Chủ Nhật, 8 tháng 11, 2020

NHỮNG ĐẠI KỴ KHI ĂN KHOAI LANG, BIẾT MÀ TRÁNH NẾU KHÔNG MUỐN "MANG TRỌNG BỆNH"

                                                                


Theo Đông y, khoai lang có nhiều tên như cam thử, phiên chử. Củ khoai tính bình, ngọt, có tác dụng bồi bổ cơ thể, ích khí, cường thận, kiện vị, tiêu viêm, thanh can, lợi mật, sáng mắt.

Khoai lang có thể chữa được bệnh vàng da, ung nhọt, viêm tuyến vú, hành kinh không dều, di tinh, kiết lỵ. Ngoài ra, ăn khoai lang còn có thể phòng cảm cúm, giảm cân, phòng tránh oxy hóa, chống viêm và phòng nhiều bệnh tật khác cho cơ thể.Dù có rất nhiều tác dụng như vậy nhưng với một số người, ăn khoai lang lại có thể gây hại cho sức khỏe cơ thể.

Người bị thận

Những người mắc bệnh thận tuyệt đối không nên ăn khoai lang vì trong khoai chứa nhiều chất xơ, kali, vitamin A…, khi thận yếu chức năng loại bỏ lượng kali dư thừa bị hạn chế, sẽ gây ra những tác hại nguy hiểm như rối loạn nhịp tim, yếu tim.

Người có hệ tiêu hóa không tốt

Những người có hệ tiêu hóa không tốt, thường xuyên bị đầy hơi, trướng bụng không nên ăn nhiều khoai lang vì lúc ăn sẽ làm tăng tiết dịch vị, gây nóng ruột, ợ chua, càng sinh hơi trướng bụng.

Không nên ăn khoai sống

Bởi vì nếu không bị nhiệt phá hủy thì màng tế bào tinh bột của khoai lang sẽ rất khó tiêu hóa trong cơ thể. Đồng thời khi luộc khoai các enzyme trong khoai sẽ bị phân hủy, vì vậy, sau khi ăn sẽ không xuất hiện tình trạng đầy hơi, ợ chua, ợ hơi, buồn nôn...

Không nên ăn quá nhiều khoai lang

Dù bạn có thèm khoai lang đến mức nào chăng nữa, cũng chỉ được tự cho phép mình ăn trong giới hạn “dưới ba lạng” khoai lang mà thôi. Bởi khoai lang dễ khiến đường tiêu hóa sản sinh một lượng lớn carbon dioxide (CO2), khi ăn quá nhiều sẽ bị đầy hơi và ợ hơi. Và tốt nhất đừng ăn quá nhiều khi đói và chỉ ăn mỗi khoai lang không, khi đó, dạ dày sẽ dễ dàng kích thích sự bài tiết axit dạ dày, có thể dẫn đến cảm giác khó chịu ở bụng.

Ăn vào buổi tối

Ăn khoai lang buổi tối dễ trào ngược axit, đặc biệt là những người dạ dày yếu hoặc người già tiêu hóa kém, vì sẽ gây ra hiện tượng đầy bụng, cộng với việc ban đêm sự trao đổi chất thấp nên càng khó tiêu hóa dễ dẫn đến mất ngủ.

Nên ăn khoai vào bữa sáng kèm theo sữa nguyên kem hoặc sữa chua, thêm chút hạt và rau xanh sẽ là bữa sáng đầy đủ chất dinh dưỡng cần thiết cho cơ thể.

Ăn khi đói

Trong khoai lang có chất đường, nếu ăn nhiều, nhất là khi đói sẽ gây tăng tiết dịch vị làm nóng ruột, ợ chua, sinh hơi trướng bụng. Để tránh tình trạng này, khoai phải được nấu, luộc, nướng thật chín hoặc cho thêm ít rượu vào nấu để phá hủy chất men. Nếu bị đầy bụng, có thể uống nước gừng để chữa. Không nên ăn khoai lang khi đói.

Ăn cả vỏ

Vỏ khoai lang có nhiều chất kiềm, ăn khoai lang rất tốt cho những ai bị táo bón, nhưng ăn cả vỏ khoai lại không tốt cho tiêu hóa. Những vết nâu, đốm đen trên vỏ khoai khi ăn vào có thể bị ngộ độc thực phẩm.

Không ăn hồng với khoai lang

Khoai lang và quả hồng không nên ăn cùng với nhau, ít nhất nên cách nhau khoảng 5h trở lên. Nếu ăn cùng, lượng đường trong khoai lang sẽ lên men trong dạ dày, khiến dịch vị dạ dày tiết ra nhiều hơn, phản ứng với chất tannin và pectin trong quả hồng sẽ gây ra sự kết tủa, nghiêm trọng hơn có thể khiến xuất huyết dạ dày hoặc viêm loét dạ dày.

Đã ăn khoai thì giảm ăn món chính

Khoai lang chứa một lượng carbohydrates tương đương với cơm, vì vậy, nếu bạn đã ăn khoai thì nên giảm lượng cơm ăn vào trong ngày để không bị quá dư thừa tinh bột.

Khi ăn khoai lang, các chất trong khoai sẽ dễ dàng tạo ra một lượng lớn khí trong đường tiêu hóa, có thể dẫn đến đầy bụng và ợ hơi, vì vậy, nếu bạn vẫn ăn cơm bình thường thì chỉ nên ăn thêm khoảng 100-200g khoai lang. Điều này sẽ giúp cân bằng dinh dưỡng, tốt cho sức khỏe.

Nên ăn khoai lang kết hợp với rau quả

Nếu bạn chỉ ăn mỗi khoai lang riêng biệt thì sẽ không đủ sự đa dạng dinh dưỡng. Hàng ngày khi ăn khoai lang, nên cố gắng kết hợp ăn thêm các loại rau xanh và trái cây, thực phẩm thuộc nhóm chất đạm để đảm bảo một bữa ăn đầy đủ chất. Ngoài ra, sự kết hợp giữa khoai lang và thực phẩm khác sẽ giúp cho bạn nhận được nhiều hơn những lợi ích sức khỏe kèm theo.

Ví dụ, khi ăn khoai, có thể ăn thêm món thịt lợn, giúp làm tăng khả năng hấp thụ, có thể thúc đẩy sự hấp thu chất carotenoid tan trong chất béo và vitamin E. Khi ăn khoai với một số món ăn mặn có thể điều chỉnh hương vị, giảm axit dạ dày và loại bỏ sự khó chịu của dạ dày do tích tụ khí.

Không ăn củ có đốm đen

Khoai lang bảo quản không tốt sẽ rất dễ bị hà, xuất hiện những đốm đen, nhiều người không vứt bỏ mà cắt bỏ phần hà, đốm đen đi để luộc lên rồi ăn tiếp. Tuy nhiên việc xuất hiện những vết này thì có nghĩa khoai bị nhiễm khuẩn vằn đen ô nhiễm gây độc cho gan.

Loại độc tố này sẽ không hề bị tiêu diệt dù bạn có luộc khoai trong nước sôi sùng sục hay là nướng khoai với than hồng rực. Vì vậy, khi có những biểu hiện này, bạn hãy vứt bỏ đi, đừng tiếc mà gọt vỏ rồi ăn tiếp nhé!

Không ăn khoai để quá lâu

Nhiều người khi mua khoai thường thích khoai lang để lâu ăn ngọt hơn khoai lang mới đào, vì khoai lang để lâu lượng nước sẽ giảm đi sau khi bốc hơi, làm lượng đường trong khoai lang tăng lên đáng kể.

Tuy nhiên, thì ăn nhiều đường vào cơ thể cũng là điều không tốt nên bạn đừng cố tình để khoai lang dự trữ thật lâu rồi mới ăn. Hơn nữa, khoai lang để lâu tuy không có nguy hiểm như mầm khoai tây nhưng cũng được khuyến cáo là không nên ăn vì mầm khoai có chứa những độc tố, có thể gây nôn mửa và đau bụng.

Không ăn khoai thay cơm

Ăn khoai lang ở mức độ vừa phải sẽ rất có lợi cho hệ tiêu hoá của bạn. Nhưng nếu bạn ăn quá nhiều, ăn thay cơm mà không bổ sung được những dưỡng chất khác sẽ dẫn đến hậu quả ngược lại. Khi mà cơ thể không kịp tiêu hoá hết, những axit và protein trong khoai lang sẽ tích tụ lại trong dạ dày, dẫn đến tình trạng đầy bụng, khó tiêu, nấc, ợ nóng, thậm chí là bị tiêu chảy.

Nguyên nhân gây ra những ảnh hưởng đến sức khỏe này là do phản ứng của axit tiêu hoá, thành dạ dày bắt đầu co lại, đồng thời điểm tiếp giáp giữa dạ dày và thực quản mở rộng làm cho thức ăn dồn lên phía trên gây ợ chua và nấc nghẹn.

Một số điểm lưu ý khi dùng khoai lang

  • 1. Để có tác dụng bổ dưỡng, nên ăn khoai vỏ đỏ ruột vàng. Để giải cảm và chữa táo bón phải dùng khoai vỏ trắng ruột trắng.
  • 2. Không nên dùng khoai lang (củ và rau) lúc quá đói vì khi đó đường huyết đã thấp, lại làm hạ thêm gây mệt mỏi.
  • 3. Không ăn thường xuyên rau lang vì chứa nhiều canxi có thể gây sỏi thận.
  • 4. Nên ăn kèm khoai lang với đạm động vật, thực vật để cân bằng thành phần dưỡng chất.

4 loại thực phẩm đừng nên ăn cùng hoặc ăn quá gần sau khi ăn khoai lang

1. Ngô


Ngô có giá trị dinh dưỡng cao, trong số đó, có hơn 70.6g carbohydrate trên 100g ngô. Các vitamin có trong nó rất cao, cao gấp 5-10 lần so với gạo và lúa mì. Thường xuyên ăn các sản phẩm từ ngô hỗ trợ điều trị cho bệnh tim mạch.

Tuy nhiên, cần lưu ý rằng những người có dạ dày yếu tiêu hóa ngô cần tiết ra nhiều axit dạ dày. Nếu bạn đã ăn khoai lang trước đó, tốt nhất không nên ăn ngô vào thời điểm này. Nếu không, dạ dày phải tiết ra quá nhiều axit dạ dày để tiêu hóa cả hai, điều này thậm chí còn tệ hơn và dễ bị trào ngược axit.

2. Trứng

Nhiều người sẽ sử dụng trứng cho bữa sáng, đôi khi ăn với một số hạt thô. Trứng chứa rất nhiều protein và một lượng nhỏ chất béo, các chất dinh dưỡng mà nó chứa dễ dàng được cơ thể hấp thụ.

Việc trứng có thể ăn với khoai lang cùng một lúc hay không thực sự khác nhau. Đối với những người có nhu động và tiêu hóa tốt hơn, cả hai có thể được tiêu thụ cùng lúc dễ dàng. Nhưng đối với những người mắc chứng khó tiêu, tốt nhất không nên ăn hai loại này cùng nhau. Bởi vì chúng cần một thời gian dài để tiêu hóa protein cao trong trứng, nếu chúng được ăn với khoai lang, nó có khả năng làm tăng gánh nặng đường tiêu hóa và đau bụng.

3. Cà chua


Khoai lang chứa nhiều chất xơ thô. Sau khi ăn khoai lang, cơ thể cần sản xuất nhiều axit dạ dày để tiêu hóa chất xơ và đường. Chỉ cần ăn cà chua, axit citric và các axit hữu cơ khác trong cà chua có thể làm tăng nồng độ axit dạ dày, từ đó thúc đẩy quá trình tiêu hóa. Nhưng nếu bạn ăn cà chua sau khi ăn khoai lang, cơ thể sẽ có quá nhiều axit trong dạ dày và gây ra các triệu chứng bất lợi trong dạ dày.

4. Chuối

Chuối chứa chất thiamine, melatonin và các chất dinh dưỡng khác. Thiamine có thể chống lại beriberi và giúp thúc đẩy tiêu hóa. Các vitamin A trong chuối giúp duy trì khả năng sinh sản và sức khỏe mắt của con người.

Mặc dù chuối rất giàu chất dinh dưỡng và có thể giúp tiêu hóa, nhưng không nên ăn chuối trong vòng 1 giờ sau khi ăn khoai lang, nếu không bạn sẽ bị đầy hơi hoặc trào ngược axit dạ dày. Nếu bạn ăn quá nhiều, rất dễ tiêu hóa và ngộ độc mãn tính. Nếu bạn muốn ăn chuối, bạn có thể chọn ăn chuối sau 4 giờ.


Theo khoahoc.tv


Thứ Bảy, 7 tháng 11, 2020

CUỘC ĐỐI ĐÁP GIỮA HAI TIỂU HÒA THƯỢNG: CỬA ĐẠO LUÔN RỘNG MỞ, QUAN TRỌNG LÀ Ở ‘NGỘ’

                                                    


Ảnh Facebook

Từ xưa đến nay, có rất nhiều người giảng về hàm dưỡng, tu dưỡng tâm tính. Nhưng khi thật sự đối mặt với vấn đề, thì tâm thái cao thấp của một người đều có thể nhìn thấy rõ. Quan trọng là là ở “ngộ”, chỉ cần dựa vào “ngộ” có thể nhìn thấy được cảnh giới của một người là cao hay thấp.

1. Dụng tâm để ngộ

Xưa kia có hai ngọn núi, một ngọn quay mặt về hướng Bắc và ngọn còn lại thì hướng về phía Nam, đồng thời trên mỗi ngọn núi đều có một ngôi chùa. Để phân biệt mỗi khi nhắc đến, người thời đó thường gọi là chùa Bắc và chùa Nam.

Mỗi buổi sáng, hai ngôi chùa đều có một tiểu hòa thượng xuống chợ dưới núi để mua rau. Hai tiểu hòa thượng này tuổi trẻ khí thịnh, các tâm của người thường vỗn chưa qua tôi luyện, nên vẫn chưa thể vứt bỏ được nhiều. Họ đều không phục đối phương, mỗi lần khi gặp nhau ở chợ, họ thường bí mật hoặc đôi khi công khai thử tài, thách đố lẫn nhau.

Một hôm, tiểu hòa thượng ở chùa Nam hỏi: “Cậu đi đâu thế?”

Tiểu hòa thượng ở chùa Bắc đáp: “Chân tớ đi đến đâu, tớ sẽ đi đến đó”.

Tiểu hòa thượng ở chùa Nam nghe xong, không biết phải đối đáp thế nào, đành ấm ức trong lòng, nhanh chóng mua rau mà quay về chùa bẩm với sư phụ

Chú tiểu ấy trẻ người non dạ đã đành, vị trụ trì của chùa Nam lại cũng hồ đồ như thế, tâm tật đố không buông bỏ. Sau khi nghe đệ tử mình nói lại câu chuyện ấm ức khi không đối đáp được với chú tiểu chùa Bắc, thay vì khuyên bảo chú bé tu tâm tính, không nên gây chuyện thị phi thì ông lại mách rằng: “Lần sau gặp đối phương, vẫn hãy dùng câu đó để hỏi, nếu cậu ta còn trả lời như thế, con hãy nói: Nếu cậu không có chân, vậy cậu sẽ đi đâu? Như thế con sẽ có thể thắng được”.

Sáng hôm sau như thường lệ, hai tiểu hòa thượng ở chùa Nam và chùa Bắc lại gặp nhau ở chợ rau.

Tiểu hòa thượng ở chùa Nam lại hỏi: “Cậu đi đâu thế?”

Lần này chú tiểu hòa thượng ở chùa Bắc trả lời: “Gió đi đến đâu, tớ liền đến đó”.

Câu trả lời bất ngờ này khiến tiểu hòa thượng ở chùa Nam lại không thể đáp trả, cậu tiếp tục ngây người ra đó, ấm ức không nói nên lời. Sau khi trở về chùa, Sư phụ thấy tiểu hòa thượng mặt đầy ủ rũ, liền hỏi: “Lẽ nào phương pháp ta dạy con không có tác dụng sao?”

Tiểu hòa thượng liền thuật lại những gì đã xảy ra, Sư phụ nghe xong liền cười lớn xoa đầu chú tiểu và bảo: “Vậy con có thể hỏi ngược lại đối phương rằng: Nếu không có gió, cậu sẽ đi đâu?”

Sáng hôm sau, với khí thế ôm chắc phần thắng và muốn làm cho đối phương phải “nín lặng” trước những gì mình sắp nói ra, tiểu hòa thượng ở chùa Nam nhanh nhảu chạy đến hỏi chú tiểu hòa thượng ở chùa Bắc rằng: “Cậu đi đâu thế?”

Lần này, câu trả lời cậu ấy nhận được từ đối phương rất thực tế, chú tiểu hòa thượng chùa Bắc hồn nhiên đáp: “Tớ đi chợ.”

Tiểu hòa thượng ở chùa Nam lại một lần nữa không có gì để nói, bởi vì không thể nào mở miệng hỏi tiếp rằng: “Nếu không có chợ, cậu sẽ đi đâu?”, câu nói này rất vô lý!

Vị sư phụ sau khi biết tình huống này, ông liền thở dài: 

“Nhìn hoàng hôn ngộ ra đời vô thường, 

Nhìn mây trắng ngộ ra nó thong dong, 

Nhìn núi non ngộ ra sự xảo diệu,

Nhìn sông biển ngộ ra nó mênh mông . . 

Sự học hỏi quý ở chỗ dụng tâm mà ngộ, không thể dựa vào người khác mà ngộ được. Thứ của người khác vĩnh viễn là của người khác, chỉ có thứ tự bản thân mình ngộ ra mới là của mình”.

2. Rễ và ngọn

Xưa kia có một thanh niên luôn thích khoe khoang bản thân trước mặt người khác. Một ngày nọ, sư phụ dẫn anh ta đến một cái cây và hỏi: “Con nói xem ngọn cây này có đẹp không?”

“Dạ đương nhiên, ngọn cây nở đầy hoa tươi mới đẹp làm sao!” Người đệ tử nhanh miệng đáp.

Ngay lúc đó một cơn gió thổi qua, ngọn cây phát ra âm thanh “loạt xoạt”.

Vị sư phụ hỏi tiếp: “Con có nghe thấy gì không?” 

“Dạ đương nhiên nghe thấy rồi, tiếng của ngọn cây mới trong trẻo và vui tai làm sao!”, anh thanh niên nhanh nhảu đáp.

“Nhưng con có biết ngọn cây trong tiếng Hán gọi là gì không? Nó gọi là Mạt!” 

Sư phụ nói xong liền chỉ vào gốc cây và bảo: “Con có nhìn thấy rễ cây không? Con có nghe thấy rễ của cây phát ra tiếng động không?”

Người thanh niên nhíu mày đáp: “Dạ thưa, rễ cây chôn xuống đất, làm sao nhìn thấy được? Hơn nữa rễ cây tĩnh lặng, làm sao nghe được tiếng của nó thưa sư phụ?” 

“Nhưng con có biết rễ cây trong tiếng Hán gọi là gì không? Nó gọi là Bổn!”, Sư phụ giải thích.

“Nghĩa là, mặc dù ngọn cây đầy hoa có thể lao lao, gây sự chú ý đến những người xung quanh, nhưng nó rất mỏng manh, chỉ cần một cơn gió mạnh thì có thể sẽ gãy ngay và không còn giá trị gì sau đó nữa. Còn gốc cây, mặc dù trầm lặng, thậm chí bị chôn vùi dưới đất, nhưng đó là căn bản của sự sống, không có nó thì cũng sẽ không có cây, không có lá, cành và tất nhiên những đóa hoa trên ngọn cây cũng không có cơ hội mà lao xao, khoe sắc trước gió,… con hiểu ý của ta chứ?”

Anh thanh niên cúi mặt, khẽ gật đầu lĩnh hội nội hàm lời dạy của sư phụ. Từ đó về sau, anh trở nên trầm tĩnh hơn, ăn nói cũng rất biết chừng mực, đặc biệt là không bao giờ khoe khoang trước mặt người khác nữa.

Việt Anh

Theo secretchina.com

Thứ Năm, 5 tháng 11, 2020

BÌNH CHỨA VÀ NHỮNG THỨ CHỨA TRONG BÌNH

                                                           


Bình chứa và những thứ chứa trong bình (1)

Cách đây vài năm đã xảy ra mấy cuộc biểu tình trên đường phố sau khi một viên quản ngục nhà tù Guantanamo Bay bị buộc tội là đã vứt quyển kinh vào bồn cầu và giật nước cho nó trôi đi.

Ngày hôm sau, một ký giả tờ báo địa phương gọi điện thoại cho tôi, nói rằng anh ta đang viết một bài về sự việc vừa xảy ra, muốn hỏi các nhà lãnh đạo của mọi tôn giáo chính ở nước Úc cùng một câu hỏi anh đặt ra cho tôi:

" Ajahn Brahm, thầy sẽ làm gì nếu có người bỏ cuốn kinh Phật vào bồn cầu rồi giật nước cho nó trôi đi?"

Chẳng chút do dự, tôi trả lời: "Thưa ông, nếu có người bỏ cuốn kinh Phật vào bồn cầu và giật nước cho nó trôi đi thì việc trước tiên tôi sẽ làm là gọi thợ chuyên thông cống!"

Sau khi cười một hồi, anh ký giả cho biết đó là câu trả lời đầu tiên có vẻ thực tế nhất mà anh nhận được.

Tôi bèn nói thêm.

Tôi giải thích rằng, có thể có người làm nổ tung nhiều tượng Phật, đốt phá đền chùa, hay giết hại tăng ni; họ có thể diệt tất cả, nhưng tôi sẽ không bao giờ cho phép họ tiêu diệt đạo Phật. Bạn có thể giật nước bồn cầu cho quyển kinh trôi đi, nhưng tôi không bao giờ để bạn giật nước bồn cầu cho trôi đi sự bao dung tha thứ, sự bình an, và lòng bi mẫn.

Quyển kinh không phải là tôn giáo. Cũng như tượng đài, đền miếu, hay người tu sĩ. Những thứ này chỉ là "đồ chứa" mà thôi.

Quyển kinh dạy chúng ta những gì? Tượng đài biểu trưng cho điều gì? Những phẩm hạnh gì người tu sĩ phải có? Đó là những "đồ được chứa".

Khi chúng ta hiểu sự khác biệt giữa đồ chứa và đồ được chứa, chúng ta sẽ giữ lại đồ được chứa cho dù đồ chứa có bị tiêu hủy.

Chúng ta có thể in thêm kinh, xây thêm đền miếu và tượng đài, đào tạo thêm tăng ni, nhưng khi chúng ta đánh mất tình thương, lòng tự trọng và sự kính trọng người khác, và thay thế nó bằng sự bạo động, thì toàn bộ tôn giáo đã trôi xuống hầm cầu rồi.

 

(1) "The container and the contents",  sách "Don't worry, be grumpy" (Đừng lo, cứ gắt gỏng lầu bầu đi!) của tác giả Ajahn Brahm. Người dịch: Khánh Hạnh 

Thứ Tư, 4 tháng 11, 2020

HOÀI MƠ (Thơ xướng họa)

 



HOÀI MƠ (Thuận nghịch độc)
 
( Đọc xuôi )
 
Đêm về trở thấm nghĩa hoài mơ,
Dỗi cả rầu xưa phút hẹn chờ.
Thềm đọng nỗi đan hương gió thoảng,
Nắng soi mùa dậy tản mây mờ.
Êm ngày tỏ lối vui hòa nhịp,
Rạng cõi yêu nhà rộn gióng thơ.
Mềm ướt mắt thương tràn nẻo mộng,
Thêm rầu buổi nhớ lặng hồn ngơ.
 
( Đọc ngược )
 
Ngơ hồn lặng nhớ buổi rầu thêm,
Mộng nẻo tràn thương mắt ướt mềm.
Thơ gióng rộn nhà yêu cõi rạng,
Nhịp hòa vui lối tỏ ngày êm.
Mờ mây tản dậy mùa soi nắng,
Thoảng gió hương đan nỗi đọng thềm.
Chờ hẹn phút xưa rầu cả dỗi,
Mơ hoài nghĩa thấm trở về đêm.
 
23/4/2019
Minh Đạo
 
LẠI MƠ (Thuận nghịch độc) ( Đối họa )
 
( Đọc xuôi)
 
Đêm vắng nẻo buồn khúc lại mơ
Lạnh thương ngày ấy quãng ai chờ
Thềm soi nghĩa nặng đời đau mỏi   
Bóng ngã tình thâm dạ khổ mờ
Êm thắm để thời suy ngẫm kệ
Lắng đều nghe bạn kết bình thơ
Bên bờ lá dỗi hồn người khuất
Thêm nỗi ước tìm mãi ngẩn ngơ.
 
 
( Đọc ngược)
 
Ngơ ngẩn mãi tìm ước nỗi thêm
Khuất người hồn dỗi lá bờ bên
Thơ bình kết bạn nghe đều lắng
Kệ ngẫm suy thời để thắm êm
Mờ khổ dạ thâm tình ngã bóng
Mỏi đau đời nặng nghĩa soi thềm
Chờ ai quãng ấy ngày thương lạnh
Mơ lại khúc buồn nẻo vắng đêm.
 
24/4/2019
 
TÀN ĐÊM (Thuận nghịch độc) ( Đối họa )
 
( Đọc xuôi)
 
Đêm tàn thức giấc trở về mơ…
Hiểu thấu còn mô ngõ đợi chờ! 
Thềm lặng dáng qua ai có ngỡ,
Nợ riêng tình mỏi kẻ tan mờ.
Êm dòng sáng phách say cùng nhịp,
Vắng bạn xuôi ngày rối lỡ thơ.
Thêm nhớ cảm buồn đau mãi giữ,
Mềm lòng thấy tiếc dạ than ngơ.
 
( Đọc ngược)
 
Ngơ than dạ tiếc thấy lòng mềm,
Giữ mãi đau buồn cảm nhớ thêm.
Thơ lỡ rối ngày xuôi bạn vắng,
Nhịp cùng say phách sáng dòng êm.
Mờ tan kẻ mỏi tình riêng nợ,
Ngỡ có ai qua dáng lặng thềm.
Chờ đợi ngõ mô còn thấu hiểu?
Mơ về trở giấc thức tàn đêm.
 
26/4/2019

CHƯỚNG NGẠI NGƯỜI TU LÀ CON MẮT THỨ HAI

                                                 



Nói đến con mắt thứ hai là nói đến cái thấy phân biệt của con mắt. Có ba người đi chợ cùng ghé vào hàng vải để mu, nhìn xấp vải cô A khen đẹp, chị B lại chê xấu, thím C thì thấy không đẹp mà cũng không quá xấu. Đẹp hay xấu tùy theocách nhìn và sự phân biệt của mỗi người, vì sự hiểu biết, nhận thức không ai giống ai, nên có đẹp xấu khác nhau là vậy.


người chúng ta, ai cũng có hai con mắt, nhưng con mắt nào là mắt chánh, con mắt nào là con mắt thứ hai.


Mắt chánh thì thấy biết đúng như thật mà không thêm một cái gì vào, nên thấy chỉ là thấy. Như chúng ta đi ra ngoài chợ, người-vật-đồ đạt được hiện bày trước mắt, đủ thứ sắc thái, hình ảnh xanh, vàng, đỏ, trắng, nhưng ta không chen vào một ý niệm nào, ta chỉ thấy như thế rõ ràng, không lầm lẫn.


Có người hỏi thiền sư Bồ Tát Nghìn Tay Nghìn Mắt, “mắt nào là mắt chánh?”

Thiền sư nói, “ví như người trong đêm tối, với tay ra phía sau tìm chiếc gối, ngay khi ấy là mắt chánh”.


Trong đêm tối không có đèn, cái gì biết mà tìm gối? Khi chúng ta đã sống với con mắt chánh rồi thì con mắt thứ hai không thể tác động được. Vậy tất cả quý vị chọn mắt nào? - Dạ mắt chánh!


Hai con mắt, nếu ta chỉ mắt trái hay mắt phải thì cả hai đều không đúng, vì cả hai đồng thời thấy thì bảo làm sao có con mắt thứ hai được? Vậy ai trong chúng ta có thể chỉ ra được?


Bồ Tát Nghìn Tay là tượng trưng cho việc làm không biết mệt mỏi vì lợi ích tha nhân, sẵn sàng dấn thân, đóng góp, chia sẻ và nâng đỡ để mọi người sống thương yêu nhau bằng trái tim hiểu biết. Ngàn mắt là tượng trưng cho trí tuệ sáng suốt, biết soi sáng lại chính mình và muôn loài vật mà không bị người-vật làm ngăn ngại, nhờ tâm định tĩnh sáng trong.


Để làm thế nào biết được con mắt thứ hai, chúng ta hãy nghe câu chuyện đức Phật trong một kiếp quá khứ, đang trên đường hành Bồ Tát đạo. Thuở ấy, Ngài đang làm vua trị vì thiên hạ, sống một đờivương giả, thụ hưởng cả cung vàng điện ngọc, vợ đẹp, con ngoan, và tất cả thần dân thiên hạ.


Do túc duyên nhiều đời đã biết tu nhân tích đức, nhà vua chán ngán ngai vàng, không còn thiết tha, mong muốn những lạc thú trên trần gian này nữa. Ngài bỏ hết tất cả để đi vào rừng sâu, chuyên tu thiền định, mong được sớm giác ngộ, giải thoát mà cứu độ chúng sinh.


Hoàng hậu hay tin nên đuổi theo và cuối cùng, gặp được nhà vua trên đường đi. Hoàn cảnh éo lenhư vậy, vua muốn tiến tu mà vẫn bị chướng ngại vì tình chồng, nghĩa vợ. Vua hết lòng năn nỉ và khuyên nhủ bà hãy quay về, tiếp tục hưởng vinh hoa phú quý, sống đời sung túc, dư dã. Lòng vua đã muốn, nhưng hoàng hậu không buông tha, ví ái ân sâu nặng nên nhất quyết một mực đòi đi theo, thà sống có đôi có lứa, giữ trọn vẹn một lòng chung thủy.


Trước tình thế ngặt nghèo đó, vua không biết giải quyết cách nào cho ổn thỏa. Trời Đế Thích muốn tiếp thêm sức mạnh cho ngài để vượt qua vòng luyến ái, nên mới hiện ra một người thợ mộc ở gần bên bìa rừng. Vua và Hoàng hậu vừa đi tới đã thấy anh thợ mộc đang cầm thanh gỗ, nhắm xem coi nó thẳng mực hay chưa? Nhưng anh ta chỉ nhắm bằng một con mắt, vua thấy lạ mới hỏi anh, “vì sao phải nhắm bớt một con mắt?”. Anh thợ mộc nói, “nếu có con mắt thứ hai thì hai con nó tranh nhau, khó nhìn chính xác được”.


Vua nghe nói vậy, tâm ông bừng sáng ra, nên nghĩ rằng, “ta đã chán cảnh xa hoa, phù phiếm, đua chen, giành giựt của thế gian ái nặng, tình sâu, nên mới đi vào rừng sâu để tìm sự an tĩnh của nội tâm, một lòng muốn vứt bỏ hết mọi thứ trên cõi đời này. Nhưng bên cạnh ta còn có Hoàng hậu theo sau, đó cũng là con mắt thứ hai làm chướng ngại quá trình tu tập của ta”. Nghĩ vậy xong, nhà vua liền cám ơn anh chàng thợ mộc, rồi tiện tay bẻ một cành cây nhỏ đưa cho Hoàng hậu và hỏi rằng, “này, tiện thiếp có thể làm cho cành cây dính trở lại thân của nó như cũ được không?”


Hoàng hậu thưa, “dạ thưa bệ hạ, không thể nào được ạ”.


Nhà vua nói, “cũng vậy, khi nào cành cây dính trở lại thân như cũ, thì chúng ta sẽ sống trở lại với nhau, giờ thì chúng ta mỗi người có một con đường riêng”. Nói xong, nhà vua bỏ bà ở lại một mình rồi mất hút trong rừng sâu, để lại trong bà nỗi nhớ, niềm thương trong cô đơn, tiếc nuối và buồn khổ.


Câu chuyện ngụ ngôn trên đã giúp chúng ta thấy được con mắt thứ hai chưa? Có nhiều người vì con mắt thứ hai nên sống ngu, chết dỡ suốt cả một đời, mà chưa có một ngày thật sự hạnh phúc. Tại sao chúng ta không dám can đảm nhắm bớt một con mắt, để được sống đời bình yên, hạnh phúc mà không bị phiền não tham-sân-si và mọi thứ ràng buộc của thế gian chi phối.

Bây giờ, chúng ta hãy cùng nhau chiêm nghiệm lại lời nói của anh thợ mộc coi ý nghĩa sâu xa của nó như thế nào. Nếu có con mắt thứ hai thì hai con nó tranh nhau nên khó nhìn chính xác khúc gỗ thẳng hay cong. Người tu như chúng tôi đã phát nguyện trên cầu thành Phật, dưới cứu độ chúng sinh, từ bỏgia đình người thân để kết nối yêu thương, sẻ chia cuộc sống nhằm thực hiện lý tưởng giác ngộ, giải thoát mà cùng nhau chia vui, sớt khổ.


Nếu chúng ta không dứt khoát và có lập trường vững chắc, cứ để luyến ái tình thâm ràng buộc hoài, thử hỏi làm sao ta thực hiện ước mơ và hoài bão của mình. Tiền tài, danh vọng, vợ đẹp, con ngoan, uống ăn và ngủ nghỉ cứ như thế mà trở thành con mắt thứ hai, đeo bám ta dai dẵng từ đời này sang kiếp khác, không có ngày thôi dứt.


Trên con đường tu học, nếu ta không can đảm bỏ bớt con mắt thứ hai, mà thậm chí còn thêm nhiều con mắt khác vào, ta không dứt khoát, không can đảm, không chịu buông xả, vậy làm sao ta có đủ khả năng để vươn lên, vượt qua cạm bẫy cuộc đời, trên cầu thành Phật, dưới cứu độ tất cả chúng sinh.


Ta cũng phải mạnh dạn và can đảm dứt khoát như nhà vua thì họa may mình mới có thể thực hiện lý tưởng cao cả, trên cầu thành Phật, dưới cứu độ chúng sinh. Ta dám chấp nhận bỏ cha mẹ, xa lìa người thân yêu, để sống đời giác ngộ, giải thoát, nhưng ta lại không chịu buông tất cả, để được tất cả như đức Phật khi xưa.

Ta bây giờ có gì để buông, sự nghiệp chưa có, tình yêu cũng không, mọi thứ ta đang sống đều nhờ vào tấm lòng của Phật tử bốn phương, họ phải nhín ăn, bớt mặc để ta có thời gian mà tu học.


Ta chỉ chuyên làm một việc như vậy, mọi cái, mọi thứ đều có người khác lo, nên khi mới xuất gia, trước tiên ta phải cắt ái, lìa người thân, để sống đời giải thoát, thế mà ta không chịu, cứ lình xình, lẹp xẹp, để cho tháng ngày trôi qua suông.


Bây giờ, chúng ta hãy quán lại kỹ, coi thế gian này có gì là quan trọng để đáng cho ta luyến tiếc, đam mê, say đắm hay không? Người tu chúng ta phải lấy trí tuệ làm đầu, nhờ có trí tuệ, ta mới soi sángđược mọi vật mà biết rõ nguyên nhân, để ta không tham đắm, luyến tiếc, bị dòng đời cuốn trôi.


Thân này già mà ta bảo nó không già được không? Thân này bệnh ta bảo nó không bệnh được không? Thân này chết ta bảo nó không chết được không? Cái mà nó theo ta hằng ngày, ta còn không giữ được, huống hồ là những thứ khác.

Vậy mà ta vẫn sống với con mắt thứ hai hoài, ta phải can đảm như nhà vua mới được. Cầm nhánh cây đã bẽ gãy trên tay, vua hỏi người đẹp, “thiếp có thể làm dính  cành cây với thân cây lại được không? Nếu không thì hai ta mỗi người có một con đường riêng, nàng hãy ở lại để tiếp tục con đường của nàng, ta phải đi để đến con đường của ta. Vì ta biết khi ta đến đó, ta vẫn ăn-uống-ngủ nghỉ-làm việc và phục vụ như bao người khác, nhưng ta có tâm trong sáng và định tĩnh, nhờ vậy ta hay soi sáng muôn loài vật mà không bị ai làm chướng ngại. Ta chấp nhận xa lìa người thân, dứt tình ân ái, để đi đến phương trời cao rộng mà không lúc nào bị con mắt thứ hai làm mê mờ”.


Ngày xưa, thiền sư Triệu Châu trong một lần về thăm bổn sư, vị thầy thế phát xuất gia; gia đình, người thân hay tin đến thăm đông đảo. Sư biết vậy liền nói, “lưới ái trần tục không có ngày thôi dứt, ta đã từ bỏđể sống đời cao thượng, nên không muốn gặp lại”. Nói xong, sư liền mang bát ra đi liền trong đêm đó.


Ta phải mạnh dạn và dứt khoát như vậy, mới có thể làm nên việc lớn mà cứu người, giúp thế gian. Sau nàu, thiền sư Triệu Châu nổi tiếng khắp thiên hạ và sống đến 120 tuổi, độ vô số người, không thể tính kể. Nhờ dứt khoát không chấp nhận để con mắt thứ hai làm lay động, nên thiền sư đã thành tựuđạo giác ngộ, giải thoát một cách dễ dàng.


Thiền sư Hoàng Bá nói:

Vượt khỏi trần lao việc khó làm
Nắm chặt đầu dây giữ lập trường
Chẳng phải một phen sương lạnh buốt
Hoa mai đâu dễ ngửi mùi hương!


Ta muốn sống đời an lạc, hạnh phúc với lý tưởng cao thượng, ta phải dứt khoát lìa khỏi con mắt thứ hai, để vượt qua phong ba, bão táp của cuộc đời. Nhưng muốn được như vậy thì ta phải làm sao? Nắm chặt đầu dây giữ lập trường, ta phải cương quyết, mạnh dạn hơn, một đi không trở lại, hai đi không trở về, ba đi vì quyết chí, vượt thoát mọi trần lao, để ta và người cùng nhau thưởng thức hương thơm và mùi vị của hoa mai. Vậy có ai dám dứt khoát và can đảm bỏ con mắt thứ hai, để thưởng thức hương vị của hoa mai không?


Thích Đạt Ma Phổ Giác

Chủ Nhật, 1 tháng 11, 2020

1 TẢNG ĐÁ ĐƯỢC CHỌN ĐỂ TẠC TƯỢNG PHẬT, 2 NGƯỜI THỢ CHO RA 2 KẾT QUẢ VÀ CÁI KẾT ĐÁNG NGẪM

                              


Ảnh minh họa


Tại sao người thứ nhất lại thất bại? Tại sao người thứ hai lại thành công? Phần kết của câu chuyện sẽ là bài học đắt giá cho bất kỳ ai.

Tảng đá được chọn để khắc tượng Phật nhưng bị coi là 'đồ bỏ đi'

Ở ngôi làng nọ có một thương nhân vô cùng sùng bái Đức Phật.

Một hôm, trên đường trở về nhà, ông ta nhìn thấy một tảng đá nằm ở ven đường. Tảng đá nhẵn nhụi, lại sáng bóng và tỏa ra một thứ ánh sáng vừa ấm áp vừa thuần khiết, nên ông đem lòng yêu thích, muốn lấy về để tạc một bức tượng Phật.

'Mình sẽ nhờ người tạc thành tượng Phật và để ở trong nhà', người đàn ông tự nhủ.

Sau đó, thương nhân đi đến một cửa hàng chuyên tạc tượng nổi tiếng trong vùng và nói với người thợ ở đó: 'Tôi muốn anh tạc cho tôi một bức tượng Phật thật đẹp từ tảng đá này'.

Người thợ đồng ý và hẹn ngày khách hàng quay lại để giao hàng, rồi không bỏ phí một giây phút nào, anh ta lấy hết dụng cụ cần thiết ra và bắt tay vào công việc ngay lập tức.

Thế nhưng, ngay khi chạm vào tảng đá, người thợ đã nhận ra nó rất cứng, cứng hơn anh ta nghĩ nhiều. Dù rằng đã dùng đến búa, đục, nhưng tảng đá vẫn cứ trơ trơ, chẳng hề suy suyển gì.

Hôm sau, người thợ lại thử một lần nữa. Anh ta dùng hết sức bình sinh để đập thật mạnh vào tảng đá, song cũng vô ích. Tảng đá vẫn nằm im như thách thức sự kiên nhẫn của người thợ.

Vài ngày sau, người thợ vẫn cố gắng, nhưng vẫn thất bại. Anh ta kết luận rằng tảng đá này có vấn đề, không thể dùng để tạc tượng được, chắc chỉ có thể đem vứt đi.

Một tuần sau, vị khách quay lại cửa hàng và được người thợ kể lại sự tình. Rất buồn bã, ông ta đành đem tảng đá trở về.

Và sự 'hồi sinh' kỳ diệu của tảng đá nhờ gặp được người thợ thứ hai

Tuy nhiên, giữa đường, thương nhân bỗng chợt nghĩ hay là thử mang đến một cửa hàng khác, biết đâu lại có người làm được thì sao. Vậy là ông ta hỏi đường tới một xưởng tạc tượng khác.

Nhận tảng đá từ tay thương nhân, người thợ thứ 2 quan sát một lúc, sau đó anh ta đem dụng cụ ra. Chỉ sau vài lần dùng búa, anh ta đã dễ dàng đập vỡ được nó và bắt đầu tạo hình cho bức tượng Phật.

Chứng kiến điều kỳ diệu ngay trước mắt, thương nhân vô cùng vui mừng. Sau đó ít ngày, người thợ đã tạc xong một bức tượng Phật tuyệt đẹp và trao nó cho ông.

Khi nhận được một thành phẩm hoàn mỹ đến vậy, thương nhân có chút bối rối và đặt ra câu hỏi cho người thợ: 'Tôi đã từng đem tảng đá này đến gặp một người thợ khác và anh ta nói nó quá cứng, không thể làm gì được, chỉ có thể vứt đi mà thôi.

Vậy tại sao khi tôi đem nó đến cho anh, anh lại có thể tạo ra một tuyệt tác thế này? Hay anh có bí quyết gì hay dụng cụ gì đặc biệt để làm điều đó?'.

Người thợ nghe thấy vậy thì mỉm cười rồi lắc đầu và nói: 'Không, tôi cũng chỉ là một người thợ bình thường thôi, chẳng có dụng cụ hay bí quyết gì đặc biệt. Có điều, tôi nghĩ rằng, người thợ kia hẳn là đã cố gắng tới 99% mà không biết rằng, chỉ thêm 1 chút ít nữa thôi, 1% cuối cùng nữa thôi, anh ta sẽ thành công.

Tảng đá đã được anh ta tác động lực rất nhiều và đã trở nên rất yếu. Chỉ cần 1 vài nhát búa là nó sẽ vỡ ra. Thế nhưng, anh ta lại bỏ cuộc giữa chừng, nên mới nghĩ tảng đá chỉ là đồ bỏ đi'.

Lời bàn: Trong cuộc sống, nhiều khi chúng ta cũng phải đối mặt với những tình huống tương tự như người thợ thứ nhất gặp phải trong câu chuyện nói trên, khi chúng ta đã cố gắng rất nhiều nhưng sau đó không đủ kiên trì, bỏ cuộc giữa chừng và trở thành một kẻ thất bại.

Thế nhưng, cũng có không ít những người có thể nhìn thấu được toàn bộ vấn đề và lý giải một cách rõ ràng như người thợ thứ hai. Có lẽ anh ta đã từng gặp phải những tảng đá cũng 'khó nhằn' như vậy, và biết cách làm thế nào để có thể phá vỡ nó và tạo ra một tuyệt tác.

William Arthur Ward (1921 - 1994), nhà giáo dục nổi tiếng người Mỹ đã từng nói một câu tương tự, 'Nỗ lực nửa vời là thất bại đích đáng'. Bạn không nỗ lực chút nào, tất nhiên bạn sẽ không thành công, nhưng nếu bạn dùng tâm thế nửa vời để nỗ lực, kết quả sẽ còn tệ hơn, bạn vừa mất đi thời gian, sức lực, chẳng đạt được điều gì và lại mất đi cả niềm tin vào sự nỗ lực ấy.

Theo Moral Stories

Theo Thanh Hương/Pháp luật & bạn đọc