Thứ Bảy, 7 tháng 2, 2015

RUMI, THI HÀO BẤT TỬ CỦA BA-TƯ

                                                           

                                                                                   Jalal Uddin Rumi.
Thế giới của Rumi không phải là thế giới của người Sufi, cũng không phải thế giới của người Ấn hay thế giới của người Do Thái, mà đó là trạng thái cao nhất của con người, một "ensaaneh kaamel", nghĩa là một con người toàn thiện. Mà một con người đã toàn thiện thì không bị câu thúc bởi những ranh giới về văn hóa, con người đó gần gũi với bất cứ ai trong chúng ta.
Jalal Uddin Rumi (1207-1273) là nhà thơ thần bí Ba tư thế kỷ 13. Tên ông được đồng nhất với Sufi, một học thuyết thần bí của Hồi giáo nhằm tới sự thần hiệp, hay sự hợp nhất thần bí với Thượng đế. Trong suốt 25 năm ông đã viết trên 70.000 câu thơ với các chủ đề tình yêu mang tính thánh thiêng, niềm đam mê thần bí và sự mạc khải. Giới học giả ngày nay coi Rumi là một trong các nhà thơ lớn nhất của mọi thời đại; tác phẩm của ông được so sánh với tác phẩm của Dante và Shakespeare.

Tác phẩm chính của Rumi là Diwan-i Shams-i Tabriz-i (Tác phẩm về Shams người xứ Tabriz) gồm khoảng 40.000 câu thơ, đề tặng Shams ad-Din, người bạn lớn, người thầy tinh thần và nguồn cảm hứng của ông, vàMathnawigồm khoảng 25.000 câu thơ. Ngoài ra còn các cuộc trò chuyện và thư từ của ông gồm ba tập vẫn giữ được đến ngày nay.
Tầm quan trọng của Rumi nằm ở chỗ ông vượt qua các ranh giới quốc gia và dân tộc. Tuy làm thơ chủ yếu bằng tiếng Ba-tư, ông còn viết một số bài thơ bằng tiếng Ả rập, tiếng Hy Lạp và tiếng Thổ Nhĩ Kỳ (cổ). Trong suốt nhiều thế kỷ, thơ ông có tầm ảnh hưởng quan trọng đối với văn chương Ba-tư cũng như văn chương Urdu (Ấn Độ) Và Thổ Nhĩ Kỳ. Thơ ông được rất nhiều người đọc ở các nước nói tiếng Ba-tư ngày trước như Iran, Afghanistan, Tajikistan và ngày nay đã được dịch ra nhiều thứ tiếng trên thế giới.
 Jalal Uddin Rumi sinh năm 1207 ở thành phố Balkh thời đó nằm ở tỉnh Khorasan của đế quốc Ba-tư nhưng ngày nay thuộc Afghanistan. Ông sinh ra trong một gia đình có truyền thống phụng sự các cơ quan luật pháp và tôn giáo. Ngay từ nhỏ Jalal Uddin đã tỏ ra tư chất khác thường. Có giai thoại kể rằng có một lần, Attar, một nhà thơ và nhà hiền triết lớn đương thời, khi gặp hai cha con Jalal Uddin, người cha đi trước còn người con theo sau, đã nói một câu có tính tiên tri: “Một biển đang bước đi, theo sau là một đại dương”.
Vào khoảng năm 1218, để tránh họa xâm lăng của người Mông Cổ, ông cùng gia đình di chuyển qua nhiều nơi, từ Balkh đến Baghdad, Mecca, Damascus và cuối cùng định cư ở Karaman gần Konya (nay thuộc Thổ Nhĩ Kỳ) thời đó là thủ đô của người Turk Seljuk. Ở đây cha của cậu thiếu niên Jalal Uddin hành nghề đạo sư và hoạt động như một nhà thần học. Jalal Uddin theo gương cha, và sau khi người cha qua đời vào năm 1231, chàng thanh niên cũng trở thành một đạo sư lỗi lạc. Thời đó vùng này được người dân gọi là Rum, một cái tên có nguồn gốc từ thời đế quốc Byzantine. Biệt danh Rumi của nhà thơ bắt nguồn từ cái tên này.
Vào khoảng năm 1244 C.E. Rumi gặp Shams ad-Din, một giáo sĩ hay một tín đồ Sufi mà trước kia ở Tabriz, và cuộc tao ngộ này đã thay đổi hoàn toàn cuộc đời ông. Shams ad-Din trở thành bạn và người thầy tinh thần của Rumi. Trong khoảng hai năm Rumi cùng Shams ad-Din sống cùng một nhà và gắn bó thân thiết với nhau trong một tình bạn mang tính thuần khiết và lý tưởng. Sufi vốn có truyền thống những tình bạn thuần khiết và lý tưởng như vậy, dựa trên sự chung nhau nỗ lực tâm linh.
  Trước đó Rumi vốn là đạo sư và lãnh tụ của một đoàn tăng lữ Mevlevi. Các môn đồ của ông hết sức bức xúc bởi sư phụ quá quấn quýt với Shams mà quên mất họ, thế là họ đe dọa dùng vũ lực để chia lìa đôi bạn. Shams ad-Din biến mất một cách khó hiểu vào năm 1247, có thể là bị các môn đồ của Rumi giết chết. Sau đó Rumi viết 40.000 câu thơ lấy tên là Diwan-i Shams-i Tabriz-I để bày tỏ nỗi đau mất người bạn tri kỷ.
Chủ đề chung của tư tưởng ông, cũng như của các nhà thơ thần bí và Sufi khác trong văn học Ba-tư, là về khái niệm Tawheed (nhất thể) và sự hợp nhất với người yêu (cái cội rễ uyên nguyên) mà ông đã bị cắt rời khỏi nó, cũng như nỗi khao khát được tái hợp với người yêu hay cái cội rễ kia và trở thành nhất thể.
Tác phẩm Masnavi kết hợp nhiều truyện ngụ ngôn và cảnh đời thường, những thiên khải lấy từ kinh Qu’ran, cùng những suy tư siêu hình thành để dệt thành một bức tranh chung rộng lớn và phức tạp. Rumi được coi là hình mẫu của “ensaaneh kamel”, con người hoàn hảo hay con người toàn diện. Rumi nhiệt thành tin ở việc dùng âm nhạc, thơ ca và nhảy múa làm con đường đến với Thượng đế. Với Rumi, âm nhạc giúp các tín đồ tập trung toàn bộ bản thể mình vào cái thánh thiêng, làm việc đó một cách tập chú đến nỗi linh hồn họ vừa bị hủy diệt vừa được phục sinh.
Trên thực tế, ông là người thành lập giáo phái Mevlevi của các “giáo sĩ xoay tròn” và sáng tạo nên “sema”, điệu nhảy xoay tròn có tính chất thánh thiêng của các vị này. Theo truyền thống Mevlevi, sema tiêu biểu cho một cuộc hành trình thăng tiến tâm linh, thông qua trí tuệ và tình thương để đạt tới “cái Hoàn hảo”. Trong cuộc hành trình đó hành giả hướng về chân lý, trưởng thành thông qua tình thương, xả bỏ cái tôi, tìm thấy chân lý và đến được “cái Hoàn hảo”, sau đó, khi từ cuộc hành trình này trở về, họ hoàn thiện hơn, có khả năng yêu thương và phụng sự toàn bộ các tạo vật trên thế giới không phân biệt tôn giáo, chủng tộc, tôn giáo, quốc gia.
Theo lời Shahram Shiva, một nhà thơ Mỹ gốc Iran nổi tiếng với những buổi đọc thơ Rumi, một trong những lý do khiến Rumi đến được với nhiều người như vậy là bởi “Rumi có khả năng chuyển thành ngôn từ một cách thẳng thắn và trực tiếp cái thế giới mang tính cá nhân cao độ và thường rất phức tạp của sự trưởng thành về tinh thần và cái huyền nhiệm. Ông không xúc phạm bất cứ ai, ông gồm thâu tất cả mọi người.
Thế giới của Rumi không phải là thế giới của người Sufi, cũng không phải thế giới của người Ấn hay thế giới của người Do Thái, mà đó là trạng thái cao nhất của con người, một ensaaneh kaamel, nghĩa là một con người toàn thiện. Mà một con người đã toàn thiện thì không bị câu thúc bởi những ranh giới về văn hóa, con người đó gần gũi với bất cứ ai trong chúng ta. Ngày nay ta có thể nghe người ta đọc thơ Rumi trong nhà thờ, thánh đường Hồi giáo, tu viện Thiền tông, cũng như trong các cuộc trình diễn âm nhạc trên phố phường New York”.
Chỉ mới cách đây khoảng 20 năm Rumi hãy còn hầu như chưa được biết tới ở phương Tây, nhưng hiện nay ông là một trong những nhà thơ được đọc nhiều nhất tại Hoa Kỳ.
Tác phẩm của Rumi đã được dịch ra nhiều thứ tiếng trên thế giới trong đó có tiếng Anh, Pháp, Nga, Đức, Ý, Tây Ban Nha, v.v. và ngày càng xuất hiện dưới nhiều dạng khác nhau như hòa nhạc, hội thảo, đọc thơ, múa và nhiều hình thức nghệ thuật khác nữa.
   Các giáo sĩ Mevlevi đang thực hiện điệu múa thiêng liêng sema.
   Năm nay, 2007, được UNESCO chọn là “Năm Quốc tế Rumi” nhân dịp kỷ niệm 600 năm ngày sinh của nhà thơ. Ba nước Iran, Thổ Nhĩ Kỳ và Afghanistan dự kiến tổ chức một số chương trình đặc biệt để tưởng niệm Rumi. Riêng Iran sẽ mở một hội nghị tương tự vào mùa thu năm 2007. Nhiều chương trình đặc biệt sẽ được tổ chức tại nơi ra đời của nhà thơ (nay thuộc Iran) và nơi ông qua đời (nay tại Thổ Nhĩ Kỳ).
  Trong các chương trình dự kiến được thực hiện trong năm nay nhân dịp Năm Quốc tế Rumi, Bộ Văn hóa Iran sẽ ấn hành tập thơ Masnavi của Rumi in song ngữ - bằng tiếng Ba-tư và bản dịch sang tiếng Thổ, tổ chức buổi lễ tưởng niệm Forouzanfar và Golpinarli, hai chuyên gia có uy tín người Iran và Thổ trong lĩnh vực nghiên cứu về Rumi, xuất bản một cuốn tự điển thành ngữ Thổ-Ba-tư, cũng như tổ chức một số buổi hòa nhạc của các nghệ sĩ Iran tại Thổ Nhĩ Kỳ. Đây là một sự kiện mà tầm quan trọng của nó vượt xa ngoài khuôn khổ một nền văn hóa: bởi thông qua Rumi, nhân loại nhận thức được trở lại một phần tinh hoa của nền văn minh Hồi giáo mà những cuộc xung đột cũng như sự kiện khủng bố có tính tôn giáo trong những năm gần đây không thể xóa mờ.
 

Thứ Sáu, 6 tháng 2, 2015

22 BÀI HỌC CUỘC ĐỜI ĐÁNG SUY NGẪM TỪ ÔNG CỤ 99 TUỔI

   Cuộc đời của cụ ông Andy Anderson ly kỳ như trên phim. Cụ gặp người vợ của mình vào thứ 7 rồi cả hai đi đến quyết định cưới nhau đúng 1 tuần sau đó.
    Họ gắn bó với nhau hạnh phúc cho tới khi người con gái trút hơi thở cuối cùng 67 năm sau. Trong khoảng thời gian 67 năm ấy, hai cụ kịp có với nhau 2 người con, nhận nuôi thêm một người con trai và từng đoạt nhiều giải thưởng về thể thao ở hạt.
22 bài học cuộc đời đáng suy ngẫm từ ông cụ 99 tuổi 1 
Tình yêu không bao giờ dễ dàng. Bạn cần phấn đấu để có được và duy trì nó.
  Không học đại học nhưng cụ ông Andy vẫn rất thành đạt trong sự nghiệp. Cụ là giám đốc điều hành mảng bơ sữa của Safeway phân phối đi toàn quốc. Biệt danh của cụ là Ngài Pho mát, còn trong gia đình, cụ được cả nhà yêu quý gọi là "ông nội Pho-mát".
  Một con người như vậy hiển nhiên có nhiều bài học quý giá để chia sẻ với bạn sau 99 năm sống trên cuộc đời này.
1. Luôn hài hước.
2. Sẵn sàng khởi sự từ đáy cùng
3. Tập thể dục mỗi ngày, kể cả khi không thích chút nào.
4. Đừng chi nhiều hơn thu.
5. Uống nước cam vắt mỗi ngày
6. Tình yêu sét đánh không phải là truyền thuyết vô căn cứ
7. Có công việc tồi vẫn còn tốt chán so với việc chẳng có gì mà làm.
8. Ăn hết sạch những gì có trên đĩa, không bỏ thừa thức ăn.
9. Gia đình là điều quý giá nhất trong đời.
10. Cuộc đời rất mong manh. Nếu bạn thờ ơ với chính mình, bạn sẽ hỏng bét. Đó chính là những gì mà pho mát đã dạy cho ta.
11. Đừng sợ khi là chính mình.
12. Mọi người mua quá nhiều quần áo. Chỉ mặc những gì bạn có và đừng mua sắm nữa.
13. Phải biết tha thứ, dù cho việc đó rất khó.
14. Tiết kiệm tiền để khi cần thì có cái mà dùng.
15. Tình yêu không bao giờ dễ dàng, đôi khi bạn cũng phải lao lực để duy trì và có được nó.
16. Hãy tìm ra khía cạnh khôi hài trong mọi tình huống.
17. Nếu đang phải đối mặt với rắc rối, đừng trì hoãn. Hãy cố tìm cách giải quyết nó. Nhưng nếu vô phương cứu chữa, bạn sẽ phải học cách quên rắc rối đó đi.
18. Hãy đảm bảo rằng bạn đang làm những gì mà mình yêu thích. Đừng sợ đi theo giấc mơ của chính mình.
19. Giáo dục là quan trọng, nhưng không nhất thiết phải theo đuổi. Bản thân trường đời cũng đủ để dạy bạn rồi.
20. Khám phá thế giới riêng của mình và hãy luôn sống tò mò.
21. Hãy nghĩ đến những câu trả lời hợp lý nhất trong mọi tình huống. Nếu như không biết đặt mình vào vị trí người khác, bạn sẽ là một kẻ tồi tệ.
22. Cuộc sống là món quà mà bạn bắt buộc phải tự tháo vỏ để tìm hiểu. Cũng không ai khác ngoài bạn có thể quyết định được thứ bên trong sẽ mang đến hạnh phúc hay xui xẻo.
                                                                                                 Theo Vietnamnet



Thứ Năm, 5 tháng 2, 2015

TÁNH KHÔNG LUẬN CỦA LONG THỌ (NAGARJUNA)




Có gì khác biệt gì giữa Tánh Không Luận của Nagarjuna và giáo lý vô ngôn, bất khả tư nghị của ĐứcPhật không?
Không có khác biệt chút nào. Nếu có sự khác biệt thì đấy chỉ là cách phát biểu khác nhau. Long Thọ (Nagarjuna) là một triết gia vĩ đại, một trong những người kỳ tài nhất thế giới. Chỉ vài người trên thế giới, rất ít người, mới có phẩm chất thâm thúy như Nagarjuna. Cho nên, cách nói của Ngài là rất triết học, logic, tuyệt đối logic. Phật là nhà huyền học, không phải triết gia. Cách nói của Ngài nhiều thi vị hơn là triết lý. Hai phương pháp khác nhau, nhưng Nagarjuna nói y hệt như Phật nói. Cách phát biểu của họ chắc chắn là khác nhau, nhưng điều họ nói cần phải hiểu rõ.

Bharti hỏi, “Có gì khác biệt giữa Tánh Không Luận (shunyavada)…” Shunyavada có nghĩa là lý thuyết, triết học về chân không. Trong tiếng Anh không có từ nào có thể tương đương, xấp xỉ tương đương với Tánh Không (shunya). Tánh Không nghĩa là trống không; nhưng không phải trống không tiêu cực, mà rất tích cực. Nó có nghĩa là chân không, nhưng không phải không có gì; nó có nghĩa là tính chất không có vật thể (no-thing-ness). Tánh Không có nghĩa là hư vô, không có bất cứ cái gì. Nhưng bản thân cái hư vô ấy tròn đầy, hiện diện khắp nơi (chân không diệu hữu), cho nên nó không phải chỉ là hư vô. Cũng tựa như bầu trời thăm thẳm, chỉ là không gian trống rỗng, nhưng nó hiện hữu. Mọi thứ đến trong đó rồi ra đi, nó thì còn lại mãi mãi.

Thứ Ba, 3 tháng 2, 2015

SẮC DỤC QUA CÁCH NHÌN CỦA ĐẠO PHẬT

 
     Vạn hữu vũ trụ có muôn màu muôn vẻ. Từ cảnh trí thiên nhiên đến vạn vật, con người, mỗi một đều có sắc thái riêng hoặc đáng yêu, hoặc đáng ghét, hoặc không đáng yêu nhưng không đáng ghét. Đối với những hình sắc đang yêu thì khởi tâm tam, bằng mọi cách phải thu về làm sở hữu cho mình. Với những sắc thái đáng ghét thì khởi tâm quyết tâm phá huỷ cho bằng được, với những sắc không yêu cũng không ghét, thì si mê mờ mịt chẳng màng ra sao cũng được. Yêu ghét là hai mặt của tâm dục. Dục là sự ham muốn thôi thúc trong lòng khiến người ta phải hành động để được thoả mãn. Tâm dục đặt trên các sắc tướng gọi là “Sắc dục”.
  Dục tuy nhiều nhưng không ngoài năm thứ là: tài (tiền của), sắc đẹp, danh vọng, ăn uống, ngủ nghỉ.
  Ở đây nói về sắc dục tức là lòng ham muốn đối với tất cả các hình sắc vừa mắt người nhìn như hình sắc nam, nữ xinh đẹp, khôi ngô tuấn tú, mắt phượng, mày ngài, môi hồng má thắm, sắc tướng dễ mến đáng yêu, nhìn chúng rồi sinh lòng tham ái. Đây là tham ái hình sắc nam nữ.
  Lại có hạng người đối với sự luyến ái nam nữ tâm nhiễm nhẹ nhàng chẳng sinh chấp trước nhưng lại rất yêu quí các thứ bảo vật thế gian như vàng, bạc, kim cương, ngọc ngà, châu báu ánh lên những màu sắc rực rỡ, hoặc yêu thích những vật dụng đồ dùng cổ xưa, đam mê trong sự sưu tầm tem thư, đồ cổ.
  Lại có người yêu thích vẻ đẹp thiên nhiên cỏ cây hoa lá, say mê với chậu kiểng, giàn lan, v.v…
  Thông thường, nói đến sắc dục là nhấn mạnh vào sự đắm sắc của nam nữ, tình ái si mê, trai yêu sắc gái, gái đắm hình trai, ân ái qua bao kiếp buộc ràng nhau không có kỳ chấm dứt. Lại có người chỉ yêu chuộng tự thân, cứ trau chuốt, điểm trang cho nó sang đẹp rồi tự hào, kiêu căng về nhan sắc của mình, không ngờ đây chính là hoạ hại. Vì nhan sắc dẫn đến ái dục, nó là một loại cạm bẫy, nó ngọt ngào mời gợi lòng dục của người khác phái, thách thức với lòng ganh tị của người cùng phái, nó nhận chìm chính đương sự và đối tượng cam tâm chịu chết trong ái dục mà không có khả năng từ khước. Lăn lộn trong biển dục mênh mông, làm nô lệ cho sắc tình, rất đau khổ mà người ta vẫn đắm đuối không chịu tránh xa như con thiêu thân biết sẽ thiệt mạng mà vẫn cứ lao vào ngọn lửa.
  Người đuổi theo sắc dục không biết chán như người uống nước muối, càng uống càng khát, càng đắm mê thì hoạ hại càng lắm, tự đem mình vào chỗ hang hùm miệng sói mà vẫn không sợ. Sắc dục làm cho bản thân chóng tàn cỗi, bệnh hoạn lại thêm nhiều phiền não khổ đau. Những thiên tình sử đẫm lệ cũng xuất phát từ sự đam mê tình ái. Vì sắc dục một người hiền lương có thể trở thành tướng cướp, một con người hiếu thuận có thể trở nên ngỗ nghịch làm khổ cha me, một người chồng tốt, một người vợ đảm đang có thể đánh mất lòng chung thuỷ làm cho gia đình ly tán, con cái bơ vơ. Trong lịch sử có biết bao anh hùng hảo hán chỉ vì đắm sắc mà phải tan thân mất mạng. Các vị vua chúa vì sắc dục mà quốc phá gia vong, thân bại danh liệt lưu tiếng xấu muôn đời.
  Đam mê sắc dục là tự phá hoại đời mình, đó là hạng phàm phu tự dìm mình xuống chỗ bùn lầy. Đức Phật ví họ như một đứa bé dại khờ vì tham tiếc một chút mật trên lưỡi dao bén, le lưỡi liếm mà phải chịu cái hoạ đứt lưỡi, hoặc như người ngu si cầm đuốc đi ngược gió ắt phải bị cháy tay. Sắc dục hại người hơn cả thú dữ, hơn cả nước lũ vì nó mê hoặc người làm việc xấu ái, tạo tai hoạ nhiều kiếp sau dày, chịu trầm luân khổ sợ không thể nào thoát khỏi.
  Nhận thức rõ hoạ hại của sắc dục Đức Phật dạy các đệ tử Ngài phải dè dặt đừng để đắm luyến sắc đẹp. Ngài khẳng định sức mạnh của sắc dục như sau: "Sự ham muốn không gì hơn sắc đẹp, sụ ham muốn sắc đẹp ngoài nó không có gì lớn bằng cũng may chỉ có một mình nó mà thôi. Nếu có cái gì thứ hai bằng nó thì người khắp thiên hạ không ai có thể tu hành được”.
  Con người có nhiều ham muốn, trong đó ham muốn sắc đẹp tức sắc dục là nặng hơn hết. Chỉ một mình nó là hơn hết nên còn có người khả dĩ tu được, khả dĩ vượt qua nỗi.
  Tất cả các loài sinh trong vũ trụ đều do dục mà ra. Ai dục là bản chất của mọi đời sống. Loài thực vật biểu lộ tính dục bằng sự nở rộ các loài hoa khoe sắc hương để nhờ gió hoặc để các loài ong bướm đến thụ phấn cho những nhuỵ hoa. Ơ loài động vật, tiếng thú kêu, tiếng chim hót là lời kêu gọi bạn tình. Cho đến loài người hạt giống ái dục ngủ ngầm tiềm ẩn bên trong thúc giục thần thức đi vào thai mẹ để rời có mặt, quay cuồng trong vòng luân hồi sinh tử. Được sin hra từ sự đam mê sắc dục, được nuôi dưỡng trưởng thành nơi dục cho nên muốn vượt qua nó là một việc rất khó khăn, vì thế Đức Phật nói rằng sắc dục rất mạnh, nó mạnh hơn tất cả các thứ dục và ngài khuyên nhắc để được giải thoát an lạc phải dè dặt đừng để đắm luyến trong sắc dục.
   Giáo pháp của Đức Phật đã vạch trần bản chất của sắc tướng là vô thường, nó mong manh phù dù, chợt có chợt không như ánh chớp, như hòn bọt, như giọt sương trong sức nóng của mặt trời, không thể nắm bắt được.
   Bản chất của sắc tướng là vô ngã, nó chỉ là sự tụ hội của nhiều yếu tố, điều kiện mà thành, nếu các yếu tố ấy phân ly thì sắc tướng kia cũng mất. Vì thế tuy đang hiện hữu đây mà rõ chỉ là trướng hư giã nó theo duyên mà hình thành, theo duyên mà tồn tại, theo duyên mà lụi tàn nên nó không có thực chất.
  Bản chất của sắc tướng là nhơ uế. Nhìn lại hình hài một con người để thấy rõ điều này.
  Thân người được phủ bên ngoài một lớp da chi chít những lỗ li ti gọi là lỗ chân lông, bên trong là lớp mở thịt, đắp vào một khung xương rồi nối liền nhau bởi những sởi gân và lục phủ ngũ tạng chứa đựng đồ nhơ uế như phân, nước tiểu, máu huyết, mồ hôi, đờm, dãi, chảy tràn ra ngoài qua các lỗ chân lông. Mắt tai, mũi, miệng, cửa đại, tiểu. Nếu trong 24 giờ mà không chải răng, súc miệng, tắm rữa thì tự mình cũng không chịu nổi sự hôi dơ nơi mình huống chi là người khác. Thế nên Phật bảo thân người là một túi da hôi thúi, dù tô son trét phấn, áo lụa quần là bao bọc bên ngoài thì thực chất cũng chỉ là túi da hối thúi mà thôi. Người trí quán chiều sâu sắc để thấy rõ thực chất của sắc thân, để không bị sắc dục nhấn chìm trong biển ái.
  Vua Trần Thái Tông, một ông vua thiền sư đời Trần trong bài “Rộng nói về sắc thân” đã nói rõ cái ô uế của thân qua các câu sau.
  “Đầu sọ khô cài trâm giắt ngọc, túi da hôi ướp xạ xông hương, cắt lụa là che đậy máu tanh, dồi son phấn át thùng phân thối. Trang sức như thế trọn là gốc nhớp. Không thể nơi đây tự thẹn lại hướng trong ấy mến yêu."
  Ngài sống trong triều đình, trong cung có biết bao cung phi mỹ nữ điểm trang lộng lẫy, giắt ngọc cài hoa, hương xông xạ ướp nhưng ngài thấy rõ tận gốc chỉ là “đầu sọ khô”, “túi da nhớp”, “máu tanh hôi”, “thùng phân thôi”, đâu có gì là mỹ lệ yêu kiều. Trang sức như vậy cũng chỉ để che đậy cái thân bẩn thỉu gớm ghê. Thế mà lại có những kẻ mê muội lại hướng vào đó mà tự hào, yêu mến nó. Thật là không biết hổ thẹn, thật là quá đổi mê lầm. Đáng thương vậy.
  Giọt mật trên lưỡi dao bén không có lỗi, lỗi là do kẻ dại khờ, ngọn đuốt cháy tạt theo hướng gió không có tội, tội là do người ngu muội, sắc thân vốn không lỗi gì, tự nó không có lỗi cũng không có hại. Lợi hay hại là do người đã sử dụng sắc thân một cách mê si hay trí tuệ.
  Mê si là nhận thức sai lầm về thân, khởi tâm dục nhiễm nên chuốt tai hoạ sa đoạ trầm luân.
  Trí tuệ là nhận thức đúng đắn về thân, thấy rõ hoạ hại của ái dục nên dè dặt không để nó sinh khởi, sụ dụng thân như một phương tiện để hành đạo. Ngay nơi thân mà quán chiếu về bất tinh, vô thường, vô ngã, thoát ly ái dục tiến đến giác ngộ giải thoát.
  Người học Phật dù là tại gia hay xuất gia đều phải thường tự cảnh tỉnh trước sự quyến rũ của sắc dục, không để nó mê hoặc làm mất phẩm hạnh đạo đức và tinh tấn thực hành lời Phật dạy đoạn tận gốc rễ của ái dục hầu kiến lập một đời sống trong lành, tự tại an vui ngay giữa cuộc đời này.

                                                                                           Theo kienthuc

Chủ Nhật, 1 tháng 2, 2015

VŨ TRỤ ÐANG SỐNG

                                                            

 Bác sĩ Nha khoa PHAN THÀNH HẢI
   Ðôi khi chúng ta tự hỏi: Sự nuôi sống cho cơ thể của chúng ta hoạt động như thế nào? Ngoại trừ những người học về ngành y, phần đông chúng ta còn mù mờ về vấn đề nầy lắm. Chắc rằng trên con đường tiến đến giác ngộ giải thoát, chúng ta cũng cần nên tìm hiểu về cơ thể của chúng ta hoạt động như thế nào. Sau đây chúng ta cùng nhau khảo sát sơ lược về hoạt động của cơ thể gọi là chu trình biến dưỡng tuần hoàn:
 - Ðầu tiên khi chúng ta ăn thì cần hàm răng nghiền nát thức ăn, trong nước bọt có tiết ra vài phân hóa tố để làm cho thức ăn dễ tiêu hóa.
 - Sau đó đồ ăn thức uống được nuốt vào dạ dày. Ở đây dạ dày nhồi bóp cho thức ăn rã ra. Dạ dày và túi mật lại tiết ra thêm vài phân hóa tố làm cho thức ăn tan ra cuối cùng thành chất lỏng sền sệt. Kế tiếp chất lỏng đó được đưa xuống ruột non. Ở ruột non có những nếp gấp và ống nhỏ hút dưỡng chất trong chất lỏng đó vào cơ thể. Còn lại những chất xơ trong chất lỏng sền sệt đó được đẩy xuống ruột già thành phân tống ra ngoài theo đường hậu môn.
 - Dưỡng chất trong các ống nhỏ đó được hút tập trung vào Tĩnh Mạch Cửa (Portal Vein) để đưa dưỡng chất vào trong gan. Gan có nhiệm vụ lọc những chất độc trong dưỡng chất và phân tích dưỡng chất thành những chất bổ nuôi cơ thể.
 - Sau khi đi qua Gan, những chất bổ đó được đưa ra Tĩnh Mạch Chủ dưới (Inferior Vena Cava) để đưa lên Tim. Trên đường đi, Tĩnh Mạch chủ dưới đi ngang qua hai Trái Thận. Máu từ hai Trái Thận được đưa ra theo Tĩnh Mạch Thận phải và Tĩnh Mạch Thận trái rồi nhập vào Tĩnh Mạch Chủ dưới. Máu nầy đã được Thận lọc rồi nhưng là máu đen vì hồng cầu có chứa khí Carbonic (CO2). Tất cả những chất bổ dưỡng và máu đen trong Tĩnh Mạch Chủ dưới được đưa lên Tim vào trong Tâm Nhĩ phải. 
   Tim là một khối cơ thịt to gần bằng nắm tay có bốn ngăn. Trong Tim có vách ngăn lớn ngăn Tim từ trên xuống dưới thành 2 phần phải và trái. Phần bên phải lại có những Valve Tim chia thành 2 ngăn. Ngăn nhỏ ở trên gọi là Tâm Nhĩ phải; ngăn lớn ở dưới gọi là Tâm Thất phải.
  Phần bên trái của Tim cũng có những Valve chia thành 2 ngăn gọi là Tâm Nhĩ trái và Tâm Thất trái.
 - Khi máu đen và các chất bổ dưỡng được đưa vào Tâm Nhĩ phải rồi chúng được hút xuống Tâm Thất phải:Các Valve phân chia Tâm Nhĩ và Tâm Thất được mở ra cho máu chảy từ Tâm Nhĩ xuống Tâm Thất; đó là thời kỳ Trương Tâm.
    Kế đó, là thời kỳ Thu Tâm tức là Tim bóp lại. Các valve phân chia Tâm Nhĩ và Tâm Thất sẽ đóng kín lại. Hỗn hợp máu đen và các chất bổ dưỡng ở trong Tâm Thất phải được tống qua Phổi theo ống Phổi (Pulmonary Trunk).
 - Trong hai trái Phổi, máu đen sẽ thành máu đỏ vì hồng cầu nhả khí Carbonic ra theo hơi thở thoát ra ngoài và hồng cầu kết nạp khí Oxygen (O2) từ không khí hút vào.
 - Sau đó máu đỏ và các chất bổ dưỡng theo các Tĩnh Mạch Phổi được hút trở lại Tim, rồi chúng được đầy xuống Tâm Thất  trái trong thời kỳ Trương Tâm.
    Tới thời kỳ Thu Tâm, các Valve ngăn Tâm Nhĩ và Tâm Thất đóng lại; Tim bóp đẩy máu đỏ và chất bổ dưỡng ra khỏi Tim bằng đường Ðộng Mạch Chủ (Aorta). Từ Ðộng Mạch Chủ, máu đỏ và những chất bổ dưỡng được phân tán đi khắp cơ thể để nuôi những Tế Bào của các bộ phân. Sau khi nuôi các Tế Bào rồi, máu đỏ trở thành máu đen; chất bổ trở thành chất cặn bã được thu gom theo các đường Tĩnh Mạch chảy xuống Thận.
  Ở Thận, các chất cặn bã được lọc chảy xuống đựng ở Bàng Quang thành nước tiểu ra ngoài.  Máu đen ở Thận lại chảy vào Tĩnh  Mạch Chủ dưới đi tiếp tục chu trình tuần hoàn nuôi dưỡng cơ thể con người. 
  Bây giờ chúng ta nhìn xem Tế Bào của các bộ phận hoạt động như thế nào? Ðơn giản là: Mỗi Tế Bào có màng Tế Bào bao bọc, bên trong Tế Bào có một Nhân, chung quanh nhân là chất lỏng có những Ty Lạp Thể. Màng tế bào có những lỗ nhỏ để chất bổ dưỡng gồm 3 thành phần là Chất Ðạm, Chất  Ðường và Chất Béo cùng với Máu gồm có Hồng cầu, Bạch cầu và Tiểu cầu đi ra, vô được.
  Khi chất bổ dưỡng đi vào tế bào thì các chất đạm mới  sẽ thay thế các chất đạm cũ đã hư hoại; các chất đường được Oxy trong hồng cầu đốt  tỏa ra nhiệt  lượng để hâm nóng cơ thể và làm cho cơ thể có năng lượng để hoạt động. Nếu hoạt động nhiều quá thì chất béo bị phân tích thành chất đường để bị đốt cho ra thêm năng lượng. Nếu hoạt động it thì chất đường dư thừa sẽ đọng lại thành chất béo tạo nên những mô mỡ.
   Khi Oxy đốt cháy chất đường thành than thì nó kết hợp với than đó thành Carbonic (CO2) bám trở lại hồng cầu ra khỏi màng tế bào. Các chất cặn bã cũng bị  thải ra khỏi tế bào cùng với máu đen theo đường tĩnh mạch xuống thận để thận lọc.
  Ðến đây thì có nhiều người bất giác bỗng la lên “Chúng ta đang sống!”. Trong niềm phấn kích đó họ nhìn ra ngoài cữa thấy cây cỏ xanh tươi đang đâm chồi nẫy lộc, bướm bay chim hót thì lại la lên “Vũ trụ đang sống!”. Thật là hớn hở, hoan lạc! 
  Bây giờ nếu chúng ta dùng kính hiển vi cực mạnh để xem trong nhân của tế bào thì ta thấy các vòng xoắn di truyền DNA và RNA. Vòng xoắn nầy kết hợp bởi các dây của những nguyên tử như Oxygen, Hydrogen, Nitrogen…
   Nếu ta có kính hiển vi điện tử nữa thì ta có thể xem được cấu tạo của các hạt nguyên tử. Thành phần của một nguyên tử gồm có một nhân ở giữa, xoay vòng chung quanh nhân là những điện tử mang điện tích âm (Electron). Khoảng cách giữa điện tử với nhân nguyên tử tương đối rất xa. Ðiện tử có khối lượng cực nhỏ; có lẽ người ta không tìm ra loại nào nhỏ hơn nó nữa!
  Trong nhân nguyên tử thường gồm 2 loại hạt là Dương điện tử (Proton) và Trung hòa tử (Neutron). Hai loại hạt nầy có khối lượng gần bằng nhau và lớn hơn âm điện tử khoảng chục nghìn lần.
   Trung hòa tử không mang điện; còn Dương điện tử thì mang điện tích dương. Rọi vào một trung hoà tử hay Dương điện tử thì thấy nó được cấu tạo bằng 3 hạt căn bản gọi là Quark.
   Tuỳ theo loại nguyên tử có nhiều hay it trong Trung hòa tử, Dương điện tử và âm điện tử mà thành ra các chất khác nhau. Trong thiên nhiên có khoảng hơn 100 chất, nhỏ nhất là chất Hydrogen có khối lượng “1,0079u” (u là đơn vị đo khối lượng của nguyên tử); vừa vừa thì có Carbon với khối lương 12.011u. Lớn nhiều thì có chất Uranium khối lượng 238.029u.
  Sau nầy người ta tìm ra thêm những hạt nhỏ như Meson, Muon… cỡ bằng Electron nhưng khoa học ngày nay không biết thêm những hạt vật chất nào nhỏ hơn được nữa mà người ta nhận thấy rằng tràn đầy khắp vũ trụ là nguyên tử vật chất và thể loại khác là năng lượng.
 Năng lượng thì có nhiệt năng, điện năng, động năng, quang năng, phóng xạ, nguyên tử… Ngoại trừ quang năng còn các loại khác thì vô hình nhưng chúng thật có trong vũ trụ.
  Liệu có liên hệ nào giữa vật chất và năng lượng không?
  Ðến đây thì ta gặp được phương trình nổi tiếng của hà bác học Albert Einstein (1879 – 1955) là E = mc2.
E: Năng lượng, m : khối lượng của vật chất.
C: Vận tốc của ánh sáng (300.000Km/giây).
   Như vậy theo phương trình nầy thì năng lượng và vật chất có thể hoán chuyển qua lại lẫn nhau. Nói cách khác năng lượng chính là vật chất hay vật chất chính là năng lượng. Vật chất chính là năng lượng kết tụ lại; còn khi vật chất rã ra thì phóng thích năng lượng.
  Có gì chứng minh phương trình của Einstein là đúng không? 
  Trong thiên nhiên ta thấy chất Uranium có khối lượng m =238.029u; sau nhiều năm phóng thích năng lượng, nó nhỏ đi thành chất Thorium có khối lượng m = 232.032u.
  Vì thế người ta dùng những thanh Uranium để cung cấp năng lượng cho nhà máy điện nguyên tử và chạy Tàu Ngầm nguyên tử.  Ðó là để chất Uranium phóng thích năng lượng tự nhiên, nếu kích hoạt nó nổ thì một quả bom nguyên tử nhỏ có thể trong giây lát tàn phá cả một thành phố!
  Ðức Phật mô tả vật chất và năng lượng là Sắc và Không.  Chữ KHÔNG viết hoa là chỉ cho năng lượng vì nó không hình dạng nhưng là thực thể tràn đầy trong vũ trụ. Chữ SẮC để chỉ vật chất có lẽ là từ ngữ đúng hơn vì từ KHÔNG kết tụ lại thành SẮC mà ta có thể thấy được chứ chẳng phải vật chất gì cả.
  “SẮC chẳng khác KHÔNG; KHÔNG chẳng khác SẮC. SẮC tức là KHÔNG; KHÔNG tức là SẮC. Tướng KHÔNG của mọi thứ trong vũ trụ không sinh ra, không mất đi, không nhơ không sạch; không tăng không giảm”…(Ma Ha Bát Nha Ba La Mật Ða Tâm Kinh). 
   Người ta thường thắc mắc sau khi người ta chết đi liệu có còn gì nữa không hay Chết là Hết?
Ðến đây thì ta bắt gặp một phương trình khác của Einstein:
image
mo: Khối lượng của vật chất lúc ban đầu đứng yên.
m: Khối lượng của vật chất sau khi di chuyển.
v: Vận tốc của vật ấy.
c: Vận tốc của ánh sáng. 

Thứ Năm, 29 tháng 1, 2015

DIỄN VĂN CHẤN ĐỘNG CỦA DOANH NHÂN VIỆT SUÝT TỰ SÁT Ở MỸ

Bài diễn văn của Tiến sỹ Trần Vinh Dự gây chấn động dư luận và được so sánh với bài phát biểu của huyền thoại Steve Jobs tại ĐH Stanford năm 2005.
   Chỉ trong một thời gian ngắn, bài diễn văn này được chia sẻ rất nhiều trên các trang mạng xã hội.
  Chủ nhân của bài diễn văn gây chấn động ấy là doanh nhân, Tiến sỹ Trần Vinh Dự - Chủ tịch Trường Cao đẳng Nghề Việt Mỹ (VATC) và Chủ tịch Trung tâm Quốc tế của Đại học Broward College (Mỹ) tại Việt Nam.
  Trao đổi với chúng tôi, TS Trần Vinh Dự cho biết, đây là bài diễn văn ông nói trong lễ tốt nghiệp của sinh viên trường Cao đẳng Nghề Việt Mỹ vào tháng 3/2010.

Tiến sĩ Trần Vinh Dự với bài diễn văn gây chấn động.
  Nhiều người bình luận luận cho rằng bài phát biểu giống với bài diễn văn của nhân vật huyền thoại Steve Jobs tại lễ tốt nghiệp của ĐH Stanford năm 2005; “bài phát biểu của Steve Jobs ở Việt Nam”.
Một độc giả khác đánh giá: “Bài viết có chiều sâu và sức hút kỳ lạ!”;“ Bài phát biểu quá hay, vì nó xuất phát từ trái tim chân thành và bộ não chứa đầy tri thức, trải nghiệm”…
  Trong bài diễn văn của mình nói với sinh viên ngày ra trường, TS Trần Vinh Dự đưa ra 3 điều: Sự thất bại, sự hữu hạn của cuộc đời, sự thành đạt và hạnh phúc.
  Chúng tôi xin phép đăng tải nguyên văn bài diễn văn “kinh điển” gây chấn động này của TS Trần Vinh Dự:
  Tôi rất hân hạnh được có mặt trong buổi lễ tốt nghiệp ngày hôm nay của các bạn, những cựu sinh viên yêu quý của trường Cao đẳng Nghề Việt Mỹ.
  Trong ngày vui này, tôi muốn chia sẻ với các bạn 3 điều với tư cách là một người bạn. Chỉ có 3 điều thôi, không có gì là lớn lao.
  Điều thứ nhất là về sự thất bại 
  Tôi tự cho mình là một người dám chấp nhận thất bại. Thất bại đầu đời của tôi là trong năm đầu Đại học. Tôi vào học Đại học Quốc Gia Hà Nội năm 1995 và đặt mục tiêu phải lấy được học bổng để đi Úc học ngay trong năm đầu tiên.
  Để làm được việc đó, tôi phải đứng đầu trường về thành tích học tập. Kết quả học tập của tôi năm đó đứng đầu trường.
  Nhưng đáng tiếc là chương trình học bổng của Úc mà tôi nhắm tới năm đó kết thúc. Giấc mơ không thành, tôi đã khóc nhiều ngày, nhưng tôi không bỏ cuộc.
  Khi tốt nghiệp Đại học, tôi cũng tốt nghiệp đứng đầu khoá. Tôi được trường Đại học Quốc Gia Hà Nội giữ lại làm giảng viên. Thế nhưng mức lương khi đó chỉ có 400 nghìn đồng mỗi tháng, đủ cho tôi uống café và ăn sáng vài ngày.
  Tôi nộp hồ sơ xin việc ở nhiều nơi, và trong suốt 6 tháng trời, tôi chỉ nhận được hết cái lắc đầu này tới cái lắc đầu khác. Lại một thất bại nữa.
  Sự thất bại trong việc tìm việc làm tốt và lương cao khiến tôi nhận ra tôi cần phải làm tốt hơn nữa. Tôi đã dành một năm tự học và xin học bổng.
  Thời kỳ này áp lực lớn tới mức tóc trên đầu tôi rụng từng mảng. Tôi cao 1m74, và khi đó tôi chỉ nặng hơn 50 kg đôi chút.
  Nhưng nỗ lực của tôi cuối cùng không uổng. Tôi được nhận học bổng của viện Harvard Yenching tại trường Đại học Harvard và được nhận vào học tại Đại học Tổng hợp Texas tại Austin. Năm 24 tuổi, tôi bắt đầu qua Mỹ học tiến sĩ Kinh tế.
  Gần 6 năm học tiến sĩ là một thời kỳ gian khổ, đặc biệt là trong giai đoạn làm luận án.
  Các thất bại liên tiếp trong nghiên cứu và áp lực phải thành công để tốt nghiệp là đặc biệt nghiêm trọng.
  Nếu thời gian kéo dài quá lâu, học bổng của tôi sẽ hết, và tôi sẽ phải bỏ cuộc và về Việt Nam với hai bàn tay trắng. Vì thế nhiều lúc quẫn trí tôi đã tính đến việc tự sát.
  Thế nhưng cuối cùng tôi vẫn vượt qua được. Khi tôi tốt nghiệp đầu năm 2007, tôi là một trong 3 nghiên cứu sinh được đánh giá cao nhất trong số khoảng gần 20 tiến sĩ Kinh tế tốt nghiệp năm đó của trường.
  Ngay từ trước khi ra trường, tôi đã có việc làm tại Mỹ với mức lương khởi đầu 6 con số, tức là hơn 100 nghìn USD/năm.
  Năm 2010, tôi về Việt Nam và bắt đầu làm việc cho một Quỹ đầu tư lớn nhất nhì Việt Nam trên cương vị cố vấn kinh tế cao cấp. Nhiều người ngăn cản quyết định này. Nhiều người cho tôi là ngu ngốc.
  Và quả thật, tôi bị sa thải chỉ sau 3 tuần làm việc ở tập đoàn này. Lý do, các lãnh đạo của họ sợ những gì tôi nói và viết có thể ảnh hưởng đến tương lai chính trị của tập đoàn. Lại một thất bại nữa. Lần này nặng hơn vì tôi đã 33 tuổi.
  Nhưng chính nhờ thất bại này, sự nghiệp của tôi rẽ sang một lối đi mới. Tôi tham gia cùng các bạn bè thân hữu của mình xây dựng công ty tài chính TNK Capital, giờ là một công ty tư vấn tài chính uy tín ở Việt Nam.
  Từ công ty này, chúng tôi lập ra Ismart Education, một công ty tiên phong ở Việt Nam trong lĩnh vực giải pháp giáo dục số, và đầu tư vào Học viện Giáo dục Hoa Kỳ, là công ty sở hữu trường Cao đẳng Nghề Việt Mỹ.
  Đó cũng là lý do mà tôi đứng trước các bạn ngày hôm nay với tư cách Chủ tịch của trường.
  Những thất bại mà tôi gặp phải trong 20 năm qua có thể chưa phải là những thất bại lớn. Tôi có thể sẽ còn gặp thêm nhiều thất bại nữa trong những năm tới. Nhưng mỗi khi thất bại, tôi lại thấy mình trưởng thành hơn và quyết tâm hơn.
  Ngày hôm nay các bạn ra trường, cũng giống như tôi ra trường hồi 15 năm trước. Dù học giỏi tới đâu, hành trang lập nghiệp của các bạn cũng giống như tôi ngày đó, vẫn còn nghèo nàn lắm.
  Các bạn chắc chắn sẽ phải đối mặt với nhiều khó khăn, thử thách, và sẽ có nhiều thất bại. Có những thất bại sẽ làm các bạn bật khóc. Có những thất bại sẽ làm các bạn không thể khóc thành lời.
  Có những thất bại sẽ làm các bạn mất niềm tin và gục ngã. Có những thất bại thậm chí làm các bạn đau đến mức ước như mình chưa bao giờ được sinh ra.
  Trong những giờ phút ấy, hãy nhớ rằng ai cũng sẽ phải trải qua những thử thách tương tự.
  Cái gì không giết chết được chúng ta thì sẽ làm chúng ta lớn mạnh hơn. Tôi mong điều ấy ở các bạn. Và đó là chia sẻ đầu tiên.
 

Thứ Ba, 27 tháng 1, 2015

CHUYỆN DỄ NHƯNG LẠI KHÓ !!!


               

   Chuyện về loài chim ó:
   Nếu đặt một con chim ó vào trong một chiếc lồng, với kích thước khoảng 2m x 2,5m, nhưng hoàn không có nóc, tức là phần trên được mở toang; con chim này sẽ vẫn hoàn toàn là một... tù nhân trong lồng đó.
   Lý do: con chim ó luôn bắt đầu bay “chạy đà” khoảng 3- 4m đầu tiên. Không có quãng đường để chạy, theo thói quen, chim ó không thể bay lên, và sẽ chấp nhận bị cầm tù suốt đời, trong một “nhà giam” nhỏ không có mái!

   Câu chuyện con dơi:
   Một con dơi thường bay ra ngoài kiếm ăn vào buổi tối. Nó là một sinh vật nhanh nhẹn, linh lợi và bay chính xác.
  Tuy nhiên, nó không thể cất cánh mà lại thả người rớt xuống rồi mới bay. Nếu nó được đặt trên sàn hoặc một mặt phẳng, thì nó chỉ có thể lê bước loanh quanh một cách vô vọng, và, tất nhiên vô dụng, không thể bay đi.
   Cho đến khi nó được rớt từ một độ cao nhỏ thôi là có thể tung mình bay vào không trung.

   Câu chuyện về con ong nghệ:
   Con ong nghệ, nếu bị thả vào một cái ly lớn không đậy nắp, cũng sẽ ở trong ly đó cho đến chết.
   Nó không bao giờ nhìn thấy đường thoát ở phía trên, mà chỉ cố gắng tìm cách nào đó thoát ra qua các mặt ngang bên, hoặc qua... đáy ly.

   Và câu chuyện về con người...

   Trong rất nhiều trường hợp, con người cũng giống như con chim ó, con dơi và con ong nghệ ở trên. Vật lộn với tất cả các vấn đề rắc rối của mình, mà không bao giờ nhận ra rằng rất có thể có một giải pháp ở rất gần, trước mắt, vì từ lâu, con người đã thường tự giam mình trong những cái lồng của thói quen, sự cố chấp, sự ích kỷ, tham lam... và sự lệ thuộc vào người khác

                                                                                         st

Chủ Nhật, 25 tháng 1, 2015

Ý NGHĨA LẠY PHẬT



 Một em bé đi chùa lễ Phật, lễ xong em vừa ra đến sân chùa, gặp một quân nhân đứng ngắm cảnh. Thấy em, quân nhân liền hỏi: 
- Em đi đâu thế?  Bé gái đáp: Em đi chùa lễ Phật.
- Quân nhân hỏi: Tượng Phật bằng gỗ bằng xi măng, em lễ cái gì?
- Bé hỏi lại: Ở doanh trại anh mỗi sáng có chào cờ không? 
Quân nhân đáp: Sáng nào cũng chào cờ.

- Bé lại hỏi: Cờ bằng vải bằng màu, tại sao phải nghiêm trang chào? 
- Quân nhân đáp: Chào tinh thần Tổ quốc được tượng trưng qua lá cờ, chớ không phải chào vải màu.
- Em bé nói: Cũng thế, em lạy tinh thần Từ Bi Giác Ngộ của Đức Phật được tượng trưng qua hình tượng chớ không phải lạy gỗ lạy xi măng.
… Chúng ta lạy Phật không vì van xin tha tội, không vì cầu mong ban ân, chỉ vì quí kính một đấng lòng từ bi tràn trề, trí giác ngộ viên mãn. 
   Vì quí kính công đức trí tuệ của Phật nên chúng ta lạy Ngài. 
  Lạy Phật để thấy mình còn thấp thỏi ti tiện, bỏ hết những thói ngạo mạn cống cao. 
  Quí kính gương cao cả của Phật để mình noi theo. 
  Phước đức lạy Phật là tại chỗ đó . 

Trước khi chìm vào giấc ngủ, chúng ta có thể nghĩ rằng, 
  “ Mình sắp chết ...” và cầu nguyện để được tái sinh vào cõi Tịnh Độ của Phật A Di Đà. 
  Nếu chúng ta có thể làm quen với điều này trong thời gian dài, 
thì chúng ta nhớ về Phật A Di Đà khi trong giai đoạn trung ấm một cách dễ dàng hơn. 
  Chúng ta sẽ không còn thân vật chất mà chỉ có thần thức trong giai đoạn đó. 
  Vì thế, nếu chúng ta có thể nhớ tưởng tới Phật A Di Đà lúc đó, 
ta sẽ được Đức Phật A Di Đà dẫn dắt tới cõi Tịnh Độ rất dễ dàng.

                                                             Kyabje Yangthang Rinpoche


Thứ Bảy, 24 tháng 1, 2015

HẠT TÁO



   Tại một xứ Hồi giáo nọ, có một người đàn ông bị vua truyền lệnh treo cổ vì đã ăn cắp thức ăn của một người khác. Như thường lệ, trước khi bị treo cổ, tù nhân được nhà vua cho phép xin một ân huệ.    Kẻ tử tội bèn xin với nhà vua như sau: "Tâu bệ hạ, xin cho thần được trồng một cây táo. Chỉ trong một đêm thôi, hạt giống sẽ nảy mầm, thành cây và có trái ăn ngay tức khắc. Ðây là một bí quyết mà cha thần đã truyền lại cho thần. Thần tiếc là bí quyết này không được truyền lại cho hậu thế".
   Nhà vua truyền lệnh cho chuẩn bị mọi sự sẵn sàng để sáng hôm sau người tử tội sẽ biểu diễn cách trồng táo. Ðúng giờ hẹn, trước mặt nhà vua và các quan văn võ trong triều đình, tên trộm đào một cái lỗ nhỏ và nói: "Chỉ có người nào chưa hề ăn cắp hoặc lấy của người khác, người đó mới có thể trồng được hạt giống này. Vì đã từng ăn trộm nên tôi không thể trồng được hạt giống này".
    Nhà vua tin người tử tội, nên mới quay sang nhìn vị tể tướng, có ý nhờ ông ta làm công tác ấy. Nhưng sau một hồi do dự, vị tể tướng mới thưa: "Tâu bệ hạ, thần nhớ lại lúc còn niên thiếu, thần cũng đã có lần lấy của người khác... Thần cảm thấy mình không đủ điều kiện để trồng hạt táo này".   Nhà vua đảo mắt nhìn quanh các quan văn võ đang cómặt, ông nghĩ bụng: may ra quan thủ kho trong triều đình là người nổi tiếng trong sạch có thể hội đủ điều kiện. nhưng cũng giống như vị tể tướng, quan thủ kho cũng lắc đầu từ chối và tuyên bố trước mặt mọi người rằng, ông cũng đã có một lần gian lận trong chuyện tiền bạc. không còn tìm được người nào có thể thực hiện được bí quyết trồng cây ấy, nhà vua định cầm hạt giống đến cho vào lỗ đã đào sẵn. Nhưng ông cũng chợt nhớ rằng lúc còn niên thiếu, ông cũng có lần đánh cắp một báu vật của vua cha...
   Lúc bấy giờ, người tử tội chỉ vì ăn cắp thức ăn, mới chua xót thốt lên: "Các ngài là những kẻ quyền thế cao trọng. Các ngài không hề thiếu thốn điều gì. Vậy mà các ngài cũng không thể trồng được hạt giống này, bởi vì các ngài cũng đã hơn một lần lấy của người khác. Còn tôi, một con người khốn khổ, chỉ lỡ lấy thức ăn của người khác để ăn cho đỡ đói qua ngày, thì lại bị các ngài nghị án treo cổ...".   Nhà vua và cả triều thần nghe như xốn xáo trong lương tâm. Ông ra lệnh phóng thích cho người ăn trộm.
   Hạt giống bình an đó chỉ có thể nảy mầm thành cây và mang lại hoa trái là nếu mỗi người ai cũng dọn sẵn đất đai cho nó. Ðất đai thuận tiện để cho hạt giống của Bình An ấy được nảy mầm, chính là lòng sám hối thực sự. Sám hối nghĩa là biết chấp nhận chính bản thân và sẵn sàng cảm thông, tha thứ cho người khác. Có nhận ra những yếu đuối bất toàn của mình, con người mới dễ dàng cảm thông và tha thứ cho người. Và có cư sử như thế, chúng ta mới thấy được hạt giống Bình An nảy mầm trong tâm hồn chúng ta và mang lại hoa trái cho người xung quanh...

                                                                              ST


Thứ Ba, 20 tháng 1, 2015

NHỮNG ĐIỀU NHẤT ĐỊNH CON PHẢI HỌC !!!!

                                Nếu con học được những điều này, con sẽ có một tinh thần “quý tộc”.


   1. Con ạ, con nhất định phải học nấu cơm. Việc này không liên quan với chuyện hầu hạ người khác. Khi những người yêu thương con đều không ở bên cạnh, con có thể đối đãi bản thân thật tốt. (Có thể độc lập sinh tồn)
   2. Con ạ, con nhất định phải học lái xe. Việc này không liên quan với thân phận địa vị. Như thế vào bất cứ lúc nào, con cũng có thể cất bước đi đến bất cứ nơi nào con muốn, không cầu cạnh bất cứ người nào. (Tự do)
  3. Con ạ, con nhất định phải học đại học, đại học chính quy. Việc này không liên quan với học lực. Trong đời người cần trải qua mấy năm này, cuộc sống không gò bó lại có thể thấm nhuộm thư hương. (Một khi đi vào xã hội, là đã đi vào thị trường)
  4. Con ạ, con có biết không? Dấu chân có bao xa, lòng dạ có bao rộng. Tấm lòng rộng rãi, con mới vui vẻ. Ngộ nhỡ đi không xa, hãy để sách vở đưa con đi. (Mở rộng tầm nhìn của mình, nhờ vào tầm nhìn của tri thức)
  5. Nếu trên đời chỉ sót lại hai bát nước, một bát dùng để uống, một bát phải dùng để rửa sạch gương mặt và quần áo lót của con. (Tự tôn không liên quan với giàu nghèo)
  6. Trời sập xuống cũng đừng khóc lóc, đừng oán trách. Như thế chỉ khiến những người yêu thương con càng đau lòng, những kẻ thù hận con thêm đắc ý. (Bình tĩnh chấp nhận số mệnh, những người yêu thương con đương nhiên sẽ quan tâm)
  7. Dù ăn cơm trộn nước tương, cũng phải trải khăn ăn sạch sẽ, ngồi với tư thế trang nhã. Sống cuộc sống thô sơ theo cung cách cầu kỳ. (Phong độ không liên quan với cảnh ngộ)
  8. Khi đến phương xa, ngoài máy ảnh, nhớ mang theo giấy bút. Phong cảnh giống nhau, nhưng tâm tình ngắm cảnh mãi mãi không trùng lặp. (Hình ảnh và ký ức tình cảm là khác nhau)
  9. Nhất định phải có không gian thuộc về mình, dù chỉ hơn chục mét vuông. Nó có thể giúp con khi cãi nhau với người yêu giận dỗi bỏ đi không đến nỗi lưu lạc đầu phố, đụng phải kẻ xấu. Càng quan trọng hơn là, khi con nông nổi, có một nơi để con bình tĩnh lại, cho lòng mình một góc ở yên. (Nhân cách độc lập)
  10. Lúc nhỏ phải có kiến thức, lớn lên phải có từng trải, con mới có cuộc đời tinh tế đẹp đẽ! (Đọc từng trải của người khác, tìm từng trải của bản thân)
  11. Bất kể lúc nào, đều phải làm một người hiền lành lương thiện. Hãy ghi nhớ, lương thiện, sẽ khiến con trở thành người được trời cao chiếu cố nhất. (Kiểu chiếu cố này không hẳn là giàu có và quyền thế. Thiện có thiện báo, thứ được báo đáp, là tình yêu thương.)
  12. Nụ cười, ưu nhã, tự tin, là của cải tinh thần lớn nhất. Sở hữu chúng, con sẽ sở hữu tất cả.
    Đây chính là tinh thần “quý tộc”
                                                                                            st