Thứ Tư, 18 tháng 3, 2015

SINH - LÃO - BỆNH - TỬ LÀ QUY LUẬT CỦA ĐỜI NGƯỜI.



     
Bệnh là một hiện tượng hiển nhiên trong cuộc đời. Có mang thân người là có bệnh. Mỗi chúng ta có thể trải qua một hay nhiều lần bệnh, không lúc này thì khi khác, không nặng thì nhẹ. Nếu người nào, đến giây phút này vẫn chưa một lần bệnh thì đó là một hạnh phúc lớn. Nhưng ít ra, người đó cũng chứng kiến người thân của mình bị bệnh và biết chắc rằng, đến một lúc nào đó, mình có thể bị bệnh. Do đó, bệnh là một hiện tượng rất gần gũi với con người mà chúng ta ít nhiều đều có kinh nghiệm, hoặc trực tiếp hoặc gián tiếp. Nói đến bệnh, ai cũng có thể nghĩ đến sự đau đớn, khổ sở, khó chịu, buồn bã, âu lo, sợ hãi và vô số những tâm lý tiêu cực khác. Hễ bệnh là đau. Điều này không ai phủ nhận. Nhưng điều quan trọng là làm thế nào, dù đau (về thân), chúng ta đừng có khổ (về tâm). Bạn có thể thắc mắc đến ngạc nhiên rằng bệnh làm sao mà không buồn không khổ? Tôi đã từng thắc mắc như vậy sau vài lần bệnh, nhưng sau đó, thay vào các thắc mắc là các bài học tự nghiệm ra được. Ở đây, tôi xin chia sẻ với các bạn một vài phương diện tích cực khi đang bệnh hoặc phải sống chung với bệnh.

      1. Bệnh là cơ hội để nhận biết tín hiệu cơ thể. Khi chúng ta bị một chứng bệnh nào đó, chúng ta đừng vội buồn phiền, suy sụp tinh thần, thấy sao mình bất hạnh so với nhiều người khác. Bệnh là một điều tất yếu một khi chúng ta mang thân làm người, nên việc nó đến với người này, chưa đến với người khác, chỉ là vấn đề thời gian mà thôi. Không có gì bất công đâu.

      Hãy coi bệnh là cơ hội để mình nhận được tín hiệu của cơ thể báo cho mình biết có gì đó không ổn trong cơ thể của mình. Ví dụ, khi nghe tức ngực, bạn biết rằng điều này nhắc bạn cần đến bác sĩ để khám, và như thế, rất có thể bạn sẽ biết và tránh được hoặc trì hoãn chứng bệnh mạch vành của tim trước khi mọi việc trở nên quá trễ. Hầu hết các chứng bệnh tiến triển từ nhẹ đến nặng và có những triệu chứng đi kèm.

       Nếu chúng ta biết cách lắng nghe cơ thể để kịp thời nhận được tín hiệu thay đổi và có phương pháp xử lý phù hợp, chúng ta đã phần nào biết giữ gìn sức khỏe tốt và đem lại hạnh phúc cho bản thân mình, cho người thân và cho xã hội. Một số bệnh hiểm nghèo, như ung thư, vẫn có khả năng chữa trị nếu được phát hiện ở thời kỳ đầu. Các bệnh khác cũng vậy. Do đó, sẽ không có gì đáng buồn khi chúng ta ‘nghe’ cơ thể không ổn. Thay vào đó, chúng ta nên vui, nếu không vui nổi thì cũng bình tâm, vì ít ra, mình nhận được tín hiệu mà cơ thể gửi cho mình. Hơn nữa, qua một lần nhận tín hiệu như thế, chúng ta phát triển khả năng lắng nghe cơ thể thường xuyên hơn. Nhờ đó, chúng ta biết cách điều chỉnh chế độ ăn uống và sinh hoạt phù hợp hơn với cơ địa của mình.

     2. Bệnh là dấu hiệu cho bạn biết rằng bạn cần điều chỉnh cho cuộc sống trở nên thoải mái hơn. Thông thường, khi biết mình bệnh, chúng ta thường để tâm lý tiêu cực phát sinh. Bản năng sinh tồn thôi thúc con người muốn sống, nên không bằng lòng khi bệnh đến với mình, thế là tinh thần suy sụp, sợ hãi nảy sinh. Người nào có tâm lý như thế có nghĩa là đang góp phần đáng kể vào việc hủy hoại thân thể mình và làm cho bệnh càng trầm trọng mặc dù có sự can thiệp của các phương pháp trị liệu.

      Rất nhiều chứng bệnh và cơn đau phát sinh do tâm lý căng thẳng. Các bệnh về tim mạch, huyết áp, dạ dày đều có liên quan đến tình trạng rối loạn tâm lý. Tâm lý không ổn định và mất thăng bằng là một trong những nguyên nhân rất dễ đưa đến rối loạn các quá trình trao đổi chất trong cơ thể và gây nên bệnh. Do vậy, khi chúng ta bệnh, chúng ta cần nhận ra rằng đây là cách mà cơ thể báo cho mình biết rằng tâm trí cần nghỉ ngơi nhiều hơn và học cách chuyển hóa những căng thẳng hiệu quả hơn. Làm như vậy là giúp cơ thể nhanh lành bệnh và phòng bệnh về sau một cách hiệu quả.

3. Khi bệnh, chúng ta thấy nhu cầu chăm sóc tâm thức và đời sống tinh thần trở nên cần thiết hơn. Lúc đang mạnh khỏe, chúng ta những tưởng mình là bất tử, nên việc chăm sóc đời sống nội tâm chưa phải là vấn đề cần thiết lắm. Khi bệnh, chúng ta mới cảm nhận được cảm giác chơi vơi, trống vắng và sợ hãi. Khi ấy, chúng ta mới nhận ra rằng cái mình thật sự thiếu là một tinh thần vững chãi, một nội tâm kiên định để có thể vững vàng trong những tình huống như vậy. Từ đó, chúng ta học được cách chăm sóc tâm mình.

      Thật ra, nhu cầu chăm sóc tâm thức cần được thực hiện thường xuyên chứ không đợi đến khi bệnh, vì nó cần thiết hơn cả việc chăm sóc thân thể. Thế nhưng, thông thường, chúng ta ít để ý đến nhu cầu này nên chưa nhận ra. Do vậy, nhiều người sau khi bị bệnh, thường quay về với đời sống tâm linh nhiều hơn. Đối với bản thân tôi cũng vậy, bệnh lần đầu tiên, buồn và nản lắm. Sau đó, thấy tinh thần mình bạc nhược. Như vậy là không được. Khi bệnh mình bất an thì những người thân thêm lo lắng chứ chẳng được gì. Rồi bệnh lần sau, tôi biết cách làm cho mình cảm thấy khá hơn và bây giờ, khi mang trong người căn bệnh mãn tính, tôi học được cách sống chung với bệnh và rút ra được nhiều kinh nghiệm trong quá trình ‘chung sống’ này để cuộc sống dễ chịu hơn.

      Một điều có tính quy luật tôi rút ra được là lúc nào tâm tôi bình an và ít dao động, tôi có cảm giác ít đau đớn hơn. Nghĩa là, thân bệnh thì thân ‘đau’, nhưng không vì thân đau mà tâm phải ‘khổ’. Thật ra, khi thân đau, cũng chỉ có một vài bộ phận ở một vài khu vực đau mà thôi. Sự thổi phồng nỗi đau ra toàn thân và lan đến cả tâm là một căn ‘bệnh’ khác nan giải hơn cả bệnh lâm sàng mình đang mắc phải. Khi nào chúng ta để cái khổ của tâm gắn với cái đau của thân, cái đau khổ ấy thống thiết và nhức nhối vô cùng

      4. Bệnh dạy cho chúng ta về vô thường. Già, bệnh, rồi đến cuối chặng đường của một kiếp người là chết. Tất cả những hiện tượng tự nhiên này diễn ra không ngừng trong con người và mọi loài mọi vật. Các giai đoạn (ta tạm gọi như thế, chứ thật ra không có ranh giới nào) sinh ra, trưởng thành, già cỗi và hư hoại đan xen nhau trải dài trên một chiếc trục gọi là ‘cuộc sống’ mà một cực là sự sanh ra trên cuộc đời và cực kia là cái chết. Ở mức độ vi tế hơn, chúng ta cần hiểu rằng trong mỗi tích tắc, bao nhiêu tế bào trong cơ thể chết đi và bao nhiêu tế bào mới được sinh ra. Thế nhưng, để ‘thấy’ được sự thay đổi thì cần phải có những biến chuyển cụ thể, rõ ràng và lớn hơn. Một khi bệnh, chúng ta dễ dàng nhận ra rằng mình đang ‘chuyển giai đoạn’.

      Ý thức được vô thường giúp chúng ta ý thức hơn về cách sử dụng và quản lý thời gian của bản thân cũng như điều chỉnh các mối quan hệ với những người xung quanh để có một cuộc sống ý nghĩa hơn. Chỉ có những người trải qua cơn bạo bệnh mới hiểu được trọn vẹn sức khỏe tốt là một thứ tài sản vô giá, để rồi sau đó, họ không phung phí tài sản ấy.

      5. Bệnh làm cho chúng ta tăng trưởng tâm từ bi. Khi ta bệnh, ta thấu hiểu nỗi đau của người khác nhiều hơn, nhất là những người mắc bệnh giống mình hoặc bệnh nặng hơn mình. Người xưa nói ‘đồng bệnh tương lân’ quả không sai. Trong đau đớn, chúng ta cảm thấy mình không đơn độc chống chọi với căn bệnh này. Nghĩ đến những người cùng chịu nỗi đau giống mình hoặc hơn mình nữa, chúng ta có thể dễ dàng trải lòng thương yêu đến cả những người không quen.

      Tâm đồng cảm, thấu cảm và chia sẻ với những người cùng bệnh rất lớn. Nếu chúng ta tiếp tục nuôi dưỡng tâm lành này, tức là chúng ta đang nuôi dưỡng tâm từ bi của mình. Nhờ đó, chúng ta sẽ có những động thái tích cực và thiết thực góp phần giúp người bệnh vơi nhẹ nỗi đau bằng kinh nghiệm bản thân. Thực tế, khi chứng kiến bệnh tật, thân nhân người bệnh cũng mở rộng tấm lòng và sự đồng cảm đối với những người bệnh. Các chương trình ‘Ước mơ của Thúy’, “Nụ cười của Ben’ là những ví dụ sinh động về sự chia sẻ đồng cảm của những người có người thân từng là bệnh nhân nhi ung thư đối với những em bé có cùng số phận.

6. Bệnh giúp chúng ta nuôi dưỡng tâm khiêm hạ và biết đủ. Khi bệnh, chúng ta mới sực nhớ ra rằng cuộc đời mình không phải là không có giới hạn. Giới hạn của con người là lẽ thường xưa nay, nhưng bình thường chúng ta không ý thức đầy đủ về những giới hạn của mình. Nếu thấy người khác bệnh, chúng ta cứ tưởng bệnh chỉ đến với người đó mà không đến với mình. Cho đến khi chính bản thân mình hay người thân bị bệnh như bao người khác, chúng ta mới kịp nhận ra, ai cũng chịu sự chi phối của quy luật tự nhiên: đau, già, bệnh và chết.

      Ý thức rằng mình không hơn gì người khác, ít nhất là trong quy luật tự nhiên này, giúp chúng ta bớt đi lòng kiêu hãnh và trở nên khiêm tốn hơn trong cuộc sống. Qua một lần bệnh, chúng ta có thể bớt đi lòng tham cầu một cách đáng kể. Qua một lần bệnh, chúng ta có thể biết cách tổ chức cuộc sống mình hiệu quả hơn và tốt hơn.

      7. Bệnh giúp chúng ta có ý chí và nghị lực hơn. Ý chí và nghị lực là kỹ năng sống cần được rèn luyện trong nhiều tình huống khác nhau trong cuộc sống. Thế thì tại sao mình bỏ qua cơ hội bệnh để rèn luyện kỹ năng này? Tôi bệnh nhiều lần và tôi nghiệm ra một điều, sau mỗi lẫn bệnh, tôi trở nên mạnh mẽ hơn, nghị lực hơn và rồi các lần bệnh đến và đi cũng nhẹ nhàng hơn.

Thật ra, tôi làm được điều này cũng nhờ nghĩ đến cha tôi, một người trở về từ chiến trường chỉ còn một cánh tay và một chân không bao giờ gấp lại được vì một vết mổ, dù những năm tháng ở chiến trường, cha tôi chỉ biết cầm kim, dao mổ và ống chích chứ chưa bao giờ biết cầm súng. Với cánh tay đã mất, cha phải chịu đau đến ba lần cắt (lần đầu cắt bàn tay, lần thứ hai tháo khớp khủy tay vì nhiễm trùng, lần thứ ba lại cắt tiếp vì nhiễm trùng nữa). Thế mà cha tôi vẫn vui sống, luôn tích cực trong suy nghĩ và hành động, truyền nghị lực và sức sống còn lại cho những đứa con.

Thế nên mỗi lần đau bệnh, có khi nằm cả tháng trời, có khi đau răng nhức nhối khó chịu, lúc trật khớp chân mất cả tuần mới đi lại được và hiện tại là cơn đau dai dẳng đeo đẳng theo tôi từ mấy năm qua, tôi vẫn thấy không thấm vào đâu so với nỗi đau của cha mình. Nghĩ như thế, tôi vượt qua cơn đau dễ hơn mình tưởng. Cách nghĩ như vậy là liều thuốc giảm đau hiệu nghiệm nhất đối với bản thân mình.

Trên đây, tôi chia sẻ những ‘lợi ích’ khi mình bệnh. Nói như vậy không có nghĩa là tôi muốn bản thân mình hay các bạn, hoặc ai đó bị bệnh. Bệnh là một hiện tượng nằm ngoài ý muốn của con người. Những điều trên, đơn giản là vài phương pháp mà tôi dùng đến mỗi khi bệnh. Đó là những phương pháp hỗ trợ các phương tiện trị liệu y khoa, làm cho bệnh mau lành và giúp người bịnh không hao tổn quá nhiều năng lượng để ‘chống chỏi’ với bệnh. Nếu thấy điều nào phù hợp với mình, các bạn cứ thử áp dụng, tôi tin là sẽ có hiệu quả. Nguyên tắc chung để chịu đựng và sống chung với bệnh (đối với các bệnh mãn tính và những thương tật vĩnh viễn do tai nạn) là khi thân đau, đừng để tâm khổ vì cái đau của thân. Hãy xem bệnh là một ‘vị khách không mời’ và đối xử lịch sự với ‘nó’. Đừng xua đuổi vì một khi bị xua đuổi, nó sẽ kháng cự. Việc chúng ta cần làm là tạo một môi trường thích hợp nhất để ‘nó’ tự ra đi. Hãy buông bỏ, nó sẽ tự ra đi không một lời từ biệt đó các bạn ạ.
                                                                  (Trích email của anh quangaduc@.....)


Thứ Sáu, 13 tháng 3, 2015

CHẲNG TỪ ĐÂU ĐẾN, CHẲNG ĐI VỀ ĐÂU


   Nếu có ai hỏi "Bạn từ đâu đến?", có nghĩa là người ấy hỏi về quá khứ, vì hiện tại bạn đang được hỏi.
   Nếu câu hỏi là "Bạn đi về đâu?", có nghĩa là người ấy hỏi về vị lai, vì hiện tại bạn đang được hỏi.

  1/ Bất khứ/ bất lai.
  Khi đức Phật nói "Ta chẳng từ đâu mà đến, cũng chẳng đi về đâu, nên gọi là Như Lai", có ý nghĩa là ngài chẳng bận tâm vướng mắc tới quá khứ, chẳng bận tâm vướng mắc gì tới vị lai, mọi chuyện như như, như vậy, nên gọi là như lai . Đó cũng là tâm bất nhị hay tánh không hai, trung đạo: không (bận tâm) quá khứ/không (bận tâm) vị lai, chỉ chú tâm vào hiện tại, nếu nói gọn lại là "bất khứ - bất lai".
  Quá khứ thì đã qua rồi, tương lai thì chưa đến, nhưng thường thì chúng ta lại vui, buồn, nuối tiếc, dằn vặt cùng quá khứ là những thứ đã qua khỏi tầm tay rồi, lại lo lắng, kỳ vọng nơi tương lai mà nó còn mờ mịt chưa thấy, để rồi quên đi cái hiện tiền trước mắt và trong tầm tay là hiện tại. Với những đứa trẻ thơ, chúng sống hồn nhiên không vướng mắc gì với quá khứ tương lai, nhưng chúng ta lại khác, thường hối tiếc, dằn vặt vì quá khứ, lo lắng hay kỳ vọng ở tương lai làm cho thân tâm bất an, trăn trở trong cuộc sống hàng ngày và trong cả giấc ngủ. Đó là phiền não. Tâm hồn trẻ thơ giống như tâm hồn của người đang ở Nước Trời:

  “Nếu anh em không quay lại mà trở nên như trẻ nhỏ, thì sẽ chẳng được vào Nước Trời . Vậy ai tự hạ, coi mình như em nhỏ này, người ấy sẽ là người lớn nhất Nước Trời.” (Mt 18,3)
  -- Lời đức Phật: “Quá khứ đã qua, tương lai chưa tới, sự sống chỉ có thể được tiếp xúc trong giây phút hiện tại.” ... “Sự sống chỉ có mặt trong hiện tại, nên tâm ý con người phải luôn an trú trong giây phút hiện tại”.
  -- Đức Jesus: “Đừng lo lắng về ngày mai, ngày mai cứ để ngày mai lo. Ngày nào có cái khổ của ngày đó.” (Mt 6:34)
   -- Krishnamurti: "Sự giải thoát không nằm ở ngày mai mà cũng không có ở ngày hôm qua. Tôi dám quyết rằng chỉ có hiện tại, hiện tại ngay bây giờ đây, mới chứa đựng tất cả sự vật." 
   Chẳng phải đây là những lời khuyên bỏ chuyện quá khứ tương lai, như một kẻ mất trí. trí óc vẫn cần tới kinh nghiệm nơi quá khứ để dự tính kế hoạch cho công việc tương lai, nhưng TÂM không bị tương lai và quá khứ chi phối làm lo lắng phiền muộn.
  -- "Yesterday is history. Tomorrow is mystery. Today is a gift - that's why we call it the present" (Eleanor Roosevelt).
  "Ngày hôm qua là lịch sử. Ngày mai là điều bí ẩn. Hôm nay là quà tặng - đó là lý do tại sao chúng ta gọi nó là present" (là hiện tại cũng là tặng phẩm). Quà tặng mang ý nghĩa quí giá.
  Hôm nay cũng là hiện tại, chính là quà tặng, là quí giá hơn quá khứ và vị lai.
  2/ Không sanh/ không tử (Không sanh/không diệt)
  Đối với một người đang an trú trong hiện tại, sự "sanh" của mình cũng là chuyện quá khứ, cái "chết" là chuyện vị lai. Nếu thực sự là đã an trú trong hiện tại thì không còn bị quá khứ và tương lai chi phối, do đó bất khứ/bất lai, đó cũng là ý niệm "không sanh/không tử", tức là cũng không bị cái chết chi phối nữa vì đó là chuyện tương lai, hạnh phúc là ở hiện tại, tại đây, ngay lúc này. Không sanh/không tử, bất khứ/bất lai là tâm bất nhị hay tánh không hai. Tánh không hai là Phật tánh.
  3/ Chánh niệm.
  Với một con người đang sống, hơi thở ta đang thở là tượng trưng rõ rệt nhất cho hiện tại. Nếu ta chú tâm (chánh niệm) theo dõi hơi thở là ta chú tâm vào hiện tại. Khi đã chú tâm vào hiện tại thì quá khứ và vị lai không còn chi phối ta được nữa, ít nhất là lúc ta đang chú tâm vào hơi thở...
...Ngoài hơi thở, còn những hoạt động khác tượng trưng cho hiện tại như đang đi, đứng, nằm, ngồi, ăn, uống, làm công việc đang làm…, điều cần thiết là phải chú tâm (chánh niệm) vào những động tác ngay trong hiện tại đó, thì mới loại bỏ được sự chi phối của quá khứ và vị lai. Đối với công việc, khi chú tâm như thế thì chắc chắn kết quả của công việc sẽ tốt đẹp hơn là vừa làm vừa thả hồn theo chuyện quá khứ hay lo lắng cho tương lai.
   Cũng lời đức Phật:
“… Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đi, tuệ tri: "Tôi đi", hay đứng, tuệ tri: "Tôi đứng", hay ngồi, tuệ tri: "Tôi ngồi", hay nằm, tuệ tri: "Tôi nằm". Thân thể được sử dụng như thế nào, vị ấy tuệ tri thân như thế ấy.
“…Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo, khi bước tới bước lui, biết rõ việc mình đang làm; khi ngó tới ngó lui, biết rõ việc mình đang làm; khi co tay, khi duỗi tay, biết rõ việc mình đang làm; khi mang áo Sanghati (Tăng già lê), mang bát, mang y, biết rõ việc mình đang làm; khi ăn, uống, nhai, nếm, biết rõ việc mình đang làm; khi đại tiện, tiểu tiện, biết rõ việc mình đang làm; khi đi, đứng, ngồi, ngủ, thức, nói, im lặng, biết rõ việc mình đang làm….
   Đây chỉ là một phần của "quán thân" trong tứ niệm xứ. Thiền tứ niệm xứ gồm quán thân, thọ, tâm, pháp, người viết không đề cập đầy đủ ở đây vì đã có nhiều bài viết, và chỉ có một nhận xét về "quán thân" là: đây là phương pháp hiệu quả nhất để tập sự chú tâm (tức chánh niệm) vào hiện tại, tránh sự chi phồi vô ích của quá khứ và vị lai. Chánh niệm là một chánh đạo trong bát chánh đạo, con đường "Thánh đạo tám ngành" đưa đến chứng đắc Niết bàn:
  −Này hiền giả, thế nào là Niết Bàn?
  − Đoạn tận tham, đoạn tận sân, đoạn tận si, đây gọi là Niết Bàn.
  − Có con đường nào, đạo lộ nào đưa đến chứng đắc Niết Bàn?
  – Đây là con đường Thánh đạo tám ngành đưa đến chứng đắc Niết Bàn ấy, tức là chánh tri kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định. Đây là đạo lộ đưa đến chứng đắc Niết Bàn ấy. “ (kinh Tương Ưng Bộ)
  (Không tham sân si để vì người, hay vị tha - chánh niệm để chú tâm tới hiện tại, loại bỏ những vướng mắc về quá khứ hay vị lai. Đấy là giải thoát khỏi mọi sự ràng buộc)
   Trong phần mở đầu Kinh Kim Cang, ngài A-nan đã ghi lại những động tác rất đơn giản, rất thường tình của đức Phật trong buổi sáng thuyết pháp về bài Kinh ấy. Chắc hẳn ngài A-nan muốn cho ta thấy những động tác, từ sinh hoạt thường nhật rất bình thường cho tới công việc từ nhỏ cho đến lớn, đức Phật đều đặt hết sự chú tâm vào đó. Chú tâm chính là chánh niệm, là nhận rõ một cách tỉnh thức hành động mình đang làm ngay hiện tại. Đấy cũng chính là thiền. Thiền là chú tâm vào hiện tại. Sự chú tâm vào hiện tại cần liên tục trong cuộc đời bất kỳ lúc nào trong ngày. Trích lại đoạn kinh Kim Cang ấy:
  “Tôi nghe như vầy: Một hôm đức Phật ở nước Xá-vệ (Sràvasti) tại rừng Kỳ-đà (Jeta) trong vườn Cấp Cô Độc cùng với chúng đại Tỳ-kheo là một ngàn hai trăm năm mươi vị. Khi ấy gần đến giờ thọ trai, đức Thế Tôn đắp y mang bát vào đại thành Xá-vệ khất thực. Trong thành ấy, Ngài theo thứ lớp khất thực xong, trở về nơi chúng ở. Thọ trai rồi, Ngài dẹp y bát, rửa chân, trải tòa ngồi.”
  Khi được ông A-nan hỏi về giấc ngủ, đức Phật dẫn giải:
"Gíấc ngủ diễn ra trong thân xác, ta vẫn còn tỉnh thức về nó. Bây giờ giấc ngủ đang đến, bây giờ nó đã tới, bây giờ nó đã buông xuống, bây giờ thân thể ta đang thư giãn, tứ chi được thư giãn, nhưng ta vẫn duy trì sáng chói sự nhận biết".
   Chú tâm (hay chánh niệm) đối với giấc ngủ như thế thì những lo nghĩ về quá khứ hay tương lai chẳng thể nào thâm nhập và quấy rầy ngài được nữa...
                                                                             Duy Đức

Thứ Ba, 10 tháng 3, 2015

GÁNH NHẸ NHÀNG

  Một người cảm thấy cuộc sống quá nặng nề, bèn đi tìm nhà triết học Plato cầu mong kiếm được con đường giải thoát.
                                       https://i1.wp.com/www.canhdongtruyengiao.net/NghethuatSong/nghethuatsong12/ganhnhenhang/plato.jpg
                                                     (Ảnh: triết gia Plato)
    Plato chẳng nói chẳng rằng, chỉ đưa cho ông ta một cái sọt bảo ông đeo lên vai, đồng thời chỉ vào một con đường lổn nhổn đất đá nói:
Mỗi khi anh bước đi một bước thì nhặt một hòn đá cho vào sọt, xem thử cảm giác như thế nào.
   Người này bắt đầu làm theo lời Plato, còn Plato thì bước nhanh đến đầu kia của con đường.
   Được một lúc, người kia đã đi đến con đường. Plato hỏi anh ta cảm, thấy thế nào.         Người kia nói:
  Tôi cảm thấy càng lúc càng nặng!
  Đây chính là nguyên nhân giải thích tại sao anh cảm thấy cuộc đời ngày càng nặng nề. Plato nói:
  Mỗi người khi đến thế giới này, đều đeo một cái sọt rỗng, mỗi một bước đi trên con đường đời anh ta đều nhặt một thứ gì đó từ trong thế giới này để bỏ vào sọt, cho nên càng đi càng cảm thấy mệt mỏi.
  Người kia hỏi:
  Có cách nào có thể giảm bớt gánh nặng này không ?
  Plato hỏi ngược lại anh ta:
 Vậy anh có đồng ý vứt bỏ đi một trong các thứ như công việctình yêugia đình hay tình bạn không ?
  Người kia nghe xong im lặng.
  Plato nói:
  Nếu thấy khó có thể vứt bỏ thì đừng nghỉ đó là gánh nặng nữa mà nên nghĩ đến niềm vui mà nó mang lại. Cái sọt của mỗi người trong chúng ta không những chứa đựng ân huệ mà Ông Trời ban cho chúng ta mà còn có trách nhiệm và nghĩa vụ. Khi anh cảm thấy nặng nề, có lẽ anh đừng vội buồn, có thể cái sọt của kẻ khác còn to hơn, còn nặng hơn của anh nhiều. Nếu cứ nghĩ như thế, chẳng phải trong sọt của anh sẽ bớt nỗi buồn hay sao?”.
Người kia nghe xong chợt hiểu ra.
  1. Gánh Nặng Cuộc Đời
  Đời có biết bao nhiêu thứ nặng nề hằng ngày “hành hạ” ta, nếu ta “để tâm” đến nó, từ chuyện nhỏ đến chuyện lớn. Nhưng, nhiều khi chúng ta quên một điều khá quan trọng, đó là cuộc sống thường có hai mặt, mặt nổi và mặt chìm. Mặt được phơi bày và mặt bị ẩn khuất.
 Nếu chúng ta chỉ thấy mặt nổi của một sự việc, và vì nó vừa ý hay không vừa ý ta, ta sẽ vấp phải sự kết luận vội vàng, và từ đó, ta cũng vội buồn, vội vui.
Đời, cái vừa ý ta thì ít, mà cái không vừa ý ta thì nhiều, nên nhiều khi chúng ta dễ “chán đời” ! Làm sao mà “yêu đời” được khi nhìn chung quanh ta toàn là những điều làm ta mệt mỏi, gánh nặng, cô độc…?
Bình tâm suy nghĩ, ta sẽ thấy, một sự việc xẩy ra, có thể đối với người này là quá sức tồi tệ, nhưng đối với người khác là chuyện “bình thường”, có khi nó còn mang ý nghĩa tích cực nữa là khác.
  Có một lần một người hàng xóm than phiền với một cụ già:
“Nhà bên cạnh vừa mua dàn Karaoke. Trời ơi, con nhỏ con gái trong nhà hát thiệt là kinh khủng, nó hát ngang như cua bò, còn thằng con trai thì gào thét đinh tai nhức óc. Nghe mệt mỏi làm sao !”
Cụ già bình thản trả lời:
  “Tôi cũng thấy vậy, nhưng nếu mấy đứa đó mà đi ăn nhậu chơi bời, trộm cắp phá phách chòm xóm, thì còn đáng lo hơn. Đúng là việc chúng nó làm, chúng ta phải chịu đựng khổ sở, nhưng, dù sao, nó cũng an toàn…”
Như vậy, gánh nặng cuộc đời còn tùy thuộc vào ta nhìn nó ở góc cạnh nào.
Nếu ta chỉ nghĩ tới mình, niềm vui phải làm sao hoàn toàn theo ý riêng ta, chắc chắn gánh cuộc đời càng nặng trĩu.
Niềm vui đến chỉ từ sự ích kỷ, niềm vui đó không tồn tại dài lâu được. Vì niềm vui ích kỷ, nó luôn hẹp hòi, bé nhỏ, nó không thể chịu đựng được những cơn lốc cuộc đời, vốn đòi hỏi con người biết cùng nhau chống đỡ. Sống có nhau, vì nhau, biết hợp đoàn, đỡ nâng, chung sống, chia sẻ, bảo vệ nhau.
Niềm vui cô đơn như hoa nở một mình, phơi hương tỏa sắc trơ trọi một mình, rồi héo tàn một mình, đơn độc và vô nghĩa. Voltaire đã nói: “Chỉ hay cho mình, tức là không hay cho ai nữa”. Chỉ mang gánh nặng một mình, dù đó là gánh vàng bạc ngọc ngà, mà không cho ai, vì ai, thì mang gánh nặng đó để làm gì ?
Chính vì tha nhân, vì những người thân yêu, vì tình người, vì đồng loại, mà những gánh nặng cuộc đời được thăng hoa thành những niềm vui cao cả, tuyệt vời. Những gì tưởng chỉ là nước mắt khổ đau, hóa ra, chúng biến hóa một cách mầu nhiệm thành những nụ cười hạnh phúc.
2. Chối từ “gánh nặng cuộc đời” ?
Thật sự có người đã tìm cách trút bỏ gánh nặng cuộc đời bằng cái chết ! Thật ra, cái mà họ cho là “gánh nặng”, có khi chính là hạnh phúc Trời ban cho họ, thật đáng tiếc, họ không nhận ra, không hay biết !
Plato, trong câu chuyện trên, đã nói: “Cái sọt của mỗi người trong chúng ta không những chứa đựng ân huệ mà Ông Trời ban cho chúng ta mà còn có trách nhiệm và nghĩa vụ”.
Có một câu chuyện minh họa điều này:
Trong phim của Abbas, đạo diễn người Iran có một tình tiết như sau:
Có một người thất chí, leo lên một cây anh đào, chuẩn bị nhảy từ trên cao xuống để kết thúc cuộc đời mình. Ngay lúc anh ta quyết định nhảy xuống thì trường học gần đó tan học. Một nhóm học sinh chạy đến. Một bạn nhỏ hỏi:
Chú làm gì trên cây vậy ?
“Dù gì cũng không thể nói cho trẻ con biết mình sắp tự sát”. Thế là anh ta nói :
Chú đang ngắm phong cảnh.
Thế chú có thấy bên cạnh có bao nhiêu là quả anh đào không ? Một học sinh khác hỏi.
Anh quay nhìn, thì ra mình cứ nghĩ đến việc tự sát mà không chú ý đến bao nhiêu là trái anh đào màu đỏ, nhỏ có, lớn có chung quanh.
Các bạn nhỏ nói:
Chú có thể hái anh đào giúp chúng cháu không ? chú chỉ cần lấy sức rung cành cây, anh đào sẽ rơi xuống chúng cháu. Năn nỉ chú đó ! Chúng cháu không leo cao như vậy được !
Anh có ý chần chừ nhưng không lay chuyển được các bạn nhỏ, đành phải ra tay giúp đỡ. Anh bắt đầu lay cây. Chẳng bao lâu, trái anh đào rơi xuống đất ngổn ngang. Dưới đất cũng tụ tập ngày càng đông các bạn nhỏ, mọi người vui vẻ và hưng phấn nhặt anh đào. Sau một đợt huyên náo, các bạn nhỏ cũng dần ra về.
Người thất chí đó ngồi trên cây, nhìn dáng vẻ vui mừng của các bạn nhỏ, không biết tại sao ý nghĩ muốn tự sát không còn nữa. Anh hái một ít trái anh đào chưa rớt xuống đất, nhảy xuống và mang anh đào từ từ đi về nhà.
Ngôi nhà vẫn cũ kỹ rách nát, vợ con anh vẫn như hôm qua. Nhưng bọn trẻ vui mừng khi trông thấy ba mang anh đào về. Khi cả nhà quây quần, ngắm nhìn các con vui vẻ ăn anh đào, bỗng anh cảm thấy có một nhận thức mới làm cho anh cảm động, anh nghĩ bụng: “Có lẽ với cuộc sống như vầy vẫn có thể sống vui…”
Chỉ nói riêng về những đứa bé thơ ngây thiếu vắng tình cha thôi, việc người cha từ chối cuộc sống đã là một điều sai lầm không thể chấp nhận được. Anh không nhận ra được rằng hai đứa con lành mạnh của anh chính là món quà quý báu mà Thượng Đế trao ban.
“Ngôi nhà vẫn cũ kỹ rách nát, vợ con anh vẫn như hôm qua”, còn anh thì đã khác, anh đã đổi mới. Bây giờ anh mới “hiểu ra” hạnh phúc tiềm ẩn trong chính gánh nặng mà anh muốn lánh xa.
“Có lẽ với cuộc sống như vầy vẫn có thể sống vui…”. Và như thế, anh đã biến gánh nặng cuộc đời thành gánh nhẹ nhàng, vì anh nhận ra bổn phận và trách nhiệm của mình. Anh có thể mang lại niềm vui cho người khác. Anh nhận ra, anh sống có ích cho cuộc đời. Lòng tự hào trong chính anh cho anh biết tự trọng. Sống không chỉ vì mình, mà còn vì tha nhân, vì cuộc đời nữa. Sao anh lại tự tử khi gia đình anh còn đó ? Anh phải hãnh diện vì bổn phận và trách nhiệm của mình, và, vì bổn phận và trách nhiệm, anh phải sống, và vui sống.
3. Gánh nhẹ nhàng.
  Do đó, “gánh cuộc đời” nặng hay nhẹ còn tùy “tấm lòng” của chúng ta đối với cuộc sống. Tình yêu cuộc sống.
  Chúng ta suy nghĩ về câu chuyện này:
  Một tín đồ người Ấn Độ đi bộ đến chùa Thánh ở Hymalaya. Đường đi thì xa xôi, đường núi vô cùng khó đi, không khí thì loãng. Ông ta tuy mang theo đồ đạt rất ít, nhưng vẫn cất bước không nổi, vừa đi vừa thở hổn hển
  Ông ta đi rồi nghỉ, nghỉ rồi lại đi… không ngừng nhìn về phía trước, hy vọng mục tiêu đi đến sẽ sớm xuất hiện. Thình lình ông thấy phía trước có một bé gái chưa đầy 10 tuổi, trên lưng cõng một em bé đang từ bước từ bước… từng bước về phía trước. Cô bé thở hổn hển, mồ hôi đầm đìa nhưng hai tay vẫn ôm cứng đứa trẻ trên lưng.
 Tìn đồ người Ấn Độ đi đến bên cô bé, rất đồng cảm nói:
 Cháu của ta, cháu cũng giống như ta, cháu nhất định mệt rồi, cháu cõng nặng quá !
 Cô bé nghe xong, không vui, trả lời:
 Cái ông cõng là sức nặng, nhưng cái cháu cõng không phải là sức nặng, nó là em trai của cháu.
Người cảm thấy gánh nặng vì không có tình yêu.
Chính Tình Yêu cho ta sự nhẹ nhàng. Mọi thứ chỉ có ý nghĩa khi nó giúp cho ta sống cho một tình yêu chân chính, cho một lý tưởng rõ rệt, cho một cuộc đời có ý nghĩa.
Tình yêu nào cũng cần có sự hy sinh. Hy sinh là gánh nặng nếu tình yêu đó không thật. Được hy sinh cho tình yêu lại là niềm hạnh phúc, nó là “ách êm ái, và gánh nhẹ nhàng” khi trái tim đã dành trọn cho tình yêu.
Thế giới sẽ hạnh phúc biết bao, nếu mọi đôi vai đều biết kề nhau chung vác những trách nhiệm và bổn phận để làm cho thế giới đẹp hơn.
Trong gia đình, cộng đoàn, tập thể, tôn giáo… đều cần phải như vậy.
Mọi người sẽ đi trọn kiếp nhân sinh này với “gánh nhẹ nhàng” vì có nhau, vì nhau, trong một thế giới yêu thương huynh đệ cùng chung hướng về một niềm tin cao cả.
Và như thế, mọi người đã trao cho nhau “ách êm ái và gánh nhẹ nhàng”
.                                       Nguồn: Theo MAI NHẬT THI – Cánh Đồng Truyền Giáo

Thứ Hai, 9 tháng 3, 2015

NGƯƠI ÐANG LÀM GÌ! THẦY ÐANG NÓI GÌ!

                                                   
  
  Trong thời đại mới, đã có lắm chuyện quái dị về các vị thiền sư và những đệ tử, và về chuyện thầy chỉ truyền thừa tâm ấn cho các đệ tử tín cẩn mà thôi. Dĩ nhiên Thiền phải được truyền thừa như thế, dĩ tâm tải tâm, và trong quá khứ nó đã thành công. Tỉnh lặng và khiêm tốn quí hơn là chuyên nghiệp và cường điệu. Người được truyền tâm ấn thường ẩn thân đến cả hai chục năm. Cho đến khi có kẻ cầu đạo khám phá ra thì thiền sư mới lộ diện hóa độ. Sự kiện xảy ra rất tự nhiên và giáo pháp cứ thế mà được truyền thừa. Trong bất cứ hoàn cảnh nào, thiền sư không bao giờ tự xưng "Ta là kẻ kế thừa của Tổ này Tổ nọ." Chỉ gây điều bất lợi mà thôi.
   Thiền sư Mu-nan chỉ có một đệ tử kế thừa. Tên của ngài là Shoju. Sau một thời gian dài theo học, Shoju được thầy gọi vào phòng. "Ta đã già," ngài bảo, "và như ta biết, Shoju, chỉ có con là kẻ sẽ kế thừa giáo pháp này. Ðây là một cuốn kinh. Nó đã được truyền lại cho các thầy đến bảy đời. Ta cũng có thêm vào nhiều điểm theo sự liu ngộ của ta. Cuốn sách này rất quí, và ta trao lại cho con như ấn chứng."
"Nếu cuốn kinh quan trọng đến thế thì thầy nên giữ lấy," Shoju trả lời. "Con đã được truyền thụ Thiền không nhờ văn tự và con rất thỏa nguyện."
   "Ta biết thế," Mu-nan bảo. "Cho dù như vậy, tập kinh này đã được truyền lại cho các thầy đến bảy đời, con nên giử lấy như là bảo vật chánh truyền giáo pháp. Ðây."
    Hai thầy trò đang nói chuyện bên lò than. Ngay khi Shoju cầm lấy sách ngài liền quăng ngay vào lò lửa. Chẳng một ham muốn sở hữu.
    Mu-nan, chưa từng biết giận, hét lên: "Ngươi đang làm gì vậy!"
    Shoju quát lại: "Thầy đang nói gì vậy!"

                                            Trích trong tập Những câu chuyện thiền

Thứ Năm, 5 tháng 3, 2015

BÀI HỌC VỀ LÒNG TỰ TRỌNG CỦA CON NGƯỜI DÙ ĐANG TRONG CƠN KHỐN KHÓ.

                                                           

   Dù nghèo đến mức không đủ tiền ăn nhưng hai cha con ông lão mù trong câu chuyện vẫn khiến mọi người ngả mũ thán phục vì tâm hồn chan chứa tình thương và lòng tự trọng đáng quý.

  Vào một buổi chiều mùa xuân lạnh lẽo, trước cửa quán xuất hiện hai vị khách lạ, có thể đoán là một người cha và một người con. Người cha bị mù, người con trai đi bên cạnh ân cần dìu cha.
  Cậu con trai trạc mười tám, mười chín tuổi, quần áo đơn giản, lộ rõ vẻ nghèo túng, nhưng từ cậu lại toát lên nét trầm tĩnh của người có học, dường như cậu vẫn đang là một học sinh.
 Cậu con trai tiến đến trước mặt tôi. Cậu nói to: “Cho hai bát mì bò!”. Tôi đang định viết hoá đơn thì cậu ta hướng về phía tôi và xua xua tay. Tôi ngạc nhiên nhìn cậu ta, cậu ta chỉ tay vào bảng giá treo ở trên tường, phía sau lưng tôi, khẽ bảo với tôi rằng chỉ làm một bát mì cho thịt bò, bát kia chỉ cần rắc chút hành là được. Lúc đầu, tôi hơi thắc mắc, nhưng sau đó chợt hiểu ra ngay.
  Hoá ra, cậu ta gọi to hai bát mì thịt bò như vậy là cố tình để cho người cha nghe thấy, tôi đoán cậu không đủ tiền, nhưng lại không muốn cho cha biết. Tôi cười thông cảm với cậu.
 Nhà bếp nhanh nhẹn bê lên ngay hai bát mì nóng hổi. Cậu con trai chuyển bát mì bò đến trước mặt cha, thương yêu chăm sóc: “Cha, có mì rồi, cha ăn đi thôi, cha cẩn thận kẻo nóng đấy ạ!”.
  Rồi cậu ta tự bưng bát mì nước về phía mình. Người cha không vội ăn ngay, ông cầm đũa dò dẫm đưa qua đưa lại trong bát. Mãi lâu sau, ông mới gắp trúng một miếng thịt, vội vàng bỏ miếng thịt vào bát của người con. “Ăn đi con, con ăn nhiều thêm một chút, ăn no rồi học hành chăm chỉ, sắp thi tốt nghiệp rồi, nếu mà thi đỗ đại học, sau này làm người có ích cho xã hội ”, người cha nói với giọng hiền từ, đôi mắt tuy mờ vô hồn, nhưng trên khuôn mặt sạm nắng, nhăn nheo lại sáng lên nụ cười ấm áp và mãn nguyện.   Điều khiến cho tôi ngạc nhiên là người con trai không hề cản trở việc cha gắp thịt cho mình, anh điềm nhiên nhận miếng thịt, rồi anh lặng lẽ gắp miếng thịt đó trả về bát mì của cha.
  Cứ lặp đi lặp lại như vậy, dường như thịt trong bát của người cha cứ gắp lại đầy, gắp mãi không hết. “Cái quán này thật tử tế quá, một bát mì mà biết bao nhiêu là thịt”, ông lão cảm động nói.
  Đứng bên cạnh họ, tôi chợt thấy tim mình thắt lại, trong bát chỉ có vài mẩu thịt tội nghiệp, quắt queo bằng móng tay, lại mỏng chẳng khác gì xác ve. Người con trai nghe vậy vội vàng tiếp lời cha: “Cha à, cha mau ăn đi, bát của con đầy ắp không biết để vào đâu rồi đây này”. “Ừ, ừ, con ăn nhanh lên, ăn mì bò là bổ dưỡng lắm đấy con ạ”, ông nói.
  Hành động và lời nói của hai cha con đã làm chúng tôi rất xúc động. Chẳng biết từ khi nào, bà chủ cũng đã ra đứng cạnh tôi, lặng lẽ nhìn hai thực khách đặc biệt. Vừa lúc đó, cậu Trương đầu bếp bê lên một đĩa thịt bò thơm phức, bà chủ đưa mắt ra hiệu bảo cậu đặt lên bàn của hai cha con nọ. Cậu con trai ngẩng đầu tròn mắt nhìn một lúc, bàn này chỉ có mỗi hai cha con cậu ngồi, cậu ta vội vàng hỏi lại: “Anh để nhầm bàn rồi thì phải, chúng tôi không gọi thêm thịt bò”.
  Bà chủ dịu dàng bước lại chỗ họ: “Không nhầm đâu, hôm nay chúng tôi kỷ niệm ngày mở quán, thịt này là quà biếu khách hàng”. Cậu con trai không hỏi gì thêm. Cậu lại gắp thêm vài miếng thịt vào bát người cha, sau đó, bỏ phần còn thừa vào trong một cái túi nhựa.
  Chúng tôi âm thầm quan sát hai cha con ăn xong, tính tiền, rồi dõi mắt tiễn họ ra khỏi quán. Mãi khi cậu Trương đi thu dọn bát đĩa, chúng tôi bỗng nghe cậu kêu lên khe khẽ. Hoá ra, bát của cậu con trai đè lên mấy tờ tiền giấy xếp gọn, vừa đúng giá tiền của một đĩa thịt bò được viết trên bảng giá của cửa hàng.

Bài học quý giá về tình yêu và lòng tự trọng.
Cảnh cùng khổ không làm họ bớt yêu thương nhau hay phải quỵ lụy cầu xin sự giúp đỡ của người khác. Họ có thể rất nghèo về vật chất nhưng lại có hai tài sản đáng quý hơn tất cả, đó là tình yêu và lòng tự trọng.


                                                                                                   ST

Thứ Tư, 4 tháng 3, 2015

TẤT CẢ ĐỀU LÀ VÔ THƯỜNG


      1-Thời gian : Vô Thường

   Tháng ngày hối hả, đời người ngắn ngủi, thoáng chốc đã già. Chẳng dám nói hiểu hết mọi lẽ nhân sinh nhưng chỉ có hiểu đời thì mới Qua một ngày vui một ngày.sống thanh thản, sống thoải mái.
   Qua một ngày mất một ngày.

    Vui một ngày lãi một ngày.

     2-Hạnh phúc : Vô Thường
 Hạnh phúc do mình tạo ra. Vui sướng là mục tiêu cuối cùng của đời người, niềm vui ẩn chứa trong những sự việc vụn vặt nhất trong đời sống, mình phải tự tìm lấy. Hạnh phúc là cảm giác, cảm nhận, điều quan trọng là ở tâm trạng.
      3-Tiền : Vô Thường
  Tiền không phải là tất cả nhưng không phải không là gì. Đừng quá coi trọng đồng tiền, càng không nên quá so đo, nếu hiểu ra thì sẽ thấy nó là thứ ngoại thân, khi ra đời chẳng mang đến, khi chết chẳng mang đi. Nếu có người cần giúp, rộng lòng mở hầu bao, đó là một niềm vui lớn. Nếu dùng tiền mua được sức khỏe và niềm vui thì tại sao không bỏ ra mà mua ? Nếu dùng tiền mà mua được sự an nhàn tự tại thì đáng lắm chứ ! Người khôn biết kiếm tiền, biết tiêu tiền. Làm chủ đồng tiền, đừng làm tôi tớ cho nó. (Khó lắm !?!?)
      4- Đời sống : Vô Thường
 “Quãng đời còn lại càng ngắn thì càng phải làm cho nó phong phú”. Người già phải thay đổi quan niệm cũ kỹ đi, hãy chia tay với “ông sư khổ hạnh”, hãy làm “con chim bay lượn”. Cần ăn thì ăn, cần mặc thì mặc, cần chơi thì chơi, luôn luôn nâng cao chất lượng cuộc sống, hưởng thụ những thành quả công nghệ cao, đó mới là ý nghĩa sống của tuổi già.
     5-Thê´Gian : Vô Thường
     -Tiền bạc là của con ( không chắc lám) - Tài sản có thể bị mất vì các nguyên nhân: 1-Thiên tai, 2- Hỏa hoạn, 3- Pháp lênh của vua hay chính quyền tich thu, quốc hửu hóa, 4- Trộm cướp, 5- Con cái.
    - Địa vị là tạm thời, vẻ vang là quá khứsức khỏe là của mình.

    -Cha mẹ yêu con là vô hạn; con yêu cha mẹ là có hạn.

    -Con ốm cha mẹ buồn lo; cha mẹ ốm con nhòm một chút, hỏi vài câu là thấy đủ rồi.

    -Con tiêu tiền cha mẹ, thoải mái ; Cha mẹ tiêu tiền con, chẳng dễ.

    -Nhà cha mẹ là nhà con ; Nhà con không phải là nhà cha mẹ.

     Khác nhau là thế, người hiểu đời coi việc lo liệu cho con là nghĩa vụ, là niềm vui, không mong báo đáp.

    -Chờ báo đáp là tự làm khổ mình.

    -Ốm đau trông cậy ai ? Trông cậy con ư ? Nếu ốm dai dẳng chẳng có đứa con có hiếu nào ở bên giường đâu (cửu bệnh sàng tiền vô hiếu tử). Trông vào bạn đời ư ? Người ta lo cho bản thân còn chưa xong, có muốn đỡ đần cũng không làm nổi.

     Trông cậy vào đồng tiền ư ? - Chỉ còn cách ấy.

   -Cái được, người ta chẳng hay để ý; cái không được thì nghĩ nó to lắm, nó đẹp lắm.

    Chân lý của Đạo, thực ra sự sung sướng và hạnh phúc trong cuộc đời tùy thuộc vào sự thưởng thức nó ra sao. Người hiểu đời rất quý trọng và biết thưởng thức những gì mình đã có, và không ngừng phát hiện thêm ý nghĩa của nó, làm cho cuộc sống vui hơn, giàu ý nghĩa hơn.

   Cần có tấm lòng rộng mở, yêu cuộc sống và thưởng thức cuộc sống, trông lên chẳng bằng ai, trông xuống chẳng ai bằng mình (tỷ thượng bất túc tỷ hạ hữu dư), biết đủ thì lúc nào cũng vui (tri túc thường lạc).

   Tập cho mình nhiều đam mêvui với chúng không biết mệt, tự tìm niềm vui.

    Tốt bụng với mọi người, vui vì làm việc thiện, lấy việc giúp người làm niềm vui.

  Con người ta vốn chẳng phân biệt giàu nghèo sang hèn, tận tâm vì công việc là coi như có cống hiến, có thể yên lòng, không hổ thẹn với lương tâm là được.. Huống hồ nghĩ ra, ai cũng thế cả, cuối cùng là trở về với tự nhiên. Thực ra ghế cao chẳng bằng tuổi thọ cao, tuổi thọ cao chẳng bằng niềm vui thanh cao.

   Quá nửa đời người dành khá nhiều cho sự nghiệp, cho gia đình, cho con cái, bây giờ thời gian còn lại chẳng bao nhiêu nên dành cho mìnhquan tâm bản thânsống thế nào cho vui thì sốngviệc nào muốn thì làmai nói sao mặc kệ vì mình đâu phải sống vì ý thích hay không thích của người khác, nên sống thật với mình.

   Sống ở trên đời không thể nào vạn sự như ýcó khiếm khuyết là lẽ thường tình ở đờinếu cứ chăm chăm cầu toàn thì sẽ bị cái cầu toàn làm cho khổ sở. Chẳng thà thản nhiên đối mặt với hiện thực, thế nào cũng xong.

  Tuổi già, tâm không giàthế là già mà không già Tuổi không già ma` tâm giàthế là không già mà già. Nhưng xử lý một vấn đề thì nên nghe nguoi`già.

  Sống phải năng hoạt động nhưng đừng quá mức. Ăn uống quá thanh đạm thì không đủ chất bổ ; quá nhiều thịt cá thì không hấp thụ được. Quá nhàn rỗi thì buồn tẻ; quá ồn áo thì khó chịu…. Mọi thứ đều nên “vừa phải”.

   Người ngu gây bệnh (hút thuốc, say rượu, tham ăn tham uống…).

   Người dốt chờ bệnh (ốm đau mới đi khám chữa bệnh).

   Người khôn phòng bệnh, chăm sóc bản thân, chăm sóc cuộc sống..

   Khát mới uống, đói mới ăn, mệt mới nghỉ, thèm ngủ mới ngủ, ốm mới khám chữa bệnh… Tất cả đều là muộn.

   Chất lượng cuộc sống của người già cao hay thấp, chủ yếu tùy thuộc vào cách tư duy, tư duy hướng lợi là bất cứ việc gì đều xét theo yếu tố có lợi, dùng tư duy hướng lợi để thiết kế cuộc sống tuổi già sẽ làm cho tuổi già đầy sức sống và sự tự tin, cuộc sống có hương vị; tư duy hướng hại là tư duy tiêu cực, sống qua ngày với tâm lý bi quan, sống như vậy sẽ chóng già chóng chết.

   Chơi là một trong những nhu cầu cơ bản của tuổi già, hãy dùng trái tim con trẻ để tìm cho mình một trò chơi ưa thích nhất, trong khi chơi hãy thể nghiệm niềm vui chiến thắng, thua không cay, chơi là đùa. Về tâm và sinh lý, người già cũng cần kích thích và hưng phấn để tạo ra một tuần hoàn lành mạnh.

   “Hoàn toàn khỏe mạnh”, đó là nói thân thể khỏe mạnh, tâm lý khỏe mạnh và đạo đức khỏe mạnh. Tâm lý khỏe mạnh là biết chịu đựng, biết tự chủ, biết giao thiệp; đạo đức khỏe mạnh là có tình thương yêu, sẵn lòng giúp người, có lòng khoan dung, người chăm làm điều thiện sẽ sống lâu.

    Con người là con người xã hội, không thể sống biệt lập, bưng tai bịt mắt, nên chủ động tham gia hoạt động công ích, hoàn thiện bản thân trong hoạt động xã hội, thể hiện giá trị của mình, đó là cuộc sống lành mạnh.

  Cuộc sống tuổi già nên đa tầng đa nguyên, nhiều màu sắc, có một hai bạn tốt thì chưa đủ, nên có cả một nhóm bạn già, tình bạn làm đẹp thêm cuộc sống tuổi già, làm cho cuộc sống của bạn nhiều hương vị, nhiều màu sắc.

Con người ta chịu đựng, hóa giải và xua tan nỗi đau đều chỉ có thể dựa vào chính mình. Thời gian là vị thầy thuốc giỏi nhất. Quan trọng là khi đau buồn bạn chọn cách sống thế nào.

   Tại sao khi về già người ta hay hoài cựu (hay nhớ chuyện xa xưa)? Đến những năm cuối đời, người ta đã đi đến cuối con đường sự nghiệp, vinh quang xưa kia đã trở thành mây khói xa vời, đã đứng ở sân cuối, tâm linh cần trong lành, tinh thần cần thăng hoa, người ta muốn tim lại những tình cảm chân thànhVề lại chốn xưa, gặp lại người thân, cùng nhắc lại những ước mơ thuở nhỏ, cùng bạn học nhớ lại bao chuyện vui thời trai trẻ, có như vậy mới tìm lại được cảm giác của một thời đầy sức sống. Quý trọng và được đắm mình trong những tình cảm chân thành là một niềm vui lớn của tuổi già.

   Nếu bạn đã cố hết sức mà vẫn không thay đổi tình trạng không hài lòng thì mặc kệ nó ! Đó cũng là một sự giải thoát. Chẳng việc gì cố mà được, quả (trai') ngắt vội không bao giờ ngọt.

   Sinh lão bệnh tử là quy luật ở đời, không chống lại được. Khi thần chết gọi thì thanh thản mà đi. Cốt sao sống ngay thẳng không hổ thẹn với lương tâm và cuối cùng đặt cho mình một dấu châm hết thật tròn.

   Sống ngày nào, vui ngày nấy ! Đó là giải thoát !

                                                                              Sưu tầm


Thứ Hai, 2 tháng 3, 2015

BÌNH THƯỜNG GIỮA VÔ THƯỜNG

                                                           


   Cuộc sống bao giờ cũng có những đổi thay.  Có những đổi thay xoay chậm và từ tốn theo thời gian như bốn mùa, và cũng có những biến đổi nhanh đến bất ngờ.
    Life changes fast.
    Life changes in the instant.
   The ordinary instant.
    You sit down to dinner and life as you know it ends.
                         Cuộc sống đổi thật nhanh.
                         Cuộc sống thay đổi trong phút chốc
                         Trong một giây lát bình thường.
                         Ta ngồi xuống buổi ăn chiều
                         và cuộc sống mà ta vẫn thường biết, chấm dứt.
   Bà Joan Didion viết những dòng ấy trong nhật ký của mình.  Vào một chiều mùa đông, sau khi hai vợ chồng bà vừa mới trở về từ nhà thương thăm đứa con gái đang bị hôn mê. Hai người đang sửa soạn cho buổi ăn chiều.  Lúc ấy, chồng bà bất ngờ bị một cơn động tim dữ dội, và ông qua đời trên đường chở vào bệnh viện.  Trong một giây lát bình thường, cuộc đời của bà đã hoàn toàn thay đổi.
    Bà viết, "Cuộc sống đổi thay trong phút chốc, trong một giây lát bình thường.  Nhưng tôi nghĩ có lẽ mình không cần thêm vào hai chữ 'bình thường' vì nó không cần thiết.  Cuộc sống tự nhiên là như vậy.  Khi đối diện trước một tai nạn lớn nào đó bất ngờ xảy ra, chúng ta bao giờ cũng chỉ nhớ đến những sự việc 'bình thường', không có gì là đặc biệt, trước khi biến cố ấy xảy ra: bầu trời trong xanh khi chiếc máy bay rơi, con đường quen thuộc khi chiếc xe bị tai nạn, chiếc xích đu vẫn thường ngày khi đứa bé bị ngã...  Ngay cả trong bài tường trình của Uỷ Ban Điều Tra 9/11 cũng diễn tả với những chi tiết bình thường này 'Thứ ba, ngày 11 tháng 9, 2001.  Một buổi sáng ôn hoà, gần như không chút mây trên bầu trời miền Đông Hoa kỳ.'  Tất cả đều là một ngày rất bình thường..."
   Nhưng thật ra, cuộc sống có gì là bình thường chăng.
   Bình thường nhưng không tầm thường
   Ngày mưa trên mái hiên, nắng trưa qua con phố nhỏ, áng mây trôi trong tách cà phê buổi sáng, những chiếc lá bay rộn rả trên con đường lộng gió buổi chiều này...  chúng tuy bình thường, nhưng có bao giờ là tầm thường đâu bạn hả!
    Ông William Carlos Williams có viết một bài thơ,
          I have had my dream - like others -
          and it has come to nothing, so that
          I remain now carelessly
          with feet planted on the ground
          and look up at the sky -
          feeling my clothes about me,
          the weight of my body in my shoes,
          the rim of my hat, air passing in and out
          at my nose - and decide to dream no more.
                        Tôi cũng có những ước mơ - như mọi người -
                        và chúng không trở thành gì cả, vì thế
                        Tôi bây giờ chỉ thong dong thôi
                        với bàn chân vững vàng đặt trên đất
                        và ngước nhìn bầu trời -
                        cảm xúc quần áo trên người
                        sức nặng của thân trong đôi giày
                        vành nón, không khí ra vào
                         nơi mũi - và tôi quyết định không mơ tưởng nữa.
   Bạn thử đoán xem tựa của bài thơ ấy là gì?  Có người đoán là "Một giấc mơ", có người nói là "Chánh niệm""Sống trong hiện tại", hoặc là "Sẽ không còn mơ mộng nữa"...  Bạn nghĩ sao?  Tựa của bài thơ ấy là Thursday.  Thật đơn giản và bình dị, Thứ Năm.  Ông Williams có được tuệ giác trong bài thơ ấy trong lúc đi dạo vào một ngày thứ năm bình thường.
    Trong một ngày bình thường, không có gì đặc biệt, tác giả trở về với thực tại, tiếp xúc với mỗi bước chân và những cảm giác đang có mặt, và ông quyết định sẽ buông bỏ hết những muộn phiền, suy tư của mình.  Ngày thứ năm hôm ấy của ông có lẽ cũng giống như một ngày bình thường hôm nay của bạn và tôi.
    Thiền tập không phải để thay đổi trạng thái
   Mà dường như chúng ta ai cũng ưa thích tìm kiếm những gì là “phi thường” bạn hả.  Như trên con đường tu học, chúng ta cũng thường mong tìm đạt những gì có thể giúp ta thay đổi được cái trạng thái “bình thường” của mình, như là mang lại cho mình một trạng thái an vui hay siêu việt nào đó chẳng hạn.
    Trong những ngày thiền tập tôi thường nghe người ta đặt câu hỏi rằng, trong lúc ngồi thiền chúng ta có thể chọn một hình ảnh đẹp, hay âm thanh êm dịu nào đó, để giúp mang lại cho mình một cảm giác thư giản và an tĩnh không?
    Ví dụ như là ta tưởng đến một bờ biển với tiếng sóng vỗ rì rào, hay nhìn một đóa hoa đẹp dưới nắng sớm chẳng hạn...  Tôi có một người bạn thường thích ngồi thiền trước một khung cửa sổ lớn để được nhìn ra bên ngoài, một không gian thênh thang.
    Những kinh nghiệm ấy chắc chắn sẽ mang lại cho chúng ta một cảm giác nhẹ nhàng, an tĩnh, tươi mát trong lúc ngồi, nhưng đó có phải là thiền tập không bạn?
      Mà là để có mặt tự nhiên
  Thật ra trong khi ngồi thiền ta chỉ cần thật sự ngồi nơi chỗ mình đang ngồi, và có mặt với bất cứ những cảm giác nào đang có trong ta.  Trong thiền tập ta không nghĩ tưởng về hơi thở hay bất cứ một đối tượng nào, mà chỉ cần biết cảm nhận và thấy ra được những gì đang có mặt.  Đó có thể là những cảm giác an vui, dễ chịu, và cũng có thể là những cái đau hay sự khó chịu trong thân tâm.
    Có vị thiền sư dạy chúng ta trong khi tiếp xúc với những gì đang xảy ra, đừng nên theo bài bản phương pháp quá, mà hãy để tất cả có mặt trong điều kiện tự nhiên.  Và khi cái thấy của mình đã được tự nhiên rồi, thì lúc đó chỉ có cái tâm trong sáng, định tĩnh mà thôi, còn đối tượng là gì, hay trạng thái nào, cũng không quan trọng.
    Mà bạn biết không, nếu như ta có khả năng yên được với chính mình ở nơi này, thì khi ngồi bên bờ biển, hoặc bên tách cà phê nóng, hay với ánh trăng bên cửa sổ, ta mới có thể thật sự tiếp xúc được với tất cả.  Còn nếu không thì ta cũng sẽ vẫn lại chỉ mơ tưởng về một tách cà phê hay một ánh trăng xa xôi, hoặc một nơi chốn xa vời nào khác mà thôi…
     Một tâm máy móc
   Tôi thấy ngày nay chúng ta cũng thường muốn sáng tạo thêm những phương tiện mới, để giúp cho con đường tu học của mình được dễ dàng và có nhiều hiệu quả hơn.  Nhưng đôi khi những sự tạo tác ấy lại có thể vô tình làm mình tách rời xa thực tại tự nhiên.
    Ông Trang Tử nói, người ta thường vì chỉ nghĩ tới cái ích lợi mà quên đi cái tâm bình thường trong sáng của mình.  Ông gọi cái tâm tính toán, tạo tác ấy là cơ tâm, một lòng máy móc.
    Thầy Tử Cống đi qua đất Hán Âm thấy một Ông lão làm vườn đang xuống giếng gánh từng thùng nước, đem lên tưới rau.
    Tử Cống nói:  Kia có cái máy một ngày tưới được hàng trăm khu đất, sức dùng ít mà công hiệu nhiều.  Cái máy ấy đàng sau nặng, đàng trước nhẹ, đem nước lên rất dễ, và tên gọi là "máy lấy nước”.
    Ông lão nói:  Lão nghe thầy lão nói rằng hễ dùng cơ giới thì tất có cơ tâm (lòng máy móc), có cơ tâm thì không còn sự trong trắng nữa nên tâm thần không yên ổn, tâm thần không yên ổn thì Đạo sẽ lánh xa, không che chở mình nữa.  Lão không phải không biết cái lợi, nhưng hể có cơ giới tức có cơ sự, kẻ có cơ sự tức có cơ tâm.  Lão đây có phải không biết ích lợi ấy đâu, chỉ nghĩ xấu hổ mà không muốn dùng vậy.
    Nhưng không phải ông Trang Tử khuyên chúng ta đừng nên sử dụng đến cơ giới đâu bạn.  Tôi nghĩ ông chỉ muốn nhắc nhở chúng ta nên thận trọng, vì những sự khôn khéo và tạo tác của mình dễ làm phát triển một cơ tâm, rồi đánh mất đi sự an ổn tự nhiên sẵn có trong ta.
    Tâm bình thường thị đạo
Có lẽ vì vậy mà các thầy tổ thường khuyên chúng ta hãy nên lấy cái tâm bình thường mà học đạo bạn hả?  Chúng ta đâu cần đi tìm cầu những trạng thái phi thường, hoặc một pháp môn cao xa nào, mà đánh mất đi sự sống nhiệm mầu đang có mặt ngay trong mỗi khoảnh khắc bình thường và ngắn ngủi này.  Hãy tiếp xúc với tất cả bằng một cái thấy tự nhiên và trong sáng.
    Có lần thiền sư Basho đi một mình trên con đường quê nhỏ vào một buổi sáng mờ sương.  Có lẽ trời đang mưa phùn, những hạt mưa bụi nhẹ bay như sáng hôm nay.  Trên đường đi, ông nhìn thấy có một cái gì đó là lạ nơi hàng giậu cũ kỹ đổ nát bên đường, ông bước lại gần và thấy một cành hoa nazuna trắng đang nở.  Và trong giây phút ấy, ông bỗng chợt thấy mình trở thành là một với hiện hữu.
                Ta nhìn sâu xa
                Bên hàng giậu nở
                 cành Nazuna
                            (Nhật Chiêu dịch)
    Bạn biết không, lắm khi trong cuộc sống ta lại chứng nghiệm được sự mầu nhiệm, và thấy ra lẽ đạo, ở những gì mà mình cho là rất tầm thường...
                                                                            Nguyễn Duy Nhiên