Đối Phó với Hôn Trầm và Trạo Cử
(c)) Làm gì sau khi quý vị tập trung lên đối tượng thiền
(1)) Làm gì khi hôn trầm và trạo cử xảy ra.
(a’)) Sử dụng phương thuốc trị sự thất bại trong việc nhận biết hôn trầm và trạo cử
(1’)) Xác định các đặc tính của hôn trầm và trạo cử
(2’)) Phương pháp phát triển tỉnh thức nhận biết được hôn trầm và trạo cử
(b’)) Sử dụng phương thuốc trị việc thất bại trong nỗ lực loại trừ chúng ngay cả khi nhận ra chúng.
(1’)) Sự chú tâm và cách ngưng hôn trầm và trạo cử
(2’)) Các nguyên nhân sâu xa của hôn trầm và trạo cử
(2)) Làm gì khi hôn trầm và trạo cử không hiện
(c)) Làm gì sau khi quý vị tập trung lên đối tượng thiền
Phần này có hai phân mục:
1. Làm gì khi hôn trầm và trạo cử xảy ra
2. Làm gì khi hôn trầm và trạo cử không hiện diện
(1)) Làm gì khi hôn trầm và trạo cử xảy ra
Mục này có hai bộ phận
1. Sử dụng liều thuốc trị thất bại trong việc nhận biết hôn trầm và trạo cử
2. Sử dụng liều thuốc trị thất bại trong nỗ lực loại trừ chúng ngay cả khi nhận ra chúng
(a’)) Sử dụng liều thuốc trị thất bại trong nhận biết hôn trầm và trạo cử
Ở đây có hai tiểu mục: (1) Xác định các đặc tính của hôn trầm và trạo cử và (2) Phương pháp phát triển tỉnh thức nhận biết được hôn trầm và trạo cử trong khi thiền.
(1’)) Xác định các đặc tính của hôn trầm và trạo cử
Trong Vi Diệu Pháp Tập Luận của Vô Trước định nghĩa trạo cử[1]:
Trạo cử là gì? Đó là trạng thái không yên ổn của tâm, được xem là một dẫn xuất của tham chấp, vốn theo đuổi các đối tượng dễ chịu và tác động như là một trở ngại cho định từ thiền.
Có ba khía cạnh trong định nghĩa này: (1) Đối tượng của nó là một thứ hấp dẫn và dễ chịu. (2) Khía cạnh chủ quan của nó là ở chỗ tâm quý vị không yên ổn và phân tán ra ngoài. Vì là một dẫn xuất của tham chấp, nó khởi tác lên đối tượng của mình với một ý tưởng thèm muốn. (3) Chức năng của nó là cản trở sự bình ổn của tâm quý vị lên đối tượng của tâm.
Khi sự chú ý của quý vị hướng nội được giữ nguyên lên đối tượng của nó, thì trạo cử – tức là tính bám chấp vào sắc, thanh, và v.v... – kéo sự chú tâm của quý vị một cách không cưỡng được về hướng các đối tượng này và gây ra sự phân tán. Như được nói đến trong Tuyên Nhập Tụng của Nguyệt Quan[2]:
Chỉ như ngươi tập trung vào định từ thiền,
Hãy hướng sự chú tâm của mình đến đó lập đi lập lại.
Mối ràng buộc của phiền não kéo sự chú tâm của ngươi
Một cách không cưỡng nổi bằng dây tham chấp vào các đối tượng. [515]
Vấn: Phải chăng trạo cử là khi có sự phân tán trong đó các phiền não làm phân tâm quý vị ra khỏi đối tượng – hay, điều đó là khi có sự phân tán hướng đến các đối tượng đức hạnh khác?
Đáp: Trạo cử là một dẫn xuất của tham chấp, nên việc bị phân tâm bởi các phiền não khác thì không phải là trạo cử; mà đúng hơn đó là một tiến trình tinh thần của sự phân tâm thuộc về một trong hai mươi phiền não thứ cấp[3]. Việc phân tâm hướng đến các đối tượng thiện đức có thể liên hệ đến một tâm thiện đức nào đó hay đến tiến trình tinh thần, cho nên không phải tất cả sự phân tâm đều là trạo cử.
Nhiều bản dịch nêu rằng hôn trầm (bying ba) như là sự “chểnh mảng” (zhum pa), nhưng sự “chểnh mảng” này không nên được phân tích như là ý nghĩa về sự chán nản (zhum pa). Về định nghĩa đó, hầu hết các thiền giả trên các đỉnh tuyết sơn này dường như xem hôn trầm là một trạng thái thờ ơ của tâm mà nó lưu lại trên đối tượng thiền của tâm không có sự phân tán vào nơi nào khác nhưng chỉ thiếu sự rõ ràng thấu suốt. Điều này không đúng, vì sự thờ ơ được nói là nguyên nhân gây ra hôn trầm, vậy nên hai trạng thái khác nhau, như đề xuất của Liên Hoa Giới trong phần thứ nhì Giai Trình Thiền[4]:
Nếu bị áp lực bởi thờ ơ và buồn ngủ, ngươi thấy tâm mình trở nên lỏng lẻo, hay đang trong nguy cơ của hôn trầm…
Nếu có hôn trầm do sự thờ ơ và buồn ngủ, hay nếu ngươi đang đau khổ bởi những phiền não thứ cấp nào đó trong trạng thái thiền sâu, thì đó là một trường hợp của sự phân tâm bên trong.
Điều này khẳng định rằng khi tâm quý vị trở nên lỏng lẻo do thờ ơ và buồn ngủ, đó chính là phân tán vào bên trong. Trong Vi Diệu Pháp Tập Luận, ngài Vô Trước cũng bàn thảo về hôn trầm trong khuôn khổ của phiền não thứ cấp của sự phân tán, nhưng sự phân tán theo như ngài giải thích cũng có thể là công hạnh, không nhất thiết là phiền não.
Sau đó, Vô Trước nói về sự thờ ơ trong Vi Diệu Pháp Tập Luận [6]:
Thờ ơ là gì? Một trạng thái bất khả dụng {không hữu ích} của tâm được phân lớp như là một dẫn xuất của ảo tưởng, nó tác động hỗ trợ cho tất cả các phiền não nguồn và các phiền não thứ cấp.
Vậy nên loại dẫn xuất này của ảo tưởng là sự nặng nề và bất khả dụng của tâm và thân. Trong Vi Diệu Pháp Báu Luận, Thế Thân dạy[7]: [516]
Thờ ơ là gì? Sự nặng nề của thân và sự nặng nề của tâm mà chúng là sự bất khả dụng của thân và sự bất khả dụng của tâm.
Hôn trầm nghĩa là cách nắm bắt của tâm quý vị lên đối tượng thiền chểnh mảng và nó không nắm bắt được đối tượng một cách mạnh mẽ hay rắn chắc. Nên ngay cả khi có sự thấu suốt, nếu cách tâm quý vị nắm bắt đối tượng không mạnh mẽ thì hôn trầm đã tham dự. Liên Hoa Giới dạy trong phần thứ nhì Giai Trình Thiền[8]:



