Thứ Năm, 22 tháng 5, 2025

BÁC SĨ 24/7: KHI NÀO CẦN TẦM SOÁT UNG THƯ TUYẾN TIỀN LIỆT?

 'Tôi năm nay 45 tuổi, sức khỏe bình thường nhưng trong gia đình từng có người bị ung thư tuyến tiền liệt di căn xương. Tôi đang phân vân không biết có nên đi tầm soát ung thư tuyến tiền liệt hay không?'.(H.V.T, ở tỉnh Bình Dương).

Bác sĩ chuyên khoa 1 Phạm Cao Tháp (Khoa Tiết niệu, Trung tâm Tiết niệu - Thận học - Nam khoa, Bệnh viện đa khoa Tâm Anh TP.HCM), trả lời: Ung thư tuyến tiền liệt là bệnh thường gặp ở nam giới lớn tuổi. Tuy nhiên trong 30 năm qua, bệnh có xu hướng ngày càng trẻ hóa. Bệnh thường diễn tiến âm thầm, dễ nhầm lẫn với các triệu chứng rối loạn tiểu thông thường. Do đó, nhiều trường hợp chỉ phát hiện khi bệnh đã ở giai đoạn muộn, khối u đã xâm lấn và đã di căn xa. Trong đó, di căn xương thường là nơi khối u xâm lấn nhiều nhất, gồm xương cột sống, xương chậu, xương sườn, xương đùi.

Tại Mỹ, ước tính có gần 300.000 ca ung thư tuyến tiền liệt mới và hơn 35.000 ca tử vong trong năm 2024. Tần suất ca mắc mới gia tăng với mỗi thập niên, với tỷ lệ mắc tăng theo tuổi, các yếu tố nguy cơ di truyền và tiền sử gia đình mắc bệnh. Trong khi đó, tại Việt Nam, ung thư tuyến tiền liệt cũng là một trong những ung thư phổ biến nhất ở nam giới.

Bác sĩ 24/7: Khi nào cần tầm soát ung thư tuyến tiền liệt? - Ảnh 1.

Ung thư tuyến tiền liệt cũng là một trong những ung thư phổ biến nhất ở nam giới

ẢNH: T.A

Dựa trên dữ liệu từ năm 2014 đến năm 2020, tỷ lệ sống sót tương đối sau 5 năm đối với bệnh nhân ung thư tuyến tiền liệt là 97,5%. Tuy nhiên, tỷ lệ tử vong cao hơn ở những người lớn tuổi và những người có di căn xa. Đối với nam giới được chẩn đoán mắc ung thư tuyến tiền liệt khu trú hoặc khu vực, tỷ lệ sống sót tương đối sau 5 năm là khoảng 100%, nhưng tỷ lệ này giảm xuống còn 36,6% đối với những bệnh nhân được chẩn đoán mắc bệnh đã di căn xa.

Hiện nay, nhờ phát hiện sớm thông qua xét nghiệm PSA (kháng nguyên đặc hiệu tuyến tiền liệt) và cải thiện phương pháp điều trị, tỷ lệ tử vong do ung thư tuyến tiền liệt đã giảm.

Ung thư tuyến tiền liệt khó nhận biết sớm qua triệu chứng

Ung thư tuyến tiền liệt thường tiến triển chậm và hiếm khi gây ra triệu chứng cho đến khi tiến triển. Trong trường hợp bệnh tiến triển, có thể có đi tiểu ra máu và các triệu chứng tắc nghẽn đường tiểu (tiểu ngắt quãng, tiểu khó, tiểu nhiều lần…) hoặc gây ra các cơn đau quặn thận, đau hạ sườn, rối loạn chức năng thận, người mệt mỏi, sụt cân, suy kiệt. Các cơn đau xương, gãy xương bệnh lý hoặc chèn ép tủy có thể là kết quả của di căn tế bào tạo xương đến xương (thông thường là xương chậu, xương sườn, xương sống).

Trường hợp của bạn, trong gia đình đã có người mắc ung thư tuyến tiền liệt, đã di căn đến xương. Như vậy bạn và nam giới trong gia đình cần phải đến chuyên khoa Tiết niệu tại các bệnh viện để được thăm khám, tầm soát sớm ung thư tuyến tiền liệt. Thông thường khi khám tầm soát, bác sĩ sẽ khai thác tiền sử của người bệnh và gia đình, khám tuyến tiền liệt qua trực tràng, siêu âm tuyến tiền liệt và chỉ số PSA (kháng nguyên đặc hiệu tuyến tiền liệt). Nếu nghi ngờ mắc bệnh, bác sĩ sẽ chỉ định các phương pháp chẩn đoán chuyên sâu như chụp cộng hưởng từ (CT) hoặc cắt lớp vi tính (MRI) để xác định vị trí và tình trạng di căn chính xác của ung thư trong cơ thể.

Việc tầm soát sớm ung thư tuyến tiền liệt ở nam giới là rất cần thiết, giúp phát hiện và điều trị bệnh kịp thời cho người bệnh. Theo Viện Ung thư Quốc gia Mỹ (NCI), tỷ lệ sống sau 5 năm của người bệnh ung thư tuyến liệt giai đoạn sớm gần như 100%. Tỷ lệ sống sau 5 năm được xem như người bệnh đã điều trị thành công. Trên thực tế, người bệnh có thể sống lâu hơn rất nhiều, thậm chí không hề tái phát ung thư trong suốt quãng đời còn lại.

Vì vậy, nam giới từ 50 tuổi trở lên và sau 45 tuổi với trường hợp gia đình có tiền sử người mắc bệnh ung thư tuyến tiền liệt như gia đình của bạn cần tầm soát tuyến ung thư tuyến tiền liệt định kỳ mỗi 12 tháng để kịp thời phát hiện những bất thường của tuyến tiền liệt, nhờ đó có thể can thiệp điều trị sớm nếu phát hiện bệnh.

Nguồn: https://thanhnien.vn/

Thứ Ba, 20 tháng 5, 2025

3 HAM MUỐN CÀNG NUÔI LỚN, CÀNG DỄ RƯỚC HỌA VÀO THÂN – BẠN ĐÃ VƯỚNG PHẢI CHƯA?

 


Lão Tử từng dạy: “Dĩ hòa vi quý” – sống hòa thuận, biết nhường nhịn và chia sẻ không chỉ giúp giữ gìn các mối quan hệ mà còn là chìa khóa dẫn đến hạnh phúc và an yên trong cuộc sống.

Thứ Hai, 12 tháng 5, 2025

HOÀ KHÚC TRI GIAO (Giới Thiệu Sách)


https://quangduc.com/a78171/gioi-thieu-va-cam-nhan-tap-tho-hoa-khuc-tri-giao-cua-cu-si-minh-dao
 


GIỚI THIỆU VÀ CẢM NHẬN TẬP THƠ HÒA KHÚC TRI GIAO CỦA CƯ SĨ MINH ĐẠO

Sự chứng ngộ Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác (Sanskrit: Anuttara-samyak-sambodhi) là một thuật ngữ cao quí, giác ngộ hoàn toàn không sai lầm vượt qua mọi giới hạn loại bỏ hoàn toàn vô minh, thấu rõ trọn vẹn bản chất của vũ trụ và Phật đã nói ra giáo pháp, chỉ rõ con đường, phương pháp để hành giả chứng ngộ, an lạc, giải thoát.
Giáo pháp đã được truyền thừa qua kinh điển mà thiền đường, tu viện…nơi các nhà sư giảng giải khơi thông những khúc mắc, hoài nghi, hướng cho phật tử đến tu tập ngày càng thấu rõ hơn. Ghi ơn sự truyền dạy ấy trong tập nầy tác giả phần lớn những bài thơ tán thán công đức chư vị giảng sư, trụ trì, hành giả … và hoạ lại những bài thơ của chư vị Tỳ Kheo, thi hữu.

Tri âm mấy độ thoả mong chờ
Gộp mảng duyên trần nối đạo thơ
 
Đây là 2 câu thơ trong bài thơ đầu tiên trong tập thơ nầy cũng như dòng thư pháp trang bìa. Gặp nhau trong thơ văn hướng về sự tu tập, đạo hạnh, bài kệ, câu kinh …và nói lên những suy nghĩ, những lý, sự trong đạo pháp, không câu nệ, không cố chấp hòa cùng vần thơ trong sáng, an vui.
 
Trong lời ngỏ của tập thơ tác giả cũng có ý đề cập đến chữ duyên. Gặp nhau trong đời cũng là duyên, tạo dựng bao thời nay gặp lại với 2 từ thuận, nghịch. Gặp nhau trong sự tương quan mật thiết, đồng cảm đó là thuận và trái lại là nghịch. Đạo và Thơ cũng thế:
 
DUYÊN THƠ
Gieo từng khúc chữ thấm càng hay
Sống đạo duyên trao rõ giải bày
Ý khởi thông tinh đâu chướng ngại
Tâm bình mật thiết chẳng điều cay
 
Đạo, đời thường có sự gắn kết, nương vào nhau bình đẳng không phân biệt vì trong đạo có đời, trong đời có đạo, đó là pháp luôn hiện hữu bổn tánh như như bất động trong vạn vật cùng trợ duyên cho nhau. Từ căn bổn ấy để hành giả tỉnh thức vượt qua những chướng ngại, hãy thôi mộng, tâm đừng rong chơi (Tâm động), như trong bài CHẲNG THƯỜNG:
 
Huyền linh trải rộng chẳng vô tri
Vạn cảnh xoay vần rõ tế vi
Cứ gởi tâm rong… còn lỡ nữa!
Thêm hoài mộng tưởng… để không gì
 
Nhìn một bông hoa, một chiếc lá, một mảnh trăng vàng với tâm thanh thản, an nhiên hòa cùng vạn vật, không phân biệt, không suy luận, để cho nó tự nhiên đến và đi. Đó là thiền, là đạo. Chuyện thế gian cũng thế, duyên đến duyên đi, nó vốn là như thế đừng cưỡng lại, đừng bấu víu,
như bài NGẮM TRĂNG dấu nhẹm đi nhân tình thế, cuộc thế vần xoay để tâm bình thản, đó là cảnh tiên giữa trần:
 
NGẮM TRĂNG
Dương trần dấu nhẹm nghe bình thản
Cuộc thế xua cùng rõ tỉnh yên
Gỡ hết còn chi mà hỏi đạo…
Canh chầy nguyệt khuyết ngẫm đời tiên.
 
Trong bài họa Trang Nghiêm Cõi Tịnh, cảnh vườn đó không gian đó mà ngắm hoài chẳng vơi. Sự tỉnh lặng yên bình không mảy xao động tâm, thì hiện ra nhiệm mầu khi đối cảnh, lá xanh hoa vàng hình ảnh nầy không nhuốm màu phàm tục và lặng yên vô tận…
 
TRANG NGHIÊM CÕI TỊNH
 
Ngắm mãi quanh vườn miết chẳng vơi
Vàng hoa lá nõn ánh xuân ngời
Hồn nhiên cảnh vật lòng phơi phới
Lẳng lặng sân nhà dạ thảnh thơi
 
Trong bài XUÂN NGỜI, đến với thế gian thì vui cùng thế gian, hòa cùng thế gian, niệm ân cùng thế gian đã nuôi ta, trưởng dưỡng những thánh thiện để đi đến pháp của Phật,vần xoay của thế gian là duyên khởi trùng trùng, nhưng đó là một khái niệm khởi đầu trên con đường tu tập. Tỉnh thức để trải nghiệm từ những động tỉnh những gì xảy ra trước mắt:
 
Hoà câu trải nghiệm, nương người thế
Để nhịp vần xoay, giũa khúc đời
 
Trên đường học đạo, ngoài thấm hiểu lý, sự để vững bước, dù đường gập gềnh khó bước nhưng lập hạnh nguyện, biết sợ Ba Tên là Tham lam, Sân hận, si mê và bốn độc (tứ chủng độc) là cội gốc của khổ đau nên người tu hành xem đó là bốn thứ độc, cũng gọi là bốn con rắn độc (Tứ độc xà). Với mấy câu trong bài:
 
HẠNH NGUYỆN
 
Ba Tên tiếp mãi… Nghe mà sợ  (*)
Bốn Độc thường hay …Thấm chớ gần (**)
Quán tưởng Sát – Na tâm lẳng lặng
Lâu dần sáu nẻo cũng thành chân…
 
------------------------
(*)Tam độc tiễn: tham lam, sân hận và si mê
(**) Tứ chủng độc:  Kiến độc, Xúc độc, . Khiết độc, Hư độc
 
Sự vô thường giữa cuộc đời chóng hiện, chóng mất hãy nhìn về một kiếp người, sanh lão, bệnh, tử, nghiệp duyên luôn đưa đẩy ta hợp rồi tan, cảnh trầm luân trong sáu đường nghe mà sợ, chính vì vậy nên tỉnh thức, nên qui hướng về giáp pháp để tự tin vững bước trên con đường đến giải thoát:
 
CHẲNG  THƯỜNG
Hiểu rõ trầm luân lìa thoát nợ
Quay tìm liễu giác giảm hoài  vương
Muôn người nghiệp chướng nào ai khỏi
Ngẫm kỷ thì ra …chuyện khó lường!
 
Và 4 câu trong bài THỜI QUA
 
Xuân về hạ đến ngắm thời qua
Vạn cảnh đong đưa vốn nó là
Thực hư hư thực tùy duyên chuyển
Tánh lặng nơi về nguyện chính ta.
 
Lược sơ qua vài ý trong tập thơ, cũng để khái quát lên trong tập nầy qua những bài tán thán công hạnh quí vị tỳ kheo và những bài xướng họa với các vị. Tác giả luôn nhắc đến tính chân thật của vạn vật, không đi không đến, không còn không mất đó là bổn tánh chơn như và luôn hiện hữu trước mắt ta, vì thế trong tinh thần nầy TG bằng những ngôn từ, vần điệu làm cho ta những cảm nhận ra bổn tánh trong lành sáng suốt ở chính mình, sở dĩ ta còn trầm luân, mê mờ vì qua nhiều đời nhiều kiếp dần bao phủ bởi màng dày vô  minh.
 
  Qua tập thơ nầy, đó là cái nhìn của một vị rõ đạo, hiểu được cái sâu xa của pháp mà hòa cùng thi văn để đến với độc giả. Và xin trân trong cám ơn TG đã chuyển tập thơ.
 
Cư sĩ Minh Đạo làm thơ, viết thư pháp, vẽ thủy mặc và viết nhạc đều nhìn sự vật, cuộc đời bằng tinh thần đạo pháp, suy ngẫm, chiêm nghiệm cái vốn thực, bản chất thực, không khoa trương, không ồn ào mà bằng sự trầm tỉnh, yên bình.
 
Tháng 4 năm 2025
 Giác Đức – Nguyễn Duy Nhiên

ĐÔI ĐIỀU CẢM NHẬN VỀ TẬP THƠ “HOÀ KHÚC TRI GIAO”
CỦA MINH ĐẠO
 
 Tôi nhận được tập thơ của cư sĩ Minh Đạo gửi tặng cũng đã khá lâu, đó là thời gian những ngày cận kề lễ Phật đản, tiếp theo là những ngày bạn rộn trong mùa Phật đản, rồi đến hậu Phật đản nữa nên không có thời gian đọc cặn kẻ cả tập thơ mà chỉ đọc được một số bài. Những người thích làm thơ và đọc thơ thì ai cũng biết đọc thơ Đường luật không như đọc thơ tình. Vì thơ tình đọc xong là có cảm nhận ngay tức khắc, vì ngôn ngữ của thơ tình nó đi thẳng vào trái tim mình, còn đọc thơ Đường thì sự cảm nhận không thể dễ dàng như thế, một bài thơ Đường chỉ có tám câu nhưng để hiểu và cảm thụ được cái hay cái đẹp của nó thì ngoài trực giác ra cần có một sự nghiền ngẫm về phép dụng ngôn, ý, tứ thơ cũng như qua quy luật về vần, niêm, luật, đối… nữa!
 
 Cư sĩ Minh Đạo tôi gọi là thầy vì là phu quân của cô giáo chủ nhiệm lớp tôi thời cấp ba. Thầy là một nhà thư pháp, một hoạ sĩ vẻ tranh thuỷ mặc, một nhạc sĩ sáng tác nghiệp dư và ngón chính là một nhà thơ chuyên về thất ngôn bát cú Đường luật, một số thơ khác như lục bát, tự do hay thơ 7 chữ, 8 chữ… với thầy chỉ là những bông hoa nhỏ, để tạo sự đa dạng và phong phú cho vườn thơ của thầy mà thôi!.
 
 Lần đọc những bài thơ trong thi tập HOÀ KHÚC TRI GIAO, ta cảm nhận một hương vị thiền lan toả cùng sự an nhiên tự tại trong từng câu chữ, từng bài thơ. Tập thơ này là những bài thơ sáng tác hoặc xướng hoạ với các thi nhân mà hầu hết là những vị tu sĩ, thiền sư đạo cao đức trọng. Thế nên nội dung cũng xoay quanh về sự nhiệm mầu của Phật pháp, sự an nhiên, tỉnh lặng nhuốm chất liệu thiền vị trong tâm thức, trong cảm nhận, trong hành xử giữa đạo và đời “Phật pháp bất ly thế gian giác”. Thế nên ta cảm nhận được hương vị giải thoát, chất liệu từ bi và trí tuệ trong sự cảm nhận hết sức tinh tế, ứng dụng trong cuộc sống đời thường.
 
Lập hạnh rèn tu tánh lặng ngời
Dương trần phúc ấm chẳng nào vơi
Tâm an kệ tụng phiền đâu buộc
Dạ lữ lòng rong ác khó rời
Gặp pháp xin nguyền nương tựa Phật
Theo Thầy lỉnh giáo trả ơn đời
(Tu học)
 
Với hai câu cuối ta thấy sự quay về nương tựa đủ ba ngôi Tam Bảo của một người phật tử. Hay trong một bài thơ khác, ánh sáng Phật pháp đi vào đời một cách vô ngại
 
Đức hạnh khuyên tu chớ vướng tà
Thương người lấy huệ rải lòng tha
Từ bi nhiếp chúng thì không cửa
Độ lượng điều căn rõ chẳng nhà…
(Kính mừng ngày Đức Phật Thích-ca xuất gia)
 
 Thơ Minh Đạo cho ta cảm nhận được mùa xuân trong cõi thiền là một sự tỉnh lặng đến an nhiên tịch tĩnh, một mùa xuân miên viễn trong tâm thức, không giao động trước cõi trần gian tục luỵ
 
Tịch tĩnh am thiền nương pháp diệu
Trang nghiêm cửa Tổ ngắm trăng tà
Xuôi nguồn vững bước an thềm dạo
Chớ để tâm chùng bổn tánh xa
(Xuân bình yên)
 
Sống giữa cõi trần gian lắm nhiễu nhương, nhiều phiền não, bụi trần không muốn cũng vương mang, thế nên tác giả luôn tự nhủ với lòng mình, trong cõi thế vô thường đời người như gió thoảng, như mây bay…nên phải sống thế nào cho trọn đạo.
 
Niệm Kinh Vàng
Bình minh lẳng lặng niệm kinh vàng
Nhập đạo thâm huyền rõ tánh an
Không động bao thời cho tuệ lắng
Đừng say vạn lối để tâm tràn
Ngày đêm gắng giữ càng xua nạn
Nghiệp phận li dần, chớ chuốc oan
Chóng vánh đời người như gió thoảng
Nương Thầy sống vẹn đón thiều quang
 
Sống thiền trong từng giây phút, thân ở đâu thì tâm ở đó, luôn giữ tâm an trú trong chánh niệm, “đối cảnh vô tâm mạc vấn thiền!”
 
Không xao vắng bặt nhìn hơi thở
Chẳng đắm tịch nhiên miệng mỉm cười
(Thiền)
Xuân về hạ đến ngắm thời qua
Vạn cảnh đong đưa vốn nó là
Thực hư, hư thực tuỳ duyên chuyển
Tánh lặng nơi về nguyện chính ta
(Thời qua)
 
Ngoài những bài thơ tự sự hoặc tự nhủ, tự răn với lòng mình hãy luôn tinh cần hành trì tu tập để sống đạo giữa đời thường, tâm không còn vướng mùi tục luỵ chốn trần gian, nương theo ánh đạo vàng để thoát khỏi khổ đau phiền não của kiếp nhân sinh. Đa số các bài thơ còn lại thầy Minh Đạo đều tập trung theo chủ đề tán dương sự nhiệm mầu của giáo pháp Đức Phật, tán dương công hạnh những bậc long tượng đạo cao, đức trọng trong Phật Giáo Việt Nam. Ví như viết về cố HT Tuệ Sỹ:
Đạo sỹ uyên thâm hiện cõi đời
Nay về đất Phật…chốn trần rơi
Tinh thông giáo pháp qua nhiều ngã
Dịch thuật thiền kinh cảm vạn lời
Học giã suy từ an chẳng lỗi
Đàn thơ tải đạo rõ không lời
Cung tán trưởng lão Hoà thượng Trí Nghiêm
Như Lai Phật thuyết bày kinh luận
Bát nhã người trao gợi phước điền
Pháp kệ tâm bình an kẻ lắng
Trần gian hạnh nhẫn rạng đời yên
 
Bài thơ mừng khánh tuế Hoà thượng Thông Mẫn, khai sơn tu viện Quảng Đức (Australia)
Vì thương tứ chúng bày nhân thiện
Bởi nhận trăm đường tỏ phước an
Thế thái nhân trần vui diễn kệ
Điềm nhiên hạnh nguyện đức từ lan
 
Những bài thơ tán thán công hạnh của HT Viên Minh, HT Thông Trí, TT Pháp Trú, TT Quảng Đạo, TT Hạnh Tấn…Ngoài ra những bài thơ còn lại là xướng hoạ với những vị Tăng sĩ yêu thơ Đường, với những vần thơ đậm chất thiền đạo như HT Minh Đức-Triều Tâm Ảnh, Ht Thái Hoà, HT Như Điển, TT Thích Nguyên Tạng, trụ trì tu viện Quảng Đức (Australia) và chủ biên trang web Trang nhà Quảng Đức (đây là trang mà Minh Đạo kết duyên thơ văn xướng hoạ cùng với những Chư tôn đức rất tâm đắc), cùng những vị khác như HT Đồng Bổn, TT Chúc Hiền (là người bạn thơ rất ăn ý và tri kỷ).
 
Kết duyên cùng bạn thơ, đồng cảm, đồng điệu và tri âm, tri kỷ là một mối lương duyên hết sức thanh tao và thú vị, nếu mối lương duyên đó được kết với những bạn đạo, những tăng sĩ đạo hạnh để cùng đàm đạo, chia sẻ về sự nhiệm mầu của Phật pháp, về hành trình tu tập giác ngộ tự thân, sống an nhiên tỉnh lặng giữa dòng đời luôn biến động thì đó là mối giao cảm trên cả tuỵệt vời, vì nó nâng tâm hồn của hành giả lên một tầm cao, tầm cao của cảnh giới Tịnh Độ Trần Gian.
Chân thành cám ơn thầy Minh Đạo đã gửi tặng thi phẩm. Xin chia sẻ đôi điều cảm nhận
 
Tâm Lễ-Nguyễn Ngọc Luật.