Thứ Tư, 16 tháng 12, 2015

NHỮNG CHUYỆN LUÂN HỒI DƯỚI CÁI NHÌN CỦA BẬC BỒ TÁT



Thuở xưa vào triều đại nhà Lương ở Trung Hoa có Thiền sư Chí Công là một bậc Đại đức cao tăng. Không sử sách nào ghi lại song thân của Thiền sư là ai. Người ta thường kể với nhau rằng: Một hôm nọ, có người phụ nữ nghe tiếng khóc của một hài nhi trên cành cây cao. Cô ta trèo lên, thấy một hài nhi nằm trong tổ chim ưng, bèn đem hài nhi về nuôi. Tuy thân thể hài nhi này hoàn toàn giống như người nhưng những móng tay, móng chân giống như móng chim ưng. Khi trưởng thành, xuất gia tu đạo, chứng được ngũ nhãn lục thông. Không biết cha mẹ Ngài là ai, chỉ biết Ngài sinh trong tổ chim ưng nên mọi người đều phỏng đoán Ngài được sinh ra từ trứng chim ưng vậy.
Thời ấy, vua Lương Vũ Đế cũng như mọi người đều rất kính trọng và tin phục các Thiền sư. Bất luận khi họ gặp những sự kịên gì trong đời sống, như sinh con, cha mẹ qua đời, cưới hỏi… họ đều cung thỉnh các Thiền sư đến để tụng kinh chú nguyện.
Một hôm, có một gia đình giàu có thỉnh Thiền sư đến tụng kinh chú nguyện nhân dịp đám cưới người con gái của họ, đồng thời thỉnh Thiền sư ban cho vài lời chúc mừng để mong rằng trong tương lai, việc hôn nhân đều được tốt lành như ý. Thiền sư Chí Công đến nhà ấy, khi nhìn thấy cô dâu chú rể, Ngài liền nói:
“Thật cổ quái, thật cổ quái! Cháu cưới bà nội.”
“Thật cổ quái” nghĩa là xưa nay chưa từng có một việc như vậy. Đây không phải là chuyện xưa nay thường xảy ra. Thật kỳ lạ khi nhìn một đứa cháu cưới bà nội mình làm vợ. Trên thế gian này, nếu không thông đạt những nhân duyên trong thời quá khứ thì không thể nào lý giải được những mối quan hệ cha con, mẹ con, vợ chồng, anh em, bè bạn… của nhau. Vì sao? Vì mọi người đều có thể là chồng hoặc vợ của nhau trong đời trước. Một người có thể là cha hoặc là con của nhau trong nhiều đời trước. Hoặc một người đều là mẹ và con gái của nhau trong đời trước. Ông nội của quí vị trong đời trước lại kết hôn với cháu gái của quí vị trong đời này. Hoặc là bà ngoại đời trước lại tái sinh làm con gái của quí vị. Tất cả mọi việc đều có thể xảy ra, và đều chịu sự biến hóa khôn lường.
Trong nhà này, chuyện “cháu cưới bà nội” là do trước kia, khi bà nội sắp mất, bà trăn trối lại với toàn gia quyến: “Con trai ta vừa mới cưới vợ và đã có con nối dòng. Con gái ta cũng đã có chồng, ta không còn bận tâm gì nữa”. Bà ta hoàn toàn thỏa mãn và đã gạt mọi sự bận tâm qua một bên, ngoại trừ một điều: còn đứa cháu nội, “tương lai rồi sẽ ra sao? Ai sẽ chăm sóc nó? Liệu người vợ của nó có đảm đang hay không? Ta không thể nào không lo cho nó được!”
Bà nắm tay đứa cháu nội và qua đời. Người ta bảo rằng nếu mọi việc đều toại nguyện, lúc lâm chung có được tâm trạng thơ thới thì người chết sẽ nhắm mắt. Còn nếu không, thì người chết không nhắm mắt được. Bà lão nói: “Bà rất lo lắng cho cháu, bà chết không nhắm mắt được”. Nói xong, bà ra đi mà mắt vẫn mở. Thần thức của bà vẫn còn lo âu. Khi đến gặp Diêm vương, bà ta than khóc, thưa rằng:
– Tôi còn đứa cháu nội, không ai chăm sóc nó.
Diêm vương đáp:
– Được rồi, bà hãy trở lại dương gian chăm sóc cho nó.
Nói xong, bà ta được đầu thai trở lại trong cõi trần. Khi đến tuổi thành hôn, bà ta lấy người cháu nội trước đây của bà ta. Vì vậy nên nói “cháu lấy bà nội”. Quí vị thấy có phải là cổ quái thật không?
Chỉ vì một niệm ái luyến không buông xả được mà tạo nên biết bao duyên nghiệp buộc ràng về sau. Bà ta chỉ vì bận tâm vì đứa cháu, mà về sau phải làm vợ cho nó. Quí vị thử nghĩ lại xem, đây chẳng phải là chuyện cổ quái hay sao?
Quí vị sẽ hỏi: “Làm sao mà Thiền sư Chí Công biết được điều ấy?” Thiền sư biết được là vì Ngài đã đạt được ngũ nhãn và lục thông. Nên chỉ cần nhìn qua, là Ngài liền biết được ngay kiếp trước của cô dâu vốn là bà nội của chú rể. Chỉ vì bà nội đã khởi một niệm ái luyến sai lầm nên nay phải đầu thai trở lại làm người, và làm vợ của đứa cháu nội mình. Một niệm lành còn như thế huống gì là niệm ác, hoặc khởi trùng trùng niệm ác thì luân hồi trong tam đồ lục đạo biết bao giờ dứt, biết bao giờ mới mong ra khỏi.
Thiền sư lại nhìn trong số khách đến dự đám cưới, có một bé gái đang ăn thịt, Ngài nói: “Con gái ăn thịt mẹ”.
Vì miếng thịt mà em bé đang ăn là thịt dê, con dê này vốn là mẹ của em bé đầu thai lại. Kiếp trước bà ta đã tạo nghiệp ác quá lớn nên đã phải đọa làm dê. Nay lại bị chính con mình ăn thịt. Vòng oán nghiệp khởi dậy do vô minh của chúng sinh không lời nào kể hết được. Chư Bồ Tát thương xót, phát tâm cứu độ chúng sinh là do điểm này.
Khi Thiền sư nhìn các nhạc công, thấy có vị đang đánh trống. Ngài nói: “Con trai đang đánh bố”.
Vì cái trống ấy bịt bằng da lừa. Con lừa này chính là cha của anh nhạc công đầu thai vào. Con lừa này bị giết thịt, lấy da làm mặt trống. Thật là đau thương cho kiếp luân hồi.
Ngài nhình quanh đám cưới, nói tiếp: “Heo dê ngồi ở trên”.
Ngài thấy có vô số loài heo, cừu, dê, gà được đầu thai trở lại làm người, nay họ đều là bà con thân quyến của nhau nên cũng đến dự đám cưới này.
Nhìn trong bếp, Ngài nói: “Lục thân bị nấu trong nồi”.
Chính là cha mẹ, anh em, bà con, bè bạn do kiếp trước đã sát sinh heo, gà quá nhiều để ăn, nay lại bị đọa làm heo, dê, gà trở lại; rồi bị giết thịt, bỏ vào nồi chiên nấu trở lại.
Ngài nói tiếp: “Mọi người đều vui vẻ chúc mừng nhau”.
Mọi người đến dự đám cưới đều rất vui vẻ mà chúc tụng nhau. Ngài tự than với mình rằng:
“Trông thấy cảnh ấy mà lòng đau xót, ta biết đó chính là những oán nghiệp xoay vần vay trả, tạo nên nỗi khổ chất chồng”.
Thiền sư Chí Công biết rõ nhân quả khi nhìn vào gia đình này. Làm sao chúng ta có thể hiểu được hết chuỗi nhân quả của từng gia đình với trùng trùng khác biệt nhau ra sao. Cho nên những người tu đạo phải rất cẩn trọng trong khi tu nhân, vì khi nhân duyên chín mùi sẽ gặt lấy quả tương ứng với nhân đã gieo. Tại sao người lại trở lại làm người? Là để trả nợ, trả những món nợ nhân quả ở thế gian. Nếu quí vị không tìm cách trả món nợ này thì nợ nần vẫn tiếp tục, như món nợ đã vay của ngân hàng vậy.
Tôi nhớ một câu chuyện này nữa. Có một gia đình nuôi một con lừa, dùng nó để kéo cối xay và chuyên chở. Người chủ thấy lừa quá chậm chạp nên thường dùng roi đánh nó để thúc giục. Con lừa làm việc miệt mài trong cực nhọc cho đến khi chết. Nó được đầu thai làm người. Khi người chủ hay đánh đập lừa chết, lại đầu thai làm một người phụ nữ. Khi cả hai người này đến tuổi thành hôn thì họ cưới nhau.
Quí vị có biết cặp vợ chồng này sống với nhau như thế nào không? Suốt ngày người chồng đánh đập người vợ. Ông đánh vợ bất kỳ lúc nào, bất luận đang cầm vật gì trên tay, cả lúc đang ăn cơm cũng đánh vợ bằng đũa. Ông ta vừa đánh vừa chửi, cho dù người vợ chẳng làm điều gì sai trái.
Một hôm Thiền sư Chí Công đi qua nhà họ. Người phụ nữ bèn thưa với Ngài:
– Chồng con ngày nào cũng đánh và chửi con qúa chừng mà con không biết tại sao. Bạch Ngài, xin Ngài hãy dùng ngũ nhãn, lục thông bảo cho con biết mối tương quan nhân quả của chúng con đời trước ra sao mà đời này chồng con đánh đập và chửi mắng con hoài vậy?
Thiền sư Chí Công đáp:
– Tôi sẽ nói rõ tương quan nhân quả của hai người cho mà nghe. Trong đời trước, bà là một người đàn ông. Ngày nào bà cũng đánh đập chửi mắng con lừa, thúc giục nó phải kéo cối xay bột.
Ông chủ ấy thường đánh con lừa bằng cái chổi tre. Nay ông chủ được đầu thai lại làm người phụ nữ, đó chính là bà. Còn con lừa thì được đầu thai làm người chồng. Nay ông ta thường hay đánh đập chửi mắng bà cũng như kiếp trước bà đã thường đánh chửi ông tức là con lừa vậy. Nay bà đã hiểu rõ nhân quả tương quan với nhau rồi, tôi sẽ bày cho một cách để chấm dứt vòng oán nghiệp này. Bà hãy cất giấu tất cả mọi dụng cụ trong nhà ngoại trừ cái chổi đuôi ngựa (chổi dây). Khi người chồng thấy chẳng còn vật gì dùng để đánh cô, anh ta sẽ cầm chổi dây này để đánh. Cứ để cho anh ta đánh vài trăm roi, thì nợ cũ của bà mới được trả. Lúc đó, bà mới báo cho anh ta biết nhân đời trước và quả đời sau báo ứng với nhau rất rõ ràng như tôi vừa giải thích cho bà. Anh ta sẽ không còn đánh bà nữa.
Người phụ nữ làm đúng như lời Thiền sư Chí Công chỉ dạy. Khi người chồng về đến nhà, ông ta liền kiếm vật gì đó để đánh vợ. Chỉ còn thấy chiếc chổi đuôi ngựa, ông ta cầm lấy và đánh. Thông thường như mọi khi, cô ta tìm cách chạy trốn. Nhưng lần này cô ta kiên nhẫn ngồi đó chịu đòn cho đến khi ông chồng ngừng tay.
Thấy lạ, ông ta hỏi tại sao bà không bỏ chạy. Cô ta kể lại việc được Thiền sư Chí Công giải thích cặn kẽ tương quan nhân quả của hai người. Ông chồng nghe xong ngẫm nghĩ: “Như thế thì từ nay ta không nên đánh chửi cô ta nữa. Nếu còn đánh, thì kiếp sau cô ta sẽ đầu thai trở lại rồi tìm ta để đánh chửi”. Từ đó ông chồng không còn đánh mắng người vợ nữa.
Thế nên quí vị phải biết mọi người đều có sự quan hệ với nhau tương ứng với nhân đã tạo. Quí vị chẳng thể nào biết được trong đời trước, ai đã từng là mẹ, là anh, là cha hay là chị em của mình. Cái nhân đã tạo ở đời trước sẽ tạo thành quả đời này và nhất định có liên quan đến bà con quyến thuộc của mình. Nếu quí vị hiểu được đạo lý nhân quả, thì quí vị có thể chuyển hóa, biến cải được nhân bằng cách từ bỏ những việc ác.
Còn một chuyện nữa về Thiền sư Chí Công. Một ngày Ngài ăn hai con chim bồ câu. Ngài rất thích món ăn này. Người đầu bếp nghĩ rằng món thịt bồ câu chắc là rất ngon nên ngày nọ anh ta quyết định nếm thử. Anh ta làm việc này với hai ý nghĩ: một mặt là muốn thử xem thức ăn hôm nay mình làm có ngon hay không? một mặt khác anh ta nghĩ rằng Ngài Chí Công ngày nào cũng thích ăn bồ câu, nhất định đây là một món ăn rất ngon, nên muốn thưởng thức một chút rồi mới đem đến cho Thiền sư dùng.
Khi người đầu bếp mang thức ăn đến. Ngài nhìn đĩa thức ăn và hỏi:
– Hôm nay có ai nếm trộm thức ăn này? Có phải chính anh không?
Người đầu bếp liền chối. Thiền sư liền bảo:
– Anh còn chối. Tôi sẽ cho anh thấy tận mắt ai là người nếm trộm. Hãy nhìn đây!
Ngài liền ngồi ăn. Ăn hết hai con bồ câu rồi, Ngài liền há miệng rộng, trong đó, một con bồ câu liền vẫy cánh bay ra còn con kia thì bị mất một cánh, không thể bay lên được.
Thiền sư mới bảo:
– Anh thấy đó, nếu anh không nếm trộm thì tại sao con bồ câu này không thể bay được? Chính là vì ông đã ăn hết một cánh của nó.
Chuyện này làm cho anh đầu bếp biết Thiền sư Chí Công không phải là người thường. Ngài chính là hóa thân của Bồ tát. Thế nên Ngài có năng lực biến những con bồ câu bị nấu thành thức ăn rồi thành bồ câu sống. Không phải là Bồ tát, không làm chuyện này được.
Thiền sư Chí Công còn thường ăn một loại cá gọi là Tuệ Ngư. Cũng đem cá ra nấu nướng rồi Ngài ăn từ đuôi lên đầu. Nhưng sau đó Ngài lại há miệng ra làm cá sống lại. Vì vậy, những việc này là rất thường đối với cảnh giới của hàng Bồ – tát. Thiền sư Chí Công là một vị Bồ – tát, nhưng không bao giờ Ngài nói: “Các ngươi biết không, ta là một vị Bồ – tát, ta đang giáo hóa chúng sanh, ta có đại nguyện này, hạnh nguyện kia…” Các vị không bao giờ mong khởi ý niệm ấy. Cho nên chúng ta là hàng phàm phu, dù có thấy Chư Phật hay Bồ – tát cũng không thể nào nhận biết được. Việc làm của Bồ – tát cũng gần như hành xử của người thường, nhưng thực chất lại không giống nhau. Là vì phàm phu khi hành động chỉ nghĩ đến lợi ích của chính mình, không nghĩ đến sự giúp đỡ cho người khác. Còn Bồ – tát thì chỉ nghĩ đến lợi ích của người khác mà không nghĩ đến mình. Khác nhau là ở điểm này. Bồ – tát thì tự làm lợi ích cho mình còn lo làm lợi ích cho người khác. Tự giác ngộ mình xong rồi giúp cho người khác giác ngộ. Tự độ hoàn toàn, lợi tha hoàn toàn.
                                            Trích từ bài pháp Giảng Giải Chú Đại Bi
                                                          Cố hòa thượng Tuyên Hóa

Thứ Ba, 15 tháng 12, 2015

ƠN THẦY



                                                                                   
 
                                                                                
                                                                       ƠN THẦY

                                                                                                           Bể khổ xoay vần quả nặng vai,
                                                                                                           Nhiêu đường lận đận tỏ cùng ai.
                                                                                                           Xuân kỳ nhập thế chìm đen trắng,
                                                                                                           Lão trượng xu thời vướng đúng sai.
                                                                                                           Quanh quẩn một đời trong xó ngõ,
                                                                                                           Tới lui vạn kiếp góc chân đài.
                                                                                                           Băn khoăn ngộ tĩnh nương thềm giáo,
                                                                                                           Lĩnh hội ơn Thầy nguyện sáng khai.


                                                                                                                                                Minh Đạo - 2015
                                                                                               

Thứ Hai, 14 tháng 12, 2015

SUÝT MẤT MẠNG VÌ ĂN BƯỞI

                                                  Hiển thị


Cô con gái mua bưởi biếu bố, ông bố ăn xong vẫn không có chuyện gì xảy ra, nhưng ngày hôm sau, sau khi ông uống thuốc liền ăn mấy múi bưởi. Chỉ trong vòng 30p sau, ông bị chóng mặt, buồn nôn, tim đập nhanh, huyết áp thấp, người nhà liền đưa ông vào bệnh viện cấp cứu. Mặc dù ông được cứu sống, nhưng di chứng là cơ bắp đã bị teo.
Nguyên do là trong bưởi có một chất xúc tác đặc biệt, nó có thể kết hợp với rất nhiều loại thuốc. Khiến cho thuốc lập tức tiến nhập vào máu, làm tăng cường tác dụng của thuốc. Nếu lấy nước ép bưởi và thuốc hạ cholesterol, cùng uống một lúc, sẽ khiến tăng cường tác dụng làm hạ cholesterol, lại khiến cho cơ bắp bị teo tóp. Nếu như uống cùng với thuốc hạ huyết áp, thì sẽ dẫn đến huyết áp thấp và teo cơ.
Vì thế khi ăn bưởi phải hết sức chú ý:
1.   Trong thời gian ốm uống thuốc thì không được ăn bưởi.
2.   Bưởi không được ăn cùng cua. Bưởi và cua nếu như ăn cùng nhau thì dạ dày sẽ bị kích thích, đau bụng và nôn mửa…
3.   Cà rốt, dưa chuột không được ăn cùng bưởi. Nếu ăn cùng sẽ làm mất giá trị dinh dưỡng của vitamin C trong bưởi.
4.   Gan lợn không được ăn cùng bưởi. Trong gan lợn có chứa đồng, sắt, kẽm… nếu như kết hợp với vitamin C trong bưởi, sẽ làm tăng tốc độ ôxy hóa kim loại, và làm mất giá trị dinh dưỡng vốn có.
5.   Người có bệnh dạ dày, loét tá tràng thì nên tránh xa bưởi, ngoài ra, người bị bệnh tỳ hư mà ăn bưởi thì sẽ bị tiêu chảy. Vì sự hấp thụ và chuyển hóa dinh dưỡng của họ tương đối kém, chất xơ trong bưởi có thể chưa được tiêu hóa thì đã bị bài tiết ra ngoài, sẽ dẫn đến ảo giác mà chúng ta hay gọi là nóng rát.
6.   Uống thuốc tránh thai rất kỵ ăn bưởi. Một nghiên cứu của Mỹ cho biết, bưởi ảnh hưởng đến thuốc tránh thai là rõ rệt nhất, nó sẽ cản trở sự hấp thụ thuốc tránh thai của cơ thể.
Tuy nhiên nếu như chúng ta biết sử dụng đúng cách thì bưởi vẫn là một loại trái cây rất tốt cho cơ thể.
Bí quyết chọn bưởi
Bưởi không những có giá trị dinh dưỡng cao, mà còn có tác dụng tốt cho dạ dày, phổi, bổ máu, thanh lọc đường ruột, tốt cho tiêu hóa… giúp vết thương mau lành, hỗ trợ tốt cho điều trị bệnh nhiễm trùng máu…
Dưới đây xin giới thiệu một vài phương pháp giúp bạn chọn được trái bưởi ngon.
1.   Chọn quả nhọn không chọn quả tròn (càng nhọn càng tốt)
2.   Chọn quả to không chọn quả nhỏ (to sẽ chín hơn)
3.   Chọn quả vàng không chọn quả xanh (vàng sẽ chín nhanh hơn)
4.   Chọn quả nặng không chọn quả nhẹ (mọng nước hơn)
5.   Khi chọn bưởi, dùng ngón tay ấn vào đầu núm, nếu ấn không lõm thì càng tốt.
------------------------------------------------------------------

Cẩn thận mất mạng vì ăn bưởi sai cách




Người bệnh nên chú ý trong thời gian ốm hoặc phải điều trị bằng thuốc không nên ăn hoặc uống nước ép của quả bưởi vì có thể xảy ra tương tác với thuốc rất nguy hiểm.

    Can than mat mang vi an buoi sai cach
    Suýt mất mạng vì uống nước ép bưởi với thuốc
    Ông H. ở Gia Lâm, Hà Nội vừa phải vào cấp cứu tại BV Bạch Mai vì bị tụt huyết áp, tim đập nhanh, chóng mặt quay cuồng, nôn nhiều. Nguyên nhân được các bác sĩ nhanh chóng xác định là do ông uống nước ép bưởi cùng với thuốc.
    Sau khi sức khỏe ổn định, ông H. cũng công nhận là ông được vợ làm cho một cốc nước ép bưởi, nhân tiện đến giờ uống thuốc ông dùng nước này để uống luôn vì nghĩ không ảnh hưởng gì.
    Nào ngờ chỉ sau 30 phút, cơ thể ông đã có những dấu hiệu bất thường đến mức phải đi cấp cứu.
    Theo BS Trần Văn Hoàn, khoa cấp cứu BV Bạch Mai, trong bưởi có những loại chất có thể làm ảnh hưởng đến tác dụng của thuốc nếu chúng được tiêu thụ gần nhau.
    Sự ảnh hưởng này có thể làm tăng sự hấp thu thuốc dẫn đến nguy hiểm cho sức khỏe người bệnh nhưng cũng có thể ngăn trở tác dụng của thuốc khiến cho việc điều trị của người bệnh bị vô hiệu hóa.
    Chính vì vậy, người bệnh nên chú ý trong thời gian ốm hoặc phải điều trị bằng thuốc thì không nên ăn hoặc uống nước ép của quả bưởi.
    Tương tác của nước bưởi và thuốc như thế nào?
    - Với thuốc chống dị ứng: Nếu dùng chung với bưởi có thể gây tử vong cho những người bị bệnh tim.
    - Với thuốc an thần, thuốc ngủ: Dùng chung với bưởi sẽ gây ra cảm giác chóng mặt.
    - Với thuốc làm giảm cholesterol: Dùng chung với bưởi sẽ khiến cho một lượng lớn thuốc tồn đọng trong cơ thể, không phát huy được tác dụng dẫn đến tổn thương gan, suy nhược cơ bắp, có thể dẫn đến suy thận.
    - Với thuốc tránh thai: Bưởi ảnh hưởng tới thuốc tránh thai rõ rệt nhất, nó làm cản trở sự hấp thụ thuốc tránh thai vào cơ thể khiến cho việc uống thuốc không có tác dụng.
    VietBao.vn (Theo_Alobacsi >>>)
    https://ssl.gstatic.com/ui/v1/icons/mail/images/cleardot.gif

    Chủ Nhật, 13 tháng 12, 2015

    ĐỪNG HỐI HẬN NẾU BIẾT CÁCH THÔNG TẮC ĐỘNG MẠCH NÀY MÀ KHÔNG LÀM

    Động mạch bị tắc là tình trạng chất béo tích tụ trong khiến quá trình lưu thông máu lên não và tim bị gián đoạn, do đó, chất dinh dưỡng và oxy không đến được mô, cơ quan khác nhau trong cơ thể.

    Triệu chứng này vô cùng nguy hiểm, ảnh hưởng trực tiếp tới tính mạng của người bệnh và điều đặc biệt là chúng không hề có dấu hiệu báo trước.
    Triệu chứng biểu hiện của tắc động mạch rất chung chung rất khó phân biệt với các căn bệnh thông thường khác, bao gồm: khó thỏi, tim đập nhanh, yếu, chóng mặt, chán ăn, đau ngực, lo âu, buồn nôn và đổ mồ hôi.
    Các yếu tố nguy cơ khiến động mạch bị tắc bao gồm hút thuốc lá quá nhiều, chế độ ăn nhiều chất béo, thiếu vận động thể chất, thừa cân.
    Động mạch bị tắc do mỡ chèn ép.
    Ngoài ra, các căn bệnh như tiểu đường tuýp, huyết áp cao, cholesterol trong máu cũng được xếp vào các nguyên nhân dẫn tới tình trạng trên.
    Khi không may rơi vào trường hợp này, bạn có nguy cơ mắc phải các vấn đề sức khỏe khác như bệnh mạch vành, động mạch cảnh, động mạch ngoại vi, thậm chí là một cơn đau tim và đột quỵ.
    Do đó, ngăn tắc động mạch cũng là cách giúp bạn phòng các biến chứng nguy hiểm ở trên.
    MOGO Khuyên xin gửi tới bạn 3 phương pháp điều trị tắc động mạch vô cùng đơn giản, dễ làm chỉ với các loại gia vị xung quanh bạn.
    Tỏi
    Theo một nghiên cứu được thực hiện tại đại học Alabama ở Birmingham năm 2007, tỏi giúp thư giãn mạch máu lên đến 72% so với giả dược, hơn nữa, loại gia vị này làm giảm nồng độ cholesterol trong máu và giảm nguy cơ đau tim, đột quỵ.
    Nguyên liệu
    - 3 tép tỏi.
    - 250ml sữa nóng.
    Sữa tỏi giúp thông tắc động mạch.
    Thực hiện
    Tỏi băm nhuyễn cho vào sữa rồi bắc lên bếp đun sôi. Hỗn hợp thu được, để nguội và uống hằng ngày trước khi đi ngủ.
    Ngoài ra, bạn cũng có thể thêm tỏi vào thực đơn dinh dưỡng hằng ngày rất tốt cho tim mạch, sức khỏe.
    Gừng
    Uống 2-3 tách trà gừng mỗi ngày, cho 1 muỗng cà phê gừng nạo vào cốc nước nóng, đậy nắp, giữ yên trong vòng 5 phút, cuối cùng, cho vào 1 ít mật ong để dễ uống hơn.
    Ngoài ra, hằng ngày bạn có thể ăn một miếng gừng nhỏ khi bụng đói.
    Trà gừng thông tắc động mạch.
    Củ nghệ
    Thêm 1 muỗng cà phê bột nghệ và một ít mật ong vào cốc sữa ấm, uống 1 hoặc 2 lần mỗi ngày.
    Hãy bổ sung bột nghệ, liều khuyến cáo là 400-600mg, 3 lần một ngày.
    Không chỉ ngừa ung thư, nghệ còn giúp làm sạch mạch máu.
    Chanh
    Có hai cách dùng chanh để thông tắc động mạch.
    - Trộn 1 trái chanh vào 1 ly nước ấm, cho thêm ít mật ong và hạt tiêu đen xay nhuyễn, mỗi ngày 1 lần, thực hiện trong vài tuần.
    - Đun sôi  1 muỗng canh vỏ chanh vào 4 chén nước trong 20 phút, lọc lấy nước thêm vào 1 ít mật ong cho dễ uống. Mỗi ngày uống 3-4 ly, thực hiện trong vài tuần sẽ có kết quả.
    Nước vỏ chanh làm sạc động mạch.
    Chúc bạn sống vui khỏe.
    Vạn Phúc (Theo Top 10 Home Remedies)

    Thứ Sáu, 11 tháng 12, 2015

    TĨNH LẶNG

                       
                                
                                                                                   TĨNH LẶNG

                                                                   Lẳng lặng ngồi yên một góc nhà,
                                                                   Tọa thiền sớm tối những thời qua.
                                                                   Tâm buông khỉ múa rong năm tháng,
                                                                   Ý giữ trâu thuần cột sát na.
                                                                   Bờ giác thênh thang luôn hướng đến,
                                                                   Đường mê bế tắc khó tìm ra.
                                                                   Vô sanh vốn pháp là chân thật,
                                                                   Dạ ổn huệ sinh ánh Phật Đà.

                                                                                                          Minh Đạo





    HOA SEN VÀ Ý NGHĨA TÁM CÁNH HOA SEN TRONG PHẬT HỌC

                     
                                                           

    Hoa sen là một trong những biểu tượng gắn với truyền thống Phật giáo, người Việt Nam khá quen thuộc với hình ảnh Đức Phật ngồi trên tòa sen. Tác giả Huệ Dân sẽ giúp chúng ta khám phá ý nghĩa của hoa sen dưới hai khía cạnh: khoa học và Phật học (Ban MVĐTLT TGP).
    * * *
    Sen trong phân loại khoa học
    Sen là loại thực vật thủy sinh sống lâu năm, mọc lên từ rễ củ nằm dưới lớp bùn đất ẫtn vùng nước ao đọng, bẩn đục hay sông, hồ. Các lá to với đường kính tới 20 cm-60 cm, thường nổi trên mặt nước như những chiếc phao và có đặc điểm là không thấm nước.
    Thân sen khi già có nhiều gai nhỏ và có chiều cao khoảng 0,5-1,5 m. Hoa mọc trên các thân to và nhô cao trên mặt nước và có nhiều màu sắc khác nhau tùy theo loại : từ màu trắng như tuyết tới màu vàng hay hồng nhạt. Sen có thể trồng bằng hột hay thân rễ như rau muống.
    Theo Theophrastus trong hệ thực vật của sông Nile, thì sen có nguồn gốc từ các nước: Ai cập, Ấn Độ, Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ, Đông Nam Á, Tây Á, Iran, Azerbaijan… Việt Nam và miền Bắc của nước Úc.
    Trong bảng phân loại khoa học, sen thuộc họ Nelumbonaceae (tiếng latin), Nelumbonaceae là một gia đình bao gồm hai loài thuộc chi Nelumbo. Nelumbo là một chi của thực vật thủy sinh với các lá to, thân rễ bò, bông có mùi thơm như giống nước hoa huệ thường được gọi chung là hoa sen. Nelumbo là tên xuất phát từ chữ Sinhalese Nelum. Có hai loài sen thuộc chi này, đó là Nelumbo nucifera và Nelumbo aureavallis.
    Nelumbo aureavallis là loài được tìm thấy tại Thung lũng Vàng ở miền Bắc Dalota, Hoa Kỳ và loài này đã bị tuyệt chủng. Nelumbo nucifera là tên khoa học của một loài hoa sen được biết nhiều nhất ở Ấn Độ, Ai Cập và Việt Nam.
    Sen thuộc bộ Proteales vốn là tên các nhà phân loại học thực vật dùng để xếp bộ theo thứ tự của các loài thực vật có hoa. Sen thuộc giới Plantae.
    Hoa nở vươn khỏi mặt nước, lộ bày đài hoa, nhụy, hạt và hương thơm tinh khiết, nên được mọi người ưa chuộng. Từ xưa, trong truyền thống của các nước châu Á. Hoa sen được dùng làm biểu tượng thiêng liêng, để đại diện cho những người có nhân cách thanh cao, nghị lực vững vàng, không bị ảnh hưởng của hoàn cảnh xấu xa. Những người thường bị chịu ảnh hưởng khó khăn của xã hội đưa đến trong hoàn cảnh sống, nhưng họ biết cố gắng vươn lên để sống một cách xứng đáng, trong tinh thần, bền tâm, nhẫn nại, chịu đựng, khắc phục vượt qua.
    Khi những cánh hoa của nó mở ra, cũng là một ý nghĩa nói lên sức sống mở rộng của tâm hồn. Một sự xuất hiện của vẻ đẹp tinh khiết không bị ô nhiễm, từ chỗ bùn nhơ. Hoa sen cũng được trích dẫn nhiều trong các văn bản kinh Phật cũng như Puranas và Vệ Đà của Ấn Độ giáo.
    “Người thực hiện bổn phận của mình mà không có sự quyến luyến, dâng các kết quả cho Đấng tối cao, sẽ không bị ảnh hưởng bởi các tác động tội lỗi, giống như lá sen không bị nước dính vào”. Bhagavad Gita 5.10.
    Hoa sen trong Phật giáo

    Theo truyền thuyết Phật học, sau khi đức Phật được sinh ra, Ngài bước bảy bước và mỗi bước có hoa sen đỡ chân cho Ngài. Rồi mỗi lần đến chùa, khi nhìn lên bàn Phật, thấy tượng của đức Phật ngồi trên tòa sen.
    Như vậy có thể nói rằng, hoa sen là hình ảnh, hài hòa, đặc trưng của một chu trình sống trong 8 cánh hoa, sinh ra từ bóng tối, bùn nhơ mà bừng nở ra những tinh nguyên của sự hoàn thiện cần đạt tới. 8 cánh hoa của sen cũng là 8 đặc tính tiêu biểu, để hiểu được một phần nào về sự chuyển hóa và thành tựu trong việc học Phật qua những cụm từ sau đây :
    Không ô nhiễm: Sống trong bùn lầy đầy dơ bẩn, nhưng hoa sen vẫn tự lực cánh sinh để vươn mình lên khỏi mặt nước cho hoa, dâng hương thơm tặng đời. Bùn thường được xem là hình ảnh xấu xa, dơ dáy, ô nhiễm. Còn màu trắng hay vàng hoặc đỏ hường của những cánh hoa sen là sự biểu trưng của những đặc tính thuộc về tinh khiết, sang trọng, khoan dung.
    Những hình ảnh trên là những ý nghĩa, để nói lên sự nhẫn nại, rèn luyện của việc tu Phật, cho dù sống trong bất kỳ môi trường khó khăn nào, cũng nên cố gắng khắc phục vượt qua để đạt được sự thành tựu cho chính mình và cho người, mà điều này có thể thấy và kiểm chứng được qua đời sống của đức Phật.
    Ngài ra đời và sinh hoạt trong dòng đời, nhưng Ngài không bị nhiễm vào những phiền não của xã hội do con người tạo ra. Ngược lại, Ngài còn tìm cách hướng dẫn con người thoát ra biển khổ bằng sự tỉnh thức của chính Ngài.
    Phật tánh là những đóa hoa sen không bị ô nhiễm sẵn có trong mỗi người, chỉ cần biết phát huy nó một cách nghiêm túc, trong việc tu tập cá nhân ở mỗi ngày, thì nó sẽ tặng cho mình cũng như cho những người sống chung quanh những hương thơm, tinh khiết, hoàn hảo, để mở rộng niềm hạnh phúc thật sự ngay bây giờ.
    Thanh lọc, lắng cặn, tẩy các chất độc: Đây là một chức năng đặc biệt của sen, bởi vì, dù sống trong bùn sình hôi hám, nhưng lá và hoa của sen không dính bùn nhơ và chỗ nào sen mọc, thì ở đó nước lắng trong.
    Hình ảnh này là ý nghĩa để nói lên sự giáo dục chân thực, bằng việc trau dồi đức hạnh, những phẩm chất tốt, và cung cách cư xử đúng đắn, trong đời sống thực tế hằng ngày cũng rất là lợi ích.
    Nhịp sống ngày nay, do thói quen ăn uống thừa chất, ít vận động và môi trường bị ô nhiễm, mà gây ra nhiều chứng bệnh hiểm nghèo. Nếu thích bảo vệ tấm thân được khỏe mạnh, thì nên thường xuyên thanh lọc cơ thể, bằng những cách loại bỏ đi những gì có hại cho cơ thể.
    Hiện thân của sự sống sinh ra và lớn lên trong chốn sình lầy, mà hoa sen hé nở và mở rộng những cánh hoa của nó, để thoáng lên một làn hương tinh khiết, như lời ca ngợi về sự sống thanh xuân, qua sự biết hòa nhập, thích nghi môi trường, thanh lọc những chất dơ, bằng thân rễ của chính mình. Đây cũng chính là biểu tượng của sự chuyển hóa và thành tựu cho việc học Phật. Một hạnh phúc an lạc có ngay bây giờ, khi tâm thân lắng đọng, trong sạch thanh tịnh.
    Kiên nhẫn, đợi chờ: Sen là loại thực vật có hoa, hạt kín, phôi của hạt gồm có rễ mầm, thân mầm, lá mầm, chồi mầm. Sau quá trình thụ tinh, noãn sẽ biến thành hạt. Trong tác phẩm “Nguyên lý hình thành và nẩy mầm của hạt giống” do Tiến sĩ sinh học K. E. Ovtsarov biên soạn, xuất bản năm 1976 tại Moskva có nói : Ở gần Tokyo người ta đã tìm thấy chiếc thuyền độc mộc nằm ở trong đất 3.000 năm. Các hạt sen nằm ở trong (thuyền) đó về sau đã nẩy mầm và mọc thành cây.
    Đây cũng là một ý nghĩa của sự kiên nhẫn, đợi chờ, mặc dù không được phát triển trong những điều kiện thích nghi, nhưng khả năng sống của hạt sen vẫn còn tồn tại trong phôi của hạt, bằng sự hiểu biết quy luật và khả năng tự bảo vệ, tự phục hồi một cách tự nhiên của chính mình, dựa vào những môi trường chung quanh, để tạo ra những điều kiện cơ bản cho quá trình duy trì sự sống và sinh trưởng.
    Qua hình ảnh trên cho thấy kiên nhẫn tích cực làm việc để đạt được kết quả như mong muốn là điều tốt đẹp nên làm. Nhưng sự thật của các kết quả như mong muốn, đòi hỏi phải có thời gian, phải trải qua nhiều quá trình tiến triển theo từng giai đoạn như: có những lúc phài hành động, nhưng cũng có những thời điểm cần phải biết chờ đợi. Bởi vì sự thành công hoàn thành một cách đúng nghĩa, chỉ đến khi có những quyết định hợp lý, đúng lúc.
    Từ giấc ngủ dài của các hạt sen trong chiếc thuyền bị chôn vùi trong lòng đất, cho đến khi gặp được các điều kiện thuận lợi, để phục hồi tái sinh cũng là một sự chứng minh của nhân và duyên trong đạo Phật. Bởi vì, những thành quả tốt đẹp đạt được, không chỉ phụ thuộc vào bản thân hay công sức của chính mình, mà còn cần đến, việc học cách sống hiểu biết và chấp nhận thực tế trong mối quan hệ với những hoàn cảnh chung quanh.
    Sen nẩy mầm trong bùn tối, thanh lọc mọi sự nhơ bẩn để nuôi thân, vượt qua tầng nước sâu, vươn lên trên mặt nước, xòe lá, trổ hoa, là một quá trình kiên nhẫn vươn lên tìm sự sống cao đẹp. Hình ảnh của sen qua 3 giai đoạn sinh trưởng này rồi cho hoa. Đây cũng là một ý nghĩa giúp cho người học Phật hay tu Phật, để tự diệt tham, sân, si mà đạt đến tự tánh thanh tịnh của chính mình trong đời sống bằng sự kiên nhẫn.
    Khi gặp khó khăn mà có tính kiên nhẫn, thay vì nổi nóng, hãy tự nhắc mình nhớ đến hình ảnh của hạt sen nẩy mầm trong bùn tối, thanh lọc mọi sự nhơ bẩn để nuôi thân, do đó mình không nên làm theo những hậu quả xấu của các hành động sân si để hại thân.
    Đứng trước bất kỳ các khó khăn nào, hãy nên dùng sự kiên nhẫn và bao dung, mà gánh chịu đau khổ tạm thời, còn hơn là phải hối hận ăn năn suốt đời vì làm những việc thiếu suy nghĩ.
    Hy sinh, chịu đựng những chuyện nhỏ, là một khả năng rèn luyện để vượt qua được những khó khăn lớn hơn trong tương lai.
    Thông thường chúng ta không thể nhận ra sự khác biệt giữa con người và hành vi. Chúng ta quên rằng lòng vị tha thì vĩ đại hơn là sự phục thù. Cato the Elder nói: "Kiên nhẫn là đức tính lớn nhất trong mọi đức tính". Issac Newton nói: "Nếu tôi có được khám phá giá trị nào, đó là nhờ chú ý kiên nhẫn hơn là bất kỳ tài năng nào tôi có". Vậy, kiên nhẫn là gì và làm sao ta có được kiên nhẫn? Làm thế nào để khiêm tốn? Khi không còn “cái tôi” thì ta khiêm tốn, ta nhẫn nhục, ta kiên nhẫn…
    Sen nở hoa là do sự hợp tác giữa hạt, thân, rễ của nó và thiên nhiên. Cho nên muốn đạt được tự tánh thanh tịnh cho chính mình, là phải tự tập tánh kiên nhẫn đến mức độ cao nhất qua sự hợp tác của nhẫn nhục và nhẫn nhịn.
    ĐẠO PHẬT ngày nay, Tập 7 (5-6/2011), tr. 75-77.

    Thứ Năm, 10 tháng 12, 2015

    BỒ TÁT CHỈ NGỒI ĐỂ THẤY

                                                   



    Một người nọ nhìn thấy cái kén của con bướm. Sau đó,anh thấy một cái lổ nhỏ xuất hiện. Anh ngồi chăm chú theo dõi con bướm trong vài giờ đồng hồ và thấy nó cố gắng vùng vẫy tìm cách chui ra ngoài qua cái lỗ nhỏ đó. Rồi dường như nó không có thêm một tiến triển nào nữa. Trông cứ như thể nó đã làm hết mức có thể rồi và không thể xoay xở gì thêm được.
    Thấy tội nghiệp nên người đàn ông quyết định giúp con bướm. Anh lấy một cái kéo và cắt cái kén. Con bướm dễ dàng thoát ra. Nhưng nó có một cái thân căng phồng và đôi cánh nhỏ bé, teo quắt. Thế là, con bướm đó sẽ phải bỏ ra suốt cả cuộc đời nó chỉ để bò trườn với cơ thề sưng phồng và đôi cánh co lại. Nó không bao giờ bay được...
    Cho nên Quy tắc thứ ba của người Ấn độ :"Trong mỗi khoảnh khắc mọi sự đều bắt đầu vào đúng thời điểm".
    Người đàn ông tốt bụng đã không hiểu rằng chiếc kén chật hẹp và sự vùng vẫy của con bướm để chui qua được cái lỗ nhỏ ấy chính là cái cách mà Tạo Hóa buộc chất lỏng trong thân con bướm chảy vào cánh để sẵn sàng cho nó có đủ sức mạnh nhằm cất cánh bay...Vì vậy, đừng bao giờ tin vào quan niệm Bồ Tát độ mình cả, nếu Bồ Tát đến độ mình tức là Bồ Tát can thiệp vào việc mình cần phải làm là để thoát ra khỏi cái kén (thoát khỏi vô minh) chính mình là người cần phải mở ra mọi cái mà mình đã trói buộc vào, không có Bồ Tát nào làm thay cho mình...
    Quan niệm Bồ Tát cứu độ bị hiểu sai kiểu như người mẹ giúp con " thôi con đừng đánh vần để mẹ đánhvần cho... Con đừng làm toán để mẹ làm toán cho...vân vân...và vân vân..."Bồ Tát chỉ ngồi để thấy, để xem mình đau khổ như thế nào và thoát khỏi đau khổ như thế nào... mà Tâm Ngài vẫn hoàn toàn bất động, đó mới chính là Bồ Tát chân chính nhất.
    Qua câu chuyện trên, con nhộng chỉ cần đợi thêm một chút nữa, nó có thể tự vùng vẫy thoát ra khỏi cái kén, thì nó mới đủ sức mạnh cất cánh bay cao... cũng như con người ta cần phải chịu đựng đau khổ thêm một chút nữa thì mới có được bài học Giác Ngộ cho chính mình...
    Thế cho nên, Bồ Tát chỉ khai thị mà không có cứu độ... khai thị cho mọi người thấy ra mọi cái đã có sẳn nơi mỗi người, và để mọi người biết tự trở về với chính mình...
    Trong Phật Giáo không có quan niệm có người khác cứu độ... đừng xin xỏ mong cầu mà trở thành mê tín...Đức Phật dạy, Pháp hộ trì người sống đúng Pháp, thuận Pháp...
    Những người sống thuận Pháp, khi gặp chuyện thì tự động có Chư Thiên hộ Pháp hộ trì... Cũng như một người sống tốt thì được nhiều người tin tưởng giúp đỡ... Chân lý chính là Thực Tế chứ không phải ảo tưởng ...
                                                              Thiền sư Viên Minh