Thứ Năm, 20 tháng 2, 2014

ĐỨC PHẬT VÀ CÔ GÁI ĐIÊN



Nghe những lời kệ của đức Phật, ngồi dưới chân Phật lúc này không còn là cô gái điên vừa khóc lóc vừa chạy khắp nơi nữa mà là một Patacara đã ngộ đạo. 

   Trốn nhà theo người yêu 
    Patacara là con gái của một thương nhân giàu có ở thành Savatthi, nước Kosala. Năm cô 16 tuổi, cha mẹ cô mang cô nhốt vào trong một tòa lâu đài cao 7 tầng, phải rất đông người canh giữ ở bên ngoài để tránh việc cô bị những chàng trai xung quanh dòm ngó. Mặc dù bị canh gác cẩn mặt, song cô cuối cùng vẫn yêu một người hầu phục vụ trong phòng của cha mẹ mình.
    Sau đó ít lâu, cha mẹ cô tìm cho cô được một đám môn đăng hộ đối. Gia đình nhà trai cũng là một thương nhân rất có tiếng trong thành. Tuy nhiên, khi cha mẹ đang bận rộn chuẩn bị đám cưới thì cô quyết định cùng người mình yêu trốn đi. Patacara hóa trang thành một cô hầu gái, trốn khỏi tòa lầu 7 tầng rồi vào trong thành gặp người mình yêu.
   Sau khi gặp nhau, cô và người yêu cùng nhau bỏ đi tới một thôn trang nằm cách xa thành Savatthi rồi kết hôn với nhau. Tại đây, chồng cô trồng cấy trên một mảnh ruộng nhỏ để nuôi gia đình, còn cô thì làm tất cả những việc khác trong nhà. Mặc dù từ nhỏ tới lớn chưa bao giờ phải động chân tay vào việc nhà nhưng cô đã chấp nhận tất cả để được sống bên cạnh người mình yêu. Hai vợ chồng cứ như vậy cùng nhau trải qua những tháng ngày hạnh phúc.
   Không bao lâu sau, Patacara mang thai. Lúc này cô nói với chồng đưa mình về nhà cha mẹ đẻ để sinh con theo tục lệ.  Cô nói với chồng rằng, mình là  đứa con gái mà cha mẹ rất mực yêu thương, họ nhất định sẽ tha thứ cho những lỗi lầm mà cô đã gây ra. Tuy nhiên, chồng cô thì không muốn như vậy, anh sợ rằng, cha mẹ của cô sẽ bắt mình bỏ tù, thậm chí là cho người giết chết mình.
   Biết rằng sẽ không thể thuyết phục được chồng,  cô đã quyết định một mình trở về nhà cha mẹ đẻ. Một hôm, nhân lúc chồng ra ngoài làm việc, cô một mình trở về thành Savatthi. Khi chồng cô nghe tin vội vàng đuổi theo, hết lời khuyên can. Nhưng cô nhất định không nghe, tiếp tục trở về. Tuy nhiên trước khi đến thành Savatthi, cô đã trở dạ và sinh một cậu con trai. Lúc này lý do về nhà cha mẹ đã không còn nên cô cùng chồng lại quay trở về nhà.
     Cái chết của chồng và hai con 
    Một thời gian sau, Patacara mang thai lần thứ hai. Lần này, cô lại xin chồng cùng mình trở về nhà cha mẹ đẻ. Chồng cô một lần nữa từ chối, và cô lại trốn chồng, một mình trở về. Và lần này, Patacara mang cả cậu con trai nhỏ đi theo. Khi chồng đuổi theo khuyên trở về nhà, cô tiếp tục ngang bướng không nghe theo. Cũng như lần trước, khi đi tới nửa đường thì đột nhiên, vợ chồng cô gặp phải một trận bão rất lớn, sấm chớp đùng đùng. Đúng lúc đó, cô bắt đầu trở dạ.
   Patacara nói chồng đi tìm thứ gì đó che tạm cho đỡ ướt. Chồng cô nghe theo, đi bẻ cành cây để dựng tạm một chiếc lều cho vợ. Tuy nhiên, đúng lúc anh đang bẻ cành cây thì một con rắn độc từ trên cây đột nhiên lao xuống cắn anh. Ngay lập tức, chất độc của con rắn đã khiến anh ngã xuống đất. Cô đợi mãi mà không thấy chồng về. Trong lúc đó, đứa con thứ hai chào đời mà không có ai giúp đỡ. Do không có thứ gì che chắn, hai đứa trẻ nhỏ đã phải dầm mưa suốt đêm ròng rã.
    Tới sáng hôm sau, Patacara một tay ôm đứa con mới sinh trong lòng, tay còn lại dắt đứa con đầu đi theo đường mà chồng đã đi. Đi được một đoạn, cô phát hiện chồng mình đang nằm bất động trên đường. Tới gần, cô mới phát hiện ra rằng, anh đã tắt thở từ lâu, thân thể đã cứng như khúc gỗ. Cô phủ phục trên xác chồng khóc lớn, không thiết làm gì nữa. Một lúc sau, do quá đói và rét, hai đứa trẻ cứ khóc đòi ăn, cô mới quyết định để chồng lại, tiếp tục đi về thành Savatthi.
    Đi thêm một đoạn đường nữa, Patacara  tới dòng sông Acriavati. Do tối qua mưa rất to nên nước sông dâng lên rất cao, vượt quá lưng người, dòng nước cũng chảy rất mạnh. Cô vừa mới sinh, cơ thể đang rất yếu nên cảm thấy khó có thể mang hai đứa con sang sông được. Vì thế cô quyết định để đứa con lớn ở lại bên này sông, mang đứa con nhỏ sang sông trước, sau đó sẽ quay lại mang đứa lớn. 
    Tuy nhiên, khi ra tới giữa dòng sông thì một con chim ưng săn mồi rất lớn nhìn thấy đứa trẻ mới sinh, tưởng rằng đó là một miếng thịt nên lao xuống cắp đi. Cô lúc đó đã quá yếu, không thể chống lại được sức mạnh của con chim ưng khổng lồ, chỉ biết thét lên một cách tuyệt vọng. Đứa con lớn nghe thấy tiếng mẹ, lại thấy mẹ đang vẫy tay giữa dòng sông, tưởng rằng mẹ muốn mình lội sang nên đã bước chân xuống. Ngay khi đứa trẻ đặt chân xuống dòng nước đã bị dòng nước sông chảy xiết cuốn phăng đi. Cô chỉ còn biết đứng nhìn đứa con trai của mình bị dòng nước cuốn trôi.
    Mặc dù vô cùng đau xót vì cái chết của chồng và hai con, tuy nhiên, cô vẫn phải tiếp tục lên đường. Tuy nhiên, sự bất hạnh vẫn đang chờ đợi cô ở phía trước.
   Khi Patacara đi tới gần thành Savatthi, cô gặp một người vừa mới rời khỏi thành nên bước tới định hỏi thăm tình hình cha mẹ ruột của mình. “Trừ nhà đó ra, cô muốn hỏi nhà nào cũng được”, người đàn ông nói với cô. Câu nói của người đàn ông càng khiến cô thêm tò mò, cô gặng hỏi người đàn ông rốt cuộc gia đình cô đã xảy ra việc gì. 
    Người đàn ông thấy cô gặng hỏi liền nói: “Cơn bão đáng sợ tối hôm qua đã khiến nhà đó đổ sập, cả hai vợ chồng lẫn người con cả đã bị nhà đè chết. Họ đã được hỏa táng ngay tại nên nhà cũ của họ rồi”. Nói xong, người đàn ông quay về phía thành Savatthi, chỉ tay vào cột khói đang bốc lên nói: “Cô có nhìn thấy cột khói kia không, đó chính là cột khỏi hỏa táng họ đấy’.
    Khi nhìn thấy cột khói hỏa táng cha mẹ và anh trai của mình, cô lập tức phát điên. Cô xé bỏ hết quần áo, rồi để mình trần chạy khắp nơi, vừa chạy vừa khóc: “Hai đứa con của tôi đã chết, chồng tôi cũng chết bên đường, giờ cha mẹ và anh trai tôi cũng đang được hỏa táng!”. Những người sống hai bên đường thấy một cô gái điên cứ chạy khắp nơi gào khóc, sợ điềm gở nên lấy gạch đá và rác ném cô. Tuy nhiên, cô dường như không quan tâm tới việc ấy, cứ điên điên dại dại vừa khóc vừa chạy về phía thành Savatthi.
    Nước mắt đau khổ nhiều hơn nước bốn biển 
   Lúc bấy giờ, đức Phật cũng đang ở tịnh xá thành Savatthi, xung quanh là rất đông các đệ tử. Khi thấy Patacara chạy ngang qua cửa tịnh xá, đức Phật biết rằng, cô đã có thể tiếp nhận những giáo pháp của mình. Các đệ tử thấy cô chạy vào tịnh xá liền quát lớn: “Không cho bà điên ấy vào!”. Tuy nhiên, đức Phật lại nói: “Đừng cản cô ấy, cứ để cô ấy vào”. 
   Khi Patacara vào bên trong, đứng trước mặt đức Phật, Phật nói với cô: “Người chị em, hãy hồi phục chính niệm của mình!”. Cô lập tức hồi phục lại trạng thái tinh thần bình thường. Một người đệ tử tại gia có lòng tốt mang cho cô một chiếc áo. Cô mặc lên người, bước lại gần đức Phật, quỳ gối làm lễ rồi kể cho đức Phật nghe về câu chuyện bi thảm của mình.
   Đức Phật kiên nhẫn nghe cô kể hết câu chuyện, cảm thấy vô cùng thương tâm. Sau khi câu chuyện kết thúc, đức Phật nói: “Patacara! Đừng do dự nữa, cô đã tìm thấy nơi quy y rồi. Chẳng phải hôm nay cô mới gặp phải tai họa. Từ ngàn kiếp trước, cô đã phải khóc vì mất đi con cái và những người thân của mình. Nước mắt của cô đã khóc còn nhiều hơn nước của bốn biển rồi”.
   Khi đức Phật tiếp tục giảng giải cho cô nghe về sự nguy hiểm của luân hồi, sự đau khổ của cô lập tức biến mất. Tiếp đó, đức Phật đọc cho cô nghe một bài kệ, nhằm hướng đạo cho cô.
   Nghe những lời kệ của đức Phật, cô lập tức ngộ ra được đạo lý về sự vô thường của cuộc đời. Sau khi đức Phật đọc xong, ngồi dưới chân đức Phật lúc này không còn là cô gái điên vừa khóc lóc vừa chạy khắp nơi nữa mà là một Patacara đã ngộ đạo, một người có khả năng đạt được sự giải thoát cuối cùng.
   Ngay sau đó, cô xin đức Phật cho phép quy y Phật pháp, trở thành một đệ tử của Phật môn. Đức Phật đồng ý, cho phép cô gia nhập vào đoàn tỳ kheo ni. Sau này, trong số những tỳ kheo ni của tăng đoàn, cô được Đức Phật ngợi ca là người “duy trì giới luật số 1” (trì luật đệ nhất).

                                                                   http://kienthuc.net.vn/

Thứ Hai, 17 tháng 2, 2014

SỰ VÔ GIÁ CỦA MỘT CỐC SỮA


                        Biết quan tâm và chia sẻ lòng tốt, bạn sẽ luôn là người hạnh phúc.
                                                                                                 Haley
                                                                                         (Dịch từ Academictips)
   Một cậu bé nghèo làm nghề bán hàng rong để kiếm tiền học. Một ngày nọ nhận thấy mình chỉ còn mỗi một hào mà bụng đang đói, cậu định bụng sẽ sang nhà kế bên xin một bữa ăn. Một phụ nữ trẻ đẹp ra mở cửa. Bối rối trước cuộc gặp gỡ không chờ đợi này nên thay vì xin ăn cậu lại xin uống. Người phụ nữ đoán là cậu đang đói bèn mang cho cậu một ly sữa lớn.
  Cậu chầm chậm uống từng ngụm sữa rồi hỏi:
- Cháu phải trả cô bao nhiêu ạ?
Người phụ nữ trả lời:
- Cháu không nợ cô cái gì cả. Mẹ cô đã dạy không bao giờ nhận tiền trả cho lòng tốt.
Cậu bé cảm kích đáp:
- Cháu sẽ biết ơn cô từ sâu thẳm trái tim cháu.

   Khi bước đi, cậu bé cảm thấy khỏe khoắn hơn và niềm tin của cậu vào con người như cũng mãnh liệt hơn. Trong khi trước đó, cậu như muốn đầu hàng số phận.
   Nhiều năm sau, người phụ nữ bị ốm nặng. Các bác sĩ địa phương đều không tìm ra phương pháp chữa trị. Họ chuyển bà đến thành phố lớn để các chuyên gia nghiên cứu căn bệnh lạ lùng này. Tiến sĩ Howard Kelly được mời đến tham vấn. Khi ông nghe tên thị trấn nơi người phụ nữ ở, một tia sáng ánh lên trong mắt ông. Ngay lập tức, ông khoác áo choàng và đi đến phòng bệnh của người phụ nữ nọ. Ông nhận ra ngay ân nhân của mình năm xưa. Quay về phòng, ông quyết định sẽ dốc hết sức để cứu sống bệnh nhân này. Và cuối cùng nỗ lực của ông đã được đền đáp, người phụ nữ cuối cùng đã qua khỏi.
   Tiến sĩ Howard Kelly đề nghị phòng y vụ chuyển cho ông hóa đơn viện phí của ân nhân để xem lại. Ông viết vài chữ bên lề của tờ biên lai và cho chuyển nó đến người phụ nữ. Bà biết rằng tiền viện phí lần này có lẽ cho đến hết đời bà cũng không thể trả hết. Lấy hết can đảm, bà mở tờ biên lai và đọc được những dòng chữ trong đó: "Đã thanh toán đủ bằng một ly sữa. Ký tên. Tiến sĩ Howard Kelly".
                                                                              Nguồn http://ngoisao.net

Thứ Bảy, 15 tháng 2, 2014

PHƯƠNG PHÁP HÍT THỞ KHI NGỒI THIỀN

 
Khi nói đến Thiền, trước hết mình nên đặt Thiền vào phạm vi cuộc sống. Dưỡng sinh có 5 lãnh vực chính: dưỡng sinh của thân thể, của tâm lý, của trí năng, của xã hội và của tâm linh. Thiền là một trong nhiều phương pháp để dưỡng sinh tâm linh.
      TẠI SAO LẠI PHẢI QUAN SÁT HƠI THỞ
   Có một sự nhất quán, xuyên suốt trong lời dạy hướng dẫn kỹ năng thiền định của Phật, từ Tứ niệm xứ (Satipatthàna) tới Thân hành niệm ( Kàyagatàsati), rồi Nhập tức xuất tức niệm (Ànàpànasati), đó là thở: Thở vào thì biết thở vào, thở ra thì biết thở ra. Thở vào dài thì biết thở vào dài, thở ra ngắn thì biết thở ra ngắn… Tóm lại, đó là luôn bắt đầu bằng sự quán sát hơi thở, đặt niệm (nhớ, nghĩ) vào hơi thở. Chỉ có vậy. Mà vô vàn. Mà “nói không được” (bất khả thuyết)! Bản dịch Vịệt nào cũng viết: “Thở vào thì biết thở vào, thở ra thì biết thở ra…” có thể gây nhầm lẫn ở đây chăng? Thở thì ai mà chả biết thở kia chứ! Thế nhưng ở đây không phải là biết thở, biết cách thở mà là nhận thức được (recognize), ý thức rõ (realize), cảm nhận đựơc (perceive) cái sự thở, cái hơi thở đang đi vào và đang đi ra kia kìa, đó mới là điều cốt lõi!
       Dù gọi là Thiền (Việt) hay Chan (Hoa), Zen ( Nhật)… thì cũng đều có nguồn gốc từ Dhyana (Sankrist) hay Jhanas (Pali). Theo ngữ nguyên thì Jha là nhìn, là quán sát, là theo dõi và Ana là thở, hơi thở, là khí. Vậy, jhanas hay dhyana chính là quán sát hơi thở, nhận thức hơi thở. Đơn giản vậy mà thực ra không giản đơn chút nào! Nó như là một chìa khóa căn bản. Phải mở cái cửa này đã rồi các cửa khác mới mở tiếp được.Vấn đề là tại sao và cách nào để chỉ từ một việc có vẻ rất giản đơn là quán sát hơi thở lại có thể dẫn tới tuệ giác, một sự chuyển hóa từ “khí” mà thành “trí”?
    Câu hỏi đặt ra là tại sao quán sát hơi thở? Quán sát hơi thở thì có gì hay? Sao lại không các đối tượng khác để quán sát? Thật ra thì quán sát cái gì cũng được cả, bởi tất cả đều là pháp- nhứt thiết pháp giai thị Phật pháp- nhưng quán sát hơi thở thì có điều kiện để thấy “ngũ uẩn giai không” hơn, tức thấy vô ngã hơn. Vô ngã ở đây không còn là một ý niệm, một khái niệm mà là một trạng thái. Để thấy “vô ngã” thì tốt nhất là quán sát từ “ngã”, từ hơi thở chẳng hạn, một đối tượng sẵn có ngay trong bản thân mình. Tim đập cũng lúc nhanh lúc chậm, nhưng khó theo dõi, hoàn toàn ngòai ý muốn, khó can thiệp. Dạ dày thì làm vịệc âm thầm, khó quan sát. Các bộ phận khác cũng vậy. Trừ hơi thở! Hơi thở dễ quan sát nhất vì nó nằm ngay trước mũi mình, ngay dưới mắt mình! Lúc nào cũng phải thở. Ở đâu cũng phải thở. Cái hay nữa là quán sát nó thì không ai nhìn thấy, chỉ riêng ta biết với ta thôi! Mỗi phút lại phải thở cả chục lần. Lúc mau lúc chậm, lúc ngắn lúc dài, lúc phì phò lúc êm dịu. Hơi thở lại rất nhạy với cảm xúc. Trước một cảnh đẹp, ta “nín thở”.
Lúc lo âu, ta hổn hển. Lúc sảng khóai ta lâng lâng. Lúc sợ hãi, hồi hộp ta thở nhiều kiểu khác nhau, muôn hình vạn trạng. Và nhờ đó mà thấy vô thường. Nhờ đó mà ta quán sát được cái tâm ta. Thở cũng gắn với các hoạt động cơ bắp, khi mệt, ta “bỡ hơi tai”, mệt đứt hơi, mệt hết hơi; khi khỏe, ta thở nhẹ nhàng sảng khoái! Nhờ đó mà ta quán sát được cái thân ta. Rõ ràng chỉ có hơi thở mới là một sợi dây nhạy cảm buộc vào thân vào tâm, là cái cầu nối giữa thân và tâm. Không chỉ thế, thở còn vừa là ý thức, vừa là vô thức. Như không cần ta. Như ở ngoài ta. Như không có ta. Quan sát thở, ta còn có dịp đào sâu xuống…vô thức. Ta thấy thở gắn với sự sống chết của kiếp người. Còn sống là còn thở, chết là hết thở, là tắt thở, là ngừng thở. Để ý một chút ta sẽ thấy đời người thực ra chỉ là… một hơi thở! Khi chào đời em bé khóc thét lên một tiếng thật to để hít mạnh không khí vào phổi để rồi khi lìa đời, cụ già lại thở hắt ra một cái, trả lại cho đời tất cả những gì mình đã vay mượn! Giữa hai lần thở vào thở ra đó là những đợt thở… lăn tăn như những làn sóng nhỏ, mà nối kết các làn sóng nhỏ lăn tăn đó lại với nhau ta có cuộc rong chơi trong cõi “Ta bà”!
  Mỗi hơi thở vào ra trung bình khoảng 5-10 giây. Mỗi giây, trong cơ thể con người đã có hằng trăm triệu tế bào hồng cầu bị hủy diệt và hằng trăm triệu hồng cầu khác được sản sinh. Quán sát hơi thở do đó ta thấy đựơc sự sinh diệt. Thở có thể làm chuyển biến tâm trạng ta, chuyển hóa cảm xúc ta, cả hành vi ta nữa. Đang sôi giận mà kịp nhớ lại, quán sát sự thở của mình thấy nó phập phều kỳ cục, tức cười, bèn quên giận mà hơi thở được điều hoà trở lại lúc nào không hay: điểm hưng phấn trên vỏ não đã bị dịch chuyển! Nói khác đi, ta có thể dùng quán sát hơi thở để kiểm sóat cảm xúc và hành vi. Quán sát hơi thở cũng lôi kéo ta trở về hiện tại tức khắc- không còn đắm mình trong dĩ vãng hay tương lai. Mà hiện tại thì không có thời gian!
 

Thứ Sáu, 14 tháng 2, 2014

15 PHÚT ĐI BỘ SAU BỮA ĂN GIÚP PHÒNG BỆNH TIỂU ĐƯỜNG

Đi bộ sau mỗi bữa ăn có thể ngăn chặn nguy cơ mắc bệnh tiểu đường loại 2 đối với người lớn tuổi, theo một nghiên cứu mới công bố tại Mỹ.
 Việc đi bộ ngắn sau bữa ăn có thể kiểm soát lượng đường trong máu với hiệu quả tương đương một cuộc đi bộ dài bình thường, theo nghiên cứu của các nhà khoa học Đại học George Washington (Mỹ).
 Các nhà khoa học lý giải, lượng đường trong máu cao sau bữa ăn có thể làm tăng nguy cơ bệnh tiểu đường loại 2. Vì vậy thói quen nằm hoặc nghỉ ngơi sau khi ăn là điều tồi tệ nhất mà mọi người thường làm. Đây là nghiên cứu đầu tiên ở Mỹ theo dõi tầm ảnh hưởng của việc tập thể dục trong thời gian ngắn đối với người có nguy cơ bị đái tháo đường.
 
di-bo-20-19812-1372052680_500x0.jpg
15 phút đi bộ sau mỗi bữa ăn giúp giảm nguy cơ mắc bệnh đái tháo đường. Ảnh: BBC.
 Nhóm nhà khoa học đã theo dõi thói quen sinh họat của 10 cụ già ở độ tuổi 60 trở lên. Tất cả những người này đều có nguy cơ bị bệnh tiểu đường loại 2 vì lượng đường trong máu tăng cao và nhanh hơn bình thường, lý do là họ ít hoạt động thể chất. Mọi người được yêu cầu luyện tập thói quen đi bộ ngắn sau bữa ăn, vào thời điểm mà lượng đường trong máu thường tăng lên nhanh.
 Bà Loretta Dipietro, đứng đầu nhóm nghiên cứu cho biết, lượng đường trong máu cao sau mỗi bữa ăn là nguyên nhân cốt lõi làm suy giảm dung nạp glucose, được coi là "tiền tiểu đường", từ đó dẫn đến bệnh tiểu đường loại 2 và bệnh tim mạch.
 Kết quả nghiên cứu cho thấy, các tham dự viên đi bộ với tốc độ vừa phải trong 15 phút sau các bữa ăn, thực hiện 3 lần trong ngày đã giảm được lượng đường huyết tương đương như một cuộc đi bộ dài 45 phút bình thường. Việc giảm lượng đường huyết như thế đặc biệt có lợi cho người lớn tuổi, khi mà khả năng kiểm soát huyết đường ở người lớn tuổi bắt đầu kém đi, nhất là sau mỗi bữa ăn.
 So sánh về hiệu quả giữa việc đi bộ 15 phút sau 3 bữa ăn trong ngày có tác dụng tương đương với tập thể dục 45 phút ở thời điểm bình thường, người đứng đầu nhóm nghiên cứu nói: “Mặc dù có một vài sự khác biệt nhỏ nhưng không đáng kể. Qua đây chúng tôi muốn gửi đến mọi người thông điệp rằng bất kỳ một hoạt động thể chất nào, dù là ở cường độ thấp đều tốt cho sức khỏe của bạn”.
 Ước tính ở Anh có trên 7 triệu người đang phải đối diện với nguy cơ cao mắc bệnh tiểu đường loại 2. Tiến sĩ Dipietro cho biết những phát hiện trên có thể đưa ra một biện pháp để ngăn chặn bệnh đái tháo đường ít tốn kém nhất. Song để khẳng định chắc chắn hiệu quả thì cần một cuộc nghiên cứu quy mô hơn.
 Bên cạnh việc tập thể dục, các nhà nghiên cứu còn khuyên người có nguy cơ mắc bệnh đái tháo đường nên tích cực giảm cân để phòng bệnh.
                                                           Thi Trân (Theo BBC)

Thứ Tư, 12 tháng 2, 2014

CHIẾC THÙNG NỨT

 

smile Một người gánh nước ở Ấn Độ có hai cái thùng lớn...mỗi cái ông ta móc vào một đầu của đòn gánh và gánh trên vai _ Một trong hai cái thùng có một vết rạn nứt...còn thùng kia là một cái thùng hoàn hảo và luôn luôn giữ được nguyên thùng nước trên suốt con đường dài từ dòng suối về đến nhà...Còn cái thùng bị rạn nứt thì chỉ còn lại có một nửa thùng nước khi về đến nhà.
    Suốt hai năm tròn trôi qua...
ngày nào người gánh nước cũng chỉ gánh về đến nhà có một thùng rưỡi nước...!
Và lẽ đương nhiên là cái thùng hoàn hảo lấy làm tự hào về thành quả của nó...
up
nó đã giữ cho nước trong thùng được nguyên vẹn khi về đến nhà....
  Còn cái thùng bị rạn nứt thì cảm thấy xấu hổ về sự không hoàn hảo của nó
sad...
nó đau buồn vì nó chỉ có thể làm được một nửa nhiệm vụ mà nó đã được giao phó mà thôi
_ Sau hai năm chịu đựng cái mà nó cho là sự thất bại chua xót của mình...
zip
một hôm...bên bờ suối...cái thùng bị rạn nứt đã nói với người gánh nước rằng :
– Tôi lấy làm xấu hổ về bản thân mình...
awwwvà thật lòng muốn xin lỗi ông.
– Tại sao ngươi lại xin lỗi ta
pssst...người gánh nước hỏi...và ngươi xấu hổ về điều gì?confused
Cái thùng đáp lại :
sad
– Suốt hai năm qua...mỗi lần ông gánh nước...tôi chỉ có thể mang về nhà vỏn vẹn có nửa thùng nước...
bởi vì vết rạn nứt bên hông của tôi đã làm cho nước rò rỉ ra bên ngoài trên suốt con đường về nhà
mad
_ Bởi vì những vết nứt của tôi mà ông không gặt hái được thành quả tương xứng so với sự nỗ lực của ông.
cry
  Người gánh nước cảm thấy thương cho cái thùng cũ đã bị rạn nứt...
flirt
và với tấm lòng thương yêu của mình,
ông nói:
smile
– Khi chúng ta quay trở về nhà Ta muốn ngươi hãy để ý đến những bông hoa xinh xắn dọc đường.
bigsmile
Thật vậy...trên đường về...khi họ leo lên ngọn đồi...cái thùng cũ đã chú ý đến những bông hoa dại xinh xắn đang được mặt trời sưởi ấm bên lề đường...Và điều này ít nhiều đã làm cho nó vui lên _ Nhưng đến cuối con đường...nó vẫn cảm thấy hổ thẹn vì nó lại đã bị rò rĩ ra ngoài hết một nửa thùng nước....
  Và nó lại xin lỗi người gánh nước về sự thất bại của nó một lần nữa.
faint
   Người gánh nước đã nói với cái thùng rằng:
p
– Ngươi đã không để ý là những bông hoa chỉ mọc ở bên phần đường phía ngươi,
còn bên phần đường của cái thùng kia thì không có hay sao...?
jester
Đấy là vì Ta đã luôn biết rõ về khuyết điểm...
về sự rạn nứt của ngươi...
ideavà ta đã biết tận dụng sự lợi ích từ đó.
   Ta đã trồng những hạt giống của hoa bên phần đường của ngươi...và mỗi ngày trong khi chúng ta trở về nhà từ dòng suối... ngươi đã tưới cho chúng
_ Suốt hai năm...
waitTa đã hái những bông hoa xinh đẹp này để trưng trên cái bàn trong nhà...Nếu không có vết rạn nứt của ngươi...Ta đã không thể nào có được những bông hoa xinh đẹp ấy để tô điểm cho căn nhà của chúng ta.
   Mỗi một chúng ta đều có những khuyết điểm của riêng mình...
p
Tất cả chúng ta đều là những cái thùng bị rạn nứt...
Nhưng những vết rạn nứt...những khuyết điểm ấy một khi biết vận dụng thích hợp thì chúng làm cho cuộc sống của chúng ta thêm thú vị và có ý nghĩa hơn...
up
Chúng ta hãy nhìn mọi người đúng thật như họ đang hiện hữu...
và hãy nhìn vào những điểm tốt ở nơi họ.
heart wizard
                                                                                                        Minh Nguyên dch
                                                                                  Nguồn Internet

Thứ Hai, 10 tháng 2, 2014

CHUYỆN CÂY TÁO


 
    Cách đây rất lâu, ở một làng nọ có một cây táo cổ thụ. Hàng ngày có một cậu bé hay ra chơi đùa với cây. Cậu leo trèo lên ngọn cây, hái táo để ăn và khi đã mệt mỏi cậu ngủ thiếp đi dưới bóng râm của nó. Cậu rất yêu quí cây táo và cây táo cũng thích chơi đùa với cậu.  
   Thời gian trôi đi, cậu bé ngày nào đã lớn và không còn chơi đùa với cây táo nữa. Một ngày nọ cậu xuất hiện với vẻ mặt rất buồn bã. Cây táo muốn cậu chơi đùa với nó, nhưng cậu từ chối :
  - Tôi không còn nhỏ nữa và tôi không muốn chạy xung quanh cây. Tôi muốn chơi đồ chơi kia nhưng tôi không có tiền để mua chúng.
  - Tôi cũng không có tiền - Cây táo nói: Nhưng cậu có thể hái các trái táo để bán và cậu sẽ có tiền.
   Cậu trai rất mừng khi nghe đề nghị như vậy. Cậu hái hết các quả táo mang đi bàn và không trở lại nữa. Cây táo rất buồn vì nhớ cậu.
    Một ngày kia, cậu bé ngày nào đã trở thành một chàng trai, đến bên cây táo. Nó rất vui mừng và đề nghị cậu chơi đùa với nó. Nhưng chàng trai từ chối và đề nghị cây táo hãy cho chàng một ngôi nhà để gia đình của chàng trú ẩn.
   - Tôi không có nhà để cho cậu - cây táo nói - nhưng cậu có thể chặt những tán cây của tôi để làm nhà.
   Và thế là chàng trai chặt hết các tán cây, vui vẻ mang đi. Cây táo rất hạnh phúc khi thấy chàng trai vui nhưng không thấy chàng quay lại. Nó trở nên buốn bã và cô độc.
   Vào một ngày hè nóng nực rất lâu sau đó, người đàn ông - cậu bé lại xuất hiện. Và cây táo lại rất vui mừng. Nó muốn chơi đùa, nhưng người đàn ông ấy từ chối vì mệt mỏi. Ông ấy muốn có một chiếc thuyền để nghỉ ngơi và muốn cây táo giúp mình. Cây táo đề nghị người đàn ông hãy đốn thân cây to lớn của nó đề làm thuyền. Người đàn ông đốn cây và không xuất hiện nữa.
   Cuối cùng , vào một buổi chiều , ông lão - cậu bé đã xuất hiện.
   - Ôi con trai ,bây giờ thì ta không còn gì để cho con nữa rồi - cây táo nói - Không còn những quả táo chín ngọt.
   - Con không còn răng để ăn táo…
   - Cũng không còn cành để con leo...
   - Con không đủ sức để làm việc đó.
   - Thật sự ta không còn gì nữa, chỉ còn mỗi gốc cây - Cây táo khóc…
   - Con không cần cái gì nữa cả. Chỉ cần một chỗ để nghỉ ngơi thôi.
   Nói rồi ông lão ngồi lên gốc cây. Cây táo rất đỗi vui mừng. Nó cười qua làn nước mắt.

Đây là một câu chuyện ngụ ngôn dành cho tất cả mọi người. Cây táo là cha mẹ chúng ta. Khi chúng ta còn bé chúng ta rất thích chơi đùa với Bố, Mẹ. Nhưng khi chúng ta lớn thì chúng ta rời bỏ họ và chỉ quay về khi chúng ta cần lấy thứ gì hay chúng ta có những nỗi phiền muộn. Cha mẹ vẫn sẵn sàng tha thứ đón nhận chúng ta và làm tất cả những gì miễn là chúng ta được hạnh phúc. Cha mẹ đã hy sinh một đời vì con cái. Vì vậy hãy yêu quý cha mẹ dù ở bất cứ đâu và bất cứ lúc nào bạn nhé!
                                                                                                    Theo Inspirationallane

Thứ Bảy, 8 tháng 2, 2014

UỐNG TRÀ VÀ ĐỌC KINH



 
    Người tu có nhiều niềm vui giản dị. Uống trà chẳng hạn. Pha ấm trà ngon là cả một công phu. Có người có trà thơm, ấm tốt, nhưng không biết cách pha. Phải học. Không phải học cách pha trà. Mà là học cách uống. Trước tiên cần tập ngồi cho yên. Vừa cầm chén trà, vừa đi tới đi lui lăng xăng thì trà ngon cách mấy cũng uổng phí. Tập ngồi yên, tức là tĩnh tọa, hay ngồi thiền.
    Đến chùa, đôi khi ta được thầy đãi trà. Uống trà với thầy, ta học từ thầy cách ngồi yên. Đôi khi, một sư chú phải học ngồi uống trà với sư anh đến mấy năm, mới bắt đầu được sư anh cho pha trà. Ngồi yên thì tâm cũng yên. Tâm yên rồi thì rửa bình, rửa chén và bắt đầu pha trà đi! Nhiều khi trà không ngon lắm, nhưng biết cách pha thì vẫn thưởng thức được trọn vẹn hương và vị của nó. Ngược lại, trà ngon mà tâm còn đầy bụi trần thì pha ra vẫn lạt phèo.

    Một thú vui khác của người tu là đọc kinh. Đọc kinh cũng không khác uống trà gì mấy. Cuốn kinh vẫn nằm đó. Nhưng không phải ai lật kinh ra đều thấy chữ. Chữ trong kinh khác với chữ nghĩa nơi các cuốn sách thường. Chữ trong kinh là hoa trái của công phu. Người nào có công phu tu tập, nhìn vào kinh, chữ nghĩa đổi mới hoài. Mỗi lần đọc là một lần khám phá. Như vậy ta cần học đọc kinh, cũng như học cách pha trà.
Có một thầy cho rằng thời buổi này giảng dạy các vị cư sĩ khó quá. Họ thuộc kinh còn giỏi hơn các thầy nữa. Tôi nói: ‘Đúng chớ. Đâu phải là tu sĩ mới hiểu kinh đâu. Nhưng không phải ai đọc kinh cũng hiểu nghĩa. Phải có tu tập. Không có tu tập thì đọc kinh càng nhiều, càng có nhiều hiểu lầm.’ Tuy vậy, ta vẫn phải giảng. Tại vì khi giảng kinh, ta nói từ những khám phá của chính ta. Những khám phá đó, có công năng làm cho người nghe thấy ra hướng thoát khổ.
   Nhiều khi người ta tụng một bài kinh thôi. Tụng hoài cả mấy chục năm nhưng không hiểu nghĩa. Hoặc có hiểu nghĩa thì cái hiểu đó không tiến thêm được chút nào. Như vậy đọc kinh cần phải học. Không phải học hiểu từng chữ, mà là học khám phá. Đọc kinh như vậy thú vị vô cùng. Buổi sáng, uống một ấm trà, đọc một trang kinh. Đó là thú vui tao nhã của người tu hành.
    Ngoài ra, giữa uống trà và đọc kinh còn có một điểm giống nhau. Đó là sự thảnh thơi. Phải thảnh thơi thì mới thưởng thức được một bình trà. Phải thảnh thơi thì mới khám phá ra những cái mới mẻ trong kinh. Không gian trong tâm giúp ta có khả năng sáng tạo. Cho nên uống trà là một pháp môn tu mầu nhiệm vô cùng. Ngồi cho thật yên để uống một ấm trà, ta phải có khả năng buông bỏ. Có bao nhiêu việc cần làm phải không? Làm sao mà ta có thể ngồi yên mà thưởng thức một chung trà cho được? Nếu tâm ta đầy dẫy những niệm như vậy thì không bao giờ ta có thể hiểu được ý kinh cả.      Tụng đi tụng lại hàng ngày không phải là điều kiện thuận lợi giúp ta hiểu kinh. Ta phải có không gian. Đọc một câu thôi, nhưng nếu tâm ta có không gian thì ta sẽ khám phá nhiều hơn tụng cả bài kinh trong tâm niệm hấp tấp, bất an.
  Như vậy uống trà tức là đọc kinh. Biết uống trà, thì mới biết đọc kinh. Nhìn một thầy pha trà, ta có thể thấy không gian ở trong lòng thầy. Cũng như nhìn vào cách bày biện trong một căn phòng, ta thấy được tâm của chủ nhân. Không gian giúp ta buông bỏ được những cái gì không thuộc về ta. Trở về được với chính mình, nhận diện đâu là mình, đâu là những cái thuộc về mình, tự nhiên ta có rất nhiều thảnh thơi. Ta biết ranh giới của ta. Những gì ta nên làm và những gì ta không nên làm. Ta sẽ bỏ được khuynh hướng muốn ôm vào lòng đủ thứ việc của thiên hạ.
   Đạo Bụt có tương lai hay không, tùy thuộc vào nghệ thuật pha trà và uống trà của người tu. Có một sư chú, tu học với thầy mình đã lâu mà vẫn không thấy thầy dạy mình học kinh. Một hôm, trong lúc uống trà với thầy, mới rụt rè hỏi: ‘Thưa thầy, tại sao con thấy thầy ít dạy con học kinh quá vậy?’ Thầy trả lời: ‘Khi nào con biết uống trà cho đàng hoàng thì thầy mới dạy con học kinh. Dạy sớm, thầy sợ con hiểu lầm lời giảng của thầy.’ Thật là một vị thầy xuất sắc.
                                                                                      Theo langmai.com



Thứ Năm, 6 tháng 2, 2014

BỆNH UNG THƯ CÓ THỂ CHỮA ĐƯỢC THEO PHƯƠNG PHÁP MỚI

                                                              Ảnh hiển vi điện tử quét của một tế bào T của con người.
CNN:
   Đại học University of Pennsylvania đã nghiên cứu và thành công cho nhiều ca ung thư của trẻ em vàngười lớn.
   T-cells (vai trò quan trọng trong hệ miễn dịch) của bệnh nhân sẽ được lấy ra khỏi người bệnh; sau đó sẽ được chỉnh sửa, thêm vào một số Gen và cấy trở lại bệnh nhân. Một T-cell mới sẽ nhân lên 10 ngàn T-cell.
Những T-cell này sẽ tìm và tiêu diệt các tế bào ung thư. Hiện tại đã có 59 ca thử nghiệm và 25 ca thành công, không còn chịu trứng ung thư trong gần 2 năm.
Ung thư tưởng chừng không thể chữa được nhưng điều đó sẽ làm được bằng phương pháp quá thông minh. Bằng cách dùng chính hệ miễn dịch của mình để tiêu diệt tế bào ung thư. T-cell là tế bào quan trọng trong hệ miễn dịch, người bệnh sẽ được lấy ra “nhiều tế bào T-cell” và chỉnh sửa, thêm vào các Gen.
Phương pháp mới này sẽ nhân MỘT tế bào lên 10 NGÀN tế bào. Với “đội quân hùng hậu” tế bào T-cell, chúng sẽ tìm và tiêu diệt tế bào ung thư
Killing cancer like the common cold
By Elizabeth Cohen, Senior Medical Correspondent
Updated 5:32 AM EST, Mon December 9, 2013

New treatment attacks cancer cells
STORY HIGHLIGHTS

Nick Wilkins was out of options for battling leukemia
He is now cancer free after an experimental treatment
Doctors taught Nick’s immune cells to become adept at killing cancer
Experts hope the treatment will quickly become more widely available

(CNN) — Nick Wilkins was diagnosed with leukemia when he was 4 years old, and when the cancer kept bouncing back, impervious to all the different treatments the doctors tried, his father sat him down for a talk.
John Wilkins explained to Nick, who was by then 14, that doctors had tried chemotherapy, radiation, even a bone marrow transplant from his sister.
“I explained to him that we’re running out of options,” Wilkins remembers telling his son.
There was one possible treatment they could try: an experimental therapy at the University of Pennsylvania.
He asked his son if he understood what it would mean if this treatment didn’t work.
“He understood he could die,” Wilkins says. “He was very stoic.”
A few months later, Nick traveled from his home in Virginia to Philadelphia to become a part of the experiment.
This new therapy was decidedly different from the treatments he’d received before: Instead of attacking his cancer with poisons like chemotherapy and radiation, the Philadelphia doctors taught Nick’s own immune cells to become more adept at killing the cancer.
Two months later, he emerged cancer-free. It’s been six months since Nick, now 15, received the personalized cell therapy, and doctors still can find no trace of leukemia in his system.
Trusting her intuition led to two cancer diagnoses
Twenty-one other young people received the same treatment at The Children’s Hospital of Philadelphia, and 18 of them, like Nick, went into complete remission — one of them has been disease-free for 20 months. The Penn doctors released their findings this weekend at the annual meeting of the American Society of Hematology.
“It gives us hope that this is a cure,” Nick’s father says. “They’re really close. I think they’re really onto something.”
‘A whole new realm of medicine ‘
At the conference, two other cancer centers — Memorial Sloan-Kettering in New York and the National Cancer Institute — will be announcing results with immunotherapies like the one Nick received. The results are promising, especially considering that the patients had no success with practically every other therapy.
“This is absolutely one of the more exciting advances I’ve seen in cancer therapy in the last 20 years,” said Dr. David Porter, a hematologist and oncologist at Penn. “We’ve entered into a whole new realm of medicine.”
In the therapy, doctors first remove the patient’s T-cells, which play a crucial role in the immune system. They then reprogram the cells by transferring in new genes. Once infused back into the body, each modified cell multiplies to 10,000 cells. These “hunter” cells then track down and kill the cancer in a patient’s body.
Essentially, researchers are trying to train Nick’s body to fight off cancer in much the same way our bodies fight off the common cold.
Tumor Paint: Changing the way surgeons fight cancer
In addition to the pediatric patients, Penn scientists tried the therapy out in 37 adults with leukemia, and 12 went into complete remission. Eight more patients went into partial remission and saw some improvements in their disease.
The treatment does make patients have flulike symptoms for a short period of time — Nick got so sick he ended up in the intensive care unit for a day — but patients are spared some of the more severe and long-lasting side effects of extensive chemotherapy.
Penn will now work with other medical centers to test the therapy in more patients, and they plan to try the therapy out in other types of blood cancers and later in solid tumors.
A university press release says it has a licensing relationship with the pharmaceutical company Novartis and “received significant financial benefit” from the trial, and Porter and other inventors of the technology “have benefited financially and/or may benefit financially in the future.”
Searching for one-in-a-million cancer cells
The big question is whether Nick’s leukemia will come back.
Doctors are cautiously optimistic. The studies have only been going on since 2010, but so far relapse rates have been relatively low: of the 18 other pediatric patients who went into complete remission, only five have relapsed and of the 12 adults who went into complete remission, only one relapsed. Some of the adult patients have been cancer-free and without a relapse for more than three years and counting.
Relapses after this personalized cell therapy may be more promising than relapses after chemotherapy or a bone marrow transplant, Porter explained.
First, doctors have been delighted to find the reengineered T-cells — the ones that know how to hunt down and attack cancer — are still alive in the patients’ bodies after more than three years.
Stigma lingers for deadliest cancer
“The genetically modified T-cells have survived,” Porter said. “They’re still present and functional and have the ability to protect against recurrence.”
Second, before declaring patients in remission, Penn doctors scoured especially hard for errant leukemia cells.
Traditionally, for the kind of leukemia Nick has, doctors can find one in 1,000 to one in 10,000 cancer cells. But Penn’s technology could find one in 100,000 to one in a million cancer cells, and didn’t find any in Nick or any of the patients who went into complete remission.
‘It’s not a fluke’
One of the best aspects of this new treatment is that it won’t be terribly difficult to reproduce at other medical centers, Porter said, and one day, instead of being used only experimentally, it could be available to anyone who needed it.
“Our hope is that this can progress really quite quickly,” he said. “It won’t be available to everyone next year, but I don’t think it would take a decade, either.”
Right now patients can only get this therapy if they’re in a study, but Dr. Renier Brentjens, director for cellular therapeutics at Memorial Sloan-Kettering, says he thinks it could become available to all patients in just three to five years.
“When you have three centers all with a substantial number of patients seeing the same thing — that these cells work in this disease – you know it’s not a fluke,” he said.
Two days ago, Brentjens became the co-founder of Juno Therapeutics, a for-profit biotech start-up company that’s working on immunotherapies.
“Fifteen years ago I was in the lab looking at these cells kill tumor cells in a petri dish and then I saw them kill tumor cells in mice, and then finally in humans,” Brentjens said.
He says he’ll never forget the first patient he treated, who initially had an enormous amount of cancer cells in his bone marrow. Then after the therapy, Brentjens looked under the microscope and, in awe, realized he couldn’t find a single cancer cell.
“I can’t describe what that’s like,” he said. “It’s fantastic.”
CNN’s John Bonifield contributed to this report.

                      Nguồn tham khảo: http://www.tredeponline.com/post/?p=49492

Thứ Tư, 5 tháng 2, 2014

BỐN BÀ VỢ YÊU QUÝ


     Đứng trước dòng thác lũ cuộc đời nên hư, thành bại, phải quấy, tốt xấu, hơn thua và vô vàn sự cám dỗ, con người cứ như thế loanh quanh, lẫn quẫn trong vòng oan gia trái chủ, do đó mà tạo ra không biết bao điều tội lỗi.
     Có ông trưởng giả nọ, không biết gieo tạo nghiệp nhân gì mà có đến bốn bà vợ. Bà thứ nhất được cha mẹ hai bên chấp nhận nên đứng ra làm lễ thành hôn đàng hoàng. Khi về nhà chồng, bà được ông trưởng giả hết sức cưng yêu chiều chuộng, nên bà muốn gì được đó. Mỗi khi trời lạnh, ông lo cho bà đầy đủ nệm ấm chăn êm. Đến lúc trời nóng, ông lo quạt mát cho bà. Nói chung, từ ăn uống, vui chơi, sinh hoạt, làm việc, cho đến ngủ nghỉ, ông đều lo cho bà đầy đủ chu đáo hết tất cả, mọi nhu cầu cần thiết không thiếu một thứ gì.
   Kế đến bà vợ thứ hai, bà ta đúng là một trang tuyệt sắc giai nhân, xinh đẹp chẳng khác nào nàng Tây Thi năm xưa ở bên Tàu. Mặc dù nàng không được cưng chiều như bà thứ nhất cho lắm, nhưng bà thứ hai vì quá xinh đẹp, kiều diễm, dễ thương, nên làm cho ông trưởng giả đắm say, mê mẫn, tê tái cả tâm hồn. Thậm chí, mỗi khi bà có chuyện bận phải đi xa, lâu ngày mới về, ông trưởng giả thầm thương, trộm nhớ, đứng ngồi không yên, có khi quên cả ăn uống, thức sáng suốt thâu đêm mà nhớ thương về nàng. Những khi bà vắng nhà hơi lâu, ông trưởng giả rầu rĩ lo âu, buồn khổ, mong nhớ ngày đêm như kẻ mất hồn, nhiều khi ông ta muốn tìm cách tự tử quyên sinh, chết phức cho rồi mỗi khi vắng bà.
  Còn bà vợ thứ ba tuy không đầm thắm và mặn nồng như hai bà trước, nhưng lâu ngày chung chạ ăn nằm với nhau, tình cảm vợ chồng cũng trở nên đậm đà, sâu sắc, và càng ngày sống có tình nghĩa hơn. Do đó, ông trưởng giả đối với bà cũng có chút ân nghĩa khi cần, mà chia sẻ nâng đỡ cho nhau những nỗi khổ niềm đau, và cùng vui sống, yêu thương đùm bọc giúp đỡ lẫn nhau.
    Rồi đến bà vợ thứ tư, bà này hình như suốt cả đời chịu nhiều phiền muộn khổ đau, đắng cay tuổi nhục, bởi bà rất thương yêu, chiều chuộng, chăm sóc ông trưởng giả hết mình. Công việc dù khó khăn, cực khổ, nhọc nhằn đến đâu, bà cũng ráng cố gắng lo chu toàn mọi thứ. Nhưng ngược đời thay, ông trưởng giả chẳng thèm để ý hay quan tâm, thương tưởng đến bà, thậm chí nhiều khi còn đánh đập, xua đuổi, hắt hủi bà như kẻ hầu, người ở.
    Riêng đối với bà vợ thứ tư, lúc nào bà cũng có mặt bên ông như bóng với hình, chẳng bao giờ rời xa một bước. Thế mà ông chẳng thèm ngó ngàng gì đến, chỉ quan tâm thương tưởng đến ba bà kia, làm cho bà thầm thương trộm nhớ, khổ sở vô cùng, tuy sống gần gũi bên ông nhưng giống như kẻ âm người dương cách biệt nghìn trùng.
   Đức Phật đã kể câu chuyện này khi Ngài còn tại thế để khuyên nhủ và răn dạy hàng đệ tử chúng ta.
   Dân gian hay nói: một vợ nằm giường lèo, hai vợ nằm chèo queo, ba vợ nằm chèo quèo, bốn vợ ngủ chuồng heo.
   Câu chuyện trên là một bài pháp sống động với ẩn dụ sâu sắc, nhằm giúp chúng ta biết soi sáng lại chính mình mà nhận ra lẽ thật hư trong cuộc đời. Phật đưa ra hình ảnh bốn bà vợ là để ám chỉ cho bốn thứ gần gũi nhất trong đời sống hằng ngày của chúng ta, nhưng ta nào hay biết, cứ mãi vui chơi, lao mình chìm đắm trong biển khổ sông mê mà luống để thời gian trôi qua vô ích. Cho nên:
       Trăm năm trước khi ta chưa có
       Thời gian vẫn trôi qua lặng lẽ.
       Trăm năm khi ta đang có mặt
       Thời gian vẫn âm thầm qua mau.
       Trăm năm sau khi ta chết
       Thời gian không vì thế mà buồn rầu.
       Ta chỉ tiếc để thời gian suông
       Mà buông lung làm việc vô nghĩa.       
    Một hôm, ông trưởng giả bệnh nặng, biết mình khó qua khỏi con trăng này, nên ông cho mời bốn bà vợ lại để hỏi xem có bà nào chung thủy, phát tâm theo ông về thế giới bên kia hay không?
    Ông quay sang hỏi bà vợ thứ nhất, “bà có phát tâm theo tôi về bên kia thế giới vĩnh hằng hay không?”
   Bà thứ nhất nói rằng, “xin anh hãy thông cảm và tha thứ cho em, em vẫn biết và nhớ ơn anh rất nhiều. Cuộc sống của em bao nhiêu năm nay nhờ anh tận tình lo lắng, chăm sóc, giúp đỡ, em thật thoải mái và an lạc hạnh phúc. Anh đúng là mẫu người chồng lý tưởng có một không hai trên cõi đời này. Chính vì vậy, em luôn yêu thương và nhớ ơn anh vô cùng. Nhưng bây giờ, anh bảo em theo anh về bên kia thế giới vĩnh hằng để cùng chung sống với nhau cho trọn tình trọn nghĩa thì không thể nào được. Anh hãy thông cảm và tha thứ cho em, vì ai cũng có nhân duyên và hoàn cảnh khác nhau.
    Mặc dù em không được ở gần bên anh, vắng anh em sẽ thiếu thốn, khó khăn, khổ sở vô cùng. Thà rằng em chịu cô đơn, đau khổ một mình, chứ em không thể nào đi theo anh được, xin anh hãy khoan dung độ lượng mà cảm thông và tha thứ cho em. Vì tình nghĩa vợ chồng bấy lâu nay, nếu anh có chết đi, em sẽ tiễn đưa anh ra tới cổng nhà là cũng quý và tình nghĩa lắm rồi”.     
    Ông trưởng giả nghe bà thứ nhất nói như vậy, hai hàng lệ rơi lăn tròn trên khóe mắt, ngậm ngùi đau khổ quay sang bà vợ thứ hai, “còn em? Em có thể theo anh về thế giới bên kia hay không, hỡi em yêu dấu?”
   Bà thứ hai thì thông minh lanh lợi hơn, nên nhanh nhẫu trả lời rằng, “Anh cứ yên chí đi, anh khỏi phải bận bịu lo lắng chuyện đó nữa, vì chúng ta ai cũng có phúc có phần. Bình thường lúc đương thời, anh thương yêu chăm sóc và lo lắng cho em thật nhiều, em rất biết ơn anh đã sống có tình có nghĩa với em như thế. Nhưng em bây giờ còn trẻ đẹp, còn xinh xắn, còn dễ thương, còn mi nhon, nên rất được nhiều người ngắm nghía thèm thuồng, thương tưởng đến em, tương lai của em còn tràn đầy sức sống và hy vọng. Nếu anh có ra đi về bên kia miền đất hứa, thì xin anh hãy cảm thông mà âm thầm lặng lẽ một mình cất bước. Em hiện giờ tương lai còn xán lạn, do đó cần phải tìm một đấng lang quân để nương tựa lâu dài và sống hết quãng đời còn lại. Nghĩ tình anh thương yêu chiều chuộng và lo lắng cho em trong nhiều năm qua, em nghĩ chút tình sẽ tiễn đưa anh ra tới cửa nhà, vậy cũng là quý lắm rồi anh ạ”.
    Nghe bà thứ hai nói vậy, ông trưởng giả như đứt từng khúc ruột, đau xót não nề mà quay sang bà vợ thứ ba, “còn em thì sao? Em có thể theo anh về bên kia miền đất hứa?
    Bà vợ thứ ba nghe ông trưởng giả hỏi vậy, bà ta vừa khóc vừa nói, “Lúc anh còn mạnh khỏe, anh chỉ biết lo cho chị cả và chị hai mà ít bao giờ quan tâm, đoái hoài, thương tưởng đến em. Tuy nhiên, vẫn có những lúc anh hết mực yêu thương em chân thành. Nghĩ chút tình chồng nghĩa vợ bấy lâu nay, sau khi anh về thế giới bên kia, em sẽ đưa anh ra tận nghĩa trang để lo cho anh yên mồ yên mã, sau đó em sẽ cúng tế, giỗ chạp cho anh đầy đủ, để trả lại công ơn anh đã thương tưởng, đoái hoài đến em khi còn sống. Còn việc phải đi theo anh về bên kia miền đất hứa thì không thể nào được, em còn phải có bổn phận, trách nhiệm đối với gia đình người thân, xin anh hãy hiểu và thông cảm cho tấm lòng thành thật của em”.
    Như tiếng sét đánh ngang tai, bao nhiêu mộng đẹp bấy lây nay bây giờ tan tành theo mây khói, ông trưởng giả rụng rời tay chân, toát cả mồ hôi hột, cảm thấy khổ đau vô cùng, chẳng còn biết nghĩ gì hơn, ông đành chấp nhận nhắm mắt xuôi tay, mặc cho số phận ra sao cũng được.
    Lúc này, bà vợ thứ tư như hiểu được tâm trạng của ông đang muốn gì, nên bà mới ân cần nói rằng, “này anh yêu dấu của em! Anh chớ nên lo buồn quá đáng. Anh cứ yên chí đi, em sẽ là người theo anh suốt cả cuộc hành trình, dù anh có đến chân trời góc biển xa xôi nào, hoặc lên thiên đường hay xuống địa ngục. Mặc dầu bình thường anh chỉ quan tâm, lo lắng cho chị cả, chị hai và chị ba, chẳng bao giờ anh biết nhớ nghĩ và thương tưởng đến em, thật ra em cũng rất đau buồn và khổ sở lắm chứ; nhưng dù sao, chúng ta vẫn là vợ chồng với nhau, nghĩ chút tình chồng vợ, em sẽ nguyện theo anh trong suốt ba cõi sáu đường. Anh cứ yên chí vì đã có em kề cận, không rời xa anh nửa bước, anh đi tới đâu thì em sẽ theo anh tới đó”.
   Nghe được những lời nói ngọt ngào và êm dịu như thế, ông trưởng giả như được mãn nguyện, liền vui lòng nhắm mắt ra đi.
    Đây là một bài kinh ẩn dụ mang một triết lý sâu sắc, để lại cho mỗi hành giả phải suy ngẫm, quán chiếu, soi sáng, và có sức định tĩnh trong tu tập, mới có thể hiểu thấu hết lời Phật dạy. Tại sao Phật không dùng một hình ảnh nào khác để thí dụ, mà lại dùng hình ảnh bốn bà vợ với mục đích gì? Vì hình ảnh này luôn luôn gần gũi với đời sống hằng ngày của chúng ta, nhằm phá sự chấp trước do si mê tham đắm, mà thấy biết sai lầm không đúng với lẽ thật về thân phận của một kiếp người.
   Hình ảnh bà vợ thứ nhất, Phật dụ cho sắc thân của mỗi người chúng ta.
   Hình ảnh bà vợ thứ hai, Phật dụ cho tiền bạc của cải của chúng ta ở trong nhà. Ta đi đâu đó cũng đều có tiền trong túi và không thể thiếu nó. Nhưng khi chúng ta chết, nó chỉ nằm trong tủ hoặc két sắt thuộc phạm vi trong nhà, vì vậy mà bà vợ thứ hai chỉ nói đưa tới cửa mà thôi.
   Hình ảnh bà vợ thứ ba, Phật dụ cho ông bà cha mẹ và họ hàng thân thuộc của hai bên chồng vợ. Người vợ thứ ba dụ cho sự nghiệp gia đình người thân, công danh chức tước. Khi đưa quan tài người chết tới huyệt thì họ đọc điếu văn kể công trạng, rồi mới hạ huyệt chôn cất, nên nói đưa tới mộ.
   Hình ảnh bà vợ thứ tư, Phật dụ cho việc làm của mỗi người chúng ta được lập đi lập lại nhiều lần từ thân miệng ý, từ vô thủy kiếp đến nay, hay còn gọi là thói quen hoặc nghiệp báo. Cho nên, bà vợ thứ tư dụ cho nghiệp lành hay nghiệp dữ luôn theo ta như hình với bóng, ta ở đâu thì nó theo đó không rời nửa bước, chính vì thế mới tình nguyện chết theo.
   Ai cũng vậy, lúc còn sống thì ta thương yêu quý tiếc gìn giữ sắc thân, tiền bạc của cải, và lo lắng bảo vệ cho gia đình người thân, nên từ đó ta dễ dàng gây tạo nhiều tội lỗi. Đến khi sắp chết lìa đời, ba thứ ta hay lo lắng, quý tiếc gìn giữ thân thương nhất, lại không thể nào mang theo được, mà chỉ mang theo nghiệp lành hay nghiệp dữ đã làm trong hiện tại.
   Khi ta chuẩn bị từ giã cõi đời thì ba thứ thân thương nhất ta đều phải bỏ lại hết, duy chỉ có bà vợ thứ tư là ẩn dụ cho nghiệp báo tốt xấu của mỗi người, nó theo ta như bóng với hình, ta sinh ra chỗ tốt hay đọa vào chỗ xấu là tùy thuộc vào việc làm và thói quen của ta trong hiện tại. Nó sẽ theo ta trong suốt cuộc hành trình với những đời sống kế tiếp.
   Thật ra, chết không phải là hết, mà chết chỉ là thay hình đổi dạng để tiếp tục đời sống mới trong ba cõi sáu đường, trời, người, A Tu La, và địa ngục, quỷ đói, súc sinh. Hai loại chúng sinh ta dễ dàng nhìn thấy nhất là con người và các loài súc sinh. Còn bốn con đường kia, khi ta có sự thể nghiệm trong quán chiếu tu tập, ta mới có thể thấy rõ tường tận từng cảnh giới sống của chúng.              
   Nhìn vào thực tế trong đời sống nhân gian bằng sự quán sát và xem xét, ta có thể thấy chư Thiên vẫn hiện hữu nơi cõi người. Như những người giàu sang nhiều tiền bạc của cải, họ có quyền cao chức trọng, nhưng họ vẫn sống có nhân cách và đạo đức, luôn luôn giúp người cứu vật, sống vì lợi ích tha nhân nhiều hơn là chính mình. Đó là chư Thiên hiện tiền trong thế giới con người chúng ta.
  Có nhiều người tuy thường xuyên gieo trồng phước đức, giúp người cứu vật, và sẵn sàng san sẻ giúp đỡ khi gặp người khó khăn hoạn nạn, bất hạnh khổ đau, nhưng tính tình còn nhiều nóng giận hay la rầy, nói nặng nói nhẹ, mắng chửi người khác, do đó hiện tướng A Tu La ngay nơi cuộc sống này.
   Ai đang làm từ thiện để đóng góp sẻ chia thì hãy nên suy xét lại, nếu không khéo tuy có lòng giúp đỡ tha nhân, nhưng làm cho người ta sinh tâm ganh ghét, giận hờn, có khi gây thù chuốc oán, phản tác dụng trở thành oan gia trái chủ.
   Ai trực tiếp giết hại người vật một cách tàn nhẫn, dã man, không thương tiếc, chế tạo vũ khí để xúi người ta giết chóc hoặc mở lò sát sinh, luôn gây chiến tranh để nhân loại tàn sát giết hại lẫn nhau, thì địa ngục sẽ hiện tiền nơi cõi Ta Bà này. Người Phật tử chân chính không trực tiếp, hay xúi bảo, hoặc vui vẻ khi thấy người khác giết hại, thì tránh được khổ báo không bị đọa địa ngục trong hiện tại và tương lai.
   Kẻ tham lam bỏn sẻn có nhiều tiền của không đem ra giúp người khi gặp thiếu thốn khó khăn, thà để hư mục, hoặc bóc lột sức lao động của con người và vật quá đáng. Tuy giàu có nhưng không bao giờ biết mở lòng với ai, mà còn tìm cách vơ vét về cho riêng mình, tâm địa ích kỷ, san tham, hẹp hòi là nhân bị đọa vào loài quỷ đói, để chịu khổ báo đói khát vô lượng kiếp.
   Tóm lại, vì sự sống của riêng mình và người thân, hay rộng hơn là một đất nước mà ta đành lòng giết hại gây đau khổ cho nhau cũng chỉ miếng ăn thức uống, hay các nhu cầu cần thiết khác. Phật dạy, đời sống của chúng ta là một chuỗi dài nhân duyên, liên quan mật thiết với nhau.
   Dù ta có tài giỏi đến đâu cũng phải nương nhờ lẫn nhau theo tiến trình diễn biến nhân quả mới bảo tồn mạng sống, ta không làm ruộng nhưng vẫn có cơm để ăn, ta không dệt vải nhưng vẫn có quần áo để mặc, và cứ tương tự như thế các nhu cầu cần thiết khác cũng lại như vậy. Chính vì thế, Phật dạy chúng ta cần phải có bổn phận, trách nhiệm, thương yêu, đùm bọc, giúp đỡ lẫn nhau bằng trái tim hiểu biết, trên tinh thần vô ngã vị tha
                                                                           Tác giả : Thích Đạt Ma Phổ Giác
                                                                          Nguồn  http://thuvienhoasen.org/

Thứ Hai, 3 tháng 2, 2014

THIỀN SƯ VÀ CÔ LÁI ĐÒ XINH ĐẸP

Sự việc tới Tâm vui đón nhận
                    Việc qua rồi Tâm cũng theo qua          (ST)
  
 - Một hôm, một Thiền sư phải qua sông. Sư bước lên một chiếc đò của một cô lái đò xinh đẹp...
    Sau khi thuyền cặp bến, cô lái thu tiền từng ngườì như bình thường, chỉ trừ nhà sư bị cô lái đò đòi tiền gấp đôi.
    Nhà sư ngạc nhiên hỏi vì sao.
   Cô lái mỉm cười: “Thưa Thầy, vì Thầy đã nhìn em…”
   Nhà sư lặng lẽ trả tiền và bước lên bờ.
   Một hôm nhà sư lại qua sông. Lần nầy cô lái đòi tiền "gấp ba."
   Nhà sư ngạc nhiên, hỏi vì sao.
   Cô lái cười bảo: Thưa Thầy, Thầy đã nhìn em dưới nước.
   Nhà sư nín lặng trả tiền gấp ba bình thường và bước lên bờ.
   Một hôm nhà sư lại qua sông. Vừa bước lên đò nhà sư nhắm nghiền mắt lại đi vào thiền định.
   Đò cập bến cô lái đò thu tiền "gấp năm" lần. Nhà sư ngạc nhiên, hỏi vì sao.
  Cô lái cười, đáp: Thưa Thầy, Thầy không nhìn em, nhưng còn nghĩ đến em.
  Lặng lẽ, nhà sư trả tiền gấp năm lần bình thường.
  Một hôm nhà sư lại qua sông. Lần nầy nhà sư nhìn thẳng vào cô lái đò…
  Đò cập bến, nhà sư cười hỏi lần nầy phải trả bao nhiêu.
  Cô lái đáp: Em xin đưa Thầy qua sông, không thu tiền.
  Thiền sư hỏi vì sao.
  Cô lái cười và đáp: - Thầy đã nhìn em mà không còn dính mắc gì tới hình ảnh em nữa… Do vậy, em xin đưa Thầy qua sông mà thôi...

                                                                                                     Nguồn http://kienthuc.net.vn