Thứ Hai, 19 tháng 10, 2015

HÀNH THIỀN DƯỚI ÁNH SÁNG KHOA HỌC

image


Thiền là một nét văn hoá đặc sắc của phương Đông.  Từ đầu thế kỷ 20, sau khi được du nhập vào phương Tây, thiền đã thoát ra khỏi ranh giới của tôn giáo và nhanh chóng được tiếp nhận như một phương pháp  để chữa lành những căn bệnh của xã hội hiện đại do căng thẳng tâm lý gây ra.  Ngày nay, với tinh thần khoa học và tính thực tiển của người Âu Mỹ và dưới sự giúp sức của các thiết bị hiện đại, nhiều hiệu quả thực tế của thiền đã dần dần đựoc sáng tỏ.

Thiền là quá trình hạ thấp sóng não và giảm chuyển hoá

Nhiều nghiên cứu khác nhau đã cho thấy trong quá trình ngồi thiền, nhịp thở chậm lại, nhịp tim và huyết áp giảm xuống, sóng não hạ thấp và mức độ chuyển hoá giảm theo.  Năm 1967, Giáo sư Herbert Benson, trường Đại học Harvard đã tiến hành nghiên cứu trên 36 người tham gia ngồi thiền.  Thí nghiệm cho biết khi ngồi thiền nhu cầu oxy ít hơn bình thường 17%, nhịp tim giảm 3 nhịp mỗi phút và có sự gia tăng sóng theta ở não.  Một nghiên cứu khác do hai Giáo sư người Nhật Kasamatsu và Hirai thực hiện trong khi  thiền sư Soto ngồi thiền cho thấy có sự xuất hiện tuần tự sóng alpha, gia tăng biên độ sóngalpha, tiếp tục là sự giảm thấp sóng alpha và cuối cùng là sự phát triển sóng theta[i].  Sóng não hạ thấp tương ứng với tình trạng an tĩnh của cơ thể.  Sóng beta nhanh và không đều (khoảng 20c/s) ứng với điều kiện tâm lý căng thẳng, nhiều tạp niệm.  Sóng alpha (khoảng 8 đến 13c/s) là sóng não ứng với tình trạng thư giãn cơ bắp,  tâm lý thoải mái và tinh thần minh mẩn.  Sự gia tăng biên độ sóng alpha ứng với tình trạng êm dịu thần kinh.  Sóng theta (khoảng 4c/s) thường xuất hiện liền trước lúc ngủ.  Khi ngồi thiền, sóng theta sinh ra nhưng con người vẫn tỉnh táo, sóng theta ứng với quá trình nhập tĩnh của hành giả.  Ở những người nhập tĩnh sâu, điện não đồ có thể xuất hiện sóng gamma (từ 1 đến 2c/s).
Nói chung, sinh hoạt hàng ngày luôn làm cho thần kinh con người ở trong tình trạng căng thẳng, kích thích ở những mức độ khác nhau dễ gây rối loạn thần kinh thực vật, dẫn đến rối loạn hoạt động nội tiết và hoạt động miễn nhiễm.  Ngược lại, quá trình hạ thấp sóng não, giảm chuyển hoá và giảm tiêu hao năng lượng của thiền là quá trình chủ động làm cho bộ não được nghỉ ngơi, phục hồi khả năng tự điều chỉnh, tự hoàn thiện, qua đó cải thiện các chức năng sinh lý của cơ thể và nâng cao khả năng chống lại những sự quấy nhiểu của môi trường bên ngoài.

Thiền tạo ra sự khác biệt cụ thể trên não bộ, phát triển trí não và làm chậm sự lão hoá

Các nhà thần kinh học cho rằng não bộ có thể nhận biết, thích ứng và tự điều chỉnh các phân tử và các tế bào trên cơ sở kinh nghiệm và sự luyện tập.  Ông Kosslyn, một nhà tâm thần học nói “Nếu bạn làm một điều gì đó, bất cứ các gì, ngay cả chơi bóng bàn , trong 20 năm, mỗi ngày 8 tiếng thì trong não bộ của bạn sẽ có một sự khác biệt so với những người không làm việc đó.  Điều nầy là tất yếu”.  Gần đây, một báo cáo của 2 nhà khoa học Arthur F. Kramer và  Mc. Auley trường Đại học Illinois được phổ biến trong tập san chuyên về lão khoa số tháng 9/2006 của Hội Khoa học Mỹ đã xác nhận những người già thường xuyên tập thể dục có thể phát triển vùng não tương ứng và cải thiện trí nhớ.  Người tham gia thí nghiệm[ii] là những người có cuộc sống tĩnh tại, tuổi từ 60 đến 79 tuổi.  Họ được tập trung mỗi tuần 3 lần để tập những bài tập aerobic nhẹ -tương tự như một loại thiền động- Sau 6 tháng, đối chiếu, so sánh bộ não của những người nầy qua những hình ảnh được chụp bằng máy cộng hưởng từ  đã cho thấy có sự gia tăng đáng kể khối lượng não giữa trước và sau đợt thí nghiệm.  Đối với thiền tĩnh, kết quả càng khả quan hơn.  Bà Sara W. Lazar, Giáo sư trường Đại học Harvard, là người đồng nghiên cứu với Tiến sĩ Benson tại Bệnh viện Massachusettes General Hospital (MGH).  Bà cho biết thiền giúp gia tăng chức năng của bộ não, tăng cường khả năng tập trung tư tưởng và cải thiện lão hoá.  Đặc biệt, thiền làm gia tăng độ dày của phần vỏ não phía trước trán.  Điều nầy tương phản với quá trình thoái hoá não ở người già.  Nghiên cứu nầy dựa trên những người  từ 25 đến 50 tuổi, ngồi thiền 40 phút mỗi ngày.  Bà Lazar nói “Ảnh hưởng của thiền định có thể đảo ngược tiến trình lão hoá”.

Thiền là liệu pháp đối trị các  bệnh tâm thể

Từ lâu, khoa học đã phân biệt được mỗi khu vực não có liên quan đến những cảm xúc hoặc những khả năng khác nhau của con  người. Ngày nay, với sự hổ trợ của các thiết bị hiện đại, các nhà khoa học đã xác định được rằng quá trình ngồi thiền đã hoạt hoá được vùng não trước trán bên trái, nơi có những tế bào thần kinh cho ta cảm giác phấn khởi, an lạc.  Chính điều nầy đã giúp cho các vị thiền sư dễ an định nội tâm, khó bị kích động bởi những cảm giác hận thù, sợ hải, lo âu.  Do đó, thiền cũng là biện pháp đối trị hửu hiệu đối với  các chứng bệnh do căng thẳng tâm lý gây ra. Giáo sư Herbert Benson cho rằng phần lớn các bệnh nhân đến các phòng mạch đều có liên quan đến stress.  Những ca bệnh nầy đáp ứng rất kém đối với thuốc và phẫu thuật nhưng lại rất tốt đối với các liệu pháp tiếp cận tâm thể.  Đối với các bệnh có nguồn gốc tâm lý, liệu pháp thiền là cách chữa tận gốc.  Những nghiên cứu về thiền đều cho thấy thiền làm giảm sự căng cơ, giúp giải toả sự lo âu, bất an, đặc biệt là làm giảm họat hoá các nội tiết tố stress.  Hiện nay có một phương pháp thiền đã được chính thức đưa vào giảng dạy và thực hành lâm sàng tại nhiều trường Đại học và Bệnh viện ở phương Tây, kể cả một số trường lớn ở Mỹ như Umass, Stanford, Duke, Virginia, San Francisco, . ..  Đó là MBSR.  MBSR là chữ viết tắt của thuật ngử “Mindfullness Based Stress Reduction”,tạm dịch là “giảm Stress dựa trên sự tỉnh giác”.  MBSR được xem là một liệu pháp bổ sung giúp điều chỉnh tinh thần, cảm xúc và cải thiện sức khoẻ.  Đây là một kỷ thụât phát triển chánh niệm, tức khả năng nhận biết điều gì xảy ra nơi thân và tâm, qua đó có thể làm chủ bản thân và điều hoà cảm xúc.  MBSR đã được Giáo sư Jon Kabat-Zinn khởi xướng đưa vào thực hành lâm sàng từ đầu những năm 1970.  Cho đến nay, hàng chục ngàn người đã được hưởng lợi từ chương trình huấn luyện và điều trị nầy.  Kết quả cho thấy MBSR giúp điều trị những bệnh về tim mạch, các chứng đau nhức mãn tính, rối loạn chức năng ở dạ dày, ruột, chứng đau nửa đầu, cao huyết áp, mất ngủ, lo âu, hoảng loạn. . . Hiện nay, trên thế giới đã có hơn 200 bệnh viện hoặc cơ sở y tế có thực hành điều trị bằng MBSR[iii].

Thiền giúp cải thiện tình trạng rối loạn dương cương.  

 Hoạt động cương chịu sự chi phối của hệ thần kinh thực vật gồm 2 hệ hoạt động đối nghịch nhau và nằm ngoài tầm kiểm soát của ý chí con người.  Hệ đối giao cảm làm cho mạch máu và các cơ trơn của thể hang nở ra thu máu đến để gây cương.  Hệ giao cảm làm co mạch nên có thể làm cản trở hoạt động cương.  Do đó, những người dễ bị căng thẳng, lo lắng do cuộc sống hoặc do cơ địa có thần kinh yếu, thần kinh thực vật dễ bị rối loạn thường dẫn đến xuất tinh sớm.  Đối với những trường hợp nầy, bên cạnh việc ăn uống hợp lý và vận động tốt, tác dụng điều hoà thần kinh giao cảm để giảm stress và gia tăng năng lực kiểm soát cảm xúc của thiền là biện pháp bổ sung tích cực.  Về mặt lưu thông khí huyết, những đáp ứng thư giãn trong quá trình ngồi thiền vừa trực tiếp làm nở mạch vừa kích hoạt tiết  ra  thêm chất Nitric oxide[iv] nên  có tác dụng rất tốt trong hoạt động cương dương.  Nitric oxide là một hoá chất quan trọng có tác dụng làm giãn nở mạch máu trong cơ chế gây cương.  Như vậy, thiền có thể giúp cải thiện suy nhược sinh dục thông qua 2 cơ chế thần kinh và nội tiết.  Nguyên tắc nầy cũng đã được vận dụng từ xưa ở phương Đông.  Hít thở sâu và điều hoà, một hình thức tập trung tư tưởng thông qua quan sát hơi thở để điều hoà thần kinh giao cảm và kiểm soát cảm xúc có thể giúp người nam làm chậm lại sự phóng tinh.  Điều nầy từng được ghi lại trong những tác phẩm Tố Nử Kinh và Ngọc Phòng Bí Quyết, những sách cổ của Trung Quốc về nghệ thuật phòng trung.  Đoạn đối đáp giũa Tố Nử và Hoàng Đế về kỹ thuật nầy có ghi[v] “Phải thở sâu và đếm từ 1 dến 30. Và cứ thế làm lại nhiêù lần.  Công dụng của cách nầy là làm cho đàn ông có được sức bền bỉ.”

Thiền tăng cường hệ miễn dịch

Nhiều nghiên cứu cho thấy các phương thức hành thiền khác nhau như quán sát hơi thở, lần chuỗi, niệm kinh, nhẩm số hoặc những cử động lập đi lập lại như đi bộ, đi quyền, đan len. . . đều có khả năng làm gia tăng hệ miễn dịch.  Có thể kể đến[vi] những cuộc nghiên cứu của Viện Nghiên Cứu Kundalini ở Boston vào năm 1976 tại Bệnh viện Cựu Chiến Binh La Jolla ở California, thí nghiệm của nhà Tâm lý học Alberto Villoldo ở  trường Đại học Sanfrancisco năm 1980.  Nhiều người đặc biệt quan tâm đến công trình nghiên cứu của Bác sĩ Carl Simonton về điều trị ung thư trong những năm 1970.  Trong những thí nghiệm này ông hướng dẫn cho người bệnh thư giãn và hình dung những bạch cầu của họ là những chiến sĩ tìm và diệt.  Đội quân dũng mảnh đã chiến đấu, chiến thắng và mang đi các tế bào ung thư đã chết.  Kết quả thí nghiệm trên những bệnh nhân ung thư giai đoạn cuối đã cho biết thời gian sống còn của những bệnh nhân tham gia ngồi thiền tăng lên gấp 2 lần rưởi so với những người không ngồi thiền.
Vào tháng 7/1997, Tiến sĩ Richard Davidson, Giáo sư Tâm lý học trường Đại học Wisconsin đã tiến hành một cuộc nghiên cứu[vii] về tác động của thiền đối với hoạt động thần kinh và khả năng miễn nhiễm trên 48 đối tượng là  nhân viên của công ty kỹ thuật sinh học Promega (phần lớn những người này là những nhà khoa học).  Những người nầy được hướng dẫn thực hành  thiền mỗi lần 3 giờ, mỗi tuần một lần, trong  thời gian 8 tuần lể.  Cuối giai đoạn 8 tuần, những nhân viên ngồi thiền và những nhân viên khác không ngồi thiền đều được cho chích ngừa vaccin cúm.  Ở thời điểm 4 tuần và 8 tuần sau khi chủng ngừa, tất cả mọi người đều được thử máu để kiểm tra số lượng kháng thể.  Kết quả cho biết số kháng thể đã gia tăng thêm 50% ở những người có ngồi thiền so với những người không ngồi thiền.  Như vậy, cuộc thử nghiệm đã cho thấy việc hành thiền trong một giai đọan ngắn cũng có tác dụng gia tăng hệ miễn dịch.  Quan trọng hơn, khả năng nầy có thể kéo dài một thời gian sau khi ngưng ngồi thiền.

Thiền giúp cải thiện hành vi

Các nhà tâm thần học đang cố khám phá xem liệu việc ngồi thiền có thể cải thiện những chương trình của bộ não có khuynh hướng chống xã hội hay không.  Mới đây, một cuộc nghiên cứu về tác động của Vipassana, một loại thiền quán niệm hơi thở của Ấn Độ cổ, đối với những tù nhân tại nhà tù Tihar đã được công bố trên tờ the Indian Express số ra ngày 16.12.2006.  Nghiên cứu  được tiến hành bởi một nhóm sinh viên trường Đại học Vivekanand ở New Delhi.  Họ chọn ra 42 tù nhân tình nguyện.  Phân nửa số người trên được hướng dẫn thực hành thiền trong thời gian 10 ngày.  Sau thời gian thí nghiệm, các tù nhân được đánh giá các tiêu chuẩn về lòng tự trọng, khả năng ổn định cảm xúc và tinh thần trách nhiệm đối với xã hội.  Điều ghi nhận được là tất cả những người đã trải qua khoá thiền đều có kết quả tích cực hơn nhiều so với những người không ngồi thiền.  Nhà tù Tihar ở New Delhi là nhà tù đầu tiên thực hiện chương trình giáo dục tù nhân thông qua những khoá thiền Vipassana 10 ngày từ năm 1975.  Hiện nay chương trình nầy đã được thực hiên ở nhiều nơi trên thế giới, bao gồm Ấn Độ, Israel. Mông Cổ, New Zealand, Taiwan, Thailand, Anh  quốc và Hoa Kỳ[viii].
Nghiên cứu của Giáo sư David Kavanagh tại trường Đại học Queensland cho thấy đối với những người nghiện rượu, thiền có khả năng chế ngự đựơc cảm giác thèm rượu.  Đối với thói quen hay ăn vặt dễ dẫn đến béo phì và các loại bệnh về chuyển hoá khác, nhiều nhà khoa học cho rằng những người có nhiều áp lực trong cuộc sống thường có khuynh hướng hay ăn vặt để làm dịu đi những căng thẳng tâm lý.  Trong những trường hợp nầy, thiền có tác dụng điều hoà thần kinh, giải toả stress nên có thể chữa được thói xấu nầy.  Đối với những trường hợp bình thường, thiền giúp tạo một tinh thần thoải mái, lạc quan, dễ hoà hợp là điều rất rõ ràng.  Michael Slater, một nhà sinh học phân tử ở Promega đã tham gia vào cuộc thực nghiệm về thiền của ông Davidson đã phát biểu “Quả thật tôi là một nhà khoa học thực nghiệm trong mọi lảnh vực của cuộc sống.  Tôi nghi ngờ giáo điều.  Tôi đã thử thực hành thiền và  thiền đã thực sự hấp dẫn tôi.  Tôi đã cảm nhận được sự giảm căng thẳng trong tôi.  Tôi bớt gắt gỏng, cau có.  Tôi có khả năng tiếp nhận những áp lực công việc lớn hơn.  Vợ tôi cũng cảm thấy tôi dễ thân cận hơn.  Như vậy, thiền đã có những tác dụng rõ rệt.  Đối với những nhà khoa học thực nghiệm, như vậy là đủ.”  Những người ngồi thiền có vùng vỏ não trước trán bên trái hoạt động nhiều hơn bên phải nên có tinh thần lạc quan, dễ chia sẽ, tha thứ.  Mặt khác, họ sẽ phục hồi nhanh chóng sau khi bị tác động bởi những cảm xúc tiêu cực.

Thiền giúp nâng cao chỉ số thông minh cảm xúc

Trước đây, khi nói về sự thành đạt, người ta nhấn mạnh đến chỉ số thông minh, thường gọi là IQ (Intelligent Quotient).  Tuy nhiên theo nghiên cứu của một số nhà khoa học, chỉ khoảng 25% số người thành đạt có chỉ số thông minh trên trung bình.  Như vậy, chỉ số IQ không giải thích được sự thành công của 75% số người còn lại.  Các nhà nghiên cứu cũng loại trừ nhân tố năng lực chuyên môn.  Cuối cùng, người ta khẳng định thông minh cảm xúc là yếu tố quyết định sự thành công của những người này.  Đặc biệt trong cuộc sống hiện nay, nhịp sống nhanh và tính cạnh tranh cao, mỗi người đều dễ bị tác động bởi Stress thì yếu tố thông minh nầy càng có ý nghĩa quyết định.  Nói chung, thông minh về mặt cảm xúc (Emotional Intelligence) hay chỉ số thông minh cảm xúc (Emotional Quotient) là kỹ năng của một người về việc cảm nhận, đánh giá và quản lý cảm xúc của cá nhân mình, của đồng sự hay của đối tác để có được hiệu quả tối đa trong công việc cũng như trong giao tiếp xã hội.  Hành thiền có thể giúp gia tăng khả năng kiểm soát cảm xúc, lòng tự tin  và niềm hứng khởi trong công việc. Do đó, thiền  là khâu quan trọng nhất để nâng cao chỉ số thông minh nầy.  Tiến sĩ Daniel Golenan, một chuyên gia tâm lý thuộc trường Đại học Harvard ở Boston, Mỹ, là người tiên phong trong việc chuyên nghiệp hoá lãnh vực đào tạo và huấn luyện về Thông Minh Cảm Xúc.  Ông chủ trương nên giảng dạy thiền cho các học sinh, sinh viên và các nhà quản lý để giúp họ kiểm soát cảm xúc và có khả năng tương tác tốt trong mọi quan hệ qua đó sẽ giúp họ nâng cao hạnh phúc gia đình và thành công trong xã hội.  Tại Việt Nam,  một cuộc hội thảo chuyên đề về Tập trung trí tuệ, nắm bắt tương lai đã được Viện Nghiên Cứu Giáo Dục thuộc trường Đại Học Sư Phạm Thành phố Hồ Chí Minh tổ chức vào ngày 10.10.2007 vừa qua.  Kết quả điều tra mới nhất do công ty nghiên cứu thị trường Research International thực hiện  được công bố tại cuộc hội thảo đã cho thấy chỉ có 28%  học sinh, sinh viên Việt Nam có thể tập trung hoàn toàn vào công việc hàng ngày!  Số 72% còn lại cho biết họ thường gặp phải khó khăn khi phải tập trung trong học tập hoặc trong giao tiếp.  Đây là một thực trạng đáng báo động.  Nguyên nhân và giải pháp có thể có nhiều.  Tuy nhiên, việc đưahành thiền vào thời khoá sinh  hoạt thường ngày là một biện pháp mà mỗi cá nhân và gia đình có thể thực hành được.  Còn nhớ, một năm trước đây báo chí có loan tin về em Scott Thương, một học sinh người Việt thi đậu vào Đại học năm 14 tuổi.  Thương là con ông Trần văn Thưởng, một giáo sư Toán tại bang Missouri, Hoa Kỳ.  Khi trả lời báo chí về kinh nghiệm giáo dục con cái của mình, ông Thưởng đã cho biết, bên cạnh việc truyền đạt cho các em ý chí và động lực của việc học tập thì việc trau dồi thể chất và tinh thần là điều rất quan trọng.  Ông nói “Mỗi ngày, các em cần phải có một giờ tập thể dục và nửa giờ ngồi thiền.”

Thiền và cảm giác hợp nhất với vũ trụ

Khi đề cập đến thiền, đến yoga, người ta thường nói đến sự hoà hợp hay hợp nhất.  Hợp nhất giữa thân và tâm, giữa con người và bối cảnh chung quanh và cuối cùng là sự hợp nhất hay tính vô phân biệt giữa cái tôi hửu hạn và cái vô cùng của vủ trụ vạn hửu.  Qua nghiên cứu  bộ não, các nhà khoa học cho rằng cảm giác hợp nhất và vô giới hạn  có liên quan đến thuỳ đỉnh não.  Năm 1973, Tiến sĩ Gregg Jacobs, một chuyên gia Tâm thần học thuộc Đại học Harvard qua ghi nhận sóng não và ảnh chụp bộ não của những người ngồi thiền cho biết qúa trình thiền  làm giảm hoạt động ở thuỳ đỉnh não, nơi phụ trách các cảm giác về không gian và thời gian.  Bằng cách “tắt” thuỳ đỉnh não, hành giả sẽ có khuynh hướng mất đi cảm giác giới hạn để tiến đến sự hoà hợp và thấy mình và vủ trụ trở thành một.
Tóm lại, dù thiền ngắn hạn hay dài hạn, ảnh hưởng của thiền đối với việc cải thiện các điều kiện tâm lý hoặc thể chất là điều rất rõ ràng.  Những kết quả nầy cũng được thể hiện trong đánh giá của Bác sĩ Stephanie Steven, một chuyên gia về tim mạch và các liệu pháp bổ sung qua một bài viết[ix] trên báo Danvers Herald, MA, Mỹ ngày 12.1.2006 “Thiền định làm cho cơ thể bình lặng và an định, áp suất máu giảm , nhịp tim chậm lại.  Quá trình thiền khiến một số biến đổi tâm thể lý xảy ra giúp cải thiện sức khoẻ, giảm đau đớn, giảm căng cơ, giảm tính cáu kỉnh, gíup ăn ngon và tăng cường hệ miễn dịch”.



[i] Katsuki Sekida.  Zen Training. Shambhala Classics. 2005. Tr63
[ii] Exercise shown to reverse brain deterioration brought by aging. www.news.uiuc.edu/news/06
[iii] Jon Kabat-Zinn. Mindful Yoga (www.steveshealphd.com)
[iv] Tom Corwin. Form of meditation may improve health. http://chronicle.augusta.com
[v] Tố Nử Kinh. Hoàng Đông Bích (dịch).  Xuân Thu XB. USA
[vi] Nancy Poitou M.D. Meditation for Health. http://mysite.verizon.net/nancy-poitou.
[vii] Stephan S. Hall. Is Buddishm good for your health. The New York Times.  Sept.14.2003
[viii] Vipassana Meditation Courses for correction facilities. www.prison.dhamma.org
[ix] Stephanie Stevens. Meditation,an oasis from everyday stress.  Danvers Herald. Jan.12.2006.

                                                                                                         Lương y VÕ HÀ

Thứ Bảy, 17 tháng 10, 2015

PHÂN BIỆT CƠN ĐAU TIM (Heart Attack) VÀ ĐỘT QUỴ (Stroke)

                                                       

              
Stroke tiếng Việt gọi là Đột Quỵ hoặc Tai Biến Mạch Máu Não, còn Heart Attack là Cơn Đau Tim. Hai bệnh có một số điểm giống và khác nhau đôi khi cũng khó mà phân biệt.
- Cả hai đều gây ra do sự gián đoạn cung cấp máu cho mỗi bộ phận là não và tim
- Cả hai đều cần được cấp cứu tức thì vì hậu quả của bệnh tùy thuộc vào điều trị sớm hay muộn.
- Triệu chứng của hai bệnh đều khác nhau.
Nhận diện và nhớ được sự khác biệt về dấu hiệu báo động sự xuất hiện giữa hai bệnh đôi khi cũng gây bối rối cho nhiều người. Xin cùng tìm hiểu về hai bệnh này.
Trước hết, xin nhấn mạnh là các tế bào trong cơ thể hoạt động được đều nhờ chất dinh dưỡng và dưỡng khí do dòng máu cung cấp. Gián đoạn sự cung cấp này sẽ đưa tới rối loạn chức năng cho bộ phận đó rồi cho toàn cơ thể.
Não bộ và tim là hai bộ phận chủ chốt của cơ thể và rất nhậy cảm với sự thiếu cung cấp nguồn nhiên liệu để hoạt động, dù sự gián đoạn chỉ trong vài phút đồng hồ.
Stroke là gì?
Stroke là một cơn yếu ớt bất chợt ở một phía của cơ thể gây ra do sự gián đoạn lưu hành máu tới một phần nào đó của não.
- Ngưng cung cấp máu có thể là do ở trên não có một cục máu làm tắc nghẽn ( 85%) hoặc do một mạch máu bị đứt rách.
- Không có máu, tế bào não chết liền nếu không được cấp cứu.
- Mỗi phút không điều trị đưa tới hủy hoại cho 1.9 triệu tế bào não, 7.5 miles sợi thần kinh và 14 tỷ điểm giao liên kết hợp thần kinh.
Báo cáo y học của American Heart diễn tả sự tổn thương tế bào não khi không được điều trị với sự hóa già của cơ quan này như sau:
Cứ một giây không điều trị não già đi gần 8 giờ, mỗi phút không điều trị, não già gần 3 tuần lễ, chậm điều trị 1 giờ, não già đi 3.6 năm và nếu không chữa, não già đi 36 năm. Mà não đã hóa già hết hoạt động thì hậu quả tai hại sẽ vô lường, vĩnh viễn.
Coi vậy thì cấp cứu điều trị Stroke quan hệ như thế nào.
Cho tới nay, đột quỵ được coi là đệ tam sát thủ đối với con người, sau bệnh tim và ung thư và là đệ nhất nguyên nhân gây ra tàn phế cơ thể, đệ nhị hung thủ gây tàn phế thần kinh, sau bệnh Alzheimer.
Bên Hoa Kỳ, hàng năm có tới trên dưới 700,000 người bị stroke với gần 200,000 tử vong.
Sống sót thì cứ một trong sáu người cần chăm sóc tại các cơ sở lâu dài; ba trong bốn người giảm khả năng làm việc.
Kinh hoàng như vậy mà dường như nhiều người vẫn chưa biết rõ về bệnh cũng như chưa chịu áp dụng các phương thức phòng ngừa để bệnh không đến với mình.
Những dấu hiệu báo trước
Dấu hiệu tùy thuộc nguyên nhân gây tai biến, vùng não và số lượng tế bào bị tổn thương. Điểm đặc biệt của dấu hiệu báo động là một số những "Đột Nhiên".
- Đột nhiên thấy yếu một bên cơ thể như mặt, tay hoặc chân là dấu hiệu sớm nhất và thông thường nhất; rồi:
- Đột nhiên thấy tê dại trên mặt, cánh tay hoặc chân ở một nửa thân người;
- Đột nhiên thấy bối rối, nói lơ lớ khó khăn hoặc không hiểu người khác nói gì;
- Đột nhiên có khó khăn nhìn bằng một hoặc cả hai con mắt;
- Đột nhiên chóng mặt, đi đứng không vững, mất thăng bằng;
- Đột nhiên thấy nhức đầu như búa bổ mà không rõ nguyên nhân.
Không phải tất cả các dấu hiệu này đều xẩy ra trong mỗi tai biến. Nhưng nếu thấy một vài trong những dấu hiệu đó là phải kêu cấp cứu, tới nhà thương ngay. Đây là trường hợp khẩn cấp, trễ phút nào nguy hiểm gia tăng với phút đó.
Y giới đưa ra trắc nghiệm gọi tắt là FAST để sớm phát hiện stroke: Đột Quỵ hoặc Tai Biến Mạch Máu Não
F = Face: yêu cầu họ cười, coi xem một bên mặt có méo, môi xệ.
A = Arm: yêu cầu dơ 2 tay lên cao, coi xem một tay có yếu suội thõng xuống.
S = Speech: yêu cầu nhắc lại một câu nói, coi xem dọng nói có ngọng lớ, nhắc lại có đúng
T = Time có nghĩa thời gian điều trị là quan trọng, cần hành động kêu 911 c ấp cứu ngay.
Nếu áp dụng trắc nghiệm này thì đôi khi người thường cũng dễ dàng thấy stroke đang xuất hiện.
Ngoài ra, tùy theo não trái hoặc phải bị tổn thương mà triệu chứng khác nhau đôi chút.
A - Đột quỵ ở não trái hay phải đều đưa tới suy yếu hoặc tê liệt của phần cơ thể phía đối diện cộng thêm mắt mở rộng hoặc môi xệ xuống;
B - Đột quỵ não trái gây ra rối loạn về ngôn ngữ ảnh hưởng tới việc phát ra và hiểu lời nói kể cả đọc và viết. Lý do là trung tâm kiểm soát ngôn ngữ thường nằm bên não trái. Nạn nhân cũng có rối loạn về trí nhớ, một chút rối loạn hành vi, chậm chạp và dè dặt hơn.
C - Tổn thương não phải: Ngoài tê liệt nửa thân phía trái, bệnh nhân còn bị mất trí nhớ, hành vi hấp tấp, không suy nghĩ, kém nhận xét về không gian, hay bị xúc động, buồn rầu và chỉ để ý tới sự việc xẩy ra mé phải cơ thể. Chẳng hạn bệnh nhân không thấy có người tới ở phía trái hoặc bỏ quên thực phẩm trên phần đĩa bên trái.
Điều trị
Điều trị stroke, Đột Quỵ hoặc Tai Biến Mạch Máu Não tùy theo bị máu cục hoặc đứt động mạch.
Máu cục thì thuốc loãng máu như aspirin là ưu tiên rồi tới heparin...Aspirin cần được dùng trong vòng 3 giờ sau tai biến.
Còn stroke Đột Quỵ hoặc Tai Biến Mạch Máu Não do đứt mạch máu thì cần giải phẫu để sửa chỗ đứt và giảm áp lực của máu tràn đè lên tế bào não. Aspirin không được dùng vì sẽ làm máu loãng, chẩy nhiều hơn.
Sau giai đoạn cấp cứu, bệnh nhân được tiếp tục điều trị tại Trung tâm Phục hồi Chức năng, để lấy lại các chức năng đã mất hoặc suy yếu gây ra do sự thiếu nuôi dưỡng tế bào não.
Tóm lại, Tai biến Động mạch não là một tai nạn trầm trọng, cần được cấp cứu tức thì để cứu vãn sự sinh tồn của tế bào thần kinh. Nhiều nhà chuyên môn coi tai biến này nguy hiểm như Cơn Suy Tim heart attack, và gọi là Brain Attack.
Tai biến có thể viếng thăm bất cứ ai, không kể tuổi tác, nam nữ, giầu nghèo.
Heart Attack là gì? là Cơn Đau Tim.
Tim là bộ phận thiết yếu trong việc nuôi dưỡng toàn bộ tế bào trong cơ thể. Hằng ngày, tim liên tục làm việc suốt 24 giờ để bơm một khối lượng hơn 7000 lít máu. Để hoàn thành công việc này, tim cần oxy và chất dinh dưỡng do động mạch vành (Coronary Artery) cung cấp.
Vì nhiều lý do khác nhau, mặt trong của động mạch vành bị các mảng chất béo bám vào, làm cho động mạch trở nên cứng và hẹp, máu lưu thông giảm đi. Một máu cục có thể thành hình và gây tắc nghẽn hoàn toàn sự lưu hành của máu. Tế bào tim không nhận được chất dinh dưỡng và oxy, sẽ bị hủy hoại Đó là sự nhồi máu cơ tim (myocardial infarction). Thời gian thiếu máu càng lâu thì sự hủy hoại của tế bào tim càng lan rộng và cơn đau tim càng trầm trọng hơn.
Đôi khi, cơn đau tim cũng xảy ra khi động mạch vành co thắt tạm thời làm cho lưu lượng máu tới tim giảm đi. Các cơn co thắt tạm thời này có thể gây ra do căng thẳng tâm thần, tiếp xúc với thời tiết lạnh, khói thuốc lá hoặc khi sử dụng vài loại thuốc như bạch phiến...
Tại Hoa Kỳ, mỗi năm có khoảng 1,5 triệu người bị Cơn Đau Tim với hậu quả là gần 500,000 trường hợp tử vong. Hơn một nửa số tử vong này xảy ra 1 giờ sau cơn đau và trước khi bệnh nhân tới bệnh viện. Ngoài ra đã bị Heart attack cũng thường đưa tới Stroke.
Cơn đau tim là một trường hợp khẩn cấp, cần được điều trị tức thì. Mỗi giây phút trì hoãn là giây phút dẫn tới "thập tử nhất sinh" cho người bệnh.
May mắn là cơn đau tim có thể điều trị được và các nguy cơ gây ra cơn đau tim có thể đối phó, thay đổi để phòng ngừa căn bệnh hiểm nghèo này.
Những dấu hiệu báo trước Cơn Đau Tim
Có một số dấu hiệu báo trước sự xuất hiện của cơn đau tim:
A - Cảm giác khó chịu, đau đè như có vật nặng ép trên ngực, kéo dài tới mấy phút rồi mất đi, nhưng có thể tái xuất hiện. Cơn đau có thể nhè nhẹ vừa phải tới đau không chịu được.
B - Cảm giác đau từ ngực chạy lên vai, cổ hoặc lan ra cánh tay; đầu ngón tay cảm thấy tê tê..
C - Choáng váng, muốn xỉu, đổ mồ hôi, buồn nôn, khó thở.
D - Lo sợ, nóng nẩy, bồn chồn.
E - Da xanh nhợt.
F - Nhịp tim nhanh, không đều.
Nếu cảm thấy một trong những dấu hiệu này thì phải kêu cấp cứu ngay.
Nên lưu ý là phụ nữ có thể có các dấu hiệu khác hoặc không rõ ràng như nam giới. Họ có thể cảm thấy đau ở bụng, cho là bị ợ chua với da ẩm ướt hoặc mệt mỏi bất thường. Mà không ngờ là có thể đang bị heart attack.
Điều trị
Ngay khi cảm thấy có dấu hiệu bị cơn đau tim, bệnh nhân cần phải kêu số điện thoại cấp cứu để được đưa đi khám bệnh và điều trị càng sớm càng tốt. Điều trị sớm có thề ngăn ngừa hoặc giới hạn sự hư hao của tế bào tim và giảm được tử vong cho người bệnh.
Trên đường chuyên trở bệnh nhân tới bệnh viện, nhân viên cấp cứu đã có thể bắt đầu sự chữa trị với phương tiện sẵn có trong xe cấp cứu. Họ thường xuyên liên lạc trực tiếp với bác sĩ tại bệnh viện để thông báo tình trạng người bệnh và tham khảo ý kiến về cách thức đối phó với cơn đau tim. Họ có thể cho bệnh nhân thở oxy, dùng thuốc giảm đau tim nitroglycerin, morphine.Họ cũng sử dụng máy cấp cứu tim khi nhịp tim rối loạn, tạm ngưng..
Tới nhà thương, bệnh nhân được đưa vào phòng cấp cứu tim trang bị đầy đủ dụng cụ, và dược phẩm. Các bác sĩ sẽ hành động ngay để phục hồi sự lưu hành máu tới tim, giảm thiểu tổn thương cho các tế bào và liên tục theo dõi tình trạng bệnh.
- Thuốc gây tan cục huyết được dùng trong vòng 1 giờ kể từ khi bắt đầu có dấu hiệu của cơn đau tim.
- Thuốc loại nitrate để giúp động mạch bớt co thắt và giảm cơn đau trước ngực.
- Thuốc chống đông máu đề làm máu loãng, tránh đóng cục trong lòng động mạch.
- Thuốc viên aspirin để ngăn ngừa tiều cầu kết tụ với nhau...
Ngoài ra còn các dược phẩm giúp hạ huyết áp, giảm sức căng của động mạch, nhờ đó tim làm việc nhẹ nhàng hơn; thuốc điều hòa nhịp tim; thuốc an thần giảm đau. Bệnh nhân liên tục được hít thở oxy...
Thời gian điều trị tại bệnh việc tùy thuộc tình trạng nặng hay nhẹ của bệnh, sự đáp ứng với các phương thức chữa trị, thường thường là năm, sáu ngày nếu không có biến chứng.
Trước khi xuất viện, bệnh nhân được hướng dẫn về cách thức chăm sóc và dùng thuốc, về chế độ dinh dưỡng, về nếp sống, về sự vận động cơ thể với chương trình vật lý trị liệu, phục hồi chức năng của tim. Bệnh nhân sẽ hiểu rõ nên vận động như thế nào để tăng cường sức mạnh của cơ thể mà không gây ra rủi ro cho trái tim, hiểu rõ về bệnh tim của mình và biết cách đối phó với các khó khăn trong đời sống hằng ngày để tránh cơn đau tim tái phát.
Kết luận
Dù là Cơn Đau Tim hoặc Đột Quỵ, cả hai bệnh đều là "thậm cấp chí nguy", cần được điều trị tại bệnh viện tức thì.
Nhận biết và nhập tâm các dấu hiệu báo động sự xuất hiện của Đột Quỵ và Cơn Đau Tim là việc cần thiết để cứu vớt sự sống.
                                                                    Bác sĩ Nguyễn Ý Đức
                                                                         Texas Hoa Kỳ

Thứ Tư, 14 tháng 10, 2015

THU CẢM

                                                             
                                             
                                                         
                                                                 

                                                   




Thứ Ba, 13 tháng 10, 2015

CUỘC HÀNH TRÌNH RẤT NGẮN

                                                     
'Xin cùng suy tưởng:  cuộc hành trình rất ngắn ngủi!
Câu chuyện dưới đây rất đẹp và rất thật mà ta không thể làm gì khác hơn là cùng chia sẻ đến những người mà chúng ta rất quí mến......

Một cô gái trẻ vừa ngồi xuống băng ghể trên một chuyến xe công cộng.
Một bà cụ già có vẻ nhăn nhó đến ngồi kế bên, lấn cô gái vì bà mang rất nhiều túi xách.  Người hành khách ngồi bên cạnh, cảm thấy bất bình, liền hỏi cô gái tại sao cô không phản đối và nói lên quyền hạn của cô.  Cô gái đáp lại bằng một nụ cười:
'Không cần phải đôi co vì những chuyện nhỏ nhặt vì toàn bộ cuộc hành trình này rất ngắn ngủi!'.  Tôi sẽ bước xuống ở ga tới.

Đây là một câu trả lời nên được xem là khuôn vàng thước ngọc trong cuộc sống hằng ngày, ở mọi nơi:

'Không cần phải đôi co vì những chuyện nhỏ nhặt, vì toàn bộ cuộc hành trình này rất ngắn ngủi'

Nếu mỗi người trong chúng ta hiểu được rằng cuộc hành trình của chúng ta nơi đây rất ngắn ngủi thì làm u tối nó đi bằng những sự tranh cãi vô bổ sẽ làm phí đi thời giờ và năng lượng của chúng ta.

Một ai đó làm chạm tự ái ta?
Hãy bình tỉnh, cuộc hành trình này rất ngắn ngủi!

Một ai đó phản bội ta, bắt nạt ta, làm nhục ta?
Hãy bình tỉnh, cuộc hành trình này rất ngắn ngủi!

Vậy bất cứ những gì khó chịu người khác mang đến cho ta, xin ghi nhớ một điều:  cuộc hành trình này rất ngắn ngủi!

Hãy trang bị cho chúng ta sự ngọt ngào.  Sự ngọt ngào không bao giờ đồng nghĩa với sự thiếu cá tính hay sự hèn nhát mà đó chính là sự cao cả.

Cuộc hành trình chung của chúng ta nơi đây thật ngắn ngủi và không có cơ hội lặp lại một lần nữa....

Không ai biết được thời gian của cuộc hành trình của mình!
Không ai biết được là mình sẽ phải bước xuống vào sân ga tới!

XIN HÃY LUÔN BÌNH TỈNH VÌ CUỘC HÀNH TRÌNH NÀY RẤT NGẮN NGỦI!

 Ceci est tellement beau et vrai qu’on ne peut faire autrement
que de partager avec ceux  et celles que nous aimons...
Une jeune fille avait pris place dans un véhicule public :

 Une vieille dame grincheuse vint s’asseoir à côté d’elle,
 en la bousculant, portant divers sacs.
 Le voisin, pris de colère, demanda à la jeune fille pourquoi
 elle n’avait pas protesté et fait valoir son droit:  elle répondit
 avec un sourire:
 «Ce n’est pas la peine de se disputer pour si peu, le voyage ensemble
 est si court!» Je descends à la prochaine station...

Voici une réponse qui devrait être une devise écrite en lettres d’or 
dans nos comportements de tous les jours, et partout:

«Ce n’est pas la peine de se disputer pour si peu, le voyage ensemble
est si court!».
Si chacun pouvait se rendre compte que notre passage ici-bas est de si
courte durée, l’assombrir par de futiles disputes serait une perte de
temps et d’énergie.

    Quelqu’un nous a-t-il blessé le cœur?
    Du calme, le voyage est si court!
    Quelqu’un nous a-t-il trahi, brimé,
    ou humilié?
    Du calme, le voyage est si court!

Quel que soit ce que l’on nous fera comme peines,
rappelons-nous que  le voyage ensemble est si court...

  Revêtons-nous donc de douceur.  La douceur est une vertu qui n’a jamais été
  synonyme de manque de caractère ni de lâcheté, mais bien plus synonyme de grandeur.

Notre voyage ensemble ici-bas est bien court et il est sans retour...

Personne ne connait la durée de son voyage!
Personne ne sait s’il devra descendre à la prochaine station!

   DU CALME DONC, LE VOYAGE EST SI COURT!
                                                                                Trích email: alextran041138@.... 


Thứ Bảy, 10 tháng 10, 2015

NGƯỜI XƯA XEM TRỌNG ĐIỀU GÌ NHẤT, TIỀN BẠC, ĐỊA VỊ HAY TÀI NĂNG? ·



Một điều thú vị rằng, tất cả những điều liệt kê bên trên đều không phải những thứ mà người xưa xem trọng nhất. Mà đó chính là…
Nhẫn là pháp bảo để tu thân và xử thế. Khổng Tử từng khuyên Tử Lộ rằng: “Trăm hành chi bản, nhẫn làm đầu”.
Nhẫn không phải là thuận theo không nguyên tắc, cũng không phải biểu hiện của nhu nhược. Thường người có chí có đức, mới có thể bao dung điều người khác không thể bao dung. Khi bị người khác làm nhục, vẫn có thể cung kính khiêm tốn, tu tỉnh bản thân, mà không sinh ra tâm oán hận hay phẫn nộ. Người xưa thường dùng ý chí rộng rãi như vậy làm nguyên tắc đối nhân xử thế.
Trương Thích Chi, thời Tây Hán, giữ chức Đình Úy vô cùng quan trọng trong Tam Công Cửu Khanh, trưởng quản tư pháp cả nước. Có một ngày, khi quan viên tề tụ trên triều, một vị ẩn sĩ già tên Vương Sinh quay đầu lại nói với Trương Thích Chi rằng: “Bít tất của ta bị tuột rồi, hãy thay ta buộc nó lại.” Trương Thích Chi vì vậy quỳ xuống, cẩn thận đem bít tất của Vương Sinh buộc lại.
Về sau, có người hỏi Vương Sinh: “Vì sao ngay trên triều đình trước mặt mọi người, bảo ông ấy giúp ông buộc bít tất, sao ông lại phải làm nhục Trương Đình Úy đây này?” Vương Sinh nói: “Ta vừa già lại ti tiện, không có đồ vật gì tốt đưa tặng cho Trương Đình Úy. Trương Đình Úy bây giờ là thiên hạ danh thần, ta sở dĩ làm nhục ông ta, để ông ta quỳ xuống buộc bít tất cho ta, chỉ là muốn gia tăng thanh danh của ông ta mà thôi.” 
Mọi người nghe xong, đều xưng tụng Vương Sinh hiền năng, còn đối với sự rộng lượng nhẫn nhục của Trương Thích Chi thì càng thêm kính trọng. Trương Thích Chi khoan dung độ lượng, chí công vô tư, nói thẳng can gián, về sau trở thành trọng Thần của Tây Hán, lưu danh sử sách.
Một câu chuyện đơn giản như vậy thể hiện ra giá trị trong mắt người xưa, chỗ họ tôn kính thường không phải tài năng, địa vị, mà là đức hạnh khiêm cung của một người.
Lý Văn Tĩnh Công, tên là Lý Hàng, là tể tướng thời Tống Chân Tông. Một lần, có một vị thư sinh ngỗ ngược ngăn ngựa của ông lại, trình lên một cuốn sách can gián, nội dung đều là sai lầm của Lý Văn Tĩnh Công.
Sau khi Lý Văn Tĩnh Công nhìn xong, khiêm tốn nhìn thư sinh nói rằng:“Hiện tại ta không có thời gian, chờ sau khi ta trở về, lại xem kỹ hơn vậy!”
Không ngờ thư sinh kia lại giận dữ, lập tức quở trách Lý Văn Tĩnh Công mà rằng: “Ngài ngồi ở quan lớn, lại không thể giúp quốc gia phú cường, không thể giúp dân chúng an khang. Lại không chịu thối vị nhượng chức, ảnh hưởng con đường làm quan của người có tài, ngài không lẽ không cảm thấy hổ thẹn sao?”
Lý Văn Tĩnh Công hổ thẹn cung kính trả lời: “Ta đã nhiều lần xin ẩn lui, nhưng Hoàng Thượng một mực không đáp ứng, cho nên ta vẫn chưa thoái lui được!”
Từ đầu đến cuối, Lý Văn Tĩnh Công đều không có sinh tâm oán hận. Ông đã từng nói: “Nhục – một chữ này là khó chịu đựng nhất. Từ xưa đến nay, rất nhiều hào kiệt đều thất bại ở chỗ này!”
Từ Giai là đại quan triều Minh, ông từng làm quan đến chỉ huy Hàn Lâm Viện. Trong một lần khảo thi, một thư sinh dùng điển cố: “Nhan khổ lỗ chi Trác” ý nói Nhan Hồi một lòng muốn làm theo Khổng Tử, nhưng khổ nổi đức hạnh của Khổng Tử quá lỗi lạc đến nỗi ước mong của ông không thể thành.
Từ Giai lúc phê bình, cho rằng đó là chuyện bịa đặt, nên cho điểm rất thấp, lúc thư sinh nhận được bài, hướng đến Từ Giai mà giải thích. Từ Giai nghe xong lập tức đứng lên nói: “Ta từ lúc tuổi trẻ đã may mắn thi đậu tiến sĩ, thật ra ta học chưa đủ nhiều, thật cảm ơn cậu chỉ giáo.” Hơn nữa còn cho điểm thư sinh rất cao.
Lý Tông Ngạc triều Tống, làm người khoan hậu, học rộng tài cao, làm quan đến Hữu Gián Nghị Đại Phu. Cha của ông là Tể Tướng Văn Chính Công Lý Phưởng, lúc cha ông cầm quyền, ông luôn tránh đi hiềm nghi, xa rời quyền thế, đi xe ngựa đơn giản, cùng người bần hàn đọc sách không có gì khác nhau.
Có một ngày, Lý Tông Ngạc trên đường gặp cha, nhưng người đánh xe ngựa cho cha ông lại không nhận ra ông, đối với ông nhục mạ quát lớn. Từ đó về sau, mỗi lần Lý Tông Ngạc gặp được người này, đều lảng tránh che giấu, sợ người này sẽ xấu hổ khi biết rõ thân phận của mình .
Lý Tông Ngạc thân là con Tể Tướng, chẳng những có thể đối mặt với nhục mạ bất công mà không tức giận, còn có thể rộng lòng tha thứ, thiện ý suy nghĩ cho người khác, thật sự là người quân tử thiện lành hàm dưỡng cao sâu vậy.
Danh thần Vương Sưởng thời Tam Quốc đã từng khuyên bảo con mình: “Người khác công kích chúng ta, chúng ta nên lùi mà xét lại mình. Nếu chúng ta có điều không đúng, như vậy người khác nói quá đúng rồi. Nếu chúng ta không sai sót giống như lời người ta nói, như vậy người đó đang nói lời xằng bậy. Đối phương phê bình đúng, tức thì đối với đối phương không có tổn hại gì, đối phương xằng bậy, tức thì đối với bản thân chúng ta cũng không có tổn hại gì, vậy cần gì phải trả thù đây? Cho nên yếu lĩnh của sự nhẫn nhục chính là tự xét lại bản thân mình.”
Lúc trước có một người tài từng nói: “Khi người khác ngỗ nghịch chúng ta, chỉ cần im lặng tĩnh tư một lát, liền có thể được thuận buồm xuôi gió và đạt được lòng dạ bao la.” Cho nên Đỗ Mục có viết trong thơ rằng: “Nhẫn quá sự kham hỉ” (Sau khi nhẫn được, chuyện sẽ thành vui), đây chính là phương pháp vượt qua nghịch cảnh.
Trịnh Mạnh Phát nói: “Người khác vô lý tìm ta gây phiền toại, giống như đi trong lùm cỏ, quần áo bị bụi gai đâm thủng, chúng ta đành phải thả chậm bước chân, chậm rãi tháo gỡ bụi gai vậy.”
Chúng ta ngại người khác chửi bới mình, thường là vì bản thân còn có tâm muốn đề cao mình hạ thấp người khác, hoặc còn có khát vọng được người ngưỡng vọng thỏa lòng hư vinh; liền đối với những chuyện gì làm tổn hại thanh danh của mình đều tránh né.
Thật ra không có người khác chỉ trích, chúng ta sao có thể nhìn ra khuyết điểm của mình, nhìn không tới khuyết điểm, sao có thể tu chỉnh bản thân? Một người giả tai điếc mắt mù, sao có thể thành công, sao có được sự kính trọng từ nội tâm của người khác?
Bởi vì cái gọi là “Đầy chiêu tổn hại, khiêm nhường được lợi”, nếu chúng ta lúc bị vũ nhục, có thể buông tâm ngạo mạn, dùng lời của người khác cân nhắc hành vi của mình, có lẽ sẽ có tiến bộ và đề cao. Khi chúng ta dùng cung kính đối đãi với người khác, dùng khiêm tốn cân nhắc bản thân, thường sẽ nhận được một cảnh giới tinh thần khác biệt, giống như mọi người thường nói: “Nhất nhất thời gió êm sóng lặng, lùi một bước biển rộng trời cao.“
                                                               
                                                               Biên dịch: Binh Minh, STV online