Chủ Nhật, 5 tháng 2, 2017
ĐẢO CHIỀU TƯ DUY
Cơ bản mà nói, tất cả mọi người, mọi loài đều cho rằng mình đương nhiên phải được hưởng phúc hưởng vui. Khi đời sống va vấp phải đau khổ hay vướng chuyện không may, người ta hay quy rằng có cái gì đó bất ổn. Chuyện không có gì to tát nếu quý vị không nhào ra làm hết chuyện này chuyện kia, bất chấp phải tranh dành đấu đá, cốt để cảm thấy dễ chịu trở lại mỗi khi không vừa ý, không thoải mái.
Giáo lý nhà Phật dạy rằng, khổ là điều chẳng thể tránh được trong đời người. Thứ nhất, không ai trốn thoát được hiện thực của chết. Kế đến là những sự thật khác như già yếu, bệnh tật, điều mong cầu thì chẳng đến, điều không muốn cứ phải gặp hoài. Những chướng ngại như vậy là hiện thực của đời sống này. Ngay cả quý vị là Phật, là người đã chứng đắc giác ngộ viên mãn thì cũng vẫn phải kinh nghiệm già, bệnh, chết và nỗi đau xót khi mất đi người thân. Tất cả những thứ này chắc chắn sẽ đến. Nếu quý vị cứ dằn vặt day dứt thì sẽ đau khổ lắm.
Nhưng giáo pháp Phật dạy cũng nói rằng thật sự không phải là vì những điều gây ra đau khổ phiền não cho quý vị trong đời sống này đâu. Cái gây ra đau khổ chính là vì chúng ta luôn luôn tìm cách trốn tránh những sự thật hiển nhiên của đời sống, luôn cố tránh khổ tìm vui - chúng ta cứ cho rằng có sự hiện diện của một thứ an bình phúc lạc đời đời vĩnh cửu miễn là ta luôn làm mọi việc cho đúng.
Ngay trong đời này, quý vị có thể tự giúp mình và giúp thế gian này nhiều lắm đồng thời đảo chiều lối tư duy cũ kỹ. Trong tác phẩm Nhập Bồ Tát Hạnh, Thánh giả Tịch Thiên đã chỉ ra rằng đau khổ rèn giũa chúng ta nhiều vô kể. Nếu biết nắm lấy cơ hội khi đối diện khổ đau thì khổ đau sẽ thúc đẩy chúng ta tìm kiếm lời giải đáp. Rất nhiều người, kể cả tôi, đã gia nhập con đường tâm linh vì những đau khổ sâu thẳm. Đau khổ dạy cho con người ta biết đồng cảm với những kẻ cùng cảnh ngộ với mình. Không những thế, đau khổ dạy chúng ta biết sống khiêm nhường. Ngay cả người kiêu căng nhất cũng phải mềm lòng lúc phải xa rời mất mát người thân.
Tuy vậy, về cơ bản ai cũng muốn mọi việc luôn phải thuận buồm xuôi gió và hễ bắt đầu thấy trầm uất, đơn độc hay thiếu thốn là nghĩ rằng mình đã phạm lỗi gì đó hay lầm lạc gì đó. Thật ra, khi quý vị cảm thấy trầm uất, cô đơn, bị phản bội hay bất kỳ một cảm giác không mong muốn nào, thì đây chính là thời khắc trọng yếu của con đường tâm linh. Đây chính là điểm mà sự chuyển hóa thật sự có thể xảy ra.
Chừng nào quý vị còn bị vướng kẹt trong sự kiếm tìm cái chắc thật và cái vui sướng hơn là biết trân quý hương vị và giá trị của những điều đang thực sự diễn ra, chừng nào quý vị còn muốn trốn chạy khỏi những bức bối khó chịu, thì quý vị sẽ còn vướng kẹt trong trận đồ của vô số khổ sở, phiền não và bất toại nguyện, và rồi quý vị sẽ cảm thấy yếu đuối dần đi. Nhận biết được điều này sẽ hỗ trợ cho chúng ta phát triển nội lực.
Và điều thật sự đáng mừng là tư duy về nội lực luôn thường trực trong mỗi chúng ta ngay đúng tại thời điểm ta nghĩ rằng mình đang trong tình trạng thê thảm, bi đát nhất. Thay vì tự nhủ “Làm sao tìm lại được cái vui sướng, cái an toàn?” chúng ta có thể tự hỏi: “Liệu mình có thể chạm đến tầng sâu nhất của nỗi đau này không? Mình có thể ngồi lặng yên với nỗi đau này mà không cần cố sức xua đuổi nó không? Mình có thể hiện hữu cùng với nỗi đau mất mát hay nỗi đau của nhục nhã - mọi ê chề đủ kiểu – và để chúng được cởi mở với mình chăng?” Cái mẹo nằm ở chỗ này.
Có rất nhiều cách nhìn nhận những sự việc xảy ra khi cảm thấy bị đe dọa. Những lúc trầm cảm – vì uất ức, cáu giận hay vì thất bại, quý vị có thể nhận thấy mình bị mắc bẫy và shenpa nổi lên như thế nào. Cách dịch nghĩa thông thường của từ shenpa là “dính mắc” nhưng cách dịch này chưa diễn tả đầy đủ nghĩa trọn vẹn. Tôi cho rằng ý nghĩa của shenpa là “bị mắc câu.” Một định nghĩa khác mà Dzigar Kongtrul Rinpoche hay sử dụng, đó là “cái sạc điện” – cái sạc điện phía sau ý nghĩ, lời nói và hành động của chúng ta, cai nạp điện đằng sau cái “ưa” và cái “không ưa.”
Dịch chuyển sự tập trung và quan sát xem mình đã dựng lên rào chắn như thế nào cũng có ích. Những lúc như thế, chúng ta có thể quan sát xem mình đã thoái lui và vị kỷ ra sao. Chúng ta trở nên khô cứng, chua chát, e dè; chúng ta co cụm hoặc đông cứng vì sợ hãi nên càng bị đau khổ hành hạ. Theo lối mòn cũ, chúng ta tự động dựng lên bức tường che chắn và tính ích kỷ càng được gia cố.
Nhưng đây cũng chính là thời điểm quý vị có thể hành động khác đi. Ngay tại đó, bằng thực hành, chúng ta có thể làm quen với những rào chắn tự dựng lên trong lòng mình và xung quanh toàn bộ hiện hữu của mình. Chúng ta có thể trở nên thân thiết từ ái với sự trốn chạy, chán chường và đông cứng của chính mình. Và sự gần gũi cởi mở dẫn đến sự thấu hiểu những rào cản sẽ chính là cái bắt đầu tháo dỡ chúng ra. Điều tuyệt diệu là khi chúng ta có mặt trọn vẹn với chúng, các rào cản sẽ tự bung gãy.
Xét cho cùng, tất cả các thực hành mà tôi đề cập ở đây đơn giản là những phương pháp chúng ta có thể tháo dỡ bức tường che chắn. Dù là học cách giữ chánh niệm bằng cách ngồi thiền, nhận thức sự bám luyến hay thực hành kham nhẫn, thì đấy chính là các phương pháp để tháo dỡ bức tường mà chúng ta đã tự dựng lên.
Khi quý vị tự dựng lên bức tường che chắn thì khái niệm về “ta” tách biệt với “người” ngày một mạnh mẽ hơn. Lúc rơi vào cảnh ngộ khó khăn chướng ngại, nếu không tự dựng lên lớp tường chắn thì toàn bộ tình thế có thể xoay chuyển; chỉ đơn giản mở lòng đón nhận những khó khăn thử thách, đón nhận những cảm giác mình đang phải trải qua, đơn giản đừng độc thoại với bản thân về những gì đang xảy ra. Đó đã là một bước tiến triển rồi đó. Trở nên gần gũi với những phiền muộn đau khổ là giải đáp cho sự thay đổi trong hiện hữu cơ bản của chúng ta – cởi mở với mọi việc chúng ta trải nghiệm, để cho gai nhọn của những lúc khốn cùng đâm xé tim mình, hãy để những thời khắc ấy khai mở cho chúng ta, khiến chúng ta khiêm nhường hơn, minh mẫn hơn và quả cảm hơn. Hãy để những chướng ngại khó khăn chuyển hóa chúng ta. Chúng sẽ thay đổi ta. Từ trải nghiệm của mình, chúng ta chỉ cần học cách đừng trốn chạy.
Nếu ta sẵn sàng cố gắng có mặt với nỗi đau của mình thì một trong những trợ giúp tuyệt diệu nhất có thể tìm thấy chính là trưởng dưỡng được sự ấm áp và giản dị của tâm Bồ đề. Cụm từ tâm Bồ đề có rất nhiều cách diễn dịch, nhưng có lẽ cách diễn dịch thông dụng nhất là “tâm tỉnh thức.” Cụm từ này đề cập đến ngưỡng nguyện muốn tự giải thoát khỏi trói buộc của vô minh và vọng tượng nhằm giúp được người khác cũng làm được như vậy. Đặt giác ngộ cá nhân trên một bình diện rộng hơn, thậm chí trên bình diện toàn cõi thế gian, sẽ tạo ra sự khác biệt to lớn. Tâm Bồ đề ban tặng cho chúng ta một tri kiến bao la hơn về nguyên nhân vì sao ta lại muốn thực hiện công việc thách thức này.
Có hai loại tâm Bồ đề: tâm Bồ đề tương đối và tâm Bồ đề tuyệt đối. Tâm Bồ đề tương đối bao hàm lòng từ ái và maitri. Thầy Chogyam Trungpa dịch từ maitri theo nghĩa là “sự thân thiết vô điều kiện với bản thân.” Sự thân thiết vô điều kiện có nghĩa là chúng ta có một mối tương giao công bằng với mọi phần hiện hữu của chính mình. Vì vậy, trong hoàn cảnh phải đối diện với đau khổ, chúng ta có thể thiết lập được mối quan hệ thân thiết, từ ái với những phần trong con người mình, những phần mà ta vốn thường không muốn chạm tới.
Một số người thấy chia sẻ của tôi có chút lợi ích vì tôi khuyến khích họ đối xử từ ái với bản thân, nhưng điều này không hàm nghĩa là chúng ta vuốt ve bản tính điên khùng của mình. Lòng từ ái mà tôi học được từ những vị thầy và tôi hết lòng mong muốn chuyển tải đến mọi người chính là sự độ lượng từ ái đối với mọi phần trong hiện hữu của chúng ta. Những phần khó tha thứ nhất lại chính là những phần đau đớn nhất, những phần khiến chúng ta cảm thấy hổ thẹn, như thể ta không thuộc về chúng, như thể ta vừa đập chúng đi khi mọi thứ tan nát hết. Maitri có nghĩa là từ ái với chính mình khi mình chẳng còn có gì cả, khi mình sa cơ thất thế. Và điều này trở thành nền tảng để trải rộng tình thân thiết vô điều kiện với những người khác.Nếu luôn khước từ mọi phần của chính mình, lại còn cảm thấy có lý do để chối bỏ chúng, thì quý vị sẽ luôn luôn bỏ chạy khỏi bất kỳ điều gì khiến quý vị cảm thấy bất an.
Có bao giờ quý vị để ý xem những phần bên trong này được chạm đến? Ta càng hiểu rõ một người hay một hoàn cảnh nào đó thì cảm xúc càng trào dâng. Thường thì mối quan hệ ban đầu bao giờ cũng tốt đẹp cả nhưng khi quan hệ đó trở nên thân mật gần gụi hơn và bắt đầu làm quý vị nổi đóa, rồi quý vị chỉ muốn trốn thoát ra khỏi đó.
Do vậy tôi muốn nói với quý vị rằng con đường dẫn đến sự bình yên ở chính nơi đây, ngay khi quý vị muốn bỏ chạy. Quý vị có thể lèo lái đời mình không để bất cứ cái gì liên lụy vào, song nếu quý vị thật sự muốn sống một cuộc đời trọn vẹn, nếu muốn sống dấn thân, muốn thiết lập quan hệ với người khác, với loài vật, với đời sống thế gian thì chắc chắn quý vị sẽ phải trải nghiệm những cảm xúc khó chịu, bực tức và dính mắc chứ không chỉ kinh nghiệm những cảm giác vui tươi hạnh phúc. Thông điệp ở đây là: khi những cảm xúc như thế trỗi dậy thì đó không phải là thất bại gì cả mà đó chính là cơ hội để rèn luyện tinh thần maitri, tức là sự thân thiết từ ái vô điều kiện với con người vừa hoàn thiện vừa bất hoàn thiện của quý vị.
Tâm Bồ đề tương đối cũng bao hàm lòng từ bi tỉnh giác. Một trong những hàm nghĩa của từ bi là “cùng đau khổ,” sẵn sàng cùng chịu đau khổ cùng với người khác. Điều này có nghĩa là quý vị càng chấp nhận tổng thể sự tồn tại của mình đến mức độ nào – sự phán xét của quý vị, cảm giác thất bại của quý vị cho đến cảm giác tự xót xa bản thân, sự trầm uất, tâm giận dữ, đam mê nghiện ngập – thì quý vị sẽ càng kết nối được với người khác từ cái tổng thể đó. Và đó sẽ là mối quan hệ bình đẳng. Quý vị sẽ có thể cảm được cái đau cái khổ của người khác như của chính mình. Quý vị sẽ cảm được nỗi đau của chính mình và hiểu rằng nỗi đau ấy cũng là nỗi đau chung.
Tâm Bồ đề tuyệt đối, còn được gọi là Shunyata, là một chiều không gian mở cho sự tồn tại của chúng ta, đó là tâm thức hoàn toàn rộng mở. Không còn lớp vỏ giữa “người” và “ta”, giữa “bạn” và “thù”, tâm Bồ đề tuyệt đối luôn luôn hiện hữu ở nơi đây. Trưởng dưỡng tâm Bồ đề tuyệt đối nghĩa là có mối quan hệ với một thế giới không còn ràng buộc bởi khái niệm, không bị phán xét, một mối quan hệ với hiện thực một cách trực tiếp, không bị bóp méo chỉnh sửa.
Đó chính là giá trị của thực hành thiền định. Quý vị được huấn luyện luôn luôn quay trở về với thực tại chân thực. Bất kỳ ý niệm nào khởi lên trong tâm, quý vị đều quán chúng với tâm xả bình đẳng và học cách làm chúng tan biến. Không cần phải chối bỏ những niệm tưởng và cảm xúc giấy khởi, thay vào đó chúng ta bắt đầu nhận thức rằng ý nghĩ và cảm xúc không hiện hữu chắc có như chúng ta vẫn thường nghĩ.
Để luyện tập lòng từ bi vô điều kiện cần phải có sự dũng cảm để tập “chịu đau khổ cùng người khác”, cần có lòng quả cảm để sống cùng với phiền não khi chúng xuất hiện mà không bỏ chạy hoặc dựng lên những bức tường ngăn cách. Cần có lòng quả cảm để không bị mắc câu và bị lôi tuột đi. Khi làm được điều này, chứng được tâm bồ đề tuyệt đối, kinh nghiệm được tâm thức con người thực sự có thể rộng mở và không vướng bận như thế nào sẽ bắt đầu khai mở cho chúng ta. Từ việc bắt đầu trở nên thoái mái, thanh thản hơn với những thăng trầm của đời người, sự chứng ngộ sẽ ngày một mạnh mẽ hơn.
Chúng ta bắt đầu nhìn kỹ vào khuynh hướng tự nhiên là hay sa đà vào sự bám luyến, tách rời mình với người, thu rút vào bên trong và tự dựng lên những bức tường ngăn cách. Khi làm quen dần với những khuynh hướng này, chúng sẽ từ từ trở nên dễ nhận biết hơn và quý vị sẽ nhận thấy thật ra tồn tại những khoảng không gian, những khoảng không gian bao la và dễ chịu. Song điều này không có nghĩa là quý vị sẽ luôn được sống trong phúc lạc và sự dễ chịu vĩnh cửu. Trong không gian đó còn có cả khổ đau.
Chúng ta vẫn có thể bị phản bội, bị hận thù. Chúng ta vẫn có thể cảm thấy buồn rầu, bối rối. Nhưng cái ta sẽ không phạm phải là bị mắc câu. Những điều dễ chịu ở đó, những điều khó chịu cũng ở đó, những thứ bình thường cũng ở đó. Điều mà chúng ta từng bước phải học là đừng bao giờ trốn chạy khỏi sự có mặt trọn vẹn. Chúng ta cần phải luyện tập từng bước sơ khởi như vậy là vì đau khổ trải rộng khắp thế gian này. Nếu không tự rèn luyện từng chút một, từng khoảnh khắc một để vượt qua nỗi sợ hãi khổ đau thì khả năng trợ giúp sẽ rất hạn hẹp. Khả năng giúp chính mình cũng hạn hẹp mà giúp người càng hạn hẹp. Vì thế, hãy bắt đầu với chính mình, như chính mình, ngay bây giờ và ở đây.
Bài giảng trích từ Tạp Chí Lion Roar, Tháng 11/2016
Ni sư Pema Chodron sinh quán tại Mỹ năm 1936, bà tốt nghiệp Đại học California, Berkeley chuyên ngành Văn chương Anh. Ni sư thọ giới Sa di ni năm 1974 khi tu học với Lama Chime Rinpoche tại London. Sau đó bà được thụ phong Tỳ Kheo Ni trước sự chứng kiến của Thánh Đức Karmapa đời thứ XVI khi Ngài đến hoằng pháp tại Anh. Năm 1972, Ni sư Pema Chodron lần đầu gặp Đạo sư gốc của mình là Chogyam Trungpa Rinpoche, vị Thầy mà bà cảm nhận có một kết nối sâu sắc. Bà tu học dưới sự dẫn dắt của Chogyam Trungpa Rinpoche từ năm 1974 cho đến khi Ngài viên tịch năm 1987. Ni sư từng là giáo thọ tại Thiền viện Tushita, Dharamsala, Ấn Độ. Hiện nay, bà đang giảng dạy tại Mỹ và Canada và là nguồn cảm hứng đối với hàng trăm ngàn Phật tử Kim Cang thừa. Bà cũng là tác giả của những cuốn sách nổi tiếng đã được dịch sang tiếng Việt như: Sống Đẹp Giữa Thế Gian Đầy Biến Động, Tự Tại Giữa Vô Thường, Hành Thiền Như Thế Nào, Sống Đời Từ Ái....
Ni sư Pema Chodron | Chân Như chuyển Việt ngữ
Bài giảng trích từ Tạp Chí Lion Roar, Tháng 11/2016
Thứ Bảy, 4 tháng 2, 2017
TỎI VÀ SỨC KHỎE
- Tháng Chạp năm 1998, một cuộc hội thảo kéo dài hai ngày rưỡi đã được tổ chức tại New Port Beach, California, để thảo luận và trình bày kết quả nghiên cứu về công dụng củaTỏi. Hội thảo được Viện Ung Thư Quốc Gia Hoa Kỳ và Đại Học Pennsylvania bảo trợ, với sự tham dự của trên hai trăm khoa học gia, chuyên viên y tế, dinh dưỡng đến từ 12 quốc gia trên thế giới. Kết luận của hội thảo là các cuộc nghiên cứu trong nhiều năm qua đã xác định một số ích lợi của Tỏi đối với sức khỏe con người. Kinh nghiệm dân gian dùng Tỏi chữa bệnh. Chữ viết đầu tiên của dân Sanskrit cách đây 5000 năm đã nhắc đến TỎI nhiều lần. Trong mộ cô? Ai Cập 6000 năm về trước có những củ tỏi khô nằm ướp cùng với bộ xương. Sách Y học Ai Cập trên 3000 năm về trước có ghi hai mươi bài thuốc tỏi để trị một số bệnh như đau bụng, đau nhức khớp xương, nhiễm độc, cơ thể suy nhược. Công nhân xây đắp Kim Tự Tháp được cung cấp thực phẩm có tỏi để tăng cường sức lao động. Những giác đấu Hi Lạp, binh sĩ La Mã cũng được cho ăn tỏi để chiến đấu can trường, dũng cảm hơn.
Trong các cuộc hải hành, dân Virking đều mang tỏi làm lương thực và để trị bệnh khi cần đến. Tỏi đã được các vị thầy thuốc xưa kia ca ngợi như một dược thảo có giá trị. Ông tổ nền y học tây phương Hippocrates coi tỏi là môn thuốc tốt để trị các bệnh nhiễm độc, bệnh viêm, bệnh bao tử, và loại trừ nước dư trong cơ thể. Galen, một trong những danh y khi xưa thì ca tụng tỏi như môn thuốc dân tộc trị bá bệnh.Theo Y sĩ Dioscorides thời La Mã, tỏi làm giọng nói trong trẻo, làm bớt ho, làm thông tắc nghẽn ở mạch máu, làm nhuận tiểu, bớt đau răng, chữa bệnh ngoài da, và chữa cả hói tóc nữa. Vào thế kỷ 16, Alfred Franklin nói với dân chúng thành phố Paris là nếu họ ăn tỏi tươi với bơ vào tháng Năm thì họ sẽ được khỏe mạnh trong những tháng còn lại.
Trong thế chiến thứ nhất, người Nga đã dùng tỏi để trị bệnh nhiễm vi trùng. Họ gọi tỏi là "thuốc kháng sinh Nga Sô"; các bác sĩ Anh dùng tỏi để trị vết thương làm độc ở chiến trường. Khi có các dịch cúm vào đầu thế kỷ 20, nhiều quốc gia trên thế giới, kể cả Hoa Kỳ, đã dùng tỏi như một phương tiện để chống lại sự hoành hành của bệnh.
Sách xưa có ghi lại câu chuyện về bốn tên trộm lừng danh ở thành phố Marseille: trong vụ dịch hạch kinh khủng ở thành phố này, có bốn tên trộm vẫn ngang nhiên vào nhà các người bị bệnh để trộm của mà không bị lây bệnh. Khi bị bắt, chính quyền hứa sẽ tha tội nếu họ nói bí quyết không lây bệnh. Bốn chú đạo trích khai là suốt thời gian dịch hạch, họ ăn rất nhiều tỏi tươi, do đó họ không bị bệnh.
Vào thời Trung Cổ, khi đi vào vùng phố nhiễm độc, các thầy thuốc đều mang nhiều nhánh tỏi để phân phát cho dân chúng cũng như để ngăn chặn xú uế xâm nhập vào mũi. Triết gia cũng có nhiều nhận xét về giá trị của tỏi. Celsius khuyên dùng tỏi để trị nóng sốt và bệnh đường ruột. Virgil thấy tỏi làm tăng sức lực của nông dân. Aristophanes thì nhắc nhở lực sĩ, chiến sĩ ăn tỏi trước khi xuất trận để chiến đấu cang cường hơn. Dân Nga xưa ngâm tỏi với rượu vodka, để lâu hai tuần rồi uống, tin là sẽ sống lâu. Dân Ukraine uống nước chanh ngâm tỏi để làm tăng sức lực, làm người trẻ ra.
Về niềm tin dị đoan, tỏi đã được dùng là vũ khí để trừ tà ma , quỷ quái ở Việt Nam ta. Dân Âu châu xưa rất sợ ma cà rồng hút máu và để xua đuổi, mỗi nhà đều cheo nhiều nhánh tỏi ở trước cửa. Văn tư. Ấn Độ giáo từ nhiều ngàn năm trước có ví một củ tỏi như một tráng sĩ diệt trừ yêu quái. Dân nài ngựa cheo vài nhánh tỏi vào cương để ngựa phi mau hơn. Nằm mơ thấy tỏi là điềm lành. Trong các cộng đồng Hebrew xưa kia, vài nhánh tỏi được trang điểm vào áo cưới cô dâu với niềm tin là cuộc hôn nhân sẽ muôn vàn hạnh phúc.
Dân Ai Cập so sánh hương vị cay hôi của tỏi với những thăng trầm của cuộc đời. Các tu sĩ nói với con chiên là khi họ cầm vài nhánh tỏi trên tay tức là đang cầm mọi phức tạp của cuộc đời. Và khi tuyên thệ, họ đặt tỏi trên bàn tay hay trên bàn thờ.
Bên Việt Nam ta, các cụ cheo tỏi trước cửa buồng đàn bà mang bầu để trẻ sinh được mẹ tròn con vuông, khỏe mạnh Trẻ con Ý sống trong trại tiếp đón, được cha mẹ cho mang một túi tỏi nhỏ trên cổ để ngừa bệnh tật truyền từ người này sang người khác. Dân Da Đỏ bắt chước đoàn thám hiểm Tây Ban Nha, dùng tỏi để trị các bệnh khó tiêu, đau bụng, đau tai và họ rất ít bị bệnh yết hầu vì mùi tỏi làm cuống phổi mở rộng, hô hấp sê? dàng.
Người Mỹ xưa kia chữa bệnh tim phổi bằng cách đắp tỏi giã nhỏ lên chân và họ giải thích là như vậy tỏi sẽ hút hết chất độc xuống để đưa ra ngoài. Tổng Thống Benjamin Franklin thích ăn súp nấu với tỏi, còn binh sĩ của Tổng Thống George Washington thì được thêm tỏi trong khẩu phần.
Vào đầu thế kỷ trước, bệnh lao rất phổ biến và khó trị vì chưa có thuốc kháng sinh. Các bác sĩ bèn chữa bằng tỏi và thấy là rất công hiệu để diệt vi trùng lao. Sau đó một thời gian, nước Mỹ bị dịch cúm và bệnh tinh hồng nhiệt, dân chúng bèn đốt tỏi trong nhà và hơi khói tỏi che trở nhiều người khỏi bị bệnh. Nhiều người còn nhai tỏi để ngửa bệnh cúm.
Đông Y việt Nam ta ghi nhận công dụng trị bệnh của tỏi như sau: tỏi có vị cay, tính ôn, hơi độc nằm trong hai kinh can và vị. Tác dụng thanh nhiệt, giải độc, sát trùng, chữa bệnh lỵ ra máu, tiêu nhọt, hạch ở phổi, tiêu đàm, chữa đầy chướng bụng, đại tiểu tiện khó khăn. Người âm nhu, nội thiệt, có thai, đậu chẩn, đau mắt không nên dùng.
Kết quả nghiên cứu công dụng tỏi với bệnh tật
Qua nhiều nghiên cứu khoa học và qua kinh nghiệm xử dụng của dân chúng, thì tỏi không những là một thực phẩm ngon mà còn có nhiều công dụng hỗ trợ việc trị bệnh. Xin nhắc lại là vào năm 1951, hai nhà hóa học Thụy sĩ Arthur Stoll và Ewald Seebeck đã tìm ra hóa chất chính của tỏi là chất Alliin và men Allinase. Hai chất này được giữ riêng rẽ trong tế bào tỏi và đóng góp vai trò quan trọng trong các công dụng y học của tỏi.
1-Tỏi và cholesterol.
Quan sát dân chúng vùng Địa Trung Hải, các nhà nghiên cứu thấy họ rất ít bị các bệnh về tim mạch mặc dù họ ăn nhiều thịt động vật và uống nhiều rượu vang. Nhiều người cho là do ảnh hưởng của rượu vang. Nhưng các bác sĩ ở địa phương thì cho là do uống rượu và ăn nhiều tỏi. Sự kiện này thúc đẩy các chuyên viên của Đại Học Western Ontario, Canada, để tâm nghiên cứu và họ kết luận rằng một dân tộc càng ăn nhiều tỏi thì bệnh tim mạch càng ít. Bằng chứng là dân Triều Tiên ăn nhiều tỏi và họ cũng ít bị bênh tim. Nhiều khoa học gia bèn nghiên cứu tương quan giữa tỏi và bênh tim ở súc vật trong phòng thí nghiệm. Họ đều thấy là tỏi làm chậm sự biến hóa của chất béo trong gan, khiến gan tiết ra nhiều mật, đồng thời cũng lấy bớt mỡ từ thành động mạch.
Các bác sĩ H.C. Bansal và Arun Bordia ở Ấn Độ nhận thấy khi ăn bơ với tỏi, cholesterol trong máu đã không lên cao mà còn giảm xuống. Năm 1990, nghiên cứu do bác sĩ F.H. Mader ở Đức cho hay, nếu mỗi ngày ăn vài nhánh tỏi thì cholesterol sẽ giảm xuống tới 15%. Một nghiên cứu tương tự ở Đại học Tulane, New Orleans do bác sĩ Ạ K. Jain thực hiện năm 1993 cho thấy người có cholesterol cao, khi dùng tỏi một thời gian, thì cholesterol giảm xuống được 6%. Đó là một sự giảm đáng kể. Bác sĩ Benjamin Lau, Đại Học Loma Linda, California cho biết tỏi giúp chuyển cholesterol xấu LDL thành cholesterol lành HDL.
Còn bác sĩ Myung Chi của Đại Học Lincoln ở Nebraska chứng minh là tỏi làm hạ cholesterol và đường trong máu. Một câu hỏi được nêu lên là tỏi có làm giảm cholesterol ở người có mức độ trung bình không? Các nhà nghiên cứu cho là tỏi có một vài ảnh hưởng, nhưng nếu cholesterol cao thì tác dụng của tỏi tốt hơn. Có bác sĩ còn cho là tỏi công hiệu hơn một vài âu dược hiện đang được dùng để chữa cholesterol cao trong máu. Do hạ thấp cholesterol trong máu, tỏi có thể ngăn ngừa nguy cơ một số bệnh tim. Đã có nhiều bằng chứng rằng cholesterol trong máu lên cao là nguy cơ đưa tới các bệnh vữa xơ động mạch và kích tim.
2-Tỏi và sự đông máu
Tỏi có tác dụng ngăn sự đóng máu cục, một nguy cơ của kích tim và tai biến động mạch não. Máu cục gây ra do sự dính chùm của tiểu cầu mỗi khi có dấu hiệu cơ thể bị thương để ngăn ngừa băng huyết Trong tỏi có chất Ajoene mà bác sĩ Eric Block, Đại học Nữu Ước, khám phá ra. Theo ông ta, chất này có công hiệu như Aspirin trong việc làm giảm sự đóng cục của máu, lại rẻ tiền mà ít tác dụng phụ không muốn. Điều này cũng phù hợp với nhận xét của bác sĩ I.S. Menon là ở miền nam nước Pháp, khi ngựa bị máu đóng cục ở chân thì nông gia đều chữa khỏi bằng cách cho ăn nhiều tỏi và hành. Bệnh viện Hải quân Hoa Kỳ trong trại Pendleton, California, cũng công bố là tỏi có chất ngừa đông máu do đó có thể làm máu lỏng và ngăn ngừa tai biến động mạch não, kích tim vì máu cục. Ngay cả ông tổ của nền y học cổ truyền Ấn Độ Charaka cũng ghi là " tỏi giúp máu lưu thông dễ dàng, làm tim khỏe mạnh hơn và làm con người sống lâu. Chỉ vì mùi khó chịu của nó chứ không thì tỏi sẽ đắt hơn vàng".
Các nhà thảo mộc học xưa kia cũng nói là tỏi làm máu loãng hơn.Tác dụng này diễn ra rất mau, chỉ vài giờ sau khi dùng tỏi. Chưa có trường hợp nào trong đó ăn nhiều tỏi đưa đến máu loãng rồi băng huyết, vì tỏi chỉ làm máu loãng tới mức bình thường thôi.
3-Tỏi và cao huyết áp
Tỏi được dùng để trị bệnh cao huyết áp ở Trung Hoa từ nhiều thế kỷ trước đây. Bên Nhật Bản, giới chức y tế chính thức thừa nhận tỏi là thuốc trị huyết áp cao. Năm 1948, bác sĩ F.G. Piotrowski ở Geneve làm thế giới ngạc nhiên khi ông tiết lộ kết quả tốt đẹp khi dùng tỏi để trị cao huyết áp. Theo ông ta, tỏi làm giãn mở những mạch máu bị nghẹt hay bị co hẹp, nhờ đó máu lưu thông dễ dàng và áp lực giảm.
Các nghiên cứu ở Ấn Độ, Gia Nã Đại, Đức cũng đưa đến kết quả tương tự. Nhà sinh học V. Petkov thực hiện nhiều nghiên cứu ở Bulgarie cho hay tỏi có thể hạ huyết áp tâm thu từ 20-30 độ, huyết áp tâm trương từ 10 tới 20 độ.
4-Tỏi và cúm
Trong các dịch cúm vào đầu thế kỷ trước, dân chúng đã dũng tỏi để ngăn ngừa sự lan tràn của bệnh này. Y học dân gian nhiều nước đã chữa cảm cúm bằng cách thoa tỏi tươi mới cắt vào bàn chân. Trong dịch cúm ở Nga Sô Viết năm 1965, dân Nga đã tiêu thụ thêm trên 500 tấn tỏi để ngừa cúm. Trước đó, vào năm 1950, một bác sĩ người Đức đã công bố là tinh dầu tỏi có khả năng tiêu diệt một số vi sinh có hại mà không làm mất những vi sinh vật lành trong cơ thể. Bác sĩ Tarig Abdullah ở trung tâm nghiên cứu tại Tampa, Florida, công bố năm 1987 là tỏi sống và tỏi chế biến đều làm tăng tính miễn dịch của cơ thể với vi trùng, ngay cả HIV và làm giảm nguy cơ vài bệnh ung thư. Cá nhân ông ta đã liên tục dùng mấy nhánh tỏi sống mỗi ngày từ năm 1973 và chưa bao giờ bị cảm cúm.
Từ năm 1950, bác sĩ J. Klosa bên Đức đã dùng tỏi để chữa lành những bệnh đau cuống họng, sổ mũi, ho lạnh. Ông ta vừa cho bệnh nhân uống vừa ngửi tinh dầu tỏi. Theo ông ta, đó là nhờ chất Alliin trong tỏi. Trong bệnh cảm cúm, bệnh nhân thường sưng cuống phổi, bị ho, sổ mũi. Bác sĩ Irvin Ziment, California, nhận thấy tỏi có thể làm giảm những triệu chứng trên, làm bệnh nhân bớt ho, long đàm, thở dễ dàng và không bị nghẹt mũi. Theo vị thầy thuốc này thì vị hăng cay của tỏi kích thích bao tử tiết ra nhiều dịch vị chua; dịch vị này chuyển một tín hiệu lên phổi khiến phổi tiết ra nhiều dung dịch lỏng làm long đờm và đưa ra khỏi phổi. Các bác sĩ bên Ba Lan trước đây dùng tỏi để trị bênh suyễn và viêm phổi ở trẻ em
5-Tỏi và ung thư
Hiện nay đang có nhiều nghiên cứu coi xem tỏi có công dụng trị ung thư ở người như kết quả nhận thấy ở vật trong phòng thí nghiệm. Từ năm 1952, các khoa học gia Nga Sô Viết đã thành công trong việc ngăn chặn sự phát triển của một vài tế bào ung bướu ở chuột.Thí nghiệm ở Nhật Bản cho hay tỏi có thể làm chậm sự tăng trưởng tế bào ung thư vú ở loài chuột và tỏi có chất oxy hóa rất mạnh để ngăn chặn sự phá tế bào do các gốc tự do gây ra. Tại viện Ung Thư M.D. Anderson Houston, các bác sĩ đã cứu một con chuột khỏi bị ung thư ruột già bằng cách cho uống chất Sulfur trong tỏi. Được biết viện Ung Thư Quốc Gia Hoa Kỳ đang đặt trọng tâm vào việc nghiên cứu khả năng trị bệnh ung thư của hóa chất sulfur này. Nghiên cứu tại Sloan Kettering Memotial Medical Center cho hay nước triết của tỏi có thể ngăn chặn sự tăng trưởng tế bào ung thư nhiếp tuyến. Nghiên cứu tại Đại Học Pen State cho hay khi nấu tỏi bằng microwave oven thì khả năng chống ung thư giảm đi. Tác giả nghiên cứu, giáo sư Kun Song đề nghị trước khi nấu nên cắt tỏi và để ra không khí mươi phút thì giữ được khả năng này.
6-Tỏi như thuốc kháng sinh
Từ lâu, dân chúng tại nhiều quốc gia trên thế giới đã dùng tỏi để chữa một số bệnh gây ra do vi khuẩn như kiết lỵ, bệnh tiêu chẩy, bệnh thương hàn, viêm cuống họng, mụn nhọt ngoài da, thối tai và tỏi được gọi là thuốc kháng sinh dân tộc. Trong hai thế chiến, tỏi được dùng để chữa vết thương cho binh sĩ tại chiến trường. Người ta cũng dùng tỏi để trị vết thương do côn trùng, rắn cắn. Nông dân, thợ săn đều mang theo tỏi phong hờ khi bị các sinh vật này cắn thì tự chữa. Năm 1858, nhà bác học Pháp Louis Pasteur đã chứng minh được công dụng diệt vi khuẩn của tỏi. Năm 1944, nhà hóa học Chester J. Cavallito, làm việc cho Winthrop Chemical Company ở Hoa Kỳ, đã phân tích được hóa chất chính trong tỏi có công dụng như thuốc kháng sinh. Đó là chất Allicin, chỉ có trong tỏi chưa nấu hay chế hóa. Kháng sinh này mạnh bằng 1/5 thuốc Penicilin và 1/10 thuốc Tetracycline, có tác dụng trên nhiều loại vi khuẩn, xua đuổi hoặc tiêu diệt nhiều sâu bọ, ký sinh trùng, nấm độc và vài loại siêu vi trùng. Theo nhiều nghiên cứu, Allicin có tác dụng ức chế sinh trưởng vi khuẩn nhiều hơn là diệt chúng. Nói một cách khác, chất này không giết vi khuẩn đã có sẵn mà ngăn chặn sự sinh sôi, tăng trưởng và như vậy có thể ngừa bệnh, nâng cao tính miễn dịch, làm bệnh mau lành.
Nghiên cứu tại Brazil năm 1982 đã chứng minh là nước tinh chất của tỏi có thể chữa được nhiều bệnh nhiễm độc bao tử, do thức ăn có lẫn vi khuẩn, nhất là loại Salmonella. Các nghiên cứu tại Đại Học California ở Davis cũng đưa đến kết luận tương tự. Ngoài ra, tỏi cũng được dùng rất công hiệu để trị bệnh sán lãi, giun kim, các bệnh nấm ngoài da. Một nhà nghiên cứu đã hào hứng tuyên bố rằng " tỏi có tác dụng rộng rãi hơn bất cứ loại kháng sinh nào hiện có. Nó có thể diệt vi trùng, nấm độc,siêu vi trùng, ký sinh trùng lại rẻ tiền hơn, an toàn hơn vì không có tác dụng phụ và không gây ra quen thuốc ở vi trùng". Giáo sư Arthur Vitaaen, đoạt giải Nobel, cũng đồng ý như vậy. Do đó ta không lấy làm lạ là trong thế chiến thứ nhất, các bác sĩ Anh quốc đã dùng tỏi để chữa vết thương làm độc. Thực tế ra, tỏi được dùng với những nhiễm độc nhẹ, không nguy hiểm tới tính mạng. Chứ còn nhiễm trùng cấp tính mà lại trầm trọng thì kháng sinh âu dược vẫn công hiệu hơn và tác dụng mau hơn.
7-Tỏi với tuổi thọ.
Theo dân chúng vùng Ukraine, ngâm nửa kí tỏi cắt hay giã nhỏ bỏ vào nước vắt của 25 quả chanh, để qua đêm rồi mỗi ngày uống một thìa pha với nước lạnh, trong hai tuần sẽ thấy trẻ khỏe ra. Các nhà văn Ukraine tán là nếu uống thường trực thì con người sẽ cảm thấy trẻ trung. Nhiều vị cao niên Việt Nam ta đang có phong trào uống rượu ngâm với tỏi, tin tưởng là sẽ được cải lão hoàn đồng.
Một bài thuốc Rượu Tỏi được truyền tụng là tìm thấy từ mộ cô Ai Cập đang rất phổ biến. 40 gr Tỏi khô thái nhỏ ngâm trong 100 ml rượu lúa mới. Mười ngày sau có thể dùng được, ngày hai lần sáng và tối, mỗi lần 45 giọt. Ở vùng Balkan, số người thọ trên 100 tuổi rất cao và được giải thích là họ nhai nhiều nhánh tỏi mỗi ngày. Ngoài ra, Tỏi còn một số công dụng khác như: Nhà thiên nhiên học La Mã Pliny viết rằng tỏi mà đưa cay với rượu vang thì con người làm tình rất điệu nghệ. Do đó dân chúng La Mã ăn nhiều tỏi coi đó là thuốc kích dâm, gợi tình. Nghiên cứu mới đây ở loài chuột cho thấy tỏi có thể có tác dụng tốt trên các chức năng của não bộ, tăng trí nhớ và có thể nâng cao tuổi thọ. Theo bác sĩ Paavo Airola, một nhà chuyên môn dinh dưỡng tại Phoenix, Arizona, tỏi với các hóa chất sulfur của nó, có thể chữa được bệnh trứng cá, bệnh khí thũng phổi làm khó thở, khó tiêu bao tử, táo bón, cảm lạnh. Các nghiên cứu của bác sĩ D Sooranna và I Das bên Luân đôn cho hay dùng tỏi khi mang thai có thể làm giảm nguy cơ tiền sản giật , (cao huyết áp và đạm chất trong nước tiểu ) và làm tăng sức nặng của trẻ chậm lớn. Và cuối cùng là một nghiên cứu ở Monnel Chemical Senses Center, Philadelphia, cho hay khi mẹ ăn tỏi, con sẽ bú sữa mẹ lâu hơn và nhiều hơn vì tỏi làm tăng khẩu vị em bé.
Kết luận.
Công dụng của Tỏi với sức khỏe đang là đề tài hấp dẫn của các nhà dinh đưỡng cũng như y tế. Với công chúng thì phong trào dùng tỏi để tăng cường sức khỏe cũng khá phổ biến. Tuy nhiên cho tới nay các tổ chức y tế cũng chưa chính thức ủng hộ ý kiến sử dụng tỏi trong việc trị bệnh vì các kết quả nghiên cứu không đủ sức thuyết phục. Và lại kết quả nghiên cứu hiện nay đều có tính cách cá nhân với mục đích thông tin học hỏi và đa số dựa trên quan sát dịch tễ. Cho nên ngoài tác dụng diệt vi khuẩn của chất allicin, các nhà nghiên cứu cũng chưa xác định công dụng của nhiều hóa chất khác trong Tỏi. Trên thị trường có bán sản phẩm Tỏi chế biến dưới nhiều hình thức khác nhau. Vì chỉ là chất bổ sung dinh dưỡng nên các sản phẩm này không được coi là thuốc, không đặt dưới sự kiểm soát của cơ quan điều hành dược phẩm. Do đó món hàng không bị soi mói về thành phần cấu tạo, sự tinh khiết và có thể bầy bán tự do miễn là không quảng cáo khả năng trị bệnh. Cho nên sử dụng tỏi như một chất dinh dưỡng, một gia vị thực phẩm, hỗ trợ cho sức khỏe có lẽ là khôn ngoan hơn chứ cũng chẳng nên coi tỏi như một môn thuốc trị bệnh này bệnh kia mà bỏ qua những phương thức trị liệu đã được y khoa học công nhận. Kết quả các nghiên cứu về công dụng y học của tỏi cần được tìm hiểu thêm để đi đến một sự đồng thuận của giới y khoa học. Và đặc biệt với vị nào đang uống thuốc chống đông máu như aspirin thì nên tham khảo ý kiến bác sĩ gia đình trước khi dùng sản phẩm Tỏi vì thực vật này có tác dụng loãng máu.
Bác sĩ Nguyễn Ý Đức Texas-Hoa Kỳ
CẦU NGUYỆN LÀ CHÁNH TÍN HAY MÊ TÍN?
Trong nhà chùa mỗi khi tụng kinh, mọi Phật sự đều có cầu
nguyện. Sự cầu nguyện này làchánh tín hay mê tín? Câu hỏi này
không thể trả lời một chiều, tùy chỗ hiểu biết của mỗi
người, sự cầu nguyện là mê tín, cũng là chánh tín.
Mê tín
Nếu chúng ta khẳng định rằng mọi sự cầu nguyệnđều được toại nguyện, đó là mê tín. Vì sao? Bởi vì, nếu cầu nguyện mà được, thì không cần nói đến nhân quả nghiệp báo. Nếu mọi sự kiện xảy ra đều do nhân quả thì sự cầu nguyện khó mà toại nguyện.
Bởi lẽ, thế gian có kẻ tạo nghiệp lành, người tạo nghiệp dữ. Người tạo nghiệp lành khi phước báo đến thì được như nguyện. Kẻ tạo nghiệp dữ khi nghiệp báo đến, dù có nguyện cầu cũng khó thoát khỏiquả khổ. Thế thì làm sao dám cố định cầu nguyện là được như ý. Người chấp cố định, là sai lầmkhông hợp lý, nên thuộc mê tín.
Chánh tín
Chúng ta chỉ xem cầu nguyện như những lời chúc lành là chánh tín. Vì quí kính cha mẹ, quí kính người thân, chúng ta hằng cầu nguyện cho những vị ấy song có được như nguyện hay không, còn tùy thuộc phước duyên dày mỏng của những vị ấy. Mặc dù không được như nguyện, cũng nói lên được lòng hiếu thảo chân thành của chúng ta.
Cũng như vì hiếu kính những người trưởng thượng, những bạn bè thân hữu, đầu năm mọi ngườichúc lành cho nhau. Những lời chúc lành này không hẳn thể hiện được, nhưng cũng nói lên được lòng quý mến nhau.
Hơn nữa, người tu Phật cầu nguyện với mục đích phá tan tâm niệm vị kỷ của mình. Bất cứ một Phật sự nào, chúng ta đều hồi hướng nguyện cầu cho tất cả chúng sanh đều thành Phật đạo.
Mới nghe qua dường như những lời nguyện suông, không thể thực hiện được. Song trên tinh thầnphá ngã, cứ lập tới, lập lui mãi tâm niệm vì tất cả chúng sanh, khiến người ta quên bẵng bản ngã riêng tư của mình. Mọi việc làm đều không phải vì mình, không được nghĩ lợi ích riêng cho mình, mà phải vì nhân loại, vì tất cả chúng sanh.
Hằng ngày cứ huân tập mãi tâm niệm này, đến một khi nào đó, chúng ta không còn thấy bản ngãriêng, đồng hóa mình và chúng sanh không khác. Thế là chúng ta phá được chấp ngã và phát tâm đại từ bi, xem mọi khổ vui của người như của chính mình. Hiểu cầu nguyện và ứng dụng cầu nguyện như vậy, quả thật là chánh tín.
Nếu chúng ta khẳng định rằng mọi sự cầu nguyệnđều được toại nguyện, đó là mê tín. Vì sao? Bởi vì, nếu cầu nguyện mà được, thì không cần nói đến nhân quả nghiệp báo. Nếu mọi sự kiện xảy ra đều do nhân quả thì sự cầu nguyện khó mà toại nguyện.
Bởi lẽ, thế gian có kẻ tạo nghiệp lành, người tạo nghiệp dữ. Người tạo nghiệp lành khi phước báo đến thì được như nguyện. Kẻ tạo nghiệp dữ khi nghiệp báo đến, dù có nguyện cầu cũng khó thoát khỏiquả khổ. Thế thì làm sao dám cố định cầu nguyện là được như ý. Người chấp cố định, là sai lầmkhông hợp lý, nên thuộc mê tín.
Chánh tín
Chúng ta chỉ xem cầu nguyện như những lời chúc lành là chánh tín. Vì quí kính cha mẹ, quí kính người thân, chúng ta hằng cầu nguyện cho những vị ấy song có được như nguyện hay không, còn tùy thuộc phước duyên dày mỏng của những vị ấy. Mặc dù không được như nguyện, cũng nói lên được lòng hiếu thảo chân thành của chúng ta.
Cũng như vì hiếu kính những người trưởng thượng, những bạn bè thân hữu, đầu năm mọi ngườichúc lành cho nhau. Những lời chúc lành này không hẳn thể hiện được, nhưng cũng nói lên được lòng quý mến nhau.
Hơn nữa, người tu Phật cầu nguyện với mục đích phá tan tâm niệm vị kỷ của mình. Bất cứ một Phật sự nào, chúng ta đều hồi hướng nguyện cầu cho tất cả chúng sanh đều thành Phật đạo.
Mới nghe qua dường như những lời nguyện suông, không thể thực hiện được. Song trên tinh thầnphá ngã, cứ lập tới, lập lui mãi tâm niệm vì tất cả chúng sanh, khiến người ta quên bẵng bản ngã riêng tư của mình. Mọi việc làm đều không phải vì mình, không được nghĩ lợi ích riêng cho mình, mà phải vì nhân loại, vì tất cả chúng sanh.
Hằng ngày cứ huân tập mãi tâm niệm này, đến một khi nào đó, chúng ta không còn thấy bản ngãriêng, đồng hóa mình và chúng sanh không khác. Thế là chúng ta phá được chấp ngã và phát tâm đại từ bi, xem mọi khổ vui của người như của chính mình. Hiểu cầu nguyện và ứng dụng cầu nguyện như vậy, quả thật là chánh tín.
HT.Thích
Thanh Từ
Nguồn: Trích "Bước đầu học Phật"
Thứ Sáu, 3 tháng 2, 2017
CHÙM THƠ XUÂN
XUÂN ĐẾN
Cánh
én tìm mây báo dục xuân,
Lều tranh, suối lượn nước trong ngần.
Dịu dàng mai hé, hương vờn đợi,
Rộn rã rừng khua, gió thoảng ngân.
Năm hết nhớ quê lòng bối rối,
Tết về chạnh cảnh dạ bâng khuâng.
Tình chân trà đậm vui chào đón,
Hạnh phúc bình an khắp thế nhân.
Lều tranh, suối lượn nước trong ngần.
Dịu dàng mai hé, hương vờn đợi,
Rộn rã rừng khua, gió thoảng ngân.
Năm hết nhớ quê lòng bối rối,
Tết về chạnh cảnh dạ bâng khuâng.
Tình chân trà đậm vui chào đón,
Hạnh phúc bình an khắp thế nhân.
Minh Đạo
SÁCH
QUÝ
(Cảm nhận của Minh Đạo khi đọc tập sách
NHẬN THỨC PHẬT GIÁO HÒA HẢO của cụ Nguyễn Văn Hầu
do anh Nguyễn Bạch Trúc và chị Phan Kim Thoa gởi tặng.)
do anh Nguyễn Bạch Trúc và chị Phan Kim Thoa gởi tặng.)
Sách
quý nghĩa sâu cả tấm lòng,
Truyền thừa pháp bảo ánh mai hồng.
Chúng sanh lầm lạc còn tâm tục,
Vạn vật qui về vốn tánh trong.
Ý ngọc quảng khai, Người dẫn dắt,
Lời vàng thẩm cứu, vị tuyên thông.
Tào Khê suối mát ươm cây đạo,
Thầm nguyện cho đời liễu sắc không.
Truyền thừa pháp bảo ánh mai hồng.
Chúng sanh lầm lạc còn tâm tục,
Vạn vật qui về vốn tánh trong.
Ý ngọc quảng khai, Người dẫn dắt,
Lời vàng thẩm cứu, vị tuyên thông.
Tào Khê suối mát ươm cây đạo,
Thầm nguyện cho đời liễu sắc không.
Minh Đạo
Ngày 29 Tết năm Đinh Dậu 2017
Ngày 29 Tết năm Đinh Dậu 2017
LỮ KHÁCH
Kẻ lữ hành thoáng qua
Dừng lại rồi đi xa
Gập ghềnh qua vạn ngã
Biết bao giờ nhận ra ?
Lăn lộn cùng vất vả
Mờ mịt như màn sương
Không Thầy cùng bè bạn
Dẫn dắt và tựa nương?
Ngày qua em đứng đó,
Hôm nay đã ra đi.
Như giọt sương trên lá.
Nghĩ lại chẳng còn gì?
Công danh và địa vị,
Tính toán với hơn thua,
Da nhăn cùng đầu bạc,
Cuối cùng trống chiêng khua!
Bạc tiền với nhà cửa,
Đồ sộ lại nguy nga,
Thêm hoài không biết chán.
Nằm xuống chỉ thây ma.
Quay đầu mà trở lại,
Đường dài đã đi qua,
Sám hối và cầu nguyện
Thanh thản bước dần qua.
Pháp Phật về lại nhà,
Nơi ấy có ngàn hoa,
Không đi cũng chẳng đến.
Hàng phục vạn loại ma.
Minh Đạo
XUÂN
Xuân đi xuân đến vốn vô tình.
Cảm nhận cảnh hoa cũng chính mình,
Nở tàn đẹp xấu đều phân biệt.
Nên đời cứ mãi tiễn rồi nghinh…
ĐẠO
Năm năm tháng tháng cứ liền kề,
Sống đạo bình thường biết tỉnh mê.
Chơn Tâm vốn sẵn đâu tìm kiếm.
Giáo pháp phụng hành chớ bước lê.
Sống đạo bình thường biết tỉnh mê.
Chơn Tâm vốn sẵn đâu tìm kiếm.
Giáo pháp phụng hành chớ bước lê.
CẦU
Cửa không đâu phải chốn chờ mong,
Khắp chốn tìm cầu mãi chạy rong.
Móng niệm tâm duyên kìm chẳng được.
Bao giờ vào chợ bước thong dong?
NGUYỆN
Cửa Phật xưa nay vốn diệu huyền.
Truyền thừa đạo tổ sáng uyên nguyên.
Trang nghiêm ân báu cầu qui hướng,
Sức nguyện nương bè đến
mãn viên.
Minh
Đạo
THEO DẤU CHÂN PHẬT (Tánh Thiện)

THEO DẤU CHÂN PHẬT
Kính tặng Thầy Thích Tánh Tuệ (xem trang này)
Một ngày theo dấu Phật đi
Một ngày hạnh phúc chẳng gì phải lo
Một ngày pháp thí mang cho
Bao niềm an lạc đắng đo chẳng còn .
Đêm canh nhìn ngắm trăng tròn
Như nhìn bản tánh Phật còn trong ta
Một ngày ta sống vị tha
Là bao ân oán tự ra nấm mồ .
Bình minh nắng ấm sông hồ
Đời người thiền khách tha hồ rong chơi
Khôn chi mà lại vá trời
Dại gì đội đá cho đời mệt thêm .
Tánh Thiện
3-2-2017
Thứ Năm, 2 tháng 2, 2017
TỰ NHẮC CHÍNH MÌNH (Tánh Thiện)
Trải bao kiếp vụng tu nay phải khổ
Suốt cả đời nhọc trí lẫn cực thân
Sống thì lo mà chết lại phân vân
Cùng của cải cháu con thêm nặng gánh .
Học pháp Phật chẳng có gì phải gánh
Rũ bỏ rồi ta nhẹ bước ra đi
Không cần chi tiếc nuối những thứ gì
Dù cha mẹ vợ con hay cháu chắt .
Người tu Phật luôn thường hay tự nhắc
Cuộc đời này là huyễn mộng duyên sanh
Rồi đến khi duyên diệt thoáng qua nhanh
Lòng vẫn nhẹ như mây chiều lam khói .
Tánh Thiện
31-1-2017
Đăng ký:
Nhận xét (Atom)





