Thứ Bảy, 13 tháng 8, 2022

“BẦN” CHỈ LÀ NGHÈO, NHƯNG “CÙNG” MỚI THỰC LÀ KHẢO NGHIỆM Ý CHÍ NGƯỜI QUÂN TỬ

 

Ảnh: Pinterest

Trong ngôn ngữ hiện đại, hai chữ “bần cùng” thường gắn liền với nhau. “Bần” và “cùng” đều có nghĩa là nghèo, nhưng hàm nghĩa lại không như nhau. Bần không đáng sợ, nhưng “cùng” mới thực sự là khảo nghiệm nhân tâm. Vì sao nói như vậy?

Trước hết, nên hiểu thế nào là “bần”?

Chữ “Bần” (貧) gồm hai chữ ghép thành, phía trên là “Bối” (貝), phía dưới là “Phân” (分).

Thời cổ đại, người ta dùng vỏ sò làm phương tiện trao đổi hàng hóa, gọi là bối tệ. Do đó chữ “Bối” (貝 – vỏ sò) đại biểu cho tài phú, hầu hết những chữ có bộ Bối đều có liên quan đến tiền, như “Tài” (財 – tiền tài), “Quý” (貴 – phú quý), “Tiện” (賤 – rẻ), “Quý” (貴 – đắt), “Bồi” (賠 – lỗ), “Trám” (賺 – lãi), v.v. Còn chữ “Phân” (分 – phân chia) vừa biểu ý lại vừa biểu âm, hợp lại thì nhiều mà phân ra thì ít. Kết hợp cả “Bối” và “Phân” tạo thành chữ “Bần” (貧), mang ý nghĩa ít tiền, thiếu tiền.

Cổ nhân nhìn nhận rằng thanh bần không đáng ngại, nghèo mà trong sạch thì đâu có gì đáng lo? Khổng Tử lo Đạo chứ không lo bần, Nhan Hồi tuy thân ở nhà hẹp, sống trong ngõ hẻm, ăn cơm thô canh nhạt, người khác có thể không chịu được nhưng Nhan Hồi thì vẫn phơi phới niềm vui.

Ngược lại, đại phú đại quý mà không tu dưỡng đức hạnh thì sẽ chiêu mời tai họa. Có câu chuyện kể rằng, vào thời Tây Tấn có một người vô cùng xa hoa giàu có tên là Thạch Sùng. Thạch Sùng sở hữu rất nhiều lầu các nguy nga, bên trong giăng toàn lụa là gấm vóc, có thể nói là vinh hoa phú quý bậc nhất trong thiên hạ. Ấy vậy nhưng Thạch Sùng vẫn luôn tranh giành với người khác, vì tiền mà chiêu mời tai họa, kết quả khiến toàn gia bị hại, bản thân ông cũng phải bỏ mạng trên pháp trường.

“Quốc Ngữ – Tấn Ngữ” viết: “Nhược bất ưu đức chi bất kiến, nhi hoạn hóa chi bất túc, tương điếu bất hạ”. Nghĩa là: Nếu như không lo tu dưỡng đức hạnh mà chỉ sầu não vì tài sản không đủ, vậy mới thực sự khiến người ta bi ai.

Vậy thì, nên đối diện thế nào khi sống trong thanh bần và phú quý?

Tử Cống là người giàu có nhất trong các học trò của Khổng Tử, được mệnh danh là ‘Nho thương thủy tổ’. Mặc dù gia cảnh tài phú, nhưng Tử Cống lại trăn trở về cảnh giàu và nghèo trong đời người. Trong “Luận Ngữ – Học nhi đệ thập ngũ”, Tử Cống hỏi: “Nghèo mà không siểm nịnh, giàu mà không kiêu ngạo, như vậy thì sao?”. Khổng Tử đáp: “Như thế cũng được, nhưng vẫn không bằng nghèo mà sống hạnh phúc vui vẻ, giàu mà sống có yêu thích lễ”.

Khổng Tử dạy học trò theo nguyên tắc “nhân tài thi giáo” (theo tài năng của từng người mà dạy). Trước câu hỏi của Tử Cống, ông biểu thị sự tán thành và đồng thời nói rõ quan điểm của mình: làm được như vậy là tốt nhưng vẫn chưa đạt đến cảnh giới cao thâm.

Khổng Tử cho rằng, thái độ đối đãi với giàu và nghèo nên là: “Tuy bần cùng khước lạc ư đạo, tuy phú hữu khước khiêm tốn hiếu lễ” (Tuy bần cùng nhưng vui với Đạo, tuy phú quý nhưng khiêm tốn hiếu lễ).

Thế nào là “Cùng”?

Nếu như “bần” chỉ là nghèo về vật chất thì “cùng” lại không chỉ là thiếu thốn về tiền tài, mà còn là chịu đựng nỗi thống khổ về mặt tinh thần.

“Thuyết văn giải tự” viết: “Cùng, cực dã, tòng huyệt cung thanh”.

“Cùng” là chữ hình thanh hội ý, bên trên là chữ “Huyệt” (穴), bên dưới là chữ “Cung” (躬). Về chữ “Huyệt”, hầu hết những từ có bộ “Huyệt” đều có quan hệ với lỗ hổng, lỗ thủng, ví dụ như “Không” (空 – trống rỗng), “Diêu” (窯 – lò nung), “Đột” (突 – xuyên qua, chọc thủng), “Oa” (窩 – lỗ, lõm, lúm), v.v. Còn chữ “Cung” (躬) là chỉ thân thể. Thân nằm dưới huyệt, bị giam hãm trong không gian chật hẹp, không thể vươn duỗi cũng không thể tự do cử động, khiến bản thân rơi vào trạng thái vô cùng túng quẫn, khốn khó.

Do đó, chữ “Cùng” (窮) ngoài ý nghĩa là cuối cùng, tận cùng, ví dụ như “lý khuất từ cùng” (cạn lời đuối lý), “cùng đồ mạt lộ” (đến bước đường cùng), “kiềm lư kỹ cùng” (tài cùng lực kiệt), “cùng hung cực ác” (tà ác cùng cực), v.v. thì còn có ý là nghèo túng, thiếu thốn. Nhưng đó không chỉ là nghèo đơn thuần, mà là nghèo đến cực điểm, hoàn toàn không có gì cả. Trong “Tuân Tử – Đại lược”, Tuân Tử nói: “Người có nhiều thì phú, người có ít thì bần, người không có gì thì cùng”.

So với “bần”, “cùng” là thể hiện cảnh ngộ khốn ách, có chí nhưng bất thành, chứ không chỉ là nghèo về vật chất tiền tài. Nhân thế ngả nghiêng, nhân sinh chìm nổi, mọi việc trong đời đều nằm ngoài tay với, khi đối mặt với những thuận nghịch trong đời, mỗi người lại có cách nhìn nhận và thái độ khác nhau.

Bậc quân tử đối đãi với bần cùng

Khổng Tử chu du liệt quốc, có lúc ông gặp phải kẻ đương quyền khinh miệt, bị hiểu lầm và bị nhạo báng, lại có lúc gặp phải khốn khó, chịu đói khát nhiều ngày trời. Ban đầu Khổng Tử đến nước Vệ, Vệ Linh Công nghi ngờ ông là gian tế nên đã sai người giám sát.

Sau đó Khổng Tử đến nước Tống, đại phu nước Tống đố kỵ tài năng của ông nên lập kế hãm hại. Khi đến nước Trần thì hết sạch lương thực, những đệ tử đi theo ông đều ốm đói đến mức không thể dậy được.

Tử Lộ chứng kiến cảnh ấy thì vô cùng bi thương, bèn nói với Khổng Tử: “Quân tử cũng có lúc túng quẫn đến mức không còn biện pháp nào sao?”.

Khổng Tử đáp: “Người quân tử khi khốn cùng vẫn vững lòng giữ tiết tháo chí hướng, nhưng kẻ tiểu nhân khốn cùng thì phóng túng, làm càn”.

Tuy quân tử cũng có lúc hết đường xoay xở, nhưng điểm khác biệt giữa quân tử và tiểu nhân là: Quân tử khi khốn cùng vẫn có thể kiên trì chính Đạo, còn tiểu nhân gặp lúc nguy nan sẽ dám tùy tiện làm xằng.

Mạnh Tử cũng cho rằng: “Cùng bất thất nghĩa, đạt bất ly đạo” (bần cùng nhưng không thất nghĩa, hiển đạt nhưng không xa rời Đạo), và: “Cùng tắc độc thiện kỳ thân, đạt tắc kiêm tể thiên hạ“ (Bần cùng thì lo tu dưỡng đạo đức bản thân, thành đạt thì tạo phúc cho thiên hạ).

Khuất Nguyên khi đối mặt với hiện thực nghiệt ngã, không cách nào xoay xở, ông đã lựa chọn giữ gìn danh tiết, ngọc nát hơn ngói lành. Trong “Cửu chương – Thiệp giang”, ông viết: “Ngô bất năng biến tâm nhi tòng tục hề, cố tương sầu khổ nhi chung cùng”. Nghĩa là: Ta không thể thay đổi lòng mà theo thế tục, ta đành trọn đời mà ôm sầu. Ông không thay đổi chí hướng, không thuận sóng theo dòng, thà rằng sầu khổ mà suốt đời bất đắc chí.

Cảnh ngộ càng cùng quẫn gian nan, tâm chí càng phải kiên cường. Trong “Đằng vương các tự”, Vương Bột đã để lại những câu thơ đầy cảm hứng:

“Lão đương ích tráng, ninh tri bạch thủ chi tâm?
Cùng thả ích kiên, bất truỵ thanh vân chi chí”.

Dịch thơ: (bản dịch của Mai Lăng)

(Phải mạnh lên lúc đà có tuổi. Nên hiểu lòng cho lão tóc sương. Lúc cùng càng phải kiên cường. Không nên làm lỡ bước đường mây xanh).

“Chu Dịch – Hệ Từ” viết: “Cùng tắc biến, biến tắc thông, thông tắc cửu”, nghĩa là: Sự vật phát triển tới cực điểm, khi cùng tận thì tất phải biến hóa, sau khi biến hóa liền thông đạt, nhờ thông đạt mà được trường cửu, dài lâu.

Sự vật phát triển đến cực điểm sẽ phát sinh biến hóa, gọi là “vật cực tất phản”, “bĩ cực thái lai”. Cho dù bần cũng vậy, cùng cũng vậy, cho dù đã đến nơi sơn cùng thủy tận tưởng chừng như không còn đường đi, thì chỉ cần giữ được cái tâm ban đầu, kiên trì theo chính Đạo, thì sẽ phát hiện phía trước là bầu trời, ngày mai sẽ là một ngày tươi sáng.

Nguyệt Hòa
Theo NTDVN

Thứ Sáu, 12 tháng 8, 2022

CHUYỆN VỚI TÁCH TRÀ (Thơ)

 



  
Rạng sáng ngồi vui với tách trà
Bao điều đắng ngọt chuyện cùng ta
Hương tràn đọng thấm quanh thềm cỏ
Khói tỏa quen đùa khắp nhánh hoa
Mấy khoảng xuân sang nào chậm lại
Nhiêu lần hạ đến vẫn đều qua
Thời yên,vạn vật luôn bình thản
Khổ mãi con người… cứ thở ra….
 
Đối hoạ:
 
Canh đêm sắp dứt bạn chung trà
Đắng ngọt thơm lừng quyện lấy ta
Gió thoảng sương mờ vin ngọn nến
Hương thầm vị chát đọng thềm hoa
Đong đưa nẻo phận nay còn lại
Gặp gỡ đường trần hẳn chóng qua
Tuổi hạc ai quên lần quá khứ
Yên bình chẳng được bởi lo ra…


Minh Đạo

HẠNH PHÚC GIẢN ĐƠN LÀ KHI: CÓ NHÀ ĐỂ VỀ, CÓ CƠM ĐỂ ĂN VÀ CÓ MỘT TÂM HỒN THANH TỊNH!

 


Thời còn trẻ, chúng ta luôn cho rằng: Một cuộc sống lý tưởng chính là theo đuổi một cuộc sống khá giả, ngày còn son sắt, chúng ta truy cầu nhà to cửa rộng, ôm giấc mộng xe xịn giàu sang, hay một sự nghiệp khiến người khác phải ngước nhìn ngưỡng mộ.

Những người thông minh đều hiểu rằng: Con người một khi rơi vào vòng xoáy của dục vọng, quá truy cầu vật chất, cơ thể sẽ rất mệt mỏi, tâm hồn cũng ngày càng trở nên héo úa. 

Sống trên đời, giảm đi một chút dục vọng, học cách ‘biết đủ thường vui’, trân trọng những gì mình đang có, cuộc sống mới có thể trở nên ung dung, tự tại.

Một gia đình hạnh phúc, đó chính là sự nghiệp lớn nhất của đời người

Lâm Ngữ Đường đã từng nói: Một cuộc sống gia đình lý tưởng, chính là có một người vợ dịu dàng, ăn nói nhỏ nhẹ, và một vài đứa con đáng yêu có thể cùng anh chạy dưới bầu trời đầy mưa.

Sau này, ông đã dùng trọn tình yêu của cuộc đời, biến lý tưởng sống đó thành sự thật. Sau khi kết hôn, ngoài việc viết lách ra, hầu hết toàn bộ thời gian ông đều dành cho gia đình.

Lâm Ngữ Đường thường dùng đất sét và ngọn nến để làm đồ chơi thật đẹp cho lũ trẻ. Mỗi khi có thời gian rảnh, ông sẽ cùng các con thổi bong bóng, cùng chúng nô đùa.

Khi gia đình gặp khó khăn về tài chính, ông cùng vợ san sẻ ngọt bùi, đắng cay, chia nhau từng đồng tiền để sinh hoạt. Sau khi cuộc sống dần ổn định, họ cùng nhau hưởng thụ cuộc sống tươi đẹp.

Hai vợ chồng có lúc cũng xảy ra mâu thuẫn, nhưng mỗi lần như vậy, Lâm Ngữ Đường sẽ luôn là người chủ động làm hòa, khiến vợ cười vui.

Kỉ niệm ngày cưới, ông đã đặc biệt đúc một chiếc trâm cài có tên là: “Kim Ngọc Duyên”, trên đó có khắc bài thơ “Lão tình nhân” của Moss Whitcan Lilai và dành tặng riêng cho vợ.

Càng trưởng thành, chúng ta sẽ phát hiện ra, gia đình mới chính là sự nghiệp quan trọng nhất của đời người. Mức độ dụng tâm đối với gia đình, sẽ quyết định mức độ hạnh phúc của mỗi người chúng ta.

Tiền tài, giàu có nhiều đến mấy cũng không sánh được một mái ấm hòa thuận, hay tiếng cười của con trẻ. Danh tiếng, sự nghiệp lẫy lừng đến đâu cũng không sánh được một gia đình hạnh phúc!

Biết đủ thường vui

Có một câu nói rất hay: “Biết đủ chính là báu vật quý giá của tự nhiên, dục vọng chính là sự nghèo khổ của kiếp làm người”.

Nếu bạn cảm thấy hài lòng với những gì mình đang có, vậy thì niềm vui mà cảm giác hài lòng đó mang lại sẽ là bảo vật vô giá!

Hồ Cửu Thiều, là người Kim Khê, triều đại nhà Minh. Ông là một giáo viên chăm chỉ dạy học, mặc dù cuộc sống không mấy khá giả nhưng hàng ngày vẫn có thể lo được cơm ngon, áo ấm.

Mỗi ngày, lúc chạng vạng tối, Hồ Cửu Thiều đều ra tận cửa thắp hương cảm tạ Trời đất, cảm ơn ông Trời đã ban cho ông một ngày tươi đẹp, tốt lành.

Người vợ nhìn thấy vậy, bèn nói: “Chúng ta một ngày ăn ba bận cháo, làm sao có thể nói là có phúc đây?”

Hồ Cửu Thiều nói: “Đầu tiên, ta cảm thấy may mắn khi sinh ra trong thời Thái bình thịnh thế, không có chiến tranh họa loạn. Chúng ta cũng may mắn vì cả nhà đều có cơm ăn, áo mặc, không phải chết đói, chết khát. Điều may mắn thứ ba là trong nhà không có ai nằm bệnh trên giường, điều đó không phải may mắn, phúc phận là gì?

Cổ nhân có câu: Dục vọng ít thì tâm thanh tịnh, tâm thanh tịnh thì mọi chuyện ắt giản đơn. Có một trái tim biết đủ, bạn sẽ càng cảm thấy vui vẻ. Người biết đủ, không có nhiều ham muốn dục vọng, đó mới chính là người thực sự giàu có. 

Một tâm hồn thong dong tự tại, đó mới là niềm vui lớn nhất

Schopenhauer đã từng nói: “Nhu cầu của một người đối với vật chất bên ngoài càng thấp, thì yêu cầu của họ đối với nội tâm sẽ ngày càng cao. Một người cả đời chỉ sống trong thế giới vật chất xa hoa, sẽ phải chịu nhiều vất vả, phiền não, tâm trống rỗng, hư không”.

Khi chúng ta không truy cầu, không đặt quá nhiều kì vọng vào sự theo đuổi vật chất, thì trong tâm sẽ luôn giữ được một tâm thái bình hòa, thư thái, sẽ dễ có được sự thăng hoa trong tâm hồn.

Gia Cát Lượng trong “Giới Tử Thư” đã viết: “Giữ tĩnh lặng để tu thân, cần kiệm để dung dưỡng đức độ”, đạm bạc và bình an, là một cảnh giới rộng lượng, đạm nhiên, trưởng thành và bao dung, cũng là một cảnh giới của tâm hồn thanh cao.

“Nhún nhường” không phải là chịu thiệt, thua kém hoặc không có ý chí tiến thủ, mà là không so bì, cạnh tranh, không ham muốn quá nhiều. Làm được như vậy, ắt sẽ đạt được mọi thành công trong cuộc sống!

Lan Hòa biên dịch
Nguồn: Aboluowang – Vương Hòa

Thứ Năm, 11 tháng 8, 2022

ĐỨC PHẬT GIẢNG: TƯƠNG LAI PHẬT GIÁO SẼ XUẤT HIỆN RẤT NHIỀU “TẶC TRÚ”

 

Ảnh: Dân Việt

Lúc Phật Thích Ca Mâu Ni tại thế đã từng dự ngôn với các đệ tử về việc Phật giáo sẽ xuất hiện bại hoại trong tương lai. Nhìn lại tình huống thực tế hiện nay, chúng ta không khỏi giật mình trước những gì đang diễn ra.

Trong thời đại của Phật Thích Ca Mâu Ni, Phật giáo mà ông truyền càng ngày càng hưng thịnh, người theo học ngày càng nhiều, nhưng trong số họ không phải ai cũng thật tâm đến để tu luyện.

Lúc ấy đã xảy ra một chuyện, có một người vì gia tộc bị phá sản, không thể tự mưu sinh, cảm thấy việc lao động để nuôi sống bản thân là quá cực khổ. Người này thấy những người xuất gia hằng ngày đều có người cấp dưỡng, nên liền muốn xuất gia để không phải lo lắng vấn đề cơm ăn áo mặc.

Vì vậy, người này đã tự cạo trọc đầu, mặc tăng y, tay bưng bát, miệng nói mình là đệ tử nhà Phật đi các nơi xin ăn. Khi những tăng nhân khác gặp người này, thấy rằng một chút Phật Pháp cũng không biết, nghi ngờ người này có vấn đề nên về nói cho Ưu Ba Ly (một trong 10 đại đệ tử của Thích Ca Mâu Ni được biết đến là “trì giới đệ nhất”) biết.

Nghe xong, Ưu Ba Ly đã đích thân tìm đến gặp và hỏi thăm, không thể gạt được Ưu Ba Ly, người này đành phải thừa nhận mình là vì kiếm miếng cơm ăn nên mới làm như vậy.

Sau đó, mọi người kể lại chuyện này cho Phật Thích Ca Mâu Ni. Đức Phật liền nói với các đệ tử, đây gọi là “tặc trú”, là nhập môn nhưng không thụ giới, không phải là tu luyện đích thực, tương lai Phật giáo sẽ xuất hiện rất nhiều loại người này, họ chính là những người phá hoại Phật giáo.

“Kinh Pháp diệt tận” là bộ sách kinh điển của nhà Phật, theo tính toán của tiền nhân thì nó được dịch từ thời Lưu Tống (420 – 479). Nội dung của bộ sách là những dự đoán của Phật Đà về quá trình tiêu vong của Phật giáo, cũng chính là nói về thời mạt pháp khiến nhiều hiện tượng dị thường xuất hiện.

<Kinh Pháp diệt tận> viết: “Tự cung vu hậu bất tu đạo đức, tự miếu không hoang, vô phục tu lý, chuyển tựu hủy hoại. Đãn tham tài vật, tích tụ bất tán, bất tác phúc đức; phán mại nô tì, canh điền xung thực, phần hủy sơn lâm, thương hại chúng sinh, vô hữu từ tâm; nô vi tì khưu, tì vi tì khưu ni, vô hữu đạo đức, dâm điệt trọc loạn, nam nữ bất biệt. Lệnh đạo bạc đạm, giai do tư bối; hoặc tị huyện quan, y ỷ ngô đạo, cầu tác sa môn, bất tu giới luật, nguyệt bán nguyệt tận, tuy danh tụng giới, yếm quyện giải đãi, bất dục thính văn, sao lược tiền hậu, thiết hữu đậu giả, bất thức tự câu, vi cường ngôn thị, bất tư minh giả, cống cao cầu danh, hư hiển nha bộ, dĩ vi vinh ký, vọng nhân cung dưỡng”.

Giải thích: Phật giáo thời tận diệt, sư sãi sau khi tạo nghiệp vẫn không dùng tâm tu đạo đức, chùa chiền thành nơi của con buôn, thậm chí hoang phế mà không ai thèm tu chỉnh, cuối cùng bị hủy hoại hết.

Chúng sinh chỉ tham tiền tài vật chất, tích lũy để giàu có, không tu cho có phúc đức chân chính. Có kẻ còn quá quắt buôn bán nô tì, bắt nô tì cày ruộng trồng trọt, tích lũy để giàu có. Ngoài ra còn đốt hủy rừng, làm tổn hại sinh mạng súc vật, không còn một chút thiện tính từ bi.

Đến thời đại này, chúng sinh trở thành nô lệ cho đồng tiền hoặc danh lợi lại xuống tóc đi tu trở thành sư hoặc ni cô, không những vô đạo đức mà còn dâm dục phóng túng, hành vi hỗn loạn bẩn thỉu, tăng nhân nam nữ chung sống với nhau, không còn băn khoăn về lễ độ luật pháp. Chính đạo suy yếu đều vì đám sư sãi ma quỷ này.

Có kẻ vì trốn quan trường truy xét mới nương nhờ cửa Phật, cầu nơi dung thân, họ trở thành thầy tu nhưng không thể giữ được giới luật, tuy bề ngoài vẫn tụng niệm giới luật nhưng trong lòng chán ngán, buông thả, cơ bản là không muốn nghe Phật Pháp, hoặc lược bớt nội dung, không dám nói hết.

Thêm nữa không thể học thuộc kinh điển, cho dù thỉnh thoảng có người đọc được nhưng lại không thể hiểu chữ nghĩa và câu cú, người béo phệ mặt to phù, vì nói mình thông hiểu kinh sách mà không đi tham khảo ý kiến người minh trí, tự cao tự đại, ham danh tiếng mà làm ra những trò hư ngụy, cố ra vẻ tao nhã, tự cho mình vinh quang, hy vọng người khác đến phụng dưỡng mình.

Thực tế ngày nay, những người tìm đến nơi cửa Phật hỏi mấy ai mang tâm thành kính đứng trước tượng Phật mong muốn được tu luyện, nguyện ý trở thành người tốt, nguyện ý buông bỏ bớt đi những thói hư tật xấu? Đa số người ta khi đến nơi cửa Phật thì đều mang trong tâm là những gì? Nào là cầu được tai qua nạn khỏi, cầu được tiền tài danh vọng, cầu thuận lợi, cầu tình duyên v.v… đều là tư lợi và dục vọng của bản thân mình.

Hiện nay, trong chùa còn xuất hiện rất nhiều hiện tượng trụ trì, tăng nhân có cái nhìn, cách làm hoàn toàn sai biệt so với hàm nghĩa đích thực của Phật giáo. Ví dụ ở Trung Quốc có 3 hòa thượng đã tự xây dựng một ngôi chùa tại Ô Đang, Quý Dương, sống buông thả phóng túng. Họ hút thuốc, uống rượu, vẽ tranh, đọc sách, tham thiền, tự xưng mình là người cải cách. Ba hòa thượng này còn đang dự định đưa ra quan niệm Phật học mới, phá vỡ hình tượng tăng nhân vốn có, tương dung với thời đại. Trong đó một hòa thượng còn muốn vẽ bộ tranh tượng Phật khỏa thân.

Hoặc có hòa thượng chủ trương chính trị hóa tôn giáo, đặt yếu tố chính trị trên cả tín ngưỡng Thần Phật, vì như trong “Lớp bồi dưỡng học tập tinh thần Đại hội 19” của Hiệp hội Phật giáo tỉnh Hải Nam – Trung Quốc, hòa thường Ấn Thuận, đương nhiệm Phó hội trưởng Hiệp hội Phật giáo Trung Quốc kiêm Hội trưởng Hiệp hội Phật giáo tỉnh Hải Nam chủ trì lớp học đã đề xướng các Phật tử chép lại “báo cáo Đại hội 19”, ông nói “báo cáo Đại hội 19 là Phật kinh đương đại, tôi đã chép tay 3 lần, và còn đang chuẩn bị tiếp tục chép thêm 10 lần”. Ông Ấn Thuận còn nói, đồ đệ Phật giáo đầu tiên cần phải “yêu nước yêu đảng”, sau đó mới nói đến tín ngưỡng Phật giáo.

Thậm chí những ngôi chùa có lịch sử lâu đời cũng bị tha hóa, ví dụ như Trụ trì chùa Thiếu Lâm còn kinh doanh hóa ngôi chùa này với nhiều công ty được thành lập, trong đó có một công ty điện ảnh, truyền hình, học viện mỹ thuật, nhà xuất bản, và đoàn biểu diễn kịch. Chùa Thiếu Lâm cho thuê khuôn viên làm địa điểm tổ chức các sự kiện, trong đó có cả cuộc thi “thời trang bikini” diễn ra vào mùa hè năm 2009.

Phật giáo ở Việt Nam cũng không ngoại lệ, những ‘tặc trú’ như thế liên tục xuất hiện, mượn danh Phật để thu tiền bất chính, làm ra những việc mà ngay cả người thường cũng khó chấp nhận được. Những việc này báo chí đã đăng rất nhiều, ở đây không nêu ra ví dụ nữa.

Tuy nhiên hiện nay vẫn có những hòa thượng thật tâm tu luyện, cũng có những ngôi chùa còn thanh tịnh, nhưng con số này quá ít ỏi. Phật giáo mấy nghìn năm truyền thụ, cũng đã đến lúc suy tàn, ngẫm mà buồn thay…

Nguồn: tinhhoa.net

Thứ Tư, 10 tháng 8, 2022

VÌ SAO CÓ MỘT SỐ NGƯỜI: CÀNG LÀM VIỆC CHĂM CHỈ, CÀNG TRỞ NÊN ‘TẦM THƯỜNG’?

 


Khoảng cách lớn nhất giữa người với người không phải là mức độ nỗ lực, mà là chiều sâu của suy nghĩ. Nếu không có tư duy, suy nghĩ kỹ càng thì mọi sự siêng năng, cần cù đều vô ích. Cái gọi là “siêng năng chăm chỉ” chẳng qua là những lịch trình bận rộn lặp đi lặp lại. Chỉ có suy nghĩ và tư duy, chúng ta mới có thể lắng nghe những âm thanh sâu thẳm trong tâm hồn mình và tìm ra con đường giá trị nhất.

Hiệu ứng kiến lười

Nhóm nghiên cứu sinh học của Đại học Hokkaido, Nhật Bản đã từng làm một thí nghiệm.

Họ theo dõi ba đàn kiến ​​đen, mỗi đàn gồm 30 con kiến để quan sát sự phân công lao động của chúng. Hóa ra là hầu hết các loài kiến ​​đều rất siêng năng dọn dẹp tổ, mang thức ăn và chăm sóc kiến ​​non. Tuy nhiên, có một số ít kiến ​​không có việc gì làm, suốt ngày nhìn quanh đàn và không bao giờ hoạt động.

Các nhà sinh vật học đã đánh dấu những con kiến này và gọi chúng là “kiến lười biếng”.

Điều thú vị là khi nhóm nghiên cứu cắt đứt nguồn thức ăn của đàn kiến, những “con kiến ​​siêng năng” lập tức trở thành một mớ hỗn độn. Ngược lại, “kiến lười biếng” không hoảng loạn, chúng dẫn đàn đến một nguồn thức ăn mới.

Hóa ra, những “con kiến lười” đó thực chất không phải lười, mà chúng dành đại bộ phận thời gian để “trinh thám”. Chúng nhìn có vẻ như nhàn rỗi những thực ra trong đầu vẫn không ngừng suy nghĩ, đây chính là “hiệu ứng kiến lười” nổi tiếng mà chúng ta vẫn hay nhắc tới.

Khoảng cách lớn nhất giữa người với người không phải là mức độ nỗ lực, mà là chiều sâu của suy nghĩ

Một cư dân mạng đã kể một câu chuyện như thế này. Năm đầu tiên mới tốt nghiệp, anh và một người bạn cùng lớp vào cùng công ty xin thực tập. Để tạo ấn tượng tốt với sếp, anh ấy là người đầu tiên đến công ty mỗi ngày và là người cuối cùng ra về. Trong thời gian thực tập, hầu như ngày nào anh ấy cũng làm tăng ca đến 12 giờ. Còn cậu bạn kia, mỗi ngày “véo von” một chút, hết giờ rồi lại về.

2 tháng sau, anh được công ty đánh giá rất tích cực và anh cũng lạc quan nghĩ rằng, mình chắc chắn sẽ được công ty mời ở lại. Nhưng không như vậy, anh đã không thể trở thành nhân viên chính thức của công ty này. Ngược lại, cậu bạn cùng lớp kia thành công được nhận vào làm nhân viên chính thức.

Anh ta đã rất tức giận, sau đó đăng một bài viết lên mạng xã hội: “60 ngày làm việc chăm chỉ là một trò đùa”.

Đọc được dòng trạng thái của nhân viên này, quản lý công ty đã gửi lại cho anh hai bản báo cáo công việc. Một của anh và một của bạn cùng lớp. Nội dung hai bản báo cáo hoàn toàn khác biệt nhau.

Báo cáo của anh dày đặc hàng nghìn chữ, nhưng nội dung khá chung chung, lan man. Còn bản báo cáo kia, tuy chỉ hơn 1000 chữ, nhưng logic rõ ràng, điểm mấu chốt rõ ràng, nói đúng trọng tâm của vấn đề cần nhắc đến. Người khác chỉ cần đọc qua liền hiểu ra ngay. Điều quan trọng nhất trong báo cáo là mục phân tích chiến lược thì anh chỉ đề cập sơ qua. Còn bạn cùng lớp đã chỉ ra những ưu, nhược điểm của công ty, những cơ hội và rủi ro tiềm ẩn trên thị trường.

Hoá ra, khi anh bận rộn và chăm chỉ với những việc “vặt vãnh” thì người bạn cùng lớp này đã nghiên cứu rất kỹ lưỡng các vấn đề về chiến lược.

Khoảng cách lớn nhất giữa người với người không phải là mức độ nỗ lực, mà là chiều sâu của suy nghĩ. Nếu không có tư duy chuyên sâu thì mọi sự siêng năng đều vô ích.

“Tốc độ của tư duy”

Tại một thị trấn nhỏ ở California, có một chàng trai trẻ rất thích viết lách. Anh ấy không ngừng làm việc chăm chỉ mỗi ngày và khao khát trở thành một tiểu thuyết gia xuất sắc. Nhưng những cuốn tiểu thuyết mà anh ấy viết luôn thiếu tính chiều sâu, và không ai đánh giá cao chúng.

Anh ấy rất đau khổ nên đã đến nhà thờ và hỏi vị linh mục: “Xin cho con biết, tại sao con chăm chỉ ngày đêm viết lách mà công việc vẫn không có tiến triển gì?”

Vị linh mục không trả lời trực tiếp mà thay vào đó ông hỏi anh: “Con đã làm gì vào sáng nay?”

Anh ta có chút hơi khó hiểu: “Con viết tiểu thuyết”

Vị linh mục lại hỏi: “Thể buổi chiều thì sao?”

Anh ta trả lời: “Cũng viết tiểu thuyết”

Vị linh mục lại tiếp tục hỏi: “Vậy còn buổi chiều?”

Nghe vậy, cậu thanh niên này có chút mất kiên nhẫn: “Con mỗi ngày ngoài ăn cơm, ngủ ra, thời gian còn lại đều viết tiểu thuyết”.

“Vậy khi nào con dùng thời gian vào việc suy nghĩ?” – Vị linh mục từ tốn hỏi.

Chàng trai trẻ dường như vẫn chưa hiểu ra vấn đề của mình nên vị linh mục kiên nhẫn nói với anh:

“Cái mà con gọi là ‘siêng năng chăm chỉ’ chẳng qua là những lịch trình bận rộn lặp đi lặp lại và vô tận. Không có gì khó cả. Chỉ cần điều kiện cho phép thì ai cũng có thể làm được. Cái khó là suy nghĩ, không suy nghĩ thì cuốn tiểu thuyết của con sẽ không có linh hồn; không suy nghĩ thì sự siêng năng của con sẽ trở nên vô nghĩa”.

Đúng vậy, việc đắm mình trong công việc như một thói quen và sự cần cù, mà không coi đó như cơ hội để sáng tạo tư duy thì sao có thể đúc kết được một cuốn tiểu thuyết có giá trị?

Loại bỏ thói quen “cần cù thiếu tư duy” và phát triển khả năng suy nghĩ là bước đầu tiên trong cuộc đời mỗi người, nếu chúng ta muốn thành công và thăng tiến với những điều mình theo đuổi.

Chỉ có suy nghĩ và tư duy, chúng ta mới có thể lắng nghe những âm thanh sâu thẳm trong tâm hồn mình và tìm ra con đường giá trị nhất

Mong rằng, chúng ta có thể chừa “khoảng trống” để suy nghĩ trong những lúc bận rộn. Hãy là những “chú kiến lười” nhưng chăm chỉ trong tư duy.

Lan Hòa biên tập
Nguồn: Secretchina (Phương Sát)

LỜI CĂN DẶN CỦA THẦY

 


Đối với người tu, là luôn luôn kiểm soát tâm mình để sửa chữa, khắc phục lỗi lầm của mình, để khi nhìn bên ngoài không còn lời nói, không còn cử chỉ sai lầm, sống hoà hợp thân thiện với mọi người, được rất nhiều người khen ngợi, ngưỡng mộ… thì hãy cẩn thận trước lời khen của mọi người.

Này con! Đôi khi con cần phải học cách im lặng, nuốt cái tôi vào trong và chấp nhận rằng con sai. Đó không phải là bỏ cuộc mà nó đánh dấu sự trưởng thành trong con!

Khi mình thành công bất kỳ việc gì? Cũng đừng tự hào, vì theo nhân quả, tự hào điều gì, sau đó sẽ mất điều đó đi. Ví dụ: tự hào mình đẹp, hoặc tài giỏi, một khoảng thời gian nào đó sẽ hết đẹp, hết tài giỏi.

Khi thành công điều gì chớ khởi tâm kiêu mạn, thầm cho là tài giỏi hơn người đó chính là hành động tự đốt Phước của mình. Do vậy để giữ Phước thì chớ kiêu mạn, không coi thường người khác. Người có tâm coi thường, khinh rẻ người khác là người tự chuốc lấy thất bại trong trường đời.

Đối với người tu, là luôn luôn kiểm soát tâm mình để sửa chữa, khắc phục lỗi lầm của mình, để khi nhìn bên ngoài không còn lời nói, không còn cử chỉ sai lầm, sống hoà hợp thân thiện với mọi người, được rất nhiều người khen ngợi, ngưỡng mộ… thì hãy cẩn thận trước lời khen của mọi người. Khi được khen, cảm ơn người khen rồi quên lời khen luôn, không bám chấp vào lời khen để ngầm tự hào.

Lời khen của mọi người là tốt, nhận lời khen, cảm ơn lời khen rất chân thành, xong đừng vui sướng trước lời khen đó, mà phải buông luôn, không chấp giữ lời khen để ngấm ngầm vui sướng.

Bởi vì: Khi khởi tâm vui sướng trước lời khen của mọi người, bản ngã sẽ lớn mạnh, làm hao tổn công đức tu tập, đường tu sẽ bị chặn lại. Đối với người không tu, chưa biết phật pháp, khi được khen quá sung sướng cũng tăng cái tôi, tăng kiêu mạn, sẽ làm tổn Phước cực kỳ. Với người có trí tuệ, họ không thích khen, không thích phô trương là vì lẽ đó.

Cuộc sống kín đáo âm thầm sẽ cho con người có thêm sức mạnh để chiến thắng trong đường đạo.

Nguồn: vuonhoaphatgiao.com

Thứ Ba, 9 tháng 8, 2022

LỢI ÍCH CỦA VIỆC NGỒI THIỀN TRONG TƯ THẾ HOA SEN

 



Theo y học cổ truyền, ngồi thiền tư thế hoa sen là tốt nhất để đạt được trạng thái xuất thần trong thiền định, giúp hồi phục cơ thể.

Tư thế ngồi hoa sen (tư thế kiết già) là một phương pháp ngồi thiền được ưa thích. Mặc dù có thể gây khó khăn đối với một số người nhưng hầu hết mọi người đều có thể thực hiện được với sự kiên trì. Ngoài việc tăng cường xuất thần khi thiền định, theo các nguyên tắc được dạy trong y học cổ truyền Trung Quốc, tư thế ngồi hoa sen với cả hai chân bắt chéo vào nhau có thể mang lại những lợi ích sức khỏe đáng kinh ngạc, Y học cổ truyền Trung Quốc cho rằng bệnh tật xảy ra khi các kinh mạch của một người bị tắc nghẽn, ngăn cản sự lưu thông của khí và máu.

Khí (氣) và kinh mạch (經絡) là những thuật ngữ được sử dụng trong y học cổ truyền Trung Quốc để truyền đạt những khái niệm không có trong y học phương Tây. Ngay cả thuật ngữ máu (血) cũng được hiểu theo cách khác, với những nội hàm sâu sắc hơn những gì thu thập được từ các phương pháp thực nghiệm hiện đại.

Khai thông kinh mạch và cải thiện bản thể

Trong y học cổ truyền Trung Quốc, “máu” mang nhiều tinh chất (精) bao gồm các thành phần cực nhỏ, cung cấp các chất dinh dưỡng quan trọng cho cơ thể. Máu có nhiều tinh chất hơn mang lại làn da và nước da đẹp hơn, trong khi sự thiếu hụt tinh chất trong máu sẽ dẫn đến vẻ ngoài yếu ớt và xám xịt.

Ngoài việc tăng cường sức mạnh cho hông và cột sống, tư thế ngồi hoa sen còn mở ra các kinh mạch và mạch máu ở chân. Khi ngồi xếp bằng trong tư thế kiết già, mắt cá chân ép động mạch chủ lên đùi trong, tim sẽ bơm mạnh hơn để máu chảy qua động mạch.

Trước khi đi qua động mạch, máu sẽ tập trung ở phần trên cơ thể do động mạch ở chân bị khóa lại. Khi tim bơm máu mạnh hơn, các cơ quan nội tạng nhận được nguồn cung cấp máu đáng kể, dẫn đến cải thiện chức năng của các cơ quan nội tạng và tăng lưu lượng máu đến não.

Khí là năng lượng quan trọng trong cơ thể con người, được ví như cách mặt trời cung cấp năng lượng ban đầu để cấp nhiên liệu cho các chức năng cơ bản trên trái đất. Khí giúp con người tăng trưởng và phát triển. Thiếu khí dẫn đến thiếu năng lượng.

Máu mang khí. Thiếu máu, hoặc thiếu tinh chất dinh dưỡng sẽ dẫn đến thiếu khí, và ngược lại.

Các đường kinh lạc liên quan đến các kênh năng lượng mà mắt người không nhìn thấy được, nhưng chúng di chuyển khí và máu khắp cơ thể. Y học cổ truyền Trung Quốc mô tả 14 kinh tuyến chính, một hệ thống toàn diện với hai kinh mạch chính (任 ren, và 督 du), cộng thêm 12 kinh mạch khác, bao gồm ba kinh tuyến âm ở phía trước cơ thể và ba kinh tuyến dương ở phía sau, cũng như ở bên trái bên phải và từ tay sang chân.

Nói một cách đơn giản, các kinh mạch là một mạng lưới mà toàn bộ cơ thể dựa vào để được khỏe mạnh. Nếu các kinh lạc bị tắc nghẽn, một người sẽ mắc nhiều bệnh khác nhau. Đôi khi, một người có thể cảm thấy không khỏe mà không có triệu chứng rõ ràng. Trong tình huống này, bác sĩ y học cổ truyền Trung Quốc có thể đưa ra phương pháp điều trị thích hợp sau khi xác định rõ nguyên nhân gây tắc nghẽn kinh mạch của bệnh nhân.

Khi ngồi trên ghế, một số người thích bắt chéo một chân của họ trên đỉnh đầu chân còn lại. Y học cổ truyền Trung Quốc không cho rằng điều đó có lợi. Thay vì bắt chéo chân theo cách thông thường, tốt hơn bạn nên tập ngồi kiết già.

Tập luyện ngồi tư thế hoa sen đầy đủ

Mặc dù thường xuyên gặp khó khăn khi mới bắt đầu, nhưng hầu như tất cả mọi người đều có thể thành thạo tư thế kiết già, ngay cả người lớn tuổi.

Để chuẩn bị cho việc ngồi kiết già, bạn có thể bắt đầu bằng cách thực hiện một số bài tập kéo giãn để thả lỏng các cơ ở háng, sau đó nhấc chân này lên chân kia. Các thực hành tâm linh khác nhau tuân theo các quy tắc khác nhau cho chân nào đi lên trước. Thuyết âm dương cho rằng trái là dương và phải là âm. Vì dương tượng trưng cho nguyên tắc nam tính và âm cho nữ tính, nam giới nên đưa chân trái lên trước; ngược lại đối với phụ nữ.

Bạn có thể không thực hiện được trong lần thử đầu tiên và có thể sẽ khá đau đớn ngay cả khi bạn có thể làm được. Nếu bạn kiên trì, bạn có thể đưa chân vào vị trí, cố gắng chịu đau nhiều nhất có thể trước khi hạ chân. Khi thời gian trôi qua, bạn sẽ dần có thể ngồi trong một khoảng thời gian dài hơn.

Ngồi trong tư thế hoa sen giúp mang lại sức khỏe thể chất và tinh thần minh mẫn. Tư thế ngồi hoa sen bắt nguồn từ tên gọi của nhiều hình ảnh các vị Phật ngồi trên đĩa hoa sen.

Sau khi bắt đầu thực hành tư thế kiết già, một số người có thể bị đau chân và đau lưng gia tăng, đôi khi cảm giác khó chịu vẫn tiếp tục ngay cả khi người ta không ngồi đúng vị trí. Đây là hệ quả tự nhiên của việc khai thông kinh mạch, không nên nhầm với chấn thương. Khi bạn kiên trì luyện tập (dù chỉ 20 phút mỗi ngày cũng có lợi), cơn đau sẽ dần thuyên giảm. Bạn có thể cảm thấy một luồng khí mạnh mẽ, làm thẳng cột sống và cải thiện tư thế của bạn.

Thực hành ngồi trong tư thế kiết già cũng có thể tăng cường chuyển động của đường tiêu hóa và hỗ trợ tiêu hóa. Ngồi thiền hàng ngày trong tư thế kiết già cho phép bạn tăng cường sức mạnh ở eo và chân, cải thiện tuần hoàn ở chân và giảm đau thần kinh tọa do lối sống ít vận động. Khi bạn đang căng thẳng trong công việc và không thể suy nghĩ rõ ràng, hãy ngồi xếp bằng trong thiền định. Lưu lượng máu đến não tăng lên sẽ giúp bạn cảm thấy tràn đầy sinh lực và đầu óc tỉnh táo.

Tư thế này cũng có thể cải thiện chu kỳ kinh nguyệt của phụ nữ bằng cách giảm đau bụng kinh và điều hòa lưu lượng kinh nguyệt. Khi kinh nguyệt được điều hòa thì tình trạng rối loạn nội tiết cũng sẽ được giải quyết. Tư thế ngồi kiết già hoàn toàn có lợi cho cơ thể của phụ nữ theo nhiều cách. Những bà mẹ bận rộn với con nhỏ và công việc gia đình có thể giảm đau lưng phổ biến và ngăn ngừa rối loạn cột sống bằng cách ngồi ở tư thế bắt chéo chân.

Đối với nam giới, ngồi kiết già hàng ngày trước khi đi ngủ giúp tăng cường cơ xương, đả thông kinh mạch, cải thiện chức năng các cơ quan nội tạng, kích thích tuần hoàn hệ sinh lý, bảo vệ sức khỏe thận và tuyến tiền liệt. Mặc dù thoạt nghe có vẻ là một việc vặt, nhưng lợi ích lâu dài của tư thế kiết già vượt xa sự khó chịu tạm thời.

Thanh Tú
Dịch theo Vision Times

Thứ Hai, 8 tháng 8, 2022

GIỮA SỐNG VÀ CHẾT

 


Ngày xửa ngày xưa, ở Ấn Độ cổ có một người đàn ông vì chán ghét cõi đời hiểm ác nên đã tìm đến cửa Phật, quy y Phật giáo.

Tuy rằng thân đã xuất gia, nhập không môn, nhưng trong tâm ông vẫn quyến luyến ngoại giới, bị ái dục ràng buộc, thường dùng dầu thơm sát lên thân thể, dùng nước nóng để tắm. Ông thích có làn da thơm tho, lựa chọn đồ ăn, tâm bị chôn vùi bởi vật chất, như bị dây mơ trói thân thể vậy, không lúc nào tự tại. Mặc dù trên hình thức đã xuất gia, thụ giới, nhưng về hành vi và cảnh giới thì vẫn là phàm phu tục tử, cách thánh đạo Niết Bàn còn xa lắm.

Khi ấy tại nước Ma La có một tôn giả tên là Upagupta, là một nhà sư đạo hạnh có tiếng. Vị tỳ kheo mới xuất gia này rất hâm mộ danh tiếng của Upagupta nên đã tới diện kiến.

Tôn giả hỏi ông: “Ông không quản đường xá xa xôi tới đây làm chi?”

“Tôi mộ danh ngài mà tới. Mong được nghe tôn giả từ bi khải thị yếu chỉ Phật Pháp”.

Tôn giả Upagupta quan sát căn cơ của ông, biết ông còn bị ái dục trói buộc, không thể giải thoát, bèn hỏi ông: “Ông có thể hoàn toàn nghe theo lời giảng của tôi, chấp nhận giáo huấn của tôi, chiếu theo ý chỉ của tôi mà làm hay không?”

“Tôi nhất định có thể, hết thảy đều chiểu theo lời dặn dò mà làm”.

“Nếu ông có thể sinh tín tâm, tôi trước tiên dạy ông thần thông, sau đó thuyết Pháp cho ông”, tôn giả nói.

“Học thần thông trước, tuyệt quá!”

Vậy là tôn sư dẫn ông lên núi, dạy ông học tập thiền định, lại dặn dò ông phải tuyệt đối phục tùng. Tôn giả vận dụng lực thần thông, hóa ra một cây đại thụ, nói: “Ông cần phải trèo lên cái cây này”. Vị tỳ kheo kia liền nghe lời tôn giả trèo lên cây đại thụ, nhưng nhìn xuống dưới thấy một cái hố lớn, sâu không lường được, lúc này tôn giả bèn nói: “Giờ thả hai chân của ông ra”. Vị tỳ kheo chỉ còn cách nghe lời buông hai chân ra, lúc này tôn giả lại lệnh ông bỏ hai tay ra. Vị tỳ kheo chỉ dám bỏ một tay ra, nhưng tôn giả bảo phải bỏ nốt tay kia ra, tỳ kheo cực kỳ sợ hãi, nói: “Nếu lại bỏ tay ra, sẽ rơi xuống hố mà chết”.

“Ông đã có lời ước hẹn với tôi, hết thảy tuân theo dạy bảo của tôi, giờ lại hối hận rồi sao?” Vị tỳ kheo không còn cách nào, đành buông tâm không nghĩ gì nữa, bỏ nốt tay kia ra, liền rơi vào cái hố sâu, vừa sâu hoắm vừa đen ngòm. Lúc này ông hồn xiêu phách lạc, toàn thân lạnh ngắt, mở mắt ra nhìn thì thấy cái cây và chiếc hố đã biến đâu mất. Sau đó, tôn giả bắt đầu thuyết Pháp cho ông.

“Giờ tôi hỏi ông, khi ông buông nốt tay ra để rơi xuống, ông còn thấy thế gian có gì đáng để thích nữa không?”

“Tôn giả, đã tới bước ngoặt sinh tử, hết thảy đều không còn gì đáng thích nữa”.

“Là như thế. Hết thảy mọi thứ thế gian, đều là hư ảo hết. Khi sắc thân ảo diệt, ái dục cũng theo đó mà ảo diệt. Nếu ông có thể nhìn thấu sắc thân vô thường, thoát khỏi ái chấp trói buộc, thì sẽ giải thoát khỏi nó. Ưa thích là căn nguyên của phiền não sinh tử, hãy cẩn thận với nó, tinh tấn tu hành, chớ mất bản tâm, sẽ thành chính Đạo”.

Vị tỳ kheo lúc này đột nhiên tỉnh ngộ, từ đó tĩnh tâm suy ngẫm, chuyên cần tinh tấn, chứng đắc quả vị La Hán.

Thế gian con người thật thật giả giả, hư hư thực thực, do con mắt thịt chúng ta nhìn không chính xác, mới lấy ảo làm thật, tham hưởng khoái lạc nhất thời, chỉ vì sai biệt một niệm, kết quả rớt vào vực thẳm không đáy.

Nguồn: www.niemphat.vn

Chủ Nhật, 7 tháng 8, 2022

TÁM NGUYÊN NHÂN DẪN TỚI ÁC NGHIỆP PHẢI CHỊU QUẢ BÁO LỚN NHẤT

 


Bất hiếu với cha mẹ là tội nghiệp lớn nhất trên đời. Vì đâu mà phạm phải loại ác nghiệp bị quả báo đời đời này.

Bốn nguyên nhân tạo thành tiểu bất hiếu

1. Kiêu ngạo

Cha mẹ quá thương con cái, luôn chiều theo ý muốn của con, cung cấp đầy đủ tiện nghi để con hưởng an nhàn sung sướng nên đứa trẻ không có thói quen quan tâm tới cảm nhận của người khác và không suy nghĩ phải có trách nhiệm cùng tình thương với cha mẹ. Đây là nguyên nhân gây ra bất hiếu.

2. Vô tâm

Đứa trẻ được dung dưỡng thói quen vô tâm vô tính, lời nói không chuẩn mực nên dám mạo phạm cha mẹ, hành vi đại khái nên không tuân thủ lễ tiết, cha mẹ quá nhường nhin đứa trẻ không biết ơn ân đức nuôi dưỡng, cha mẹ quá chịu đựng đứa trẻ không hỏi han biết tới cảm nhận của đấng sinh thành.

3. Lêu lổng

Bản thân thiếu tu dưỡng, thích đàn đúm chơi bời, phục vụ những thú vui của bản thân, không thích cùng người thân gặp mặt, không thích vì người thân mà chăm lo.
Tư tưởng và hành vi thiếu chuẩn mực nên không nghĩ tới hiếu thảo với cha mẹ.

4. Vong ơn

Phật dạy làm người là nhận một bữa cơm ân đức một đời, nhận một lần giúp ghi nhớ một kiếp, sống phải có trước có sau.

Nếu con người sinh thói vô ơn, đối với thứ được nhận cho là đương nhiên, thường xuyên nhận sự chiêu đãi của người khác mà không màng tới đáp đền thì tất sinh ra oán nghiệp.

Cha mẹ đối với con cái thường yêu thương vô điều kiện, đáp ứng đầy đủ tạo cho đứa trẻ thói quen nhận mà không cho, chỉ có đi mà không có lại.

Chính từ đó sinh ra vong ân với cha mẹ, gây nghiệp bất hiếu. Phận làm con lấy chữ hiếu làm đầu, vậy thế nào là hiếu thảo?

Theo Phật giáo, làm đủ 4 bổn phận của con cái là hiếu với mẹ cha.

Tiểu bất hiếu lâu ngày tích thành đại bất hiếu, có 4 nguyên nhân

1. Giàu có

Giàu có mà ích kỉ, có tiền riêng mà quên ơn cha mẹ, cho rằng đó là tiền cho tự mình làm nên mà quên rằng ai đã sinh thành và nuôi nấng mình từ tấm bé.

Hoặc vì tham tiền tài của cha mẹ mà gây sự bất thường, muốn chiếm lấy làm của riêng mình. Cha già mẹ héo nhờ con nuôi dưỡng lại cảm thấy khó chịu, sinh ra oán giận và không muốn, chính là đại bất hiếu.

2. Tôn thờ vợ

Người con trai vì quá yêu vợ và bất hiếu với cha mẹ, chỉ nghĩ đến gia đình nhỏ mà quên đi gia đình lớn.

Vợ chồng hòa hảo tất nhiên là chuyện tốt, nhưng vì đâu mà có ta hôm nay, vì đâu mà ta có thể lớn lên kết hôn rồi sinh con? Không phải đều nhờ công ơn cha mẹ hay sao.

3. Phóng đãng

Tiêu phá tiền tài của cha mẹ vào những chuyện bất minh, khiến cha mẹ đau lòng và không chăm sóc cha mẹ lúc tuổi già là việc bất hiếu lớn.

Song thân tuổi cao vẫn phải chịu khổ đau trong lòng vì người con đạo đức xấu, tu dưỡng kém. Thậm chí còn phải theo gót lo lắng, giải quyết hậu quả việc xấu của con.

4. Tranh đoạt

 Anh em mâu thuẫn, vì lợi quên tình, tranh tiền tài hay tranh sự yêu mến của cha mẹ khiến gia đình bất hòa, không khí ảm đạm.

Cùng cha cùng mẹ mà không yêu thương nhau lại gièm pha, hãm hại nhau, gia vận suy vi, cha mẹ héo mòn.

Bất hiếu là ác nghiệp phải nhận quả báo lớn nhất, đã là người thì lấy chữ hiếu làm đầu.

Nguyên nhân của sự bất hiếu một phần cũng từ chính cha mẹ dung túng nên những đấng sinh thành cần nghiêm chỉnh dạy dỗ, lấy đạo đức và chuẩn mực làm thước đo.

Không chỉ để đứa trẻ có hiếu với mình mà còn là gây dựng một con người, một công dân tốt cho xã hội mai sau.

Minh An (Tổng Hợp)

Thứ Bảy, 6 tháng 8, 2022

BUÔNG 4 ĐIỀU SAU ĐÂY XUỐNG, NHỮNG MỆT MỎI TRONG ĐỜI SẼ RỜI XA BẠN

 


Cuộc đời giống như một dòng sông, như từng đợt sóng xô, sóng sau xô sóng trước không ngừng nghỉ. Con người luôn phải đối diện với những khó khăn. Nếu quá coi trọng danh lợi được mất thì cuộc sống sẽ có quá nhiều nối tiếc, đau khổ. Chuyện đời có 8, 9 phần không được như ý chi bằng hãy đối diện với khổ nạn một cách lạc quan. Buông xuống những tiêu cực và cố chấp trong tâm. Nếu làm được vậy thì những mệt mỏi trong đời sẽ rời xa, hạnh phúc sẽ dễ dàng tìm tới.

Buông tâm oán hận

Bầu trời có lúc xanh, cũng có lúc u ám. Cuộc đời có thuận cảnh thì cũng có nghịch cảnh. Gặp mâu thuẫn mà trong tâm phiền não thì áp lực sẽ tăng gấp đôi. Gặp mâu thuẫn mà trong tâm vẫn an định thì tự nhiên áp lực sẽ giảm xuống một nửa. “Cảnh tùy tâm sinh” người oán hận thì thế giới xung quanh cũng tiêu điều buồn theo.

Ở trong nghịch cảnh mà oán hận thì cuộc sống sẽ tối tăm hơn, và khiến người ta rơi vào vũng lầy. Oán hận và phiền não có thể ví như bóng ma đang gặm nhấm tâm tinh và cuộc sống, khiến người ta ngày càng bi quan hơn.

Lòng dạ lớn một phân, oán hận bớt một phần. Làm người thì tốt nhất có thể bao dung người khác, tha thứ được những lỗi lầm người khác. Những thương tổn đến từ bên ngoài giống như những tảng đá ngầm bên bờ biển. Bất quá chỉ làm cho những con sóng thêm trắng xóa sinh đẹp mà thôi. Hãy nhớ biển rộng không than thở mà dung nạp hết thảy.

Muốn không oán hận thì tốt nhất là học cách “quên đi”. Bởi vì khi không thể quên con người ta rơi vào buồn bực, chán nản và oán hận. Nếu nói rằng “ có thể tha thứ nhưng không thể quên” thì đó chưa hẳn gọi là tha thứ. Người ấy kỳ thực vẫn không thể chân chính buông tâm oán hận, vẫn mang mệt mới trong lòng.

Một tác gia người Mỹ nói rằng: “Tha thứ là chìa khóa mở tung cánh cửa của oán trách chiếc còng tay của hận thù. Nó là thứ sức mạnh có thể phá vỡ xiềng xích của cay đắng và gông cùm của lòng ích kỷ”.

Buông bỏ tâm lười biếng

Trong thời đại ngày nay, người giàu có thỏa sức mua sắm, coi an nhàn là chuyện hưởng thụ đương nhiên. Còn người nghèo khổ thì cũng ngưỡng vọng tiền quyền, trong tâm khó tránh khỏi bi phẫn. Ai ai cũng truy cầu an nhàn thoải mái, nhường như không ai là không thích an nhàn vui vẻ. tuy nhiên an nhàn rất gần với lười biếng.

Nhàn hạ phải chăng là phúc phận? Nhàn hạ đích thực là phúc phận, nhưng chỉ cần ở trong nhàn hạ mà sinh tâm lười biếng thôi thì chưa hẳn đã là điều phúc, không chừng lại là họa. Bởi vì quá nhàn hạ là cách nhanh nhất để hủy hoại một con người. Những kẻ phàm phu trong thiên hạ xưa nay đều vì một chữ lười mà bại vong. Đa phần con người sống một đời không có gì nổi trội chỉ vì là lười nhác.

Có câu: “Lười biếng là thứ rất kỳ lạ, nó khiến bạn cho rằng đó là an nhàn, là nghỉ ngơi, là phúc phận. Nhưng trên thực tế, nó chỉ làm bạn cảm thấy nhạt nhẽo, uể oải và tiêu trầm mà thôi”

Người đã sinh ra tâm lười biếng thì sẽ muốn trì hoãn công việc xung quanh. Công việc trì hoãn thì thường rất khó có kết quả tốt đẹp. Người lười biếng rồi sẽ có tâm ỷ nại và muốn an phận ở trạng thái hiện tại, không có ý chí tiến thủ làm, việc qua quýt, được chăng hay chớ, làm cho xong chuyện. Dần dần người lười biếng còn tùy tiện cam chịu, bỏ bê công việc, không kể gì đến kết quả. Cuối cùng họ sẽ ở trong trường kỳ thất bại và bị mài mòn mất lòng tự trọng và tự tin. Ý chí của họ cuối cùng chỉ như lá khô trước gió mạnh, hễ gió thổi là rụng khỏi cành.

Tâm lười biếng xuất phát từ sự tự mãn, truy cầu an nhàn, thiếu khiêm nhường và nhẫn nại. Người muốn đạt được thành tựu, muốn làm được việc lớn thì nhất thiết phải tránh xa sự lười biếng và rèn luyện một tâm nhẫn nại. Cổ ngữ có câu: “Thiên Đạo thù cần” Ý nói đạo trời thưởng cho người cần cù, chăm chỉ.

Buông bỏ tâm tật đố

Tâm tật đó ghen ghét thực sự là hại người hại mình. Người có tâm này khi sống cùng người khác, khi thấy người khác hơn mình thì thấy canh cánh trong lòng, tâm lý mất đi sự cân bằng. Một số người đố kỵ tới mức luôn tìm cách để gây trở ngại, làm tổn hại cho người khác. Thậm chí có người bởi vì thế mà sinh ra ác niệm, ác sự, mưu toan hại người khác. Khi tật đố không chịu được thì người đó sẽ gây hậu quả vô cùng nghiêm trọng, hại người đồng thời cũng định sẵn kết cục bi thảm cho mình.

Kỳ thực mỗi người đều có con đường của riêng mình, không cần phải ghen ghét đố kỵ, cũng không cần phải “ ao ước thèm muốn” được như họ. Thế giới thì bao la mà con người quá đỗi nhỏ bé. Tại sao phải tự nhốt mình vào trong cái lồng nhơ bẩn và thuốc độc chứ? Cố gắng làm tốt bổn phận của mình thì những gì nên có sẽ được có.

Có câu: “ Mệnh lý hữu chung tu hữu, mệnh lý vô mạc cưỡng cầu” tức là trong mệnh có thì cuối cùng sẽ có, trong mệnh không có thì chớ cưỡng cầu. Khi thấy người khác được gì một điều gì đó mà bản thân không có thì chớ tức giận. Một người cần tu dưỡng đạo đức hành thiện, tích đức tất sẽ có thiện báo. Vì được mất của bản thân mà sinh tâm bất bình, làm việc ác, như vậy có đáng không?

Cổ nhân khuyên bảo con người khi đối nhân xử thế phải có tấm lòng khoan dung “ Vui với niềm vui của người khác, buồn với nỗi buồn của người khác” xem được mất của người như được mất của mình. Đó mới là điều con người nên làm.

Buông bỏ những giày vò trong quá khứ

Quá khứ là chuyện đã qua rồi, không thể thay đổi, chỉ có thể tiếp nhận. Con thuyền của sinh mệnh cũng chẳng thể chở quá nhiều chấp trước, chẳng thể chống đỡ quá nhiều ràng buộc. Những thống khổ nơi quá khứ cộng thêm ưu phiền hiện tại. Đối với bất kỳ ai mà nói cùng là giày vò tâm hồn.

Hãy trân quý khi còn, khi mất đi hãy học cách cảm ơn. Những gì qua đi hãy học cách buông tay, những gì bỏ lỡ hãy học cách giải thoát. Buông bỏ những gì từng xảy ra, cáo biệt với quá khứ, không để ký ức thành sợi dây buộc chân. Đó mới là giải thoát chân chính.

Bên cạnh những buồn đau, con người cũng thường có nhiều dục vọng tham niệm. Những tâm mê đắm của cải tiền tài, ham mê sắc dục, truy cầu danh vong. Điều ấy đều trở thành cái rễ cắm rất sâu vào tâm linh người ta.

Con người ta nếu biết nghiêm cẩn tu dưỡng bản thân, dũng cảm đối diện với những ảo ảnh và sự vô thường của cuộc sống, thì sẽ buông bỏ được rất nhiều ác tâm, ác niệm. Tâm cũng sẽ trở nên thuần tịnh và trong sáng.

Đường Vân

Nguồn; vandieuhay.net