ thể.
- Ăn các thức ăn thanh nhiệt, giải độc: Đậu xanh hầm, sâm bổ lượng, hạt sen, rau má, khổ qua…
                                                                             Theo Tin Moi     

  

Thứ Bảy, 18 tháng 10, 2014

BUÔNG XẢ



– Khi bạn muốn buông xuôi vài thứ, bạn nên đọc 2 câu chuyện dưới đây. Hy vọng, nó sẽ giúp ích được cho bạn điều gì đó.
Câu chuyện 1:
Một cô gái đến tìm một nhà sư, cô hỏi:
- Thưa thầy, con muốn buông một vài thứ mà không thể, con mệt mỏi quá.
Nhà sư đưa cho cô gái 1 cốc nước và bảo cô cầm, đoạn ông liên tục rót nước sôi nóng vào cốc,nước chảy tràn ra cả tay, làm cô bị phỏng,cô buông tay làm vỡ cốc.
Lúc này nhà sư từ tốn nói:
- Đau rồi tự khắc sẽ buông!
.
.
Vấn đề là, tại sao phải đợi tổn thương thật sâu rồi mới buông?
Câu chuyện 2:
Một chàng trai đến tìm nhà sư , anh hỏi:
-Thưa thầy con muốn buông xuôi vài thứ nhưng con do dự quá, con mệt mỏi vô cùng.
Nhà sư đưa anh ta 1 cái tách và bảo anh cầm, đoạn ông rót đầy tách trà nóng vừa mới pha xong.
Chàng trai nóng quá nhưng anh vẫn không buông tay mà chuyển từ tay này sang tay kia cho đến khi nguội đi rồi uống và cảm nhận thấy rất ngon. Lúc này nhà sư từ tốn nói:
- Cứ đau là buông thì con đã bỏ lỡ những cái tốt đẹp sau đó rồi!
Vấn đề là tại sao cứ đau là phải buông trong khi còn có thể làm cho nó tốt đẹp lên.
.
.
Bài học rút ra: Trong cuộc đời vốn phức tạp này, chỉ có ta mới biết lúc nào nên cầm lên & bỏ xuống chuyện của chính mình.
              
                                     Trích Email của anh alex041138@....


Thứ Năm, 16 tháng 10, 2014

ĐÔI MẮT CỦA TRÁI TIM...!!!

                                                           

  Celine Dion có một bài hát “Because YouLove Me”, lời ca viết rằng: "Nếu em không nhìn thấy, anh sẽ làm mắt em, nếu em không thể nói, anh sẽ là tiếng em".  Lời bài hát đã khiến tôi nhớ đến một đôi vợ chồng mù ở trong thôn của bà ngoại.
Đôi vợ chồng mù trong thôn bà ngoại tôi năm nay đã sắp sửa tám mươi tuổi, đã có một đàn con cháu.
Nghe bà ngoại tôi kể lại, khi cưới nhau, chồng ngồi xe bò đi đón vợ.  Tuy cô dâu chú rể đều không nhìn thấy màu sắc, song chú rể vẫn sai người cuốn đầy lụa điều lên xe bò và đầu bò.  Đón cô dâu về nhà, chú rể dắt tay vợ rà mò từ nhà trên xuống nhà bếp, rà mò khắp lượt các ngóc ngách trong gia đình.  Việc khó hơn cả là múc nước ở cạnh giếng, lần nào cũng thế, hai người dắt nhau đi, vợ sờ thấy cây gỗ ở cạnh giếng, một tay ôm chặt cây, còn tay kia níu chặt bàn tay chồng.  Chồng quỳ trên sàn giếng thả gầu xuống múc, kéo nước lên.  Trong thôn có người ra giúp, hai người thường từ chối, họ bảo: "Các ông bà giúp được chúng tôi một giờ, không giúp được chúng tôi một đời".
Cứ như thế, hai vợ chồng luôn luôn tay dắt tay nhau gánh nước cho đến khi đứa con đầu lòng có thể gánh nổi một gánh nước.  Dân làng cảm thấy lạ lùng, đã có mười mấy trai gái trẻ trong thôn đã từng vì đất trơn, trượt chân ngã xuống giếng, nhưng hai vợ chồng mù chưa bao giờ bị như vậy.  Càng lạ lùng hơn là chuyện, mặc dù có đông người đang cùng nhau nói chuyện hỉ hỉ hả hả, hai người mù vẫn có thễ nhờ vào tiếng hít thở dài dài mà tìm ra nhau.
Bởi không nhìn thấy, dù mưa dù gió, người ta thường trông thấy hình ảnh hai người dắt tay nhau.  Dù làm việc gì, họ cũng tay trong tay.  Tay trong tay, hình tượng để nhiều nhà văn viết đi viết lại ấy, đã xuất hiện suốt nửa thế kỷ ở cái thôn nhỏ bé chẳng ai biết đến này.
Ông chồng là tay thổi kèn trong ban nhạc ở thôn quê, thường đến các đám cưới của người khác thổi những bài: "trăm con chim phượng hoàng", "niềm vui đầy nhà" ... mặc dù đi thổi kèn ở đâu, ông cũng chỉ có một yêu cầu, cho người vợ mù cùng đi.  Để vợ ở nhà một mình, ông không yên tâm thổi kèn.  Khi chồng thổi kèn, vợ ngồi bên chồng lặng lẽ nghe, dường như những điệu nhạc vui nhộn này đều là ông thổi cho bà.  Trên khuôn mặt người vợ mù thường hay đỏ ửng lên, khiến ai nấy cũng cảm thấy người đàn bà mù đang ngồi lặng lẽ kia xinh đẹp biết chừng nào.
Về sau này, hai vợ chồng đều đã già, không bao giờ đi ra ngoài nữa, chỉ quanh quẩn trồng nhiều hoa trong sân to nhà mình, tất cả đều là những giống hoa tươi rực rỡ, đến kỳ hoa nở, cả sân đỏ rực.
Một lần, ông sơ ý bị ngã què chân.  Trong những ngày ông nằm bệnh viện, ba bốn ngày liền bà không ăn một hột cơm vào bụng, bà bảo, không sờ thấy bàn tay quen thuộc kia, bà chẳng còn lòng dạ nào mà ăn nữa.
Con cái sáng mắt cũng từng hỏi đùa bố mẹ : - "Nếu trời giành cho bố mẹ một cơ hội, liệu bố mẹ có định dùng mắt nhìn nhau không?"
Bà mẹ mù trả lời:  - “Các con nhìn người bằng mắt, bố mẹ nhìn người bằng trái tim, tim sáng hơn mắt, thật.”
Ông bố mù thì bảo: - “Dắt tay nhau một đời, có bao nhiêu đường vân trong lòng bàn tay mẹ con đều đã in trong trái tim bố.  Bố chưa bao giờ trông thấy một người đẹp nhất, trong trái tim bố thì mẹ con là người đẹp hơn cả.  Cần mắt để làm gì, mắt là thứ tham lam nhất trên trần đời, nhìn cái gì cũng chia ra tốt hay xấu, xinh hay không xinh, nhìn cái gì muốn có cái đó, trên mặt người ta có một cái sẹo cũng có thể để trong tim suốt đời.”
Cũng có người nêu ra ví dụ, nếu vợ mù trông thấy mặt chồng bị phỏng sẽ có cảm tưởng thế nào.  Lại có người đặt già thuyết, nếu chồng nhìn thấy hai tròng mắt vợ lõm hẳn xuống, liệu có hối hận lời mình nói không?  Bởi vì chúng ta có mắt, cho nên khi chúng ta nhìn người, chỉ dựa vào cảm giác của mắt mà quên dùng trái tim.  Đúng như người vợ mù đã nói, con mắt của trái tim mới là sáng nhất, thật nhất.
Con người có mắt sáng nhưng trái tim vẫn mù trước những khuyết điểm của mình, vẫn mù trước những thống khổ của người khác thì chẳng khác gì vẫn mù..
                                                                                    Sưu Tầm    
  


Thứ Hai, 13 tháng 10, 2014

CÁI HỘP ĐỰNG GIẦY

                                                

   Hai ông bà cụ nọ, đã sống vơi nhau hơn 60 năm. Họ chia xẻ ngọt bùi, dủ mọi thứ. Duy chỉ có cái hôp đựng giầy mà bà cụ để ở dưới gầm tủ là ông cụ không hề biết trong đó đựng cái gì. Và cũng tôn trọng riêng tư của bà, ông chẳng bao giờ hỏi tới cái hôp đó. 
  Năm này qua năm nọ, một ngày kia cụ bà bổng bệnh nặng. Biết vợ mình không qua khỏi, cụ ông chợt nhớ tới cái hộp giầy bí mật. Bèn lấy đem đến bên giường cụ bà, cụ bà cũng đồng ý cho ông mở cái hộp ra.
 Khi chiếc hộp được mở ra, bên trong chỉ vỏn vẹn có hai con búp bê bằng len nhỏ và một số tiền là 95.500 đô. Ông cụ ngạc nhiên hỏi vợ" Thế này là sao?"
    "Khi chúng ta mới lấy nhau", cụ bà nói: " Bà nội của em có dặn em rằng: Bí quyết để giữ hạnh phúc gia đình là đừng bao giờ cãi nhau. Nếu lỡ chồng con có làm điều gì  khiến con bực mình, tức giận. Con nên im lặng và bình tỉnh, đi ra chỗ khác lấy len đan một con búp bê nha con". Và anh thấy đó...
      Cụ ông  không cầm được nước mắt. Cả suốt cuộc đời, sống chung với nhau người vợ thân yêu của mình chỉ giận mình chỉ có hai lần thôi ư? Ông cảm thấy  hạnh phúc vô cùng.      "và còn món tiền lớn nay thì sao?" Ông cụ hỏi.
  Cụ bà mắt đỏ hoe trả lời:" .Và đó là.. số tiền em đã bán những con búp bê mà em đã đan.."

                                                                                           Sưu Tầm

Thứ Bảy, 11 tháng 10, 2014

TÌM BÌNH AN CHO HIỆN TẠI


Dù giàu có và quyền lực bao nhiêu đi nữa, nhưng nếu không sống hôm nay, thì bạn không cảm nhận được giá trị của cuộc đời.
Mint
(Dịch từ Ellentrousdale)
   Chuyện xưa kể rằng, có một vị vua ngày đêm lo lắng về sự an nguy cho vương quốc của mình, về kho báu và đặc biệt về ngai vàng của mình. Ông không tìm thấy bình an trong cuộc sống; các vị quan trở thành mối nghi ngờ, và tương lai trở thành nỗi ám ảnh sợ hãi cho ông.
  Từ chốn cung điện nhìn xuống đám dân nghèo, ông cảm thấy như thèm muốn được như họ, vì ở họ toát lên nỗi đơn sơ, chất phác và không một chút lo lắng cho tương lai. Quá tò mò lối sống của dân nghèo, vị vua quyết định hóa trang thành người ăn mày để tìm hiểu nguyên nhân nào đã làm cho những dân nghèo được bình an như vậy.
   Ngày kia, vua giả dạng người ăn mày gõ cửa một người nghèo để xin ăn. Người nghèo mời người ăn mày vào và cùng chia sẻ một ổ bánh mì với thái độ hạnh phúc và yêu đời. Vị vua giả dạng hỏi: "Điều gì đã làm ông hạnh phúc như vậy?". Người nghèo đáp: "Tôi có một ngày rất tốt. Tôi sửa giày và kiếm đủ tiền để mua ổ bánh cho buổi tối nay". Vị vua giả dạng hỏi tiếp: "Chuyện gì sẽ xảy ra, nếu ngày mai ông không kiếm đủ tiền mua bánh mì?". "Tôi có niềm tin vào mỗi ngày. Ngày từng ngày, mọi chuyện rồi sẽ tốt đẹp", người thợ đáp.
  Sau khi ra về, vị vua muốn thử niềm tin của người thợ giày. Vua ra lệnh cấm những người sửa giày dép hành nghề. Khi biết bộ luật mới ban, người thợ giày nhủ thầm: "Ngày từng ngày, mọi chuyện rồi sẽ tốt đẹp". Ngay lập tức ông thấy một vài phụ nữ đang gánh nước ra chợ bán rau, ông xin được gánh nước thuê cho họ. Và hôm đó, ông kiếm đủ tiền để mua bánh mì cho buổi tối.
  Trời tối, vị vua dưới dạng người ăn mày lại tới thăm người nghèo. Người thợ sửa giày vẫn giữ thái độ ung dung, hạnh phúc với ổ bánh mì của mình. Hôm sau, vua cho ra lệnh cấm không cho phép hành nghề gánh nước thuê. Và cứ như thế, người nghèo đã thay đổi nhiều nghề khác nhau, nhưng nơi ông vẫn luôn có sự bình an và tin tưởng vào triết lý sống từng ngày của mình. Còn vị vua vẫn không thể nào hiểu nổi sự bình an và niềm tin của người nghèo kia. Mỗi lần bị cấm hành nghề, người nghèo vẫn thản nhiên tin rằng, "Ngày từng ngày, mọi chuyện rồi sẽ tốt đẹp".
  Vì quá tò mò trước triết lý sống của người nghèo này, đức vua ra lệnh và dàn xếp để người nghèo làm lính cho cung điện. Thật đáng thương, người nghèo không được phát lương hằng ngày, mà phải hết tháng ông mới nhận được thù lao. Mặc dù vậy, ông đã bán lưỡi gươm và có đủ tiền để mua bánh mì cho một tháng. Tối đến, ông vẫn có bánh mì và vẫn hạnh phúc.
  Vị vua giả dạng tới thăm ông và hỏi, "Hôm nay ông làm nghề gì mà kiếm tiến mua bánh mì?". "Tôi được làm lính cho vua", người nghèo đáp. Ông cũng đơn sơ kể rằng: "Làm lính nhưng nhận lương vào cuối tháng, nên tôi đã bán lưỡi gươm thật và đủ tiền để mua bánh mì cho một tháng. Sau khi có lương, tôi sẽ chuộc lại lưỡi gươm thật và như thế tôi sẽ có cuộc sống tốt hơn. Hiện nay tôi đang dùng lưỡi gươm bằng gỗ." Nhà vua giả dạng hỏi tiếp, "Nhưng nếu ông phải sử dụng tới gươm vào ngày mai thì sao?". Người thợ sửa giày đợt trước vần thản nhiên: "Ngày từng ngày, mọi chuyện rồi sẽ tốt đẹp".
  Quả thật, hôm sau người ta bắt được một tên trộm và bị kết án xử chém. Vua yêu cầu người nghèo trong trang phục lính thực hiện việc này. Vì nhà vua biết rằng, với lưỡi kiếm gỗ, người đàn ông này sẽ không thể thực hiện được nhiệm vụ. Và như vậy để xem niềm tin vào triết lý sống từng ngày của ông có thể giúp được hay không?
  Tên tử tội quỳ xuống chân anh lính và van xin được tha mạng vì còn vợ và con nhỏ. Người đàn ông nhà nghèo trong trang phục lính nhìn đám đông xung quanh và hô lớn: "Lạy Đấng tối cao, nếu người sắp bị hành quyết này là người có tội, thì xin cho con được phép thi hành lệnh của vua. Còn nếu anh ta vô tội, xin hãy biến lưỡi gươm này thành gươm gỗ". Ngay tức khắc, ông rút lưỡi gươm ra và quả thực thanh gươm bằng sắt đã biến thành gươm gỗ. Đám đông đồng thanh la lên: "Đây là phép lạ". Vị vua truyền lệnh tha tên ăn trộm đồng thời tiến đến người lính nghèo thú nhận rằng: "Trẫm chính là người ăn mày mỗi tối tại nhà ngươi. Từ nay trở đi, trẫm muốn ngươi là bạn và là quân sư cho trẫm. Ngươi hãy dạy cho ta cách sống lạc quan và bình an".
  Bạn thân mến, "Ngày từng ngày, mọi chuyện rồi sẽ tốt đẹp". Thế đó, cuộc sống chỉ thực sự tồn tại trong hiện tại, chứ không ở trong quá khứ hay trong tương lai. Cái triết lý của người đàn ông nghèo thực sự có giá hơn cả vàng bạc, địa vị, nhan sắc hay quyền lực.
  Dù giàu có và quyền lực bao nhiêu đi nữa, nhưng nếu bạn không sống hôm nay, thì bạn không cảm nhận được giá trị của cuộc đời. Nếu bạn không sống cho giây phút hiện tại, thì cuộc đời của bạn vẫn như là những chuỗi ngày kiếm tìm, rượt bắt cái bóng "an toàn, hạnh phúc" một cách vô vọng. Thật hữu ý và hợp tình khi danh từ tiếng Anh "present" mang nghĩa "quà tặng" và cũng có nghĩa "hiện tại." Như vậy, hiện tại là quà tặng. Ai không sống trong hiện tại là tự mình khước từ quà tặng của cuộc sống. Đó chính là niềm vui, hạnh phúc sự bình an và tự chủ trong mọi giây phút của cuộc đời mỗi người.
                                                   Theo ngoisao

Thứ Năm, 9 tháng 10, 2014

KHÁM PHÁ “SÁT THỦ” CỦA BỆNH UNG THƯ VÀ TIM MẠCH TRONG QUẢ BƠ

     Bơ được coi là một trong những thực phẩm ngon nhất, giàu dinh dưỡng nhất trên hành tinh. Theo các chuyên gia dinh dưỡng, bơ cũng là một “nhà máy dinh dưỡng” với gần 20 loại vitamin và khoáng chất, giúp con người ngăn ngừa lão hóa, giảm nguy cơ bệnh tật, đặc biệt là bệnh ung thư và tim mạch.

 Một nghiên cứu mới đây cho thấy, những người ăn bơ thường xuyên hấp thụ hàm lượng chất xơ, vitamin E và K cao hơn, bên cạnh đó hàm lượng Magiê và Kali cũng khá ấn tượng.
  Ăn bơ sẽ giúp bạn tăng cảm giác no. Chất béo tốt có trong quả bơ giúp làm chậm lại quá trình dạ dày bị rỗng không, giúp bạn no lâu hơn và trì hoãn sự trở lại của cảm giác đói. Mỗi quả bơ cung cấp 22 gam chất béo, chủ yếu là axit béo đơn không bão hòa có lợi cho tim mạch.
  Trong một khảo sát mới đây, các tình nguyện viên đã đánh giá cảm giác hài lòng sau khi thưởng thức bữa ăn mà có hoặc không ăn bơ. Kết quả là, bổ sung nửa quả bơ vào bữa ăn sẽ tăng đáng kể cảm giác no và giảm cảm giác thèm ăn trong 5 giờ đồng hồ.
  Các axit béo không bão hòa đơn có trong quả bơ đã được chứng minh làm giảm cholesterol và từ đó giúp giảm nguy cơ mắc bệnh tim mạch-sát thủ số 1 của cả nam giới và nữ giới. Bơ cũng là 1 nguồn cung cấp Kali góp phần làm giảm áp lực lên tim và động mạch.

                                                 

Thưởng thức bơ trong các bữa ăn có thể giúp cơ thể hấp thụ nhiều chất chống oxy hóa hơn từ các thực phẩm tốt cho sức khỏe khác. Trong một nghiên cứu của bang Ohio, Mỹ, khi 1 người đàn ông và 1 người phụ nữ ăn sa lát và sốt cùng 2,5 muỗng canh bơ, họ hấp thụ được hơn 8 lần alpha-carotene và hơn 13 lần beta-carotene (loại dinh dưỡng thực vật có khả năng chống ung thư và bệnh tim mạch). Một nghiên cứu khác cho thấy, ăn bơ cùng với nước sốt cà chua và cà rốt làm tăng khả năng hấp thụ vitamin A-một chất dinh dưỡng quan trọng và cần thiết cho làn da khỏe mạnh, khả năng thị giác, và khả năng miễn dịch.
  Bên cạnh đó, ăn bơ mỗi ngày sẽ giúp bạn giảm cân. Theo một khảo sát gần đây, nhiều người lo ngại rằng, ăn nhiều chất béo sẽ khiến cơ thể bị béo phì. Tuy nhiên, việc ăn đúng loại chất béo cần thiết sẽ mang lại hiệu quả giảm cân bất ngờ.
  Chất béo thực vật có trong quả bơ cung cấp chất chống oxy hóa và chống viêm, cả 2 chất này đều có liên quan đến duy trì trọng lượng cơ thể. Đó là lý do tại sao trong thời gian gần đây, những người ăn bơ thường xuyên có cân nặng ít hơn và có vòng eo nhỏ hơn, thậm chí là không cần giảm calo.
                                                                       Theo baomoi


Thứ Ba, 7 tháng 10, 2014

TÂM VÔ CHƯỚNG NGẠI

   Takuan Soho (Trạch Am) - (1573-1645) là một vị thiền sư nổi tiếng của dòng Lâm Tế Nhật Bản. Takuan (Trạch Am) là tên ngài tự đặt cho mình, có nghĩa là “củ cải muối”, món ăn khoái khẩu nhất của ngài. Ngài không chỉ là một người tu thiền, mà còn đem thiền vào trong thơ, họa, thư đạo, và trà đạo. Nhưng điều đặc biệt nhất, như trong bài trích dưới đây, ngài còn là bậc thầy của vị kiếm sĩ lừng danh nhất thời đó là Yagyu Munenori. Ở đây, Takuan giải thích cho vị kiếm sĩ về ý nghĩa của câu nói “tâm không dừng lại ở đâu (tâm vô trụ), đó gọi là trí bất động.”
Vô Thường
  CÁI KHỔ CỦA SỰ TRỤ LẠI TRONG VÔ MINH
 Chỗ trụ có nghĩa là chỗ tâm dừng lại (dính mắc) ở đó, cũng là tâm bất sanh (không vọng theo), không trụ vào một điểm vô minh mà sanh ý niệm chúng sanh.
  Trong sự tu tập Phật pháp, chúng ta biết rằng có 52 tâm sở, tức 52 trạng thái của tâm, và khi tâm dừng lại ở một trạng thái nào đó thì gọi đó là trụ lại. Trụ có nghĩa là dừng lại, và dừng lại có nghĩa là tâm bị giữ lại trong một vấn đề nào đó có thể là rất nhỏ nhặt, không đáng để nghĩ tới. Trong đạo Phật, tâm dừng lại gọi là “si mê”. Vì thế mới gọi là “Cái khổ của sự trụ lại trong vô minh.”
    Trí Bất Động Của Chư Phật.
    Bất động có nghĩa là không lay động.
    Trí tuệ có nghĩa là trí tuệ rõ biết.
 Tuy gọi là trí bất động, nhưng không có nghĩa đó là vô tình, vô cảm như gỗ đá. Nó vẫn chuyển động như tâm thường chuyển động, luân lưu đến phía trước hay phía sau, qua trái hay qua phải, đến mười phương tám hướng, và cái tâm không dừng lại ở đâu đó gọi là trí bất động (không duyên theo cảnh sắc, động theo duyên trần).
   Bất Động Diệu Vương cầm một cây kiếm nơi tay phải và một sợi dây thừng nơi tay trái. Ngài nhe răng, trợn mắt giận dữ, lấy tấn đứng vững chắc, sẵn sàng đánh bại những ác ma đang quấy phá Pháp Phật, dù ở bất cứ nơi nào, chốn nào cũng vậy. Ngài được biểu hiện trong hình tướng của một vị hộ pháp, và là hiện thân của trí bất động. Đó là biểu tượng để hiển thị cho chúng sanh thấy.
  Khi thấy tướng ngài, phàm phu cảm thấy sợ hãi và không dám có ý tưởng chống phá lại đạo Phật. Nhưng người sắp giác ngộ hiểu rằng đó chỉ là hình tượng biểu trưng cho trí bất động, và dẹp tan đi mọi mê lầm. Đối với người nào có thể biểu thị được trí bất động và khéo thực hành pháp này nơi tâm và thân như Bất Động Diệu Vương, họ sẽ không còn bị tà ma quấy phá. Đó là mục đích của biểu tượng Bất Động Diệu Vương.
 Gọi Bất Động Diệu Vương có nghĩa là có một tâm bất động và một thân không lay chuyển. Không lay chuyển có nghĩa là không bị cản trở bởi bất cứ điều gì.
  Khi liếc nhìn một cái gì mà tâm không trụ lại thì gọi là bất động. Đó là bởi vì khi tâm trụ lại ở một chỗ nào đó, những phán xét sẽ nẩy sinh ra đầy ắp, và những khởi niệm dấy lên thật nhiều. Khi những khởi niệm này ngừng lại, tâm đang trụ lại một chỗ sẽ lưu chuyển đi, nhưng không có nghĩa là tâm bị lay động.
  Nói ví dụ có mười người, mỗi người một cây kiếm, đều đang tiến tới chém bạn, nếu bạn đối phó lại mỗi cây kiếm mà không trụ tâm lại nơi bất cứ hành động nào, cứ tuần tự nhi tiến mà làm, bạn sẽ không thiếu sót bất cứ một hành động nào để đối lại với mười tay địch thủ.
  Tuy tâm phản ứng mười lần để đối lại với mười người, nhưng nếu không trụ lại ở đâu cả, cứ phản ứng tuần tự từ trước tới sau, làm sao có hành động thiếu sót được?
  Nhưng nếu tâm trụ lại trước một trong những địch thủ, có thể bạn chống lại được cây kiếm của hắn, nhưng sẽ không kịp có hành động đúng lúc khi nhát kiếm của người sau đâm tới.
  Xem như Thiên Thủ Thiên Nhãn Quan Âm có đến ngàn tay trong một thân, nếu tâm ngài trụ lại ở một cái tay đang cầm bình bát, thì 999 cái tay kia sẽ thành vô dụng.   Chính bởi vì tâm không trụ lại ở đâu cả mà tất cả mọi cánh tay mới được hữu dụng.
Thiên Thủ Thiên Nhãn Quan Âm vì mục đích gì mà có ngàn tay nơi thân? Đây là hình tượng để chỉ cho thấy nếu có trí tuệ bất động là buông xả, thì dù cho có đến ngàn tay trong một thân, tất cả mọi cánh tay vẫn đều hữu dụng như thường.
  Khi nhìn vào một cái cây, nếu bạn chỉ nhìn vào một cái lá đỏ, bạn sẽ không thấy tất cả các lá khác trong cây. Nếu mắt không trụ lại trong một cánh lá nào, và bạn đối diện với cái cây với một tâm không rỗng, tất cả các lá đều được thấy trong mắt bạn, không có giới hạn. Nhưng nếu mắt bạn ngừng lại nơi một cái lá, tất cả các lá khác sẽ không còn được thấy nữa.
  Người hiểu được điều này sẽ không khác biệt với Quan Âm ngàn mắt ngàn tay.
  Người bình thường tin tưởng rằng có ngàn mắt ngàn tay là một ân phước. Kẻ có trí tuệ nửa vời đặt câu hỏi làm sao một người lại có ngàn con mắt được, cho đó là sự dối trá, rồi nói những lời phỉ báng. Nhưng người có hiểu biết hơn sẽ có một niềm tin kính ngưỡng dựa trên nguyên tắc căn bản, không cần niềm tin chất phác của những người bình thường, cũng không phỉ báng pháp Phật, mà người ấy sẽ nhận biết rằng, chỉ với một biểu tượng này thôi, cũng đã là một biểu dương thù thắng của Pháp Phật.
  Vài lời mạn bàn:
Tâm vô chướng ngại là tâm tự tại tự do, không vướng mắc vào đâu cả. Ấy là tâm vô trụ - cũng là tâm bất động. Bất động không có nghĩa là không chuyển động gì cả, mà chính là tâm luân lưu từ sát na này qua sát na khác, từ niệm này sang niệm khác, không dừng lại ở đâu cả. Chính vì không dừng lại nên mới không bị giam hãm vào đâu, và mới có được sự thấy biết toàn thể đối với sự việc.
Động mà không động, cũng như ở trong niệm mà Vô niệm, đều từ vô trụ mà ra - đó là tâm Không, nền tảng của Kiếm đạo, cũng là cốt tuỷ của Thiền.
                                                                          Takuan Soho (1573-1645)
                                                                                                     (st)

Chủ Nhật, 5 tháng 10, 2014

ALBERT EINSTEIN VIẾT VỀ PHẬT GIÁO



"Tôn giáo của tương lai sẽ là một tôn giáo vũ trụ (cosmic religion)... Bao gồm cả thiên nhiên vật lý và tinh thần... Phật giáo bao gồm các thứ đó... Nếu có một tôn giáo nào đáp ứng được yêu cầu của nền khoa học tân tiến, tôn giáo đó chính là Phật giáo”. (The religion of the future will be cosmic religion... cover both the natural and spiritual... Buddhism answers this description... if there is any religion that would cope with the modern scientific needs, it would be Buddhism)
  Thế giới Tây phương ngày càng hâm mộ về những sắc thái tiến bộ, lợi lạc... của Phật giáo. Cựu Tổng thống Bill Clinton đã ăn chay, tọa thiền hàng giờ mỗi ngày và nhiều khoa học gia thượng thặng cũng đã nhận ra rằng tư tưởng Phật giáo đã giúp họ rất nhiều trong việc giải thích những hiện tượng khoa học và dẫn họ đến những tư tưởng mới và khám phá mới trong khoa học.
  Quan niệm về: VŨ TRỤ, VẬT LÝ NGUYÊN TỬ, VI TRÙNG, TRỊ LIỆU Y KHOA..v..v.. của Phật giáo hầu như tương hợp hoàn toàn với những kiến thức ngày naỵ
 Trên 25 thế kỷ trước, Ðức Phật nói kinh A-Di-Ðà:
   Ông Xá-Lợi-Phất! Thế giới phương Tây có Ðức Phật Vô Lượng Thọ, Ðức Phật Vô Lượng Tướng, Ðức Phật Vô Lượng Tràng, Ðức Phật Ðại Quang, Ðức Phật Ðại Minh, Ðức Phật Bảo Tướng, Ðức Phật Tịnh Quang, các Ðức Phật như thế nhiêù như số cát sông Hằng, các Ngài đều ở tại Nước Các Ngài. Mỗi vị đang giáo hóa chúng sinh trên vô lượng hành tinh trong vũ trụ".
  Năm 1960, giáo sư Drake đã đưa ra một công thức để tính số lượng những hành tinh có nền văn minh trong giải Ngân Hà:
  N = T x Sht x Ssv x Sss x Svm x Ssll x Stt
  Công thức này được giáo sư Drake trình bày ở kỳ họp hội đồng thiên văn quốc tế năm 1979 tại Montreal, Canada với đề tài Chiến Lược tìm kiếm sự sống trong vũ trụ.
  Thật sự trong vũ trụ có hàng tỉ giải ngân hà và nói rằng số chư Phật đang giáo hóa chúng sinh tại nước Các Ngài nhiều như số cát sông Hằng không quá sự ước tính của các nhà thiên văn hiện tại.
  Nói đến quan niệm về vũ trụ của Phật giáo chúng ta không thể bỏ qua kinh Hoa Nghiêm, phẩm thế giới thành tựu. Trong phẩm này, Bồ Tát Phổ Hiền tuyên thuyết của mười đặc tính của các thế giới: Nhân Duyên khởi, chỗ Trụ Nương, Hình Trạng, Thể tánh, Thanh Tịnh tánh, Trang Nghiêm tánh, Phật xuất hiện, kiếp trụ, kiếp chuyển biến sai biệt và vô sai biệt.
Trong 10 đặc tính của các thế giới, ta chỉ luận về Hình Trạng của các thế giới trong giải thiên hà, ngân hà. Chúng ta hãy đọc đoạn kinh sau đây: "Lúc đó, Phổ Hiền Bồ Tát lại bảo chúng rằng: Thế giới có nhiều hình tướng sai khác hoặc hình như nước xoáy hoặc hình dạng như hoa..." Các nhà thiên văn có thể quan sát được trong các chòm sao như Letus, Pegasus và Hercules, hình sông là Giải Ngân Hà (Milky Way) và nhiều thiên hà khác, hình dạng như hoa là những khối tinh vân trong khoảng không gian liên-thiên-hà có chứa hàng tỷ ngôi sao... Chúng ta không thể tưởng tượng được ở một thời chưa hề có kính thiên văn. (Mãi đến thế kỷ XVII, Galileo (1564-1642) mới chế ra kính thiên văn) mà Ðức Phật và các vị Bồ Tát đã có những hiểu biết chính xác về vũ trụ như trên. Có lẽ vì khâm phục tri kiến của chư Phật và các vị Bồ Tát, nhà bác học lừng danh nhất thế kỷ XX này, Albert Einstein (1879-1955) khi nghiên cứu vũ trụ đã viết:
  "Tôn giáo của tương lai sẽ là một tôn giáo vũ trụ (cosmic religion)... Bao gồm cả thiên nhiên vật lý và tinh thần... Phật giáo bao gồm các thứ đó... Nếu có một tôn giáo nào đáp ứng được yêu cầu của nền khoa học tân tiến, tôn giáo đó chính là Phật giáo”. (The religion of the future will be cosmic religion... cover both the natural and spiritual... Buddhism answers this description... if there is any religion that would cope with the modern scientific needs, it would be Buddhism).
  Các nhà vật lý nguyên tử hiện đại cũng không khỏi kinh ngạc về tri kiến Phật về hạt nhân mà Đức Phật đã nói trong Kinh Bát Nhã: "Sắc chẳng khác Không, Không chẳng khác Sắc. Sắc bất dị Không, Không bất dị Sắc, Sắc tức thị Không, Không tức thị Sắc". Đoạn kinh này đã đựơc nhà bác học Niels Bohr (1885-1962, giải Nobel vật lý) làm sáng tỏ vì ánh sáng không là Hạt (particle) và cũng chẳng là Sóng (wave) mà nó vừa là Hạt vừa là Sóng, cả hai thứ bổ túc cho nhau, nó vừa Có vừa Không.
  Nếu Hạt Sóng là yếu tố căn bản của ánh sáng thì các khoa học gia đang tìm thành phần nhỏ nhất của vật chất. Mãi đến cuối thế kỷ thứ XIX các nhà vật lý nguyên tử đã tìm được và khẳng định rằng thành phần cuối cùng của vật chất là Nguyên Tử và đặt tên mới bằng tiếng Hy Lạp (Atom) có nghĩa là không thể chia cắt được nữa. Danh từ mới này thật ra đã có từ thời Phật Thích Ca. Ở Ấn Ðộ, thời Phật, danh từ Paramãnu có nghĩa tương đương với nguyên tử. Một hạt bụi rất nhỏ mà ta thấy bay vởn vơ trong làn ánh sáng được gọi là Ratharenu. Một Ratharenu phân làm 36 Tajjaris. Một Tajjaris chia làm 36 Anus và một Anus chia làm 36 Paramãnus (nguyên tử), như vậy thì trong hạt bụi nhỏ có 46656 nguyên tử.
  Ðến đầu thế kỷ XX, các nhà bác học bảo nguyên tử chưa phải là nhỏ nhất, nó được cấu tạo bằng những hạt nhỏ hơn: electron, proton, neutron . . .
Giữa thập niên 60, các nhà bác học lại tìm ra thêm những Phản Hạt của electron, proton, neutron... người ta gọi những hạt này là hạt cơ bản (elementary particle).Tới thập niên 70, khoa học tiến bộ hơn, có những máy gia tốc năng lượng rất lớn, họ đã tìm ra Hạt Quarks, 3 hạt quarks mới bằng một hạt cơ bản. Trong kinh Phật có một danh từ tương đương với Quark là hạt Lân Hư Trần (nghĩa là hàng xóm của Hư Không).
  Các nhà vi trùng học còn kinh ngạc hơn khi biết được Đức Phật mà 25 thế kỷ trước đã thấy những vi sinh vật trong bát nước vừa múc lên từ miệng giếng và Ngài đã chú vãng sinh cho những sinh vật bé nhỏ này trước khi uống:
  "Phật quán nhất bát thủy, bát vạn tứ thiên trùng."
  (Đức Phật đã nhìn thấy vô vàn -bát vạn tứ thiên-những sinh vật nhỏ trong một bát nước)
  Mãi hơn 24 thế kỷ sau, bác sĩ Louis Pasteur (1822-1895) mới tìm ra những vi sinh vật này (vi trùng). Công trình nghiên cứu đã đưa Pasteur lên đài danh vọng: Ông được tặng thưởng huân chương Bắc Ðẩu Bội Tinh và được bầu vào Han Lâm viện Pháp quốc (Academie Francaise). Khi Ông mất, chính phủ Pháp đã tổ chức quốc táng.
  Chúng ta thán phục Phật và các chư vị Bồ Tát đã thấy trước chúng sinh hàng bao thế kỷ: vũ trụ, vật lý, vi trùng v.v. nhưng chủ yếu của đạo Phật là làm cho chúng sinh bớt Khổ Ðau, rồi tiến tới An Lạc và Giải Thoát. Thực vậy, Ðức Phật đã tỏ ra vị thầy thuốc đại tài để chữa bệnh Ðau Khổ cho con Người. Bác sĩ Carl Jung (1875 - 1961) ông Tổ của ngành phân tâm học ca ngợi Phật.
  "Công việc của tôi là chữa trị bệnh đau khổ về tâm thần. Chính điều này đã đẩy tôi làm quen với quan điểm và phương pháp của bậc Thầy vĩ đại của nhân loại mà đề tài chính yếu là sự trói buộc của đau khổ (My task was to treat psychic suffering and it was this that impelled me to become acquainted with the view and the methods of that Great Teacher of humanity, whose principal theme was the chain of suffering).
  Trong những nhà bác học tên tuổi lớn thì có lẽ Albert Einstein là người viết về Đạo Phật nhiều nhất. Ðể kết luận tôi xin trích một đoạn văn ngắn của ông nói về Phật giáo:
  "Phật giáo không cần duyệt xét quan điểm của mình để cập nhật hóa với những khám phá mới của khoa học. Phật giáo không cần phải từ bỏ quan niệm của mình để chấp nhận khoa học bởi vì Phật giáo bao gồm khoa học và đồng thời cũng vượt qua khoa học. Phật giáo là một chiếc cầu nối liền tôn giáo và những tư tưởng khoa học. Chiếc cầu Phật giáo đã kích thích con người khám phá những tiềm năng lớn lao nằm sâu kín trong chính nó và trong môi trường sống chung quanh nó. Phật giáo siêu việt vượt qua thời gian. (Buddhism requires no revision to keep it up today with recent scientific finding. Buddhism needs no surrender its view to science, because it embraces science as well as goes beyond science. Buddhism is a bridge between religious and scientific thoughts, that the stimulates man to discover the talent potentialities within himself and his environment. Buddhism is timeless)

                                                           Nguyễn Mộng Khôi

Thứ Sáu, 3 tháng 10, 2014

THIỀN VÀ SỨC KHỎE


  Đại học Y khoa Harvard ước lượng có khoảng 60 – 90% bệnh nhân đến bác sĩ là do stress. Stress liên quan đến rất nhiều bệnh lý như nhồi máu cơ tim, tăng huyết áp, tiểu đường, suyễn, đau nhức kinh niên, mất ngủ, dị ứng, nhức đầu, đau thắt lưng, một số bệnh ngoài da, ung thư, tai nạn thương tích, tự tử, trầm cảm, giảm miễn dịch… Stress gây tăng cholesterol cao hơn thức ăn (Rosenman, 1993). Trong thời kỳ khủng hoảng kinh tế, nạn thất nghiệp, người làm việc ở những khu vực dễ bị sa thải thì chết vì bệnh tim mạch, tai biến mạch máu não cao gấp đôi các khu vực khác (Chandola, 2006). Stress là nguyên nhân của 50% các bệnh nhân mất ngủ, dẫn tới những vấn đề sức khỏe tâm thần. Stress cũng gây 19% vắng mặt nơi làm việc, 40% bỏ việc, 60% tai nạn xảy ra nơi làm việc. Theo một thống kê của cơ quan bảo hiểm y tế, Thiền giúp giảm thời gian nằm viện của bệnh nhân và giảm số lần đi khám bệnh (Orme Johnson, 1987).
Nghiên cứu đối chứng về cơn đau kinh niên, lo âu, trầm cảm, Thiền làm giảm 50% các triệu chứng tâm thần nói chung và giảm 70% triệu chứng lo âu (Roth,1997).
Hành giả thực hành thiền hơn 5 năm có tuổi già sinh lý trẻ hơn 12 năm so với người cùng tuổi, dựa trên 3 yếu tố là huyết áp, khả năng điều tiết nhìn gần của thị giác và khả năng phân biệt của thính giác.
  Một nghiên cứu trên học sinh cấp 2 có thực tập thiền, cho thấy kết quả học tập tốt hơn, có khả năng tập trung , có thói quen làm việc, cải thiện hành vi (xung đột, hung hãn), tăng lòng tự tin, khả năng hợp tác và quan hệ với người khác (Harrison,2004).
Thiền cũng giúp làm giảm cân, giảm béo phì, nghiện thuốc lá, rượu và các chất ma túy nói chung (Alexxander,19994). Đặc biệt, một nghiên cứu đối chứng ở 44 bệnh viện cho thấy Thiền đã giúp làm giảm sai sót chuyên môn y khoa đến 50%, đồng thời cũng làm giảm 70% các vụ khiếu kiện của bệnh nhân đối với bệnh viện (Jones,1988). Ở các công nhân kỹ thuật có thực tập thiền trong 8 tuần cho thấy họ làm việc phấn khởi hơn, thích thú hơn, nhiệt tâm hơn, giảm thiểu các bệnh cảm cúm thường gặp trong khi nhóm chứng không có gì thay đổi. Tóm lại, hiệu quả của Thiền đã được chứng minh trong nhiều lãnh vực đời sống …
  Khi nói đến Thiền, ta thường nghĩ ngay đến ngồi; ngồi thiền. Rồi nào kiết già, nào bán già, hết sức phức tạp và bí hiểm như chỉ dành riêng cho một giới nào đó. Thiền thực ra không nhất thiết phải kiết già bán già. Đi đứng nằm ngồi gì cũng thiền được cả. Người Nhật, người Tây Tạng đều có cách “ngồi” thiền riêng của mình, người Tây phương còn khác hơn nữa, miễn sao có một tư thế thoải mái, dễ chịu, buông xả toàn thân  là được. Thế nhưng cách ngồi tréo chân (kiết già, bán già) lại có lợi thế hơn cả. Tại sao? Tại vì khi ta đứng, ta đi, các bắp cơ phía trước của hai chân phải co lại để nâng đỡ cả thân mình, trong khi các bắp cơ phía sau thì duỗi ra. Lúc ngồi tréo chân ta đã làm cho các bắp cơ đổi chiều. Đây là phương pháp “đối chứng trị liệu”. Khi nào đi bộ lâu, mỏi chân, ta ngồi xuống, xếp bằng và hít thở một lúc sẽ thấy hai chân  bớt mỏi nhanh hơn. Cơ nào đã duỗi lâu thì được co lại, cơ nào đã co lâu thì được duỗi ra! Thiền hay yoga do vậy khai thác kỹ thuật này để điều trị liệu rất có hiệu quả sự mệt mỏi, không kể ngồi theo cách này cũng giúp làm giảm sự tiêu thụ oxy!
  Giữ lưng thẳng đứng cũng là một yêu cầu vô cùng quan trọng trong Thiền. Ta dễ có khuynh hướng chìu theo độ cong tự nhiên của cột sống dưới sức nặng của thân thể do trọng lực – và nhất là tuổi tác – do đó dễ dẫn đến cong vẹo cột sống hoặc đau cột sống cổ, đau thắt lưng. Ở tuổi trung niên nhiều người đã bị những cơn đau dữ dội đến phát khóc. Đó là những cơn đau cấp tính, nếu nghỉ ngơi và uống thuốc đúng cách chừng mười ngày, nửa tháng sẽ khỏi, nhưng không khỏi hẳn, dễ tái phát do tư thế chưa được điều chỉnh. Nhưng nguồn gốc sâu xa hơn lại là do cách sống căng thẳng, chịu đựng, dồn nén lâu ngày. Cơn đau là tiếng chuông báo động để ta “tỉnh ngộ”! Một người cúi gầm suốt ngày trước máy vi tính hay TV để chơi games online thì sớm muộn cũng bị những hội chứng về cột sống. Một người quen đi chùa lạy Phật mà với tư thế không đúng thì lâu ngày cũng bị  đau cột sống như vậy! Nhất là khi đã có tuổi, cột sống có khuynh hướng cứng lại, mất đàn hồi, các lớp sụn độn giữa hai đốt sống dễ bị bẹp, có khi “xì” ra một bên, chèn ép gây đau, nhiều khi phải phẫu thuật để chữa. Giữ lưng thẳng đứng trong lúc ngồi thiền là điều cần thiết. Kết hợp với tập thể dục bụng, có nghĩa là tập cho thắt lưng được dẻo dai, cũng sẽ làm chậm tiến trình lão hóa.
   Trong Thiền, một yếu tố rất quyết định nữa là sự thả lỏng toàn thân, “buông xả” toàn thân, mà có người ví như thả trôi theo dòng nước. Thả lỏng toàn thân là cách làm cho toàn thân như rủ xuống, xẹp xuống, bình bồng, không còn căng cứng nữa! Có thể nói cơ thể ta như chỉ gồm có hai phần: “thân xác” và “thân hơi”. Thả lỏng là “xì” cho xẹp cái thân hơi đó – mà tiếng Việt ta có một từ rất hay là xả hơi! Khi quá mệt, quá căng thẳng thì nghỉ xả hơi! Khi đó, không một bộ phận nào của cơ thể còn phải căng nữa, phải gồng nữa, kể cả vỏ não. Tiêu hao năng lượng cho trương lực cơ (tonus musculaire) và hoạt động của vỏ não sẽ giảm thấp nhất có thể được. Y học chứng minh tiêu hao năng lượng trong Thiền rất thấp, dưới mức chuyển hóa cơ bản, thấp hơn cả khi ngủ, nhờ vậy mà năng lượng được tích lũy tốt hơn.
  Cơ thể ta có hơn mười ngàn tỷ tế bào. Mỗi tế bào thực chất là một cái túi, một loại “sinh vật” háo ăn, háo làm, háo tiêu thụ oxy – kết hợp với thức ăn qua những phản ứng gọi là oxyt hóa – để tạo ra năng lượng. Nhưng oxyt hóa càng mạnh thì càng tạo thêm các gốc tự do và các chất… bã, làm
  cho cơ thể mau mệt mỏi, già nua! Giống như một thanh sắt để ngoài nắng gió một thời gian sẽ bị oxyt hóa thành rỉ sét. Khi cơ thể có cách nào làm giảm tiêu thụ năng lượng không cần thiết thì các tế bào cũng sẽ được nghỉ ngơi.
   Khi cơ thể đã chùng xuống, đã giãn cơ, tức giảm tiêu hao năng lượng một cách đáng kể rồi thì cũng sẽ thấy bớt cần thiết phải cung cấp các dưỡng chất qua thức ăn như giucid, lipid, protid… vốn là nguồn tạo năng lượng! Ăn ít đi mà vẫn đáp ứng đủ nhu cầu năng lượng thì cơ thể đỡ vất vả, các tế bào đỡ hùng hục làm việc, tinh thần sẽ sảng khoái. Các nghiên cứu gần đây cho thấy các sinh vật bị cho nhịn đói vừa phải thì sẽ sống lâu hơn và trẻ hơn. Do vậy mà các thiền giả không có nhiều nhu cầu về các chất dinh dưỡng được cung cấp bởi thức ăn! Ta thấy giới, định và tuệ gắn bó chặt chẽ với nhau như một tam giác cân, tác động hai chiều là vậy!
  Danh y Tuệ Tĩnh, thế kỷ XIV ở nước ta đã đúc kết một lời khuyên: “Bế tinh – Dưỡng khí – Tồn thần / Thanh tâm – Quả dục – Thủ chân – Luyện hình”. Thử nhìn lại đời sống hiện nay ta thấy: tịnh không bế, khí không dưỡng, thần không tồn, tâm náo loạn… bảo sao các hiện tượng tâm thần, tự tử, béo phì, tiểu đường, huyết áp… kể cả chiến tranh, dịch bệnh, thiên tai… chẳng ngày một gia tăng?
   Đời sống tiết độ, tri túc, kham nhẫn, chánh niệm, tỉnh giác… phải chăng có thể góp phần giải quyết những vấn đề sức khỏe thời đại và bảo vệ môi trường sống của chúng ta hôm nay?
  Đừng tìm đâu cho mất công. Hãy quay về nương tựa chính mình. Quả đúng như vậy. Bởi nói cho cùng, ai có thể “thở” giùm ai? Ai có thể “thiền” giùm ai?.


                                                                     Trích Thiền và sức khỏe
                                                                      BS. ĐỖ HỒNG NGỌC 

Thứ Năm, 2 tháng 10, 2014

KHÁCH VỀ TRỜI CHƯA TỐI.....


Khách về trời chưa tối
Nhẹ tay khép cổng sài
     Quay lưng hiên nắng nhạt
        Hương trầm thoảng thư trai
                                      Sưu tầm
     (Trích trong tập NƠI ẤY BÌNH YÊN-   Minh Đạo )