Chủ Nhật, 20 tháng 11, 2016

CỐT LÕI CỦA GIÁO HUẤN PHẬT GIÁO LÀ GÌ?


buddhadasa_bhikkhu Tôi rất mong quý vị sẽ nắm bắt được thế nào là "cốt lõi của giáo huấn Phật Giáo". Trong buổi nói chuyện hôm nay, nếu tôi nêu lên câu hỏi: "Vậy cốt lõi của giáo huấn Phật Giáo là gì?" thì nhất định tôi cũng sẽ nhận được vô số các câu trả lời trái ngược nhau, không câu nào giống với câu nào cả. Mỗi người trả lời tùy theo những gì mà họ được học hay được nghe, hoặc là do sự suy luận riêng của mình. Chúng ta cứ thử nhìn vào những gì đang xảy ra trong thế giới ngày nay xem sao. Trong thế giới của chúng ta còn có được mấy ai đủ sức để nhận biết đâu là cốt lõi của giáo huấn Phật Giáo? Và trong số đó có mấy ai đã mang ra ứng dụng hiệu quả được cái cốt lõi đó?




Nếu nêu lên câu hỏi tâm điểm của Phật Giáo là gì thì một số người sẽ bảo rằng đấy là Bốn Sự Thật Cao Quý (Tứ Diệu Đế), một số người khác thì lại cho đấy là aniccamdukkhamanatta (tức là Ba Dấu Ấn hay Ba Nguyên Lý Căn Bản của Phật Giáo là aniccam: vô thường, dukkha: khổ đau hay bất toại nguyên, manatta: vô ngã. Tuy nhiên cũng xin ghi nhận thêm là nhiều kinh sách còn đề nghị thêm một dấu ấn thứ tư là nibbanâ hay niết-bàn) và một số người khác nữa thì lại đọc lên vanh vách các câu sau đây:

Sabba pipassa akaranam
Kusalassupasampada
Sacitta pariyodapanam
Etam Buddhanasasanam

(có nghĩa là : "không nên làm điều xấu, chỉ nên làm điều tốt, tinh khiết tâm thức mình, đấy là cốt lõi giáo huấn của Đức Phật")

Tất cả các câu trả lời trên đây đều đúng, thế nhưng chỉ đúng được một phần, chẳng qua bởi vì mọi người chỉ trả lời một cách thuộc lòng mà quên mất đi là phải tự kiểm chứng bằng kinh nghiệm của chính mình xem có đúng thật như thế hay không.

Để nêu lên cốt lõi của giáo huấn Phật Giáo tôi chỉ xin nhắc lại với quý vị một câu phát biểu vô cùng đơn giản của Đức Phật: "Không được bám víu vào bất cứ gì cả". Trong kinh Majjhima Nikaya (Trung A Hàm) có thuật lại rằng một hôm có một người bước đến đảnh lễ Đức Phật và thỉnh cầu Ngài hãy tóm lược giáo huấn của Ngài bằng một câu thật ngắn gọn, và nếu được thì câu ấy sẽ là gì. Đức Phật đáp lại rằng Ngài có thể làm được việc ấy và đã nói lên câu trên đây: "Sabbe dhamma nalam abhinivesaya" tức là "Không được bám víu vào bất cứ gì cả" ("Sabbe dhamma" có nghĩa là bất cứ gì, "nalam" không được phép, "abhinivesaya" bám víu vào). Đức Phật còn nhấn mạnh thêm tầm quan trọng của câu này bằng cách nói thêm rằng nếu ai được nghe những lời cốt tủy ấy thì cũng có nghĩa là nghe được tất cả giáo huấn, và nếu ai tiếp nhận được quả của việc tu tập ấy (không bám víu vào bất cứ gì) thì cũng có nghĩa là tiếp nhận được tất cả các quả do giáo huấn của Ngài mang lại.

Nếu ai nắm vững được sự thật trong những lời giáo huấn ấy một cách hoàn hảo - tuyệt đối không được bám víu vào bất cứ gì cả - thì người ấy cũng sẽ không còn bị những con vi khuẩn gây ra các thứ bệnh thèm muốn, ghét bỏ và vô minh thâm nhập, đấy là các thứ bệnh đưa đến những hành động sai lầm, dù là trên thân xác, bằng ngôn từ hay trong tâm thức. Chính vì thế, cứ mỗi khi có một hình tướng, một âm thanh, một mùi, một vị, một sự va chạm hay một hiện tượng tâm thần phát hiện, thì kháng thể "không được bám víu vào bất cứ gì cả" sẽ giúp chận đứng ngay được sự lây nhiễm. Vi khuẩn không thể thâm nhập được, hoặc cũng có thể cứ để cho chúng thâm nhập nhằm để dễ tiêu diệt chúng hơn. Dù sao thì vi khuẩn cũng sẽ không thể nào sinh sôi nẩy nở và gây ra bệnh được, bởi vì kháng thể trong người luôn tìm cách tiêu diệt chúng. Thật vậy kháng thể đó có hiệu lực vô song và vĩnh viễn. Và đấy là cốt lõi của giáo huấn Phật Giáo, của tất cả Dhamma. Không được bám víu vào bất cứ gì cả!

Bất cứ ai đã thực hiện được sự thật đó thì cũng có thể xem như đã tạo được cho mình kháng thể giúp hóa giải mọi sự tác hại của căn bệnh tâm linh và khiến cho nó phải chấm dứt. Người ấy sẽ không còn bị căn bệnh làm cho mình phải khổ sở với nó nữa. Thế nhưng đối với trường hợp của một người bình dị không thấu triệt được cốt lõi của giáo huấn của Đức Phật là gì thì hoàn toàn khác hẳn: người này không có một sức đề kháng nào cả.

Đến đây có lẽ quý vị cũng đã nắm vững được ý nghĩa của "căn bệnh tâm linh" là gì và ai là vị lương y chữa khỏi được căn bệnh ấy. Thế nhưng chỉ khi nào ý thức được là mình đang bệnh thì khi ấy mình mới thật sự nghĩ đến việc chữa chạy và sử dụng liều thuốc thích nghi. Nếu chưa ý thức được là mình đang bệnh thì mình vẫn cứ sống nhởn nhơ và đua đòi những gì mình thích. Đấy chẳng khác gì như một người bị lao phổi hay bị ung thư mà cứ lo vui đùa không quan tâm đến việc chữa chạy cho đến một lúc nào đó thì mọi sự đã muộn, người ấy sẽ không sao tránh khỏi cái chết do căn bệnh của mình gây ra.

Không nên vướng vào những chuyện ngu xuẩn đại loại như thế! Phải luôn tuân theo những lời chỉ dạy của Đức Phật: "Không được chểnh mãng. Phải luôn chú tâm thật mạnh". Biết chú tâm thật mạnh thì chúng ta mới nhận ra được là mình đang bị căn bệnh tâm linh hành hạ và từ đó mình mới khám phá ra được đám "vi khuẩn" gây bệnh cho mình. Nếu áp dụng được những điều chỉ bảo trên đây một cách đúng đắn và kiên trì thì nhất định quý vị cũng sẽ tiếp nhận được ngay trong cuộc sống này những điều tốt đẹp nhất mà con người có thể có được.

                                                                                                       Trích từ:
                                                                                          Buddhadasa Bhikkhu
                                                                                       CỐT LÕI CỦA CỘI BỒ ĐỀ
                                                                                        Hoang Phong chuyển ngữ


Thứ Bảy, 19 tháng 11, 2016

CHIỀU VỀ

Hình ảnh có liên quan


 
 
                                                                       CHIỀU VỀ
 
                                                    Tuổi già hội ngộ tại nơi nầy,
                                                    Trà đậm ươm thơ cưỡi chốn mây.
                                                    Tri kỷ Đường thi suy mãi thấm,
                                                    Cố nhân tứ tuyệt ngẫm càng hay.
                                                    Trải lòng chọn ý vườn trăng xế,
                                                    Nâng chén tìm hương khóm liễu gầy.
                                                    Xướng họa thâm giao hồn mặc khách,
                                                    Chiều về ấm lại một vòng tay.

 
                                                                                   Minh Đạo
 
 

BÊN HIÊN VẮNG




     BÊN HIÊN VẮNG

Cuối thu bên hiên vắng,
Chợp mắt thấy chiêm bao,
Sao vẫn còn lo lắng?
Tỉnh dậy thấy nao nao…


Xa phố phường huyên náo,
Đồi vắng và am tranh,
Bàn kinh cùng kệ sách,
Quen rồi chiếc áo manh.


Gió mây cùng trăng sáng,
Hết hạ rồi đến thu,
Qua đi như điện chớp,
Kiếp đời vốn phù du.


Ứng hóa mãi khôn cùng,
Duyên sinh rồi duyên hợp,
Tùy thời mà thể  nhập.
Kết hợp và bao dung.


Pháp thân vốn thường trụ
Không đến cũng chẳng đi.
Thấy được điều chân lý.
Lũy kiếp mãi khắc ghi.


Không mông lung suy nghĩ,
Thiền quán qua từng ngày.
Bát nhã luôn soi sáng.
Dẫn dắt và hiển bày…


                      Minh Đạo

Thứ Sáu, 18 tháng 11, 2016

CHÚC MỪNG BÀ NỘI NHÂN NGÀY 20/11/2016




   Kính gởi bà Nội nhân ngày 20/11/2016

  Hằng năm, cứ đến ngày 20/11 là cháu không bao giờ quên được một nghĩa vụ quan trọng đó chính là viết thiệp chúc mừng Bà – Người đã dạy những con chữ đầu tiên cho cháu – “Nhân ngày nhà giáo Việt Nam”. Mọi tình cảm cháu dành cho Bà chắc hẳn Bà cũng đã biết được nhiều như thế nào? Qua những việc cháu làm hằng ngày, qua những cử chỉ, lời nói cháu dành cho Bà… Nên có lẽ điều cháu mong muốn nhất bây giờ là mong Bà hãy luôn sống vui, sống khỏe, nhất là ngày càng nấu nhiều món đặc sản của Huế nữa Bà nhé!

                                                                                   20 Tháng 11 năm 2016

                                                                                       Lê Vũ Nguyên Bảo

TÀI-KHOẢN VÔ-GIÁ!!!

Hình ảnh có liên quan




     Có một ngân hàng, mỗi buổi sáng, cung cấp vào tài khoản của bạn 86.400 USD.
Số dư trong tài khoản không được phép chuyển từ ngày này qua ngày khác !
     Mỗi buổi chiều, ngân hàng sẽ hủy bỏ hết số dư còn lại mà bạn đã không dùng hết trong ngày !
     Bạn sẽ phải làm gì ?
     Sử dụng hết số tiền đó, dĩ nhiên! Mỗi người trong chúng ta đều có một ngân hàng như vậy !!! 


   
Tên ngân-hàng là:  THỜI-GIAN.

     Mỗi buổi sáng, ngân hàng này cung cấp cho bạn 86.400 giây.

    Vào mỗi buổi tối, ngân hàng sẽ xóa bỏ, coi như bạn mất,

thời gian mà bạn không đầu tư được vào các mục đích tốt!

    Ngân hàng không cho phép bạn được để lại số dư trong tài khoản!

Cũng không cho phép bạn bội chi !!! 

    Mỗi ngày, ngân hàng lại mở một tài khoản mới cho bạn.

    Mỗi tối nó lại hủy hết những gì còn lại trong ngày ! 

    Nếu bạn không dùng được hết thời gian mà bạn có trong ngày,

người bị mất chính là bạn ! 

    Không có chuyện quay lại ngày hôm qua ! 

    Không có chuyện tiêu trước cho "ngày mai" !!! 

    Bạn phải sống bằng những gì bạn có trong tài khoản ngày hôm nay ! 

    Hãy đầu tư vào đấy bằng cách nào đó, để bạn có thể nhận được nhiều sức khỏe, hạnh phúc, và thành công nhất !!! 


    Đồng hồ vẫn đang chạy.

    Hãy cố thực hiện thật nhiều trong ngày hôm nay !!! 

    Để biết được giá trị của MỘT NĂM, hãy hỏi một học sinh bị ở lại một lớp !
     Để biết được giá trị của 
MỘT THÁNG, hãy hỏi một người mẹ sinh con thiếu tháng ! 
     Để biết được giá trị của 
MỘT TUẦN, hãy hỏi biên tập viên của một tuần báo !
     Để biết được giá trị của 
MỘT GIỜ, hãy hỏi những người yêu nhau đang mong chờ được gặp nhau ! 
       Để biết được giá trị của 
MỘT PHÚT, hãy hỏi một người bị lỡ chuyến tàu ! 
     Để biết được giá trị của 
MỘT GIÂY, hãy hỏi một người vừa thoát khỏi một tai nạn ! 

    Để biết được giá trị của MỘT PHẦN NGÀN GIÂY, hãy hỏi người vừa nhận được huy chương bạc trong kỳ thi Olympic ! 

     Hãy quý trọng từng giây phút mà bạn có! Và hãy nên quý thời gian hơn nữa!
Bởi vì bạn đang chia sẻ thời gian đó với ai đấy thật đặc biệt đối với bạn, đủ đặc biệt để có thể chia sẻ thời gian của bạn. Và hãy nhớ rằng thời gian chẳng chờ đợi ai cả !!!

   Ngày hôm qua dã là lịch sử! Ngày mai là một bí ẩn! Hôm nay là quà tặng ! Cũng vì vậy mà nó được gọi là PRESENT(có nghĩa là HIỆN-TẠI, mà cũng có nghĩa là QUÀ TẶNG).
    Bạn bè thật sự là một loại nữ trang quý hiếm! Họ khiến bạn mĩm cười và khuyến khích bạn thành công !!! Họ lắng nghe bạn, họ chia sẻ với bạn những lời khen tặng,
và họ luôn muốn mở trái tim ra với chúng ta !!! 

    Hãy gởi những lời này đến với ai mà bạn xem như BẠN MÌNH ! Và nếu những dòng này lại trở về với bạn, bạn ắt biết rằng bạn đang có một vòng tròn bạn hữu !!! 
 
                                                                             Nguồn internet

Thứ Tư, 16 tháng 11, 2016

SỨC MẠNH CỦA THIỆN



Miền Bắc Ấn Độ có một một thôn làng tên là Cách Y Mã. Nơi này đất đai cằn cỗi, cuộc sống mọi người khốn khổ, ngay cả việc làm sao để được ăn no cũng là một vấn đề. Người dân trong thôn cũng muốn thay đổi hiện trạng này, khổ nỗi tìm không được kế sinh nhai nào cả.
Cách thôn Cách Y Mã không xa là một con đường quốc lộ thô sơ, giao thông qua lại khá khó khăn, xe cộ đi qua thường hay phát sinh sự cố. Có một lần, một chiếc xe hàng vận chuyển thức ăn gặp phải mương sâu lật nhào, các chum vại đồ ăn rơi vãi tứ tung. Lái xe bị thương, đi nhờ một chiếc xe thuận đường tới bệnh viện, hàng hóa không ai trông giữ. Người dân thôn Cách Y Mã thấy thế, bèn trộm lấy những chum vại đồ ăn đó về nhà, liên tiếp mấy ngày, nhà nào cũng có thức ăn. Chuyện này đã khơi dậy trong đầu người dân thôn Cách Y Mã một cách kiếm ăn. Tục ngữ nói: “Ở gần núi thì nhờ núi mà có cái ăn, ở gần nước thì nhờ nước mà có cái ăn”, dân thôn hoàn toàn có thể kiếm lợi từ con đường gần nhà họ. Thế là, bọn họ thường xuyên loanh quanh ở gần đoạn đường ấy, hy vọng lại gặp những chuyến xe vận tải đồ ăn. Nơi nào xảy ra chuyện, họ sẽ thừa cơ thu hoạch.
Nhưng tai nạn thì không thể thường xuyên phát sinh. Mắt nhìn mấy chiếc xe vận chuyển đồ ăn tới rồi lại đi mà hoàn toàn không thu lượm được gì, họ rất không cam lòng. Vì thế, họ bèn theo chủ ý của một người, đêm đến, thừa lúc con đường không có ai, bọn họ dùng công cụ đào khoét mặt đường tạo ra nhiều hầm hố. Cứ như thế, xe cộ qua đây thường xảy ra tai nạn hơn. Dù cho không bị sự cố đi nữa, thì cũng bởi tình hình giao thông quá kém, tất cả xe đều đi rất chậm, dân thôn đi theo sau xe, thừa dịp lái xe không chú ý liền ăn trộm hàng hóa của họ.
Ban đầu, dân thôn chỉ trộm đi một ít đồ ăn, về sau, những thứ hàng hóa khác họ cũng trộm, mang đến chợ bán lấy tiền. Cuối cùng, bọn họ không còn ăn trộm lén lút nữa, mà trắng trợn cướp luôn. Trong khoảng thời gian đó, con đường thô sơ bên cạnh thôn Cách Y Mã trở thành đoạn đường hết sức không an toàn. Cục cảnh sát mỗi tháng đều nhận được báo cáo về mấy vụ xe chở hàng hóa bị cướp bóc, bèn điều động lực lượng để phá án. Cảnh sát bắt quả tang tại hiện trường hai người dân thôn Cách Y Mã đang cướp hàng hóa và nhốt vào tù.
Nhưng làm như thế cũng không răn đe được những người dân thôn khác, ngược lại còn khiến họ càng thêm bí mật và lanh lợi trong lúc làm việc xấu. Họ bắt đầu phạm tội một cách có tổ chức, có người chuyên phụ trách canh chừng báo động, còn hàng hóa cướp được thì đem về nhà cất giấu, hoặc là thay đổi bao bì hàng hóa để cảnh sát đến tìm kiếm lục soát không ra vật chứng. Chính quyền địa phương cũng suy nghĩ rất nhiều biện pháp, muốn người dân thôn Cách Y Mã bỏ thói trộm cướp hàng hóa vô đạo đức và phi pháp ấy, hướng dẫn cho họ đi theo chính đạo. Tiếc rằng, dân thôn Cách Y Mã dấn thân vào con đường trộm cướp thường thu được lợi lộc, nên đã quen với phương thức kiếm ăn không nhọc sức mà thu hoạch này rồi. Vậy là nạn trộm cướp hàng hóa xung quanh khu vực thôn Cách Y Mã liên tục phát sinh.
Mùa đông năm đó, bởi đoạn đường qua thôn Cách Y Mã thường xuyên bị mất hàng hóa, cho nên rất nhiều lái xe lựa chọn đi đường vòng tránh đoạn đường qua thôn. Như thế, suốt mấy ngày người dân thôn không thu hoạch được gì. Một hôm rốt cục có một chiếc xe hàng đi qua nơi đó, trên xe chở toàn những bao đựng tinh bột a-xít-phốt-pho-ríc. Dân thôn Cách Y Mã đều không có văn hóa, trong mắt họ tinh bột chính là lương thực, có thể chế tác các thứ đồ ăn ngon. Lập tức, mọi người ùa ra, cướp đi 20 bao đựng tinh bột a-xít-phốt-pho-ríc.
Anh lái xe trẻ tuổi thấy có người cướp hàng hóa của mình, liền dừng lại, đi theo dấu những kẻ cướp tìm đến thôn Cách Y Mã. Ngược lại, những dân thôn khác nhân cơ hội đó, thoải mái tự do tới chỗ chiếc xe lấy hết những bao tinh bột ấy, bỏ lại chiếc xe rỗng không. Chàng trai tìm tới thôn, thỉnh cầu dân thôn trả hàng hóa lại cho mình. Dân thôn làm sao dễ dàng giao trả đồ ăn cướp được, đều không thừa nhận đã lấy hàng của anh. Chàng trai trăm lần khẩn cầu đều không được, anh bèn nói cho dân thôn biết rằng tinh bột này không phải là thứ tinh bột làm thức ăn thông thường, mà là tinh bột cho công nghiệp. Nó có độc, ăn vào sẽ chết người, dân thôn có lấy cũng vô dụng thôi. Chàng trai nói lời chân thật, nhưng dân thôn đều không tin, bởi loại bột a-xít-phốt-pho-ríc này từ màu sắc hay là sờ vào thì đều giống hệt loại tinh bột bình thường làm thức ăn hàng ngày của họ.
Chàng trai trẻ thấy dân thôn không tin, sợ lắm mà không biết phải làm sao. Anh vốn muốn đi báo cảnh sát, nhưng lại lo rằng một khi anh rời đi, thật sự sẽ có người nhân lúc ấy lấy bột này chế thành đồ ăn, khi đó sẽ có án mạng. Tuy rằng có chết người cũng không phải là trách nhiệm của anh, nhưng anh không thể trơ mắt mà nhìn những người này phải chịu chết! Anh bèn đến tận nhà những người dân thôn, nói rõ tình hình, thậm chí còn quỳ xuống trước mặt họ thỉnh cầu: “Số tinh bột ấy các vị không giao trả cho tôi cũng không sao cả, nhiều lắm tôi cũng chỉ bị tổn thất chút ít, nhưng tôi van xin các vị, ngàn vạn lần không được ăn thứ tinh bột này, như vậy sẽ gây chết người”.
Chàng trai cố gắng như thế, khiến dân thôn từ chỗ không tin đến chỗ nửa tin nửa ngờ, có người đem thứ tinh bột ấy cho gà ăn thử, để kiểm nghiệm xem chàng trai nói thật hay không. Kết quả, con gà ăn tinh bột này chỉ trong chốc lát lăn ra chết. Lập tức dân thôn kinh hãi, rồi chuyển sang vô cùng cảm động. Họ cướp hàng hóa của chàng trai kia, anh lẽ ra phải oán hận bọn họ, để cho bọn họ ăn thứ tinh bột đó mà trúng độc chết, thế cũng là xứng đáng. Nhưng chàng trai vì để cứu mạng họ, không ngại quỳ xuống thỉnh cầu họ đừng ăn. Lòng nhân từ thiện lương như thế, tấm lòng tốt đẹp nhường ấy khiến họ xấu hổ vô cùng, cảm động mãi không thôi.
Dân thôn tự nguyện mang trả lại xe những bao tinh bột mà họ đã lấy. Từ đó trở đi, người dân thôn Cách Y Mã không còn trộm cướp hàng hóa của xe cộ qua lại nữa. Nếu có người chủ ý làm vậy, lập tức có người đứng ra nói chuyện: “Ngẫm lại người hảo tâm kia mà xem, chúng ta làm hại anh ta, anh ta lại cứu mạng toàn bộ dân thôn. Nghĩ đến anh ấy, chúng ta còn mặt mũi nào tiếp tục thứ thủ đoạn hại người này nữa đây? Chẳng lẽ chúng ta thực sự là ma quỷ hay sao?”.
Vùng xung quanh con đường quốc lộ qua thôn Cách Y Mã đã thanh bình. Dưới sự cai quản của cảnh sát, sự hướng dẫn của chính quyền đều chưa từng có hiệu quả. Thế rồi, một người lái xe trẻ tuổi lương thiện lại thay đổi được tất cả. Thói quen của người ta là có thể thay đổi được, thiện niệm của con người là có thể thức tỉnh được, chỉ là xem thử làm cách nào chúng ta mới có thể thức tỉnh được họ mà thôi. Bất luận là ai đi nữa, trong lòng kỳ thực đều có một mầm thiện tâm, chỉ lòng nhân từ mới có thể khơi dậy nó thôi. Muốn người ta lương thiện, đầu tiên cần phải có lòng thương, đối với người ác, ta dùng lòng thương, thì đều có thể thức tỉnh được thiện tâm của họ, khiến họ trừ bỏ được ác niệm. Chúng ta tin tưởng rằng, chỉ cần mọi người đều có một chút tâm lương thiện, đều có một chút lòng thương, xã hội sẽ trở nên tốt đẹp hơn lên!
                                                       Nguồn internet

THẦY TRÒ





                 THẦY TRÒ

Rộn rã phố xưa dưới nắng hồng,
Thầy trò hội ngộ thỏa chờ trông.
Lẵng hoa thắm nghĩa khai mờ trí,
Ánh mắt thầm ơn giúp sáng lòng.
Vạn lối tri ân tâm lực trọng,
Bao đường khắc dạ đạo tình nồng.
Nhan Hồi tứ đức nương thiên cổ,
Giáo học cho đời vốn nặng công.


                             Minh Đạo
 

TẠ ƠN (Tánh Thiện)



          TẠ ƠN

Tạ ơn Tam Bảo
Tu tập pháp lành
Mở rộng lòng ra
Dứt trừ cái ác .

Niềm vui Chánh Pháp
Sức mạnh ngàn cân
Ẩn nhẫn tu hành
Thúc liễm thân tâm .

Chánh niệm chuyên cần
Phá màn u ám
Tâm hồn tỏ sáng
Đẹp bước đời ta .

Học sống buông tha
Chắp tay cung kính
Trải nghiệm một lòng
Vững mạnh niềm tin .

                   Tánh Thiện

                   16-11-2016

Thứ Hai, 14 tháng 11, 2016

CHUYỆN CẢM ĐỘNG VỀ NHỮNG NGƯỜI THẦY CỦA VUA CHÚA VIỆT


Những người thầy cao cả của vua Hàm Nghi
Thầy giáo Nguyễn Doãn Cử, quê Vũ Thư - Thái Bình đỗ Cử nhân, được làm giảng quan của phủ Tôn Nhân, chuyên dạy con em vương hầu nhà Nguyễn. Có lần, cậu bé Ưng Lịch không thuộc bài, thầy Cử đã phạt đòn thẳng tay, bất chấp trò là dòng dõi vương tôn. Sau đó thầy cử liền dâng sớ tạ tội, cáo quan về quê cũ.
Nhưng vua Tự Đức chẳng những không quở trách mà còn đưa thêm roi cho thầy và nói: Khanh quý trẫm vì nể trọng khuôn phép, chứ không phải nể quyền uy nơi trẫm. Nếu không nghiêm như vậy thì làm sao đào luyện được tài năng, hoàng tộc sẽ không có người kế nghiệp xứng đáng.
Cậu bé Ưng Lịch bị thầy đánh đòn ấy sau này trở thành vua Hàm Nghi, một ông vua yêu nước được lưu danh trong sử sách.
Trong các thầy dạy vua Hàm Nghi, người đời cũng nhớ đến thầy Nguyễn Nhuận. Dù không đỗ cao, ông là một nhà Nho được kính nể không chỉ vì trí tuệ uyên thâm mà còn cả sự liêm khiết, quang minh. Sau một thời gian mở trường dạy ở quê, ông được mời vào kinh dạy con cháu hoàng tộc. Trong các học trò của ông có cả Ưng Lịch, khi đó là một cậu bé ngỗ nghịch ít được chú ý đến.
Sau này Ưng Lịch trở thành vua Hàm Nghi, nhớ công ơn thầy dạy dỗ, muốn phong cho thầy một chức quan trong triều. Để tạ ơn vua, nghĩ đến quê mình có vùng đất Tuyên Hóa nghèo khổ lại toàn là núi rừng, dân chúng ít học, thầy Nguyễn Nhuận đã xin được về Tuyên Hóa nhận chức Tri huyện.
Thời gian cụ làm quan ở huyện này, toàn huyện không có ăn xin ăn mày, không có trộm cắp, vườn tược nhà nhà thông thương, hoa quả không bị mất trộm, nhà nhà không phải đóng cửa khi chủ đi vắng…
Vua Lê Hiến Tông và bát canh của người thầy
Lê Hiến Tông (1461 – 1504) là một vị vua thông minh, nhân từ và ôn hoà. Dưới thời của ông, đất nước vẫn duy trì được sự thái bình, thịnh trị có từ thời vua cha Lê Thánh Tông.
Sách Đại Nam Nhất Thống Chí đã ghi lại một câu chuyện cảm động về đạo thầy trò trong một lần vua Lê Hiến Tông về thăm thầy cũ. Nội dung câu chuyện như sau:
Xa giá về đến cổng làng Châu Khê, nhà vua ra lệnh dừng kiệu và bước xuống đầu đường rẽ vào nhà thầy, vua chọn 2-3 cận thần cùng một vị quan sở tại tháp tùng vua vào nhà thầy giáo. Vua ôn tồn nói với mọi người đi theo:
- Hôm nay trẫm về đây là để thăm thầy chứ không phải vi hành, công cán vì vậy cho phép các khanh về nghỉ ở công quán.
Mọi người bái tạ nhà vua rồi đi vào các quán dịch. Ở đó, các quan địa phương chuẩn bị chu đáo, có chăng đèn, kết hoa, có bàn trà nước. Nhà vua đi bộ cùng viên quan trấn và mấy quan hầu cận tiến vào nhà thầy. Không trống phách, không nhạc nhã, không có tiếng hô dẹp đường. Cụ Thượng thư già cùng các con cháu và giai nhân mũ áo chỉnh tề ra tận đầu thôn bày hương án nghênh tiếp nhà vua. Thấy thầy giáo, vua vội vàng đến gần cụ. Theo nghĩa vua tôi, cụ sụp lạy. Nhà vua hai tay nâng vai thầy lên, ôn tồn:
- Xin lão tiên sinh bình thân để cho đệ tử không bị thất lễ.
Vua nói với những người đang quỳ rạp hai bên đường:
- Cho tất cả các người đứng dậy cùng trẫm về nhà tôn sư!
Vua nhắc lại lời nói với các quân sĩ và với người thân của thầy giáo:

                                         Vua Hàm Nghi.
- Hôm nay trẫm đến đây là học trò về thăm thầy, chứ không phải thiên tử đi kinh lý, nghi lễ ở chốn triều đình dùng vào lúc khác!
Ngôi nhà thầy Nguyễn Bảo giản dị, cổ kính và gọn gàng, đúng với phong thái của chủ nhân - một bần nho trong sáng. Vua mời cụ ngồi lên sập giữa để mình đứng vấn an thầy. Cụ giật mình:
- Tâu bệ hạ đâu lại có thể như thế được. Đạo thầy là nặng, song phép nước cao hơn, xin hoàng thượng cho lão phu này được đứng hầu! Người ngoài trông vào sao tiện ạ!
Nhà vua nhẹ nhàng:
- Thưa tôn sư, họ đã biết mục đích của trẫm hôm nay rồi. Tôn sư cho phép đệ tử ngồi chung là đã quá lắm rồi.
Nói xong, nhà vua đỡ cụ xuống cùng ngồi đàm đạo. Vua hỏi thăm sức khoẻ và đời sống của thầy cùng gia đình, xin xem những bài thơ của thầy làm khi nhàn rỗi ở chốn thôn dã. Khi người nhà của cụ giáo dâng trầu nước chỉ đứng ở sân dưới thềm, chuyển qua các thị vệ dâng lên cụ giáo và nhà vua. Vua Hiến Tông lại khoát tay:
- Thôi để họ mang thẳng lên đây, chắc họ cũng muốn gần vua một chút. Âu cũng là cái lộc của lão tiên sinh đây!
Thưởng thức chén trà ngát hương sen đồng nội, nhà vua nói với các quan theo hầu:
- Trẫm cho các ngươi lui! Chiều nay trẫm không dùng "ngự thiện", trẫm xin với lão tiên sinh cùng gia đình ăn bữa cơm quê. Trẫm muốn được ngồi chung mâm với thầy cũ cho thoả tình thầy trò, chắc lão tiên sinh cho phép.
Cụ giáo nghẹn ngào:
- Xin bái tạ đức vua! Thánh chỉ đã truyền, thần xin vâng mệnh!
Bữa cơm thầy trò chiều hôm đó diễn ra thân mật. Các con cụ đứng hầu từ xa ngắm thầy trò nhà vua đối ẩm với thứ rượu nếp quý quê nhà hương thơm sực nức, nghe thầy trò nhà vua vừa ăn vừa ngâm nga thơ phú. Cụ Châu Khê có lẽ còn vui hơn cả nhà vua, bởi lẽ là ông có học trò ở ngôi tôn quý nhất nước vẫn mực thước thuỷ chung giữ đạo nghĩa thầy trò. Ông càng hài lòng vì học trò cũ của ông dẫu ngồi trên ngai vàng vẫn không quên gốc. Nhà vua đặc biệt thưởng thức món canh cua quê kiểng, bất giác nói với cụ Châu Khê:
- Thầy cho con ăn một bát canh này thật là một niềm hạnh phúc. Hương vị cua đồng quê nhà ít có thức ăn nào sánh tày, quả là ngon.

Danh sư Chu Văn An

Nhà giáo lỗi lạc Chu Văn An (1292 – 1370) là người chính trực, đã từng đỗ Thái học sinh nhưng không ra làm quan mà mở trường dạy học ở làng Huỳnh Cung, bên kia sông Tô Lịch. Vua Trần Minh Tông (1300 – 1357) đã mời ông ra làm tư nghiệp Quốc tử giám, dạy cho Thái tử Trần Vượng, tức là vua Trần Hiến Tông tương lai.

                        Tượng danh sư Chu Văn An.
Đến đời Dụ Tông, ông thấy quyền thần làm nhiều điều vô đạo, ông dâng Thất trảm sớ xin chém 7 tên gian nịnh, nhưng vua không nghe. Ông chán nản từ quan về ở núi Phượng Hoàng (Chí Linh, Hải Dương), lấy hiệu là Tiều ẩn (người đi ẩn hái củi), dạy học, viết sách.
Vào những dịp trong triều có lễ hội lớn, ông vẫn được đón về kinh tham dự. Một lần vua Dụ Tông giao cho ông coi việc chính sự, ông từ chối. Biết tin này, bà Hoàng Thái Hậu (tức bà nội vua), nói với những người xung quanh: “Bậc sĩ phu sửa mình trong sạch, dẫu thiên tử cũng không bắt làm bề tôi được. Sao có thể đem bổng cao chức trọng mà dụ dỗ người ta...”. Vua sai nội thần mang áo đến ban tặng, ông tạ ơn xong rồi đem cho người khác. Ai cũng khen cái phong độ của ông là cao thượng.
Khi Trần Nghệ Tông (1370-1372) lên ngôi, Chu Văn An ra kinh đô bệ kiến vua mới, nhưng không nhận chức tước gì, rồi trở về núi cũ. Đông đảo học trò theo tiễn có hỏi:
- Từ nhà vua đến đông đảo các sĩ phu và quan chức đều là học trò của thầy, sao thầy không ở lại để đảm đương một trọng trách? Thầy coi thường những chức tước của triều đình lắm sao?
Nhà giáo Chu Văn An nói:
- Cái quan trọng của con người không ở chỗ chức tước mà ở phẩm giá. Giữ một chức phận nhỏ mà có ích cho đời thì đáng quý biết bao nhiêu. Còn giữ chức tước lớn mà không làm gì có lợi cho dân, cho nước thì chức tước ấy có nghĩa gì. Các con có nhớ Đức Thái Tông triều Trần ta đã nói gì khi Trần Thủ Độ mời người trở lại làm vua không? Ngài nói: “Nếu làm vua mà làm cho dân giàu, nước mạnh thì hãy làm. Còn ngôi vua ư? Ta coi ngôi vua như chiếc dép rách mà thôi!”.

                                                                                        Nguồn internet

MỌI SỰ THẾ GIAN ĐỀU VÔ THƯỜNG, BUÔNG TÂM XUỐNG MỚI THẤY MÌNH TỰ TẠI


 

Mọi sự trên thế gian, hết thảy đều là vô thường, con người sống và chết chỉ cách nhau có một hơi thở. Tình yêu, sắc đẹp cũng vậy, đều không có gì là bất biến. Vậy nên, có thể buông bỏ mọi dính mắc, mới có thể tự do tự tại.

Xưa kia, ở địa phương nọ có một vị trưởng giả sống cùng hai vợ chồng người con trai và một người con gái. Con dâu của ông có dung mạo xinh đẹp hơn người, quả thực tìm không ra được chỗ khiếm khuyết. Con trai vị trưởng giả ngày đêm ở bên vợ mình như hình với bóng. Anh ta thà chết cũng không chịu rời xa người vợ xinh đẹp của mình nửa bước.

Hồi ấy, toàn bộ đường đi tại địa phương đều bị hư hại nghiêm trọng nên gây trở ngại cho người dân khắp vùng. Người dân lân cận không có đường vào, người dân trong vùng không có đường ra. Thậm chí ngay cả việc qua lại với nước láng giềng cũng bị tuyệt giao trong khoảng thời gian kéo dài đến 12 năm. Hết thảy vật phẩm cung ứng trong nước cũng lâm vào tình trạng thiếu thốn cực độ.http://tinhhoa.net/wpcontent/uploads/2014/08/BcKCN8.jpghttp://tinhhoa.net/wpcontent/uploads/2014/08/BcKCN8.jpg

Đến năm thứ 12, vị trưởng giả nghe tin đồn rằng, rất nhiều thương nhân ngoại quốc đã đến nước láng giềng buôn bán. Vị trưởng giả ngay lập tức căn dặn con trai: “Thương nhân ngoại quốc đến nước láng giềng làm ăn buôn bán, nhất định là mang theo rất nhiều vật phẩm, con hãy nhanh chóng men theo con đường nhỏ đến nước láng giềng để mua một chút nhu yếu phẩm cần thiết về dùng”.

Người con trai vừa nghe xong, tỏ vẻ rất không hài lòng. Anh ta nghĩ thầm: “Lần này chắc mình không thể không rời xa người vợ yêu quý của mình rồi!”.

Nghĩ đến đó, anh ta rất thống khổ và cằn nhằn với người bạn thân thiết: “Cha của tôi tuổi đã già rồi, làm sao hiểu được tình cảm của những người trẻ tuổi. Tôi và vợ tôi thương yêu nhau như vậy, không thể chia lìa, thế mà cha tôi lại phái tôi đi nước láng giềng mua vật phẩm. Chỉ nghĩ đến cảnh ấy thôi, trong lòng tôi đã tan nát rồi. Nếu bắt tôi rời xa vợ tôi nửa ngày thì tôi thà nhảy xuống sông hoặc nhảy từ trên đỉnh núi xuống tự tử chết còn hơn.”

Người bạn thân thiết nghe xong liền chân thành nói: “Anh thật kỳ lạ! Cha mẹ sinh con ra chẳng qua cũng là muốn con cái hiểu được phải chăm lo gia đình, hiểu được phải ra ngoài kiếm tiền, trở về phụng dưỡng cha mẹ.

Ý nghĩ của anh như vậy, quả thực là quá ích kỷ, quá trẻ con, không lao động như vậy thì sống làm sao đây? Cho dù anh có sinh ra ở thiên đường đi nữa, cũng không thể cả ngày không làm gì, sống cuộc sống quá an nhàn. Huống chi, sinh ra làm người, sao có thể không hiếu kính với cha mẹ mình đây?”.

Anh ta nghe xong lời khuyên bảo của người bạn, trong lòng cảm thấy rất có đạo lý. Cuối cùng không thể không rời xa người vợ, ủ rũ hướng về phía nước láng giềng mà đi. Thế nhưng, bất luận là đi đến đâu đi nữa, hình ảnh người vợ thân yêu cứ hiện lên trong đầu anh ta. Vì thế, anh ta vội vã mua một chút vật phẩm cần thiết nhất rồi mau chóng trở về nhà.

Vừa về đến cổng nhà, gặp người em gái, anh ta liền hỏi: “Chị dâu em đâu?”

Người em gái liền trả lời: “Chị dâu đã chuyển đến ở bên cạnh nhà, một mình nằm ngủ ở đó rồi.”

Chuyện là, khi anh ta vừa rời đi thì người vợ bỗng nhiên phát bệnh. Toàn thân của cô lở loét, chảy mủ không ngừng. Mọi người nhìn thấy cô đều sợ hãi, cô đành phải chuyển ra chỗ cạnh nhà ở một mình.

Người chồng vội vàng chạy đến chỗ vợ, không ngờ người vợ xinh đẹp của anh ta giờ đây toàn thân đều đã biến thành đen, sưng phù, gương mặt xấu xí, trông vô cùng đáng sợ. Bất giác, trong lòng anh ta cảm thấy những ân ái và dục tình trước đây đột nhiên bị nguội lạnh xuống. Trong nháy mắt, anh ta ngộ ra, thế gian là vô thường, vẻ xinh đẹp rồi cũng có ngày biến mất.

Đau khổ của con người đến từ nỗi sợ hãi bị mất một thứ gì đó, mà sở dĩ người ta sợ là bởi vì họ đã quá quen thuộc đến nỗi trở thành thói quen hay phụ thuộc vào sự tình, sự vật, con người đó…

Một khi những thứ đó bị mất đi thì mục tiêu cuộc sống của họ, trọng tâm của họ lập tức bị hút ra, khiến cho họ không cách nào tiếp nhận được sự thật mà rơi vào đau khổ. Thế sự là vô thường, tình yêu cũng là vô thường, hãy dũng cảm đối mặt và chấp nhận, hiểu được như vậy, cuộc sống của bạn sẽ nhẹ nhàng hơn!

Theo Daikynguyenvn

 

Thứ Sáu, 11 tháng 11, 2016

KỶ NIỆM KHÓ QUÊN



                                                   

  Suốt 35 năm dạy học (1968 – 2003): 5 năm ở Nguyễn Hoàng - Quảng Trị, 10 năm ở Quốc Học - Huế và 20 năm Sư phạm Đà Nẵng, có biết bao kỷ niệm với học trò của mình nhưng có một kỷ niệm tôi không thể quên với HS lớp 10C NH Quảng Trị.


 Chiến tranh đã làm chúng tôi lạc nhau suốt 20 năm, từ 1970 – 1990. Một buổi sáng, trời mưa lâm thâm, trên đường đi dạy về trường sư phạm (Hòa Khánh – Đà nẵng), vừa đến Ngã Ba Huế (ĐN) bỗng thấy một cô gái băng qua đường, chặn xe tôi lại.

 - Thưa cô, cô có phải cô Hồng từng dạy văn ở NH Quảng Trị không?
 - Ừ! Tôi đây.

 - Em là Hoàng Thị Thy Tuyết, lớp 10C của cô, cô có nhớ em không?
  Mừng qúa, chúng tôi ôm chầm lấy nhau…

- Em có gặp các bạn lớp mình không?


- Dạ có, một ít. Thôi cô đi dạy kẻo trể, em sẽ liên lạc và hẹn các bạn đến nhà thăm cô sau…


  Và rồi, một sáng nọ cả gia đình (chồng con) các em: Thy Tuyết, Thanh Vân, Bích Hường…cả Võ Thị Quỳnh ở Huế, kéo nhau đến trường sư phạm xin gặp và thăm cô Hồng, cả trường ngạc nhiên… Được tin, rời khỏi lớp học, tôi thật ngỡ ngàng, vừa tự hào và thật xúc động…Sau đó gia đình các em kéo về vườn nhà tôi và Quỳnh tổ chức ngay “một góc Nguyễn Hoàng” cho cuộc hội ngộ 10C sau 20 năm xa cách. Tôi nhớ Quỳnh đã dùng phấn trắng viết lên tấm giấy màu tím mấy câu thơ của thầy Phan Phụng Thạch để nói lên tâm trạng của tôi lúc đó:

                                   Ôi ta muốn cúi hôn từng mái tóc
                             Gởi tấm lòng cho lớp tuổi thơ ngây
                             Mai ta đi đường xuôi hay lối ngược
                             Vẫn nhớ hoài hình ảnh buổi hôm nay.
                                                                      (Nắng hạ tình phai)

 
Nguyễn Khắc Điệp (Chồng Thy Tuyết) thì sáng tác ngay bài thơ:
 
                                                             XIN VỀ
                  (Kính tặng cô giáo Võ Thị Hồng)

 
Xin về sống lại cùng Cô
Đôi giây phút cũ bên bờ trường xưa
Chúng em xin làm cơn mưa
Giữa trưa nắng hạ thấm vừa vườn Cô
Chia tay tuổi hãy còn khờ
Bây giờ tay bế ai ngờ họp đây
Cho dù ở tận chân mây
Mà lòng mong mỏi có ngày gặp thôi
Gặp nhau lòng những bồi hồi
Bao nhiêu kỷ niệm liên hồi dứt đâu
Tháng năm đâu có phai màu
Nhưng xin giây phút  nhiệm mầu mãi ghi.
 
(Viết vội tại nhà Cô Hồng trong lần gặp mặt đầu tiên của lớp 10C Nguyễn Hoàng).

 
  Đúng như nhận định của một thầy giáo của tôi: “Nhà giáo ngày trước được hưởng cảm tình sâu đậm của các học sinh thân yêu”, điều nầy dễ thấy qua các buổi hội ngộ do cựu HS các lớp, các khóa của nhiều trường tổ chức và các em đã dành nhiều tình cảm cho thầy cô giáo cũ của mình, trong đó có tôi.
 
 Cô cám ơn hết thảy HS thân yêu, vì tất cả…
 
                                                                               Võ Thị Hồng
                 http://nguyenhoangsaigon.blogspot.com/p/tinh-thay-tro.html
                 http://nguyenhoangsaigon.blogspot.com/