Tâm ý vốn là phần chủ động của sự sống và cuộc sống cho nên phương pháp tu dưỡng trong đạo Phật thường được xem là phương pháp tu tâm, nghĩa là phương pháp giáo dục cải tạo con người. Song người ta cũng tìm thấy rất nhiều lời Phật dạy về vấn đề cải tạo môi trường sinh sống, xây dựng xã hội an lành theo nguyên tắc hướng về giác ngộ giải thoát.
I - Vào đề
Phật không phải là một lý thuyết gia mà là thầy thuốc giỏi. Do đó, lời dạy của Phật không phải là triết lý mà là đạo lý về sự thật nơi con người và cuộc đời nhằm giúp con người giác ngộ.
Trong khi hầu hết tôn giáo dạy con người thờ kính thần linh và cầu xin ân huệ nơi tha lực thì đạo Phật khuyên con người tự phát triển khả năng giác ngộ giải thoát của chính mình. Nói cách khác, thần giáo bảo chúng ta ngước mặt lên trời cầu xin thần linh ban ơn và cứu rỗi, đạo Phật giúp chúng ta nhìn vào con người và xã hội mà khai triển trí tuệ và từ bi với mục đích xây dựng an lành cho mình cho người.
Có nhiều người, nhất là những người có sẵn thành kiến về các tôn giáo không thấy được sự sai khác giữa thần giáo và đạo Phật nên xem đạo Phật cũng là một thứ thần giáo có những lý thuyết duy thần, nghi lễ duy tâm v.v...
Thật ra nguyên nhân của sự hiểu lầm này không phải chỉ do sự hiểu sai và sự xuyên tạc của những người không Phật tử mà còn do chính những người theo đạo Phật gây nên.
Chính Phật đã tiên đoán rằng sau khi Phật viên tịch độ 1000 năm thì đạo lý cao siêu của Ngài bị những người kém cỏi làm cho hoen ố và sai lạc. Từ khi Phật viên tịch đến nay đã hơn 2500 năm. Đạo lý của Phật đã truyền từ Ấn độ sang các nước Trung Á, Đông nam Á, Viễn đông, và bây giờ thì sang Âu Mỹ. Nhưng hiện tượng "tam sao thất bổn", thêm thắt, chắp vá, "phương tiện"... làm cho đạo Phật mất rất nhiều tính chất nguyên thủy và độc đáo của nó.
Phật đã bị thần hóa với những quyền năng ban phước giáng họa mà Phật không hề có và không cần có. Người ta đã sáng tạo thêm nhiều Phật khác có uy quyền hơn Phật tổ, hoặc đặt thêm trên bàn thờ Phật những tượng thần, để thỏa mãn nhu cầu tín ngưỡng của những người ham chuộng lễ bái, cầu xin ân huệ hơn là tìm đạo giác ngộ giải thoát.
Pháp, lời dạy trong sáng lợi ích của Phật, bị bỏ quên. Người ta ưa thích tụng và giảng những linh điển "tượng pháp" hay "tà pháp" thích hợp với sự hiểu biết thấp kém của "tín đồ" và thuận lợi cho việc thương mãi hóa đạo Phật.
Tăng, những người tu hành thanh tịnh, lợi tha, không còn giữ được địa vị "chúng trung tôn" của mình. Phần lớn đã trở thành giáo sĩ làm trung gian giữa thần thánh oai quyền và người cầu xin phước lộc. Một số khác, vì lý do kinh tế, trở thành phù thủy, thầy bói, thày đoán xăm quẻ...
Nhiều tổ chức Phật giáo, vì mục đích gây thanh thế cho tông phái mình, có xu hướng xây dựng giáo quyền theo kiểu tòa thánh La Mã. Tệ hơn, có những người, vì tự ti mặc cảm đối với các thần giáo phương tây, muốn hiện đại hóa đạo Phật, từ giáo lý cho đến phương pháp tu dưỡng, theo kiểu Tin lành Hoa kỳ hay Tân tăng Nhật bản.
Những hiện tượng trên đã làm cho đạo Phật bị hiểu sai, trong khi đó Phật không phải là thần linh, pháp không phải là giáo lý thần khải hay tín điều (dogmatisme) và tăng chỉ là người tu hành và hướng đạo cho những ai muốn sống đạo.
Và một nguyên nhân khác nữa, cũng làm cho người ta hiểu lầm đạo Phật, là sự không hiểu rõ đạo Phật vốn chủ trương Tâm Vật, hai thành phần tuy khác nhau song không thể hiện hữu một cách biệt lập, mà luôn luôn hiện hữu cùng nhau và ảnh hưởng lẫn nhau. Tất cả những phương pháp tu dưỡng trong đạo Phật đều là trung đạo, không cực đoan về lý thuyết cũng như trong thực hành.
Trong một vài kinh, nhất là các kinh điển phát triển (Đại thừa), thoảng hoặc có những lời nói "có vẻ duy tâm" song đó chỉ là nhấn mạnh để chận đứng sự "vong thân" hay "đối trị căn cơ" mà không phải là lý thuyết duy tâm, duy thức toàn diện. Hơn nữa, chữ tâm (citta) trong Phật học không có nghĩa như chữ tâm của triết học Tây phương. Bởi vì toàn bộ giáo lý của Phật dựa trên đạo lý Duyên khởi (Paticcasamuppada), nghĩa là đạo lý chủ trương vạn pháp do nhân duyên sanh chứ không do thần sanh, không do tiền định hay có ra một cách ngẫu nhiên may rủi.
Trở lại vấn đề, mặc dù Phật xem tâm ý, phần chủ động và sáng tạo nơi con người là quan trọng, song không hề phủ nhận sự hiện hữu của cảnh vật bên ngoài và chủ trương rằng cấu trúc và hoàn cảnh xã hội cũng như diều kiện kinh tế có ảnh hưởng lớn đến sự suy tư, tâm tình và ý chí con người.
Tâm ý vốn là phần chủ động của sự sống và cuộc sống cho nên phương pháp tu dưỡng trong đạo Phật thường được xem là phương pháp tu tâm, nghĩa là phương pháp giáo dục cải tạo con người. Song người ta cũng tìm thấy rất nhiều lời Phật dạy về vấn đề cải tạo môi trường sinh sống, xây dựng xã hội an lành theo nguyên tắc hướng về giác ngộ giải thoát.
Vì thế, ngay những vấn đề mà người đời thường cho là quan trọng như Thượng đế hiện hữu hay không hiện hữu, vật chất sinh ra tinh thần hay tinh thần sinh ra vật chất,... đối với phật tử không phải là những vấn đề quan trọng.
Quan trọng cho con người vẫn là vấn đề thanh tịnh hóa tâm ý, nghĩa là gạn lọc và làm cho phần sáng đẹp của tâm ý được phát triển trong mục đích cải tạo con người và xã hội loài người. Trong phạm vi giáo dục và cải tạo con người, Phật dạy chúng ta hãy nhìn thẳng vào tâm ý. Vui buồn, sướng khổ chỉ là kinh nghiệm của tâm ý. Quan niệm về tốt xấu, lợi hại, khôn dại cũng chỉ là những kết quả của thái độ và cảm giác cảm tình nơi con người. Kinh nghiệm cho thấy đời sống tinh thần của con người chỉ là sự tiếp nối của dòng cảm giác, nhận thức, tư tưởng và phân biệt dựa trên những kinh nghiệm của quá khứ; qua chúng, chúng ta thấy nào là thương ghét, sợ buồn, điên say, kiêu ngạo... Đó là thực tại trong đời sống con người cần phải nhìn thấy, chuyển hóa, còn sự hiện hữu hay không hiện hữu của thượng đế và bản ngã không phải là vấn đề thiết yếu:
"Tâm dẫn đầu các pháp
Tâm là chủ, tâm sử
Với tâm ý nhiễm ô
Nói năng hoặc hành động
Đau khổ theo liền ta
Như bánh xe theo bò.
Tâm dẫn đầu các pháp
Tâm là chủ, tâm sử
Với tâm ý thanh tịnh
Nói năng hoặc hành động
Hạnh phúc theo liền ta
Như bóng không rời hình."
(Pháp cú 1,2)
Vì thế trong đạo Phật chân lý vi diệu thứ nhất là khổ (dukkha), chỉ cho sự thiếu sót của cuộc đời như buồn lo, đau đớn, thất vọng, thác loạn, mất quân bình, giả dối, mong manh...
Chân lý vi diệu thứ hai là Nhân khổ (samudaya), chỉ cho tham ái (tanhâ) hay là ba độc: tham, sân, si; hay là năm điều ngăn che tâm trí: tham dục, nóng giận, hôn trầm, loạn động, lo âu, nghi ngờ; hay là mười dây ràng buộc: chấp ngã, nghi ngờ, mê tín nghi lễ và cố chấp vào giới điều, tham dục, tàn bạo, tham sắc (vi tê), tham vô sắc, kiêu ngạo, loạn động, vô minh.
Chân lý vi diệu thứ ba là sự khổ diệt (nirodha) chỉ cho sự an lành khi tham sân si bị tiêu diệt.
Chân lý vi diệu thứ tư là con đường dẫn dến khổ diệt (magga) gồm tám chánh đạo: chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định được quy tụ vào ba điều học: Giới (sila), Định (samadhi) và Tuệ (panna).
Có thể ví dụ bốn chân lý vi diệu như sau:
1 - Bệnh
2 - Nguyên nhân sinh bệnh
3 - Sự hết bệnh
4 - Phương thuốc chữa lành bệnh.
Như vậy, Phật, với giác ngộ giải thoát, chủ trương rằng cuộc đời có khổ gây nên bởi tham, sân, si và nếu muốn được an lành, con người phải sống theo đạo. Sống đạo tức là tu dưỡng hay thực hành Giới Định Tuệ. - đây không bàn đến Giới và Tuệ mà chỉ bàn đến Định, tức là thiền định, có nghĩa là tu tâm dưỡng tánh.
Người ta thường lầm lẫn Thiền định (dhyâna) với Yoga của Ấn giáo (Hindouisme) có mục đích luyện tập thân thể cho dẻo dai khỏe mạnh, thôi miên, cầu phép lạ hay xuất hồn và cuối cùng thông hợp với Đại ngã hay Thượng đế. Tất cả những phương pháp tu dưỡng không hướng về giác ngộ giải thoát đều không dính líu gì với thiền định của đạo Phật. Người tu thiền định không bao giờ dùng các thứ thuốc kích thích (drogue), không cầu mong sự điểm đạo huyền bí hay thần thông phép lạ và không tụng đọc cả những thần chú (mantra). Thiền định liên quan mật thiết đến Tâm ý và cuộc sống con người, rất thích hợp cho những ai muốn thăng hoa đời sống hướng về giác ngộ giải thoát.
II- Về mục đích
"Người hãy tự cố gắng
Như Lai chỉ dẫn đường
Ai vào đạo tu thiền
Giải thoát khỏi lưới ma." (Pháp cú 276)
Trước khi bàn phương pháp thiền định, hãy nói đến mục đích thiền định: "Tại sao tu thiền định?" hay "Tu thiền định được ích lợi gì?"
Mục đích của thiền định cũng là mục đích của đạo Phật. Ấy là thực hiện giác ngộ giải thoát (nirvâna) hay diệt trừ đau khổ như Phật nói: "Này các thầy, giống như bể cả chỉ có một vị, ấy là vị mặn; cũng vậy, giáo pháp và giới luật của Như Lai chỉ có một vị, ấy là vị giải thoát." (An, 205).
Rõ ràng, chúng ta đang bị đau khổ dày vò bởi vì chúng ta có bịnh tật, như Phật dạy: "Con người là kẻ có bịnh tật thân thể và tinh thần. Bịnh tật nơi thân thể thì xảy ra lúc này khi khác nhưng sức khỏe tinh thần thì không thể có được trong phút giây nên con người chưa đạt được giải thoát." (An, II, 143). Khổ ở đây không chỉ là những khổ đau thông thường như đói cơm, rách áo, thiếu thuốc, không nhà, thương yêu mà phải xa lìa, oán thù mà phải gặp nhau, mong cầu mà không toại ý... mà còn là sự khổ đau triết lý cội gốc vì bị ràng buộc trong vòng sanh già bệnh chết gây nên bởi vô minh, không giác ngộ sự giả hợp và biến chuyển của sự vật (samkhâra dukkha, viparinama dukkha).
Nói cách khác chữ Khổ trong kinh Phật có nghĩa là cuộc sống không vừa ý, đầy khủng hoảng, mâu thuẫn, mất quân bình vv... Câu chuyện sau đây có thể nói thêm một phần nào nghĩa chữ Khổ (dukkha) trong đạo Phật:
"Ngày xưa, có một ông vua thông minh, hiếu học, lúc tuổi về già, muốn tìm hiểu sự thật của con người và cuộc đời. Nhà vua ra lệnh cho học giả trong nước đi khắp nơi để nhận xét và ghi chép những gì đã xảy ra cho con người từ xưa đến nay. Vâng lệnh vua, nhiều đoàn học giả ra đi và làm việc suốt mấy mươi năm trời.
Một ngày kia, thấy mình không còn sống được bao lâu nữa, nhà vua ra lệnh gọi các học giả trở về. Số học giả ra đi thì nhiều nhưng trở về thì rất ít. Phần đông đã chết vì bệnh tật, già yếu. Trong lúc tiếp đón đoàn học giả, nhìn thấy những xe bò chở đầy sách sử nhà vua rất mừng. Nhưng bất giác nhà vua rưng rưng nước mắt vì thấy mình không còn thì giờ để có thể đọc hết các sử sách ấy. Để làm vui lòng nhà vua, các học giả già trẻ trong nước họp nhau lại và cố gắng toát yếu tất cả sử sách ấy và mong rằng vua có thể đọc được những điều hay việc lạ trước khi chết. Sau mấy năm trời bàn luận, biên chép, các học giả thâu tóm ý nghĩa của những xe bò sử sách trong một quyển và đem trình vua. Lúc bấy giờ nhà vua đang nằm trên giường bệnh. Nhìn quyển sách quý giá, nhà vua cảm động rơi lệ và nói: "Trẫm làm sao còn có thì giờ để đọc." Các học giả lại vội vàng họp nhau để toát yếu thêm một lần nữa. Cuối cùng tất cả các học giả đều bằng lòng cô đọng tinh hoa của bao nhiêu xe sử sách trong một chữ: ấy là chữ Khổ (Dukkha), nghĩa là cuộc đời đầy cả những điều không vừa ý, không chắc thật và luôn luôn biến đổi."
Theo đạo Phật, đau khổ thông thường hay đau khổ cội gốc đều do những nguyên nhân phát xuất từ con người và xã hội loài người. Con người nếu muốn và hội đủ điều kiện thì có thể diệt trừ được đau khổ. Khác với các loài động vật hữu tình khác, con người có thể ý thức được mình đau khổ và luôn luôn mong muốn được an vui. Có điều tìm ra phương pháp và diệt trừ được đau khổ không phải là dễ dàng và không phải ai cũng làm được. Phật là người đã tìm ra nguyên nhân đau khổ và chỉ dạy phương pháp diệt trừ đau khổ. Phật khuyên chúng ta cố gắng tập trung trí tuệ và phương tiện cho mục đích diệt khổ mà không nên miên man với những câu hỏi siêu hình vô ích. Phật ví dụ người bị đau khổ dày vò phải mau mau diệt trừ đau khổ, như người bị tên độc bắn phải mau mau xin nhổ tên độc mà không nên mất thì giờ với những câu hỏi vớ vẩn, xa vời: "Ai là người bắn tên độc?", "Tên độc làm bằng gì?" (xem Mn, 63).
Theo đạo Phật, đau khổ thông thường có thể diệt trừ được bằng thay đổi cách sống, thăng hoa điều kiện xã hội, kinh tế... Song đau khổ cội gốc chỉ có thể bị diệt trừ với đạo lý giác ngộ giải thoát mà thôi.
Tất cả phương pháp tu dưỡng của đạo Phật đều nhằm đến giải thoát những đau khổ cội gốc trong đó có những khổ đau thông thường: Thiền định là một trong ba điều học quan trọng sau giới luật và trước trí tuệ. Chỉ sống theo giới luật mà không tu tập thiền định để phát triển trí tuệ thì người tu hành chỉ có thể trở thành người có tác phong đạo đức nhưng vẫn chưa có căn bản để tiến tới giác ngộ giải thoát. Hơn nữa, như Phật dạy, dù hiểu biết đạo lý, có khả năng giáo hóa kẻ khác, từng đọc nhiều kinh diển cũng không thể gọi là sống đạo. "Chỉ khi nào tu tập thiền định mới gọi là sống đạo" (xem An, III, 85). Bởi vì thiếu thiền định thì không thể có trí tuệ. Mà không có thiền định và trí tuệ thì tham sân si tuy bị đè nén song vẫn còn gốc rễ và có thể phát sinh trở lại khi có điều kiện thuận lợi. Như vậy tu thiền định là để giác ngộ giải thoát và lợi ích của tu thiền định là an vui.
Thật là khó hiểu thế nào là giải thoát an vui đối với những ai đang bị ràng buộc bởi dục lạc và sống chết, cũng như thật là khó hiểu thế nào là lành mạnh sung sướng đối với những ai đang bị ốm đau bệnh tật. Muốn hiểu rõ giải thoát an vui, điều cần thiết là nên tu tập Giới Định Tuệ chứ không nên bàn suông về giải thoát, cũng như muốn hiểu rõ lành mạnh điều cần thiết là nên áp dụng phương pháp dưỡng sinh chứ không nên chỉ đọc sách thuốc. Nghe người khác giảng về giải thoát tuy cần song chưa đủ để hiểu rõ giải thoát. Hơn nữa có rất nhiều khó khăn trong việc diễn tả bằng ngôn ngữ thông thường về một sự việc khác thường. Hãy bớt đi những thắc mắc về bản thân giải thoát mà nên thêm lên sức mạnh trong công việc thực hiện giải thoát. Nếu có những chân trời mới lạ chưa có thể khám phá ngay được thì hãy mở mắt nhìn xa và cố gắng bước tới. Đừng nhắm mắt dậm chân phủ nhận một cách hẹp hòi bừa bãi để rồi phải chịu lưu đầy trong ngục tù mê lầm thành kiến. Cuộc nói chuyện giữa "rùa và cá" sau đây cho chúng ta một vài suy nghĩ về thực tế của ràng buộc đau khổ và thực tế của giải thoát an vui:
"Ngày xưa có một con cá, vì nó là loài sống dưới nước nên chỉ ở trong nước và ngoài nước ra nó không biết gì hết. Một hôm nó đang nhởn nhơ bơi lội trong hồ tình cờ gặp một con rùa mà nó đã quen từ trước, du lịch trên đất liền mới về. Nó liền chào hỏi:
- Chào anh, lâu lắm tôi không gặp anh. Vậy lâu nay anh đi đâu?
- -, tôi đi du lịch trên đất liền. Trên ấy mặt đất rất khô ráo.
- Đất khô! Anh nói cái gì lạ vậy? Tôi chưa bao giờ nghe nói điều lạ kỳ như vậy. Lẽ nào lại có đất khô?
- Xin thề là tôi không nói đùa với anh. Nhưng nếu quả tình anh không tin được thì tùy anh, không ai ngăn cản được anh. Nhưng dù sao tôi vẫn từ trên đó về.
- Này anh, anh hãy cố gắng diễn đạt lại cho hợp lý hơn, tôi nghĩ rằng cách diễn đạt của anh chưa rõ ràng lắm. Anh vui lòng cho tôi biết đất mà anh nói giống như cái gì trong thế giới chúng ta? nó có ẩm ướt không?
- Không, nó không ẩm ướt.
- Thế nó có mát dịu và lạnh không?
- Nó không mát, không dịu mà cũng chẳng lạnh.
- Thế nó có trong suốt để cho ánh sáng xuyên qua không?
- Không, nó không trong suốt và ánh sáng không thể xuyên qua được.
- Thế nó có mềm và dễ bị ép để cho tôi có thể quậy vi và bơi lội dễ dàng không?
- Không, nó không mềm, không bị dồn ép dễ dàng và anh cũng không thể bơi lội trong đất được.
- Thế nó có lưu động và đổ thành thác được không?
- Không, nó không lưu động và không đổ thành thác được.
- Vậy thì nó có dâng lên để tạo thành những mũi sóng bạc đầu được không?
- Không, tôi chưa bao giờ thấy nó dâng lên thành làn sóng cả.
Đến đây con cá vênh váo tự đắc và nói rằng:
- Tôi đã từng nói với anh rằng: Đất mà anh nói không phải là cái gì cả. Tôi cũng vừa hỏi anh về đất ấy và với câu hỏi nào anh cũng trả lời không. Đất anh đã nói là không giống bất cứ cái gì tôi nêu ra, vậy thì đất hẳn là "hư vô". Anh đừng bịp tôi nữa!
- Tốt! Anh quả quyết rằng không có đất liền. Tôi cũng không có cách nào hơn là cứ để anh tiếp tục tin vào những điều anh đã nghĩ. Nhưng một mai, có ai khác hơn tôi đủ sức phân biệt cho anh thấy sự sai khác giữa đất và nước thì ngày ấy anh sẽ thấy rằng anh chỉ là một con cá ngốc!"
Kể lại câu chuyện nầy không có ý nói là phải đợi đến lúc nào giải thoát hoàn toàn người ta mới hưởng thụ được an vui. Bởi vì giải thoát có thể thực hiện từng phần cho đến toàn phần. Do đó người tu tập thiền định có thể hưởng thụ an vui từng phần cho đến toàn phần, cũng như kiến thức rộng rãi của nhà bác học là cái gì do tích lũy lâu ngày; cứ một ngày học hỏi là một ngày thêm được một ít hiểu biết. Cũng như lành bệnh hoàn toàn là trạng thái sức khỏe được phục hồi qua nhiều ngày, cứ mỗi lúc bớt ốm đau là một lúc thêm được an lành.
Người tu tập thiền định, trước khi chứng đạt giải thoát hoàn toàn, có thể an vui nhờ sự diệt trừ được những tâm lý tiêu cực như tham dục, nóng giận, hôn trầm, loạn động lo âu, nghi ngờ..., phát triển được những tình cảm tích cực như từ bi hỷ xả, tâm trí trở nên thanh tịnh, dễ dàng tập trung và luôn luôn thức tỉnh sáng suốt đối với hoàn cảnh bên ngoài cũng như hình ảnh bên trong.
Tóm lại, mục đích của thiền định là giải thoát. Có giải thoát thì có an vui. Và giải thoát an vui có thể thực hiện lần lần ở đây và bây giờ.
III - Với cuộc sống thác loạn
"Vui cười thế nào được
Khi biết mình đang cháy
Bị bóng tối phủ vây
Sao không tìm ánh sáng" ( Pháp cú, 146 )
Thiền sư Kosho Uchiyama kể lại câu chuyện như sau:
Hachiko mới học cưỡi ngựa. Con ngựa khôn ranh biết người cưỡi nó thuộc loại tồi. Khi đi ngang qua một quán rau bên đường, nó tự dừng lại ngoặm lấy rau cải ăn ngay tại chỗ. Chủ quán tức giận đánh cho mấy hèo. Nó kêu lên, nhẩy dựng rồi phi nước đại. Hachiko hoảng hốt, cầm chặt lấy cương và gáy ngựa để khỏi bị quăng ngã. Bấy giờ, một người bạn của Hachiko cũng đi cùng đường. Thấy Hachiko đang bối rối, lo sợ vì ngựa, người bạn hỏi:
- Anh đi đâu mà vội vàng và nguy hiểm thế?
- Tôi không biết... Hỏi con ngựa ấy!
Đây có thể là câu chuyện bịa song ý nghĩa của nó là giúp chúng ta liên tưởng: Hachiko bất tài không chế ngự được con ngựa khôn ranh hung hãn nên bị nó "hành hạ", chẳng khác gì con người thiếu khả năng, không điều khiển nổi và không sử dụng tốt khoa học kỹ thuật nên phải chịu lắm tai ương.
Chúng ta đều đồng ý rằng khoa học kỹ thuật là cái gì thật là kỳ diệu trong vài thế kỷ gần đây. Khoa học kỹ thuật tân tiến đã thay đổi cuộc sống, đem lại cho con người những kiến thức đúng đắn và nhiều tiện nghi lợi ích. Khoa học kỹ thuật mở rộng không gian đưa con người lên cao tận các hành tinh xa xôi, giúp con người kéo dài đời sống bằng cách chữa trị những bệnh tật ngặt nghèo, thay tim ghép phổi...
Điều đáng trách là con người phần đông chưa đủ khả năng để có thể hướng dẫn khoa học kỹ thuật trong công cuộc xây dựng hạnh phúc an lành. Không có gì quá đáng khi chúng ta nói rằng ngày nay khoa học kỹ thuật phần lớn nằm trong tay những kẻ quân phiệt tài phiệt và trở thành khí giới độc hại, phương tiện nguy hiểm cho sự sống còn của loài người.
Không cần phải bôi đen cuộc sống hiện tại bởi vì thực tế nó đã không mấy tươi đẹp rồi. Không kể bom đạn, thuốc độc giết hại con người trong bao nhiêu cuộc chiến tranh đây đó, những tệ nạn xã hội như trộm cướp, hãm hại, tai nạn lưu thông xe cộ, không khí ô nhiễm, môi trường sinh sống bị hủy hoại, thất nghiệp, đói thiếu... và những tai nạn cá nhân gây ra như tự tử, rối loạn thần kinh, mất ngủ, áp huyết cao, đau đầu kinh niên... càng ngày càng tăng, nhất là trong những xứ khoa học kỹ thuật phát triển.
Sự thật, chúng ta, nhất là những người sống ở những đô thị cao lớn rùng rợn, bệnh hoạn, đang sống trong thời kỳ có rất nhiều ràng buộc đe doạ bên ngoài cũnh như bên trong. Những sản phẩm thường dùng của xã hội tiêu thụ như máy truyền hình, phát thanh, phim ảnh thay vì được dùng để nâng cao, giải thoát con người, đã hạ thấp và nô lệ hóa trí thức tình cảm con người. Người ta ăn uống không phải để sống khỏe, sống vui mà để thỏa mãn luyến ái về mùi vị; mặc áo quần không phải để khỏi nóng lạnh mà để chưng diện kiêu hãnh; dùng xe cộ không phải để đi lại mà để khoe khoang, lấn át kẻ khác. Người ta bị lôi cuốn theo những thị hiếu thấp kém và chạy theo những lối sống cầu kỳ xa xỉ để rồi phải mang lấy xiềng xích và chịu lấy khổ đau.
Nói thế không có nghĩa là chỉ trích khoa học hay khuyến khích từ bỏ kỹ thuật. Bởi vì khoa học là những phát hiện phù hợp sự thật, có khả năng nâng cao trí tuệ con người; kỹ thuật, trong chừng mực nào đó là phương tiện thiện xảo có thể đem lại lợi ích cho cuộc sống loài người.
Nguyên nhân chính của sự không ổn không phải là khoa học kỹ thuật mà là con người. Con người cho đến nay chưa đạt được trình độ văn hóa tốt đẹp, xứng đáng. Đặc tính của nền văn minh hiện đại là thác loạn và thiếu quân bình. Vì thế con người dễ dàng bị "tha hóa" và khổ đau. Máy điện thoại là một phương tiện liên lạc thông tin rất tiện lợi, song thay vì dùng nó để thăm hỏi nói chuyện lại dùng để chửi mắng nói xấu đe dọa nhau. Văn hóa là thành quả của giáo dục nghiêm túc. Vốn là phương tiện đào luyện con người, thế mà giáo dục học đường ngày nay ở một số nơi đã trở thành phương tiện mua bán hay được tổ chức trong tin thần hẹp hòi, vụ lợi để đáp ứng nhu cầu thương mại quá thực dụng của xã hội tiêu thụ. Người ta chỉ chú trọng việc đào tạo chuyên viên để phát triển kỹ nghệ tiêu thụ, mà quên đi việc đào tạo con người hiểu biết khoa học, yêu thích nghệ thuật và sử dụng kỹ thuật cho hạnh phúc con người. Những người lỗi lạc ngày nay phần lớn là những người biết nhiều nhưng hiểu ít. Do đó con người mất đi rất nhiều khả năng suy tư phán đoán cũng như phát biểu, choáng váng trước sự rầm rộ của đám đông manh động, đơn giản hóa sự việc, chấp nhận nhãn hiệu giả dối và giá trị áp đặt một cách dễ dàng, đồng hóa mau chóng với sức mạnh mù quáng và bạo tàn. Bởi yếu đuối và nghèo nàn như vậy nên con người tự bằng lòng co rút trong vỏ ốc bản ngã nhỏ hẹp, trở nên ích kỷ, thiếu tình thương, xem thường đạo đức, không có lý tưởng, đầu hàng trước chủ nghĩa thực dụng; do đó những đức tính cao thượng lần lần bị phá sản và chỉ còn lại những ác tính thấp hèn. Giáo dục học đường đã thế còn giáo dục gia đình cũng không có gì đáng kể. Cha mẹ bận bịu với sinh kế khó khăn, thiếu khả năng và nhất là không có thì giờ để dạy dỗ con cái. Có những cha mẹ tuy có lưu tâm đến vấn đề nầy nhưng kết quả cũng không được bao nhiêu vì ảnh hưởng của giáo dục học đường quá lâu dài mạnh mẽ và ngôn ngữ hình ảnh thác loạn mất quân bình của xã hội qua máy phát thanh, truyền hình tràn ngập và ăn sâu vào đầu óc thơ ngây của trẻ con.
Đến khi vào đời thì sự phát triển khả năng tốt đẹp cá nhân lại càng khó thực hiện. Là xã hội thương mại tiêu thụ thì mọi tổ chức đều chú trọng vấn đề phát triển vật chất theo nguyên tắc "phóng dục", "khôn sống bống chết" hay "mạnh được yếu thua". Tình trạng không lành mạnh này thể hiện qua hiện tượng quảng cáo tốn kém, ồn ào, thấp kém trên các tường phố, màn ảnh và máy phát thanh. Vì thế chỉ những người có ý chí vững vàng mới biết "hòa mà không đồng" và có thể giữ gìn được ít nhiều bản lãnh. Phần đông còn lại đều bị thua thiệt và trở nên mất quân bình; dù được sống còn thì cũng chỉ là những con ốc nhỏ bé trong guồng máy khổng lồ phức tạp, không tình không nghĩa, bị điều kiện và thao túng bởi những thế lực tham lam bóc lột, si mê bạo tàn.
Tóm lại, chúng ta không thể tin tưởng hoàn toàn vào nền giáo dục của thời đại mới này để phát triển con người toàn diện và thăng hoa cuộc sống riêng chung. Lẽ dĩ nhiên chúng ta cũng không nên dại khờ buông tay để rơi vào vực thẳm tiêu cực đen tối, mà phải tìm lấy con đường sống: ấy là con đường tự giáo dục bằng phương pháp thiền định, trong mục đích tu dưỡng bản thân, nghĩa là chuyển đổi tham lam bạo tàn thành thương yêu giúp đỡ (Bi), si mê lầm lạc thành giác ngộ sáng suốt (Trí), hèn nhát thụ động thành tinh tấn quả cảm (Dũng); giáo hóa gia đình nghĩa là khuyến khích giúp đỡ con cái thân quyến tu dưỡng như mình, để gia đình có hạnh phúc, và cải tạo xã hội nghĩa là xây dựng cuộc sống chung có hòa bình hạnh phúc thật sự.
Có được trình độ giáo dục như vậy tức là có văn hóa và xứng đáng là con người. Nói khác đi, một khi chúng ta đã chọn lý tưởng đào luyện theo tinh thần giác ngộ giải thoát và có đủ Bi, Trí, Dũng thì tự nhiên khoa học kỹ thuật do chúng ta phát minh và sử dụng sẽ là phương tiện quý báu để xây dựng hạnh phúc an lành cho mình cho người.
IV - Giá trị của an tịnh
"Như nước hồ sâu thẳm
Trong xanh và yên lặng
Cũng vậy khi nghe pháp
Hiền đức được an tịnh" ( Pháp cú, 82 )
Ngày nay, ngay cả ở những nước phương Đông có tiếng là trầm lặng, bảo thủ, cũng không còn giữ được cuộc sống ngày xưa cách đây nửa thế kỷ. Quan niệm về thiện ác, đạo đức cũng đã đổi thay. Lối nhìn người, xét vật không còn như trước nữa.
Đặc tính chung của đời sống mới chính là sự ồn ào, vội vàng. Không cần nói đến tiếng động đau đầu nhức óc của xe điện, máy bay mà ngay cả âm nhạc ca hát mới cũng làm cho người ta điếc tai mệt óc. Không phải chỉ ở ngoài đường, mà ở trong nhà cũng vậy, tiếng ồn ào bên ngoài vọng vào, tiếng xe rù, tiếng súng nổ, tiếng la hét từ máy phát thanh, truyền hình inh ỏi suốt ngày suốt đêm. Sống mãi trong không khí ồn ào, người ta không còn để ý rằng sự ồn ào có hại rất nhiều cho sức khỏe thân thể cũng như tinh thần. Sống mãi với ồn ào, nên lúc nào thần kinh cũng căng thẳng, tâm trí đần đừ, cộng thêm những lo âu về tài chính, nghề nghiệp, giao tế, nên người ta dễ dàng mắc phải những chứng bệnh hiểm nghèo như mất ngủ kinh niên, thần kinh rối loạn, áp huyết cao, tim đập không đều, ung nhọt, lở loét, mệt nhọc thường xuyên...
Cuộc sống không chỉ ồn ào mà còn vội vàng. Cứ đứng yên vào một góc phố hay ngã tư nào của Paris, Tokyo, New York vv... cũng thấy rõ sự rộn rịp, gấp gáp của những làn sóng người qua lại vội vàng; mỗi người mang theo mình một nỗi lo lắng, bất an, bơ phờ mệt nhọc. Tất cả tạo cho thành phố vốn đã rộn rịp, hấp tấp, lại thêm nặng nề khó thở. Ngày nay, những người ở các thành phố lớn khó mà tìm được một khung cảnh xanh mát an lành, cũnh như khó gặp được những người thoải mái vui tươi điềm tĩnh. Hầu hết những thành phố lớn đều là những tổng hợp của những tòa nhà cao ngất đen nghịt, trong đó người ta chen chúc trong những gian phòng hộp quẹt thiếu không khí và màu xanh, với những giòng xe cộ chạy như thác đổ, thải ra những hơi khói cay mắt ngột ngạt, độc hại. Có nhiều đô thị mà ở đó người ta phải mua dưỡng khí để thở.
Đời sống mới ồn ào vội vàng, cộng thêm những thú vui thấp kém, lại có sức hấp dẫn rất mạnh với những người hời hợt. Người ta bị bắt buộc chạy theo tốc độ của máy móc, tiền bạc để được sống còn. Nhưng trong thực tế, có mấy ai được sống vui, sống đẹp. Thật là kỳ quái khi người ta làm lụng quần quật để sống, song ít có thì giờ để ăn ngủ, trò chuyện, giao tiếp. Thật là lạ lùng khi người ta được khoa học kỹ thuật cung cấp rất nhiều phương tiện sinh sống và giải trí thì lại rất ít người được sống khỏe sống vui. Sau một ngày làm việc và di chuyển, người ta thường mệt nhoài, không còn tha thiết đến ăn uống, trò chuyện. Đó là chưa nói đến tai nạn ồn ào vội vàng qua nẻo phát thanh truyền hình, luôn luôn lôi cuốn và đe dọa con người. Cuộc sống bên ngoài khó thở thác loạn được phim ảnh thu hẹp rút ngắn. Loại phim ảnh diễn tả tình yêu vội vàng, rắc rối, hành động giận dữ tàn bạo, ảnh hưởng rất mạnh những tâm ý mệt nhọc của con người, ngay cả trong giấc ngủ. Cuộc sống mới và phim ảnh rẻ tiền làm cho con người mất đi sức suy nghĩ, phán đoán và quyết định, nhất là sức tập trung của tâm trí ngày càng yếu, năng suất làm việc ngày càng giảm đi. Người ta trở nên dễ dàng chấp nhận, nóng nảy, cau có, la lối, gây gỗ. Người ta cũng dễ dàng đau đầu, mệt mắt, tức ngực, giấc ngủ đầy ác mộng... Nghĩa là người ta phải sống thường xuyên trong Stress.
Những triệu chứng sức khỏe hao mòn, thần kinh suy nhược này, chứng tỏ rằng con người của thời đại mới cần được nghỉ ngơi và tỉnh dưỡng. Như vậy, sự an tịnh của cả tâm lẫn thân quả cần thiết và rất quý báu. Do đó, các tổ chức xã hội và y tế cần lưu ý đến vấn đề dưỡng sinh, bằng cách giúp con người xa bớt sự ồn ào vội vàng, sống gần thiên nhiên. Điều quan trọng vẫn là mỗi cá nhân phải biết quý trọng sự sống của mình, bằng cách tự tạo cho mình một cuộc sống riêng, an tịnh, quân bình. Hễ lúc nào có dịp tốt hãy cố gắng ra khỏi thành phố, bớt thấy, nghe, những hình ảnh tiếng động thác loạn, không la hét vô ích, bớt nói năng ồn ào, tập sống theo nguyên tắc "yên lặng là vàng". Sự tĩnh lặng nơi cảnh vật và trong tâm hồn giúp chúng ta tăng cường sức khỏe, nghị lực. Nhờ sống trong tĩnh lặng chúng ta mới có dịp xem xét rõ ràng và chế ngự tình cảm, tư tưởng, và nhất là khám phá và phát triển khả năng sáng tạo. Nếu phải sống trong thành phố với cuộc sống ồn ào vội vàng, chúng ta cũng nên giữ gìn an tịnh và thanh thoát trong tâm ý dù chỉ trong năm, mười phút, vài lần trong một ngày cũng quý.
Thiền định là phương pháp tu dưỡng thích hợp giúp chúng ta sống trong an tịnh hoàn toàn.
"Người tâm ý an tịnh
An tịnh cả ngôn, hành
Giải thoát bởi chánh trí
Luôn luôn được tĩnh lạc" ( Pháp cú, 96 ).