Thứ Năm, 12 tháng 6, 2014

CHÍNH NIỆM - THỰC TẬP THIỀN QUÁN



   Khi bạn mới nhận biết một điều gì, thoạt tiên sẽ có một khoảnh khắc của sự nhận diện đơn thuần thoáng qua rất nhanh, ngay trước khi bạn bắt đầu lập ý niệm về vật ấy, trước khi bạn định nghĩa nó. Đó chính là một trạng thái tỉnh thức. Thông thường thì trạng thái này rất ngắn ngủi. Nó là một giây phút chớp nhoáng, khi bạn mới vừa để mắt nhìn vào một vật, khi bạn mới chú tâm vào nó, trước khi bạn định nghĩa và đặt tên cho nó, cô lập và tách rời nó ra khỏi phần còn lại của thực tại. Nó xảy ra trước khi bạn bắt đầu suy nghĩ về sự vật ấy - trước khi tâm bạn nhận định: “Ồ, đó là một con chó.” Giây phút chú tâm nhẹ nhàng của một ý thức đơn thuần ấy chính là chính niệm.
   Trong giây phút chớp nhoáng này, bạn kinh nghiệm sự vật không như là một sự vật. Bạn kinh nghiệm một sự trôi chảy nhẹ nhàng của một kinh nghiệm thuần túy, đan kết vào với thực tại, chứ không hề có mặt riêng rẽ. Chính niệm cũng giống như một cái thấy toàn diện, so với một cái nhìn tập trung nhỏ hẹp và bị giới hạn. Và cái thấy của chính niệm có tàng chứa một tuệ giác sâu sắc ấy sẽ biến mất ngay khi bạn thu nhỏ tâm mình lại, đối tượng hóa và biến nó trở thành một sự vật. Trong tiến trình nhận thức bình thường của ta, bước chính niệm đầu tiên này rất là ngắn ngủi, gần như là không thể nào thấy được. Và trong những bước kế tiếp, chúng ta có thói quen hoang phí sự chú ý của mình vào những việc như là tìm hiểu nó, đặt tên cho nó, và hơn hết, tạo nên một chuỗi ý tưởng đầy những biểu tượng về nó. Giây phút chính niệm ban sơ kia trong phút chốc đã tan biến mất. Và mục đích của thiền quán là giúp ta có thể kéo dài được giây phút chính niệm ấy.
   Khi giây phút chính niệm này được kéo dài, bằng sự thực tập, bạn sẽ thấy nó rất sâu sắc, và có thể thay đổi được hoàn toàn quan điểm của mình về cuộc sống. Nhưng trạng thái đó cần phải được học hỏi, và cần có một sự thực tập thường xuyên. Một khi bạn đã học được rồi, bạn sẽ thấy rằng chính niệm có rất nhiều khía cạnh thú vị.
    Những đặc tính của chính niệm
   Chính niệm là một tấm gương soi thực tại. Nó phản ảnh những gì đang có mặt trong giây phút hiện tại này, đúng thật như là đang xảy ra. Không có thiên kiến.
   Chính niệm là một sự quán sát không phán xét. Nó là một khả năng quán sát nhưng không phê bình của tâm. Nhờ vậy, ta có thể nhìn sự vật mà không chỉ trích, không lên án. Không có một điều gì làm cho ta ngạc nhiên. Ta chỉ đơn giản quân bình chú ý vào sự việc như nó thật sự đang hiện hữu, trong trạng thái tự nhiên của nó. Ta không cần phải quyết định và cũng không phê phán. Chỉ quán sát. Khi tôi nói “không cần phải quyết định và cũng không phê phán” là có ý ví dụ thiền sinh với một nhà khoa học trong phòng thí nghiệm. Ông ta quan sát đối tượng của mình dưới ống kính hiển vi mà không có một nhận thức, một thiên kiến nào trước, chỉ nhìn sự vật đúng như nó đang hiện hữu. Cũng bằng cách đó, hành giả quán sát những tính chất vô thường, vô ngã và bất toại nguyện của mọi hiện tượng.
   Chúng ta không thể nào khách quan quán sát những gì đang xảy ra trong ta, nếu ta không cùng một lúc chấp nhận sự có mặt của nó trong tâm mình. Điều này đặc biệt đúng đối với những tâm thức tiêu cực. Muốn quán sát nỗi sợ của mình, trước nhất ta phải chấp nhận là mình sợ hãi. Chúng ta không thể nào khám xét được nỗi khổ của ta, nếu ta không chịu chấp nhận nó trọn vẹn. Và đối với những nhức nhối, buồn lo, bực tức, và tất cả những cảm thụ bất an khác cũng vậy. Chúng ta không thể nào quán sát được một sự việc gì trọn vẹn, nếu ta cứ bận rộn chối bỏ sự có mặt của nó. Bất cứ một kinh nghiệm nào đang có mặt trong ta, chính niệm sẽ chấp nhận nó. Nó chỉ đơn giản là một sự kiện khác của cuộc sống, thêm một việc nữa để ta có ý thức. Không tự hào, không mặc cảm, không có gì là cá nhân - cái gì có mặt thì nó có mặt.
   Chính niệm là một sự quán sát vô tư. Nó không thiên vị một bên nào. Nó không bị dính mắc vào những gì nó nhận thức. Nó chỉ đơn thuần nhận thức. Chính niệm không bị những trạng thái tốt đẹp làm mê đắm, và cũng không tránh né những trạng thái xấu xa. Không nắm bắt những gì dễ chịu, cũng không xua đuổi những gì khó chịu. Chính niệm đối xử với tất cả mọi kinh nghiệm đều bình đẳng như nhau, mọi tư tưởng bằng nhau, và mọi cảm thụ cũng bằng nhau. Không có gì được đưa lên, không có gì bị đè xuống. Chính niệm không có sự thiên vị.
    Chính niệm là một ý thức không cần khái niệm. Một cách khác để diễn tả chính niệm là “sự nhận diện đơn thuần.” Nó không phải là suy nghĩ. Nó không có liên quan gì đến tư tưởng hoặc khái niệm. Nó không dính líu gì đến ý tưởng, ý kiến hoặc ký ức. Nó chỉ nhìn và quán sát. Chính niệm ghi nhận hết những kinh nghiệm, nhưng không hề so sánh. Nó không dán nhãn hiệu hoặc phân loại chúng. Nó quán sát mọi việc như là chúng đang xảy ra lần đầu tiên. Đây không phải là một sự phân tích dựa trên ký ức và những suy tưởng. Mà đó chính là một kinh nghiệm trực tiếp và tức thì về bất cứ một điều gì đang xảy ra, không cần đến tư tưởng. Chính niệm có mặt trước tư tưởng trong tiến trình nhận thức.
    Chính niệm là sự ý thức trong giây phút hiện tại. Nó có mặt ngay bây giờ và ở đây. Chính niệm quán sát những gì đang xảy ra ngay trong giờ phút này. Nó vĩnh viễn ở trong giây phút hiện tại, lúc nào cũng đứng yên trên đầu những ngọn sóng thời gian đang lướt ngang qua. Nếu bạn nhớ về cô giáo dạy lớp mẫu giáo của mình, đó là ký ức. Khi bạn có ý thức rằng mình đang nhớ về cô giáo dạy lớp mẫu giáo, thì đó là chính niệm. Và nếu bạn nhận thức việc ấy và tự bảo thầm “Ồ, tôi đang nhớ,” thì đó là suy nghĩ.
     Chính niệm là một ý thức không có một cái ngã. Nó xảy ra không cần đến một cái “tôi” nào hết. Với chính niệm, chúng ta nhìn mọi hiện tượng mà không cần phải cộng thêm những ý niệm như là “tôi” hoặc “của tôi”. Ví dụ, có một cái đau nơi chân. Bình thường, tâm bạn sẽ nói: “Tôi bị đau.” Với chính niệm, ta chỉ đơn giản ghi nhận cảm giác ấy như là một cảm giác. Ta sẽ không gắn thêm lên nó một ý niệm về một cái “tôi” dư thừa. Chính niệm ngăn chận không cho ta cộng thêm bất cứ một cái gì vào nhận thức của mình, hoặc bỏ bớt ra. Ta không nhấn mạnh một cái gì. Ta không tô đậm một cái gì. Ta chỉ quán sát những gì đang thật sự có mặt - không bóp méo.
    Chính niệm là một ý thức về sự thay đổi. Nó quán sát dòng biến chuyển không dừng của mọi hiện tượng. Nó theo dõi sự vật trong khi chúng đang thay đổi. Chính niệm nhìn thấy được tiến trình sinh ra, lớn lên và già đi của mọi hiện tượng. Nó nhìn chúng tàn hoại và tiêu diệt. Chính niệm theo dõi sự vật trong từng giây phút, không gián đoạn. Nó quán sát tất cả mọi sự kiện - vật lý, tâm lý hoặc cảm thụ - bất cứ những gì đang có mặt trong tâm. Ta chỉ ngồi yên và xem một tấn tuồng đang diễn ra. Chính niệm nhìn thấy được tự tính căn bản của các hiện tượng đi ngang qua. Nó quán sát sự vật sinh khởi và diệt mất. Nó thấy được phản ứng và cảm xúc của mình đối với chúng. Nó nhìn thấy được những ảnh hưởng của chúng trên kẻ khác. Trong chính niệm, ta là một người quan sát vô tư, không thành kiến, với một công việc duy nhất là ghi nhận hết những gì đang đi qua thế giới nội tâm của mình.
   Xin bạn ghi nhớ điểm chót ấy. Trong chính niệm, ta quán sát thế giới bên trong ta. Hành giả thực tập chính niệm không quan tâm gì đến thế giới bên ngoài. Mặc dù nó có đó, nhưng trong thiền tập chúng ta học khảo sát về những kinh nghiệm của chính mình, tư tưởng của mình, cảm thụ của mình, và nhận thức của mình. Trong thiền tập, tâm ta chính là phòng thí nghiệm. Thế giới bên trong ta có tàng chứa những dữ kiện rất phong phú, phản ảnh được hết thế giới chung quanh, và còn rộng lớn hơn thế nữa. Khảo sát những chất liệu này sẽ đưa ta đến giải thoát.
    Chính niệm là một sự quán sát có tham dự. Hành giả vừa là người quán chiếu mà cũng vừa là người tham dự. Nếu ta đang theo dõi cảm thụ hoặc cảm xúc của mình, thì cũng cùng ngay trong lúc ấy, ta đang cảm nhận nó. Chính niệm không phải là một chức năng thuộc về tri thức. Nó chỉ thuần túy là một ý thức. Chính niệm rất vô tư và khách quan, nhưng không có nghĩa là nó dửng dưng hoặc lạnh lùng. Ngược lại, nó là một kinh nghiệm sống rất sinh động, một sự quán chiếu có tham dự trong quá trình của sự sống.
   Chính niệm rất khó có thể nào diễn tả được bằng ngôn từ. Không phải vì nó quá phức tạp mà là vì nó quá đơn giản và rộng mở. Và đó cũng là một vấn đề chung trong mọi lĩnh vực của đời sống. Nếu bạn để ý sẽ thấy rằng, những ý niệm cơ bản thường lại là những gì mà người ta khó lĩnh hội nhất. Thử mở một quyển tự điển Anh Việt ra và bạn sẽ thấy. Những chữ dài và phức tạp lại thường có những câu định nghĩa rất chính xác và rõ ràng. Trong khi những chữ căn bản như là “the” và “be” có thể lại có rất nhiều định nghĩa khác nhau, có khi dài đến cả trang. Trong khoa học vật lý cũng thế, những chức năng khó diễn tả nhất lại là những cái cơ bản nhất - ví dụ như những gì có liên quan đến cái thực tại cơ bản về lượng tử học (quantum mechanics). Chính niệm là một chức năng tiền biểu tượng, nó không cần đến biểu tượng. Bạn có thể tìm tòi, sử dụng những biểu tượng của ngôn ngữ cả ngày, và rồi bạn sẽ khám phá ra rằng mình không thật sự hiểu gì hết. Chúng ta không thể nào diễn tả được một cách trọn vẹn chính niệm là gì. Nhưng ta có thể nói được nó làm những gì.
      Ba chức năng căn bản của chính niệm
 Chính niệm có ba chức năng căn bản. Đó là:
    1. Chính niệm nhắc nhở ta về những gì mình phải làm.
    2. Chính niệm giúp ta nhìn sự vật đúng thật như chúng đang hiện hữu.
    3. Chính niệm giúp ta thấy được thật tính của mọi hiện tượng.
  Bây giờ chúng ta hãy nói chi tiết hơn về những chức năng này.
      Chính niệm nhắc nhở ta những gì phải làm
   Trong thiền tập, chúng ta đặt sự chú ý của mình vào một sự vật duy nhất. Khi tâm ta đi lan man ra khỏi đề mục này, chính niệm nhắc nhở tâm ta đang bị tản mác và ta cần phải làm gì. Chính niệm mang tâm ta trở về với đề mục thiền quán. Tất cả những điều đó xảy ra tức thì, không bằng ngôn từ. Chính niệm không phải là suy nghĩ. Công phu thiền tập lâu ngày sẽ giúp ta biến khả năng này thành một thói quen, và mang nó vào trong mọi lĩnh vực khác của đời sống. Một thiền sinh tinh tiến lúc nào cũng thực tập nhận diện đơn thuần đối với mọi sự việc xảy ra, ngày hay đêm, trong lúc ngồi thiền hay không ngồi thiền. Đây là một mục tiêu rất cao thượng mà chúng ta cần hướng đến, và nó có thể mất nhiều năm hoặc đôi khi phải đến mấy mươi năm. Thói quen dính mắc vào tư tưởng của ta cũng đã có gốc rễ rất lâu đời, không dễ gì bứng nhổ nó đi trong một sớm một chiều. Chỉ có một phương cách duy nhất là cứ kiên trì thực tập chính niệm cho thật miên mật. Khi ta có chính niệm, ta sẽ thấy được khi nào mình đang bị kẹt vào thói quen suy nghĩ. Nó sẽ giúp ta dừng lại và bước ra khỏi tiến trình suy nghĩ ấy, và ta có được tự do. Rồi chính niệm sẽ mang sự chú ý của ta trở về với đề mục chính. Nếu bạn đang ngồi thiền, bạn sẽ trở lại chú tâm đến đối tượng thiền quán. Nếu bạn không ngồi thiền, bạn chỉ cần áp dụng một sự nhận diện đơn thuần, thuần túy ghi nhận những gì đang khởi lên mà không để bị dính mắc: “À, cái này khởi lên... và rồi cái này, và cái này nữa... và bây giờ là cái này...”
    Chính niệm vừa là sự nhận diện đơn thuần, vừa là chức năng nhắc nhở chúng ta nhận diện đơn thuần, mỗi khi ta lơ đễnh. Nhận diện đơn thuần là ghi nhận. Nó tự thiết lập lại chính nó bằng cách ghi nhận rằng mình không có mặt trong giây phút hiện tại. Vừa khi bạn ghi nhận rằng từ nãy giờ mình không ghi nhận gì hết, thì ngay chính lúc đó là bạn đã có sự ghi nhận, có nghĩa là bạn đã thiết lập lại chính niệm.
    Chính niệm cũng có một cảm thụ riêng biệt của nó trong tâm thức. Nó có một vị riêng - nhẹ nhàng, trong sáng, nhiều năng lượng. Ngược lại, những tư tưởng bình thường khác có những tính chất nặng nề, cân nhắc, và khó khăn. Nhưng một lần nữa, bạn nên nhớ rằng những điều này cũng chỉ là ngôn từ mà thôi. Sự thực hành của chính bạn sẽ chỉ cho bạn thấy sự khác biệt ấy. Khi đó, bạn sẽ có thể giải thích bằng chính ngôn ngữ của bạn, còn những chữ nghĩa dùng ở đây chỉ là dư thừa, vô ích. Hãy nhớ, sự thực tập mới là vấn đề chính.
       Nhìn sự vật đúng thật như đang hiện hữu
    Chính niệm không thêm vào một cái gì, và cũng không bỏ ra bất cứ một cái gì. Nó là một sự nhận diện đơn thuần, chỉ nhìn xem cái gì đang có mặt. Ý nghĩ của ta thường tô điểm cho kinh nghiệm, chồng chất lên thêm những ý tưởng của mình, nhận chìm ta xuống cơn lốc xoáy của những lo âu, dự tính, sợ hãi và mơ ước. Khi có chính niệm, chúng ta sẽ thôi không làm những việc ấy nữa. Ta chỉ ghi nhận chính xác điều gì đang khởi lên trong tâm, và rồi ghi nhận cái kế tiếp. “À, cái này... và cái này... và bây giờ là cái này.” Điều đó rất đơn giản.
      Thấy được thật tính của mọi hiện tượng
   Chính niệm, và chỉ có chính niệm mới có thể nhận thức được rằng, ba đặc tính trong đạo Phật là ba sự thật sâu sắc nhất của hiện thực. Trong tiếng Pali, ba đặc tính đó là anicca (vô thường), dukkha (bất toại nguyện, khổ), và anatta (vô ngã - không có một thực thể độc lập, thường hằng và riêng rẽ) Nhưng những sự thật này trong đạo Phật không bao giờ được trình bày như là những giáo điều tuyệt đối, bắt ta phải mù quáng tin theo. Người học Phật cảm thấy những sự thật này rất là phổ biến và hiển nhiên cho bất cứ ai muốn khảo sát một cách đúng đắn. Chính niệm là phương pháp khảo sát đó. Chính niệm tự nó có đầy đủ năng lực để làm hiển lộ cái thực tại sâu kín nhất mà con người chúng ta có thể quán sát được. Dưới sự quán chiếu ấy, ta có thể thấy được những điều này:
    a. Bản chất của mọi sự vật tồn tại có điều kiện là luôn luôn biến đổi.
    b. Tất cả mọi việc trên thế gian này, xét cho cùng đều là bất toại nguyện.
    c. Không có một thực thể nào thường hằng hoặc không thay đổi, chỉ có những tiến trình liên tục diễn ra mà thôi.
    Chính niệm cũng giống như một kính hiển vi điện tử. Có nghĩa là nó tinh vi đến nỗi có thể giúp ta thật sự tiếp xúc trực tiếp được với thực tại mà ta chỉ biết qua lý thuyết về quá trình nhận thức của mình. Chính niệm có thể nhìn thấy được tính chất vô thường của mỗi nhận thức. Nó thấy được tính chất tạm thời và tự tính thay đổi của những gì nó tiếp xúc. Nó cũng thấy được bản chất bất toại nguyện của những sự vật nào vẫn còn tồn tại có điều kiện. Nó hiểu rằng, bám víu vào những vở tuồng tạm bợ này sẽ chẳng mang lại một lợi ích nào. Ta sẽ không bao giờ có được hạnh phúc bằng cách ấy. Và sau hết, chính niệm nhìn thấy được bản chất vô ngã trong tất cả mọi hiện tượng. Nó thấy được rõ rằng chúng ta đã chọn lấy một số nhỏ nhận thức hoặc tri giác nào đó, cắt đứt và tách lìa chúng ra khỏi dòng kinh nghiệm, rồi xem đó như là một thực thể riêng biệt và có bản chất thật sự. Chính niệm có thể thực sự nhìn thấy được những việc ấy. Nó không nghĩ về chúng, nó trực tiếp thấy chúng.
    Khi chính niệm được tăng trưởng đầy đủ, ta có thể nhìn thấy được ba thuộc tính này của sự sống một cách trực tiếp và tức thời mà không cần đến sự can thiệp của tư tưởng. Thật ra, bản chất của ba thuộc tính ấy - vô thường, vô ngã và bất toại nguyện - cũng chỉ là một. Chúng không thể nào có mặt một cách riêng rẽ được. Sở dĩ có sự phân biệt ấy là do kết quả của một sự diễn đạt khó khăn, khi ta cố gắng diễn tả tiến trình chính niệm đơn giản này bằng những biểu tượng, ý tưởng đầy thiếu sót và rườm rà.
    Chính niệm là một quá trình, nhưng nó không xảy ra theo thứ tự từng bước một. Chính niệm là một quá trình xảy ra trong một đơn vị trọn vẹn: ta ghi nhận rằng mình không có chính niệm; và sự ghi nhận ấy, tự chính nó là kết quả của chính niệm. Chính niệm là sự nhận diện đơn thuần; và nhận diện đơn thuần có nghĩa là nhìn sự vật như nó thật sự đang hiện hữu, không thêm, không bớt, không bóp méo; và sự vật như nó thật sự đang hiện hữu chính là: anicca (vô thường), dukkha (bất toại nguyện) và anatta (vô ngã). Tất cả những điều đó chỉ xảy ra trong một vài sát-na, một khoảnh khắc của tâm thức. Nhưng việc ấy không có nghĩa là bạn sẽ lập tức đạt được giải thoát ngay sau khi mình mới vừa có chính niệm. Làm sao để mang chất liệu chính niệm ấy vào trong cuộc sống hằng ngày là một quá trình khác. Và học cách duy trì trạng thái chính niệm cho được dài lâu lại là một quá trình khác nữa. Nhưng đó là những quá trình rất là thú vị và hạnh phúc, chúng hoàn toàn rất xứng đáng với công sức của ta.
       Chính niệm (Sati) và Thiền quán (Vipassana)
   Chính niệm là trái tim của thiền quán và là chìa khóa của cả tiến trình ấy. Nó vừa là mục đích, vừa là phương tiện của thiền quán. Ta đạt đến chính niệm bằng cách tinh tiến giữ chính niệm. Một chữ Pali khác cũng được dịch thành chính niệm là appamada, có nghĩa là không lơ đãng hoặc sự vắng mặt của điên rồ. Một người lúc nào cũng chú ý đến những gì đang xảy ra trong tâm, sẽ đạt đến một trạng thái hoàn toàn an ổn và tốt lành.
   Chữ sati trong tiếng Pali cũng có hàm nghĩa là ghi nhớ. Ghi nhớ ở đây không có nghĩa là những ký ức về các hình ảnh, ý tưởng thuộc quá khứ, nhưng là một cái biết rõ ràng, trực tiếp, không lời về cái gì có và cái gì không, về cái gì đúng và cái gì sai, về những gì mình đang làm và nên làm như thế nào. Chính niệm nhắc nhở hành giả chú tâm đúng lúc đến đối tượng thích hợp và với sự cố gắng đúng mức để thực hiện được việc quán chiếu. Khi năng lượng của chính niệm đầy đủ, hành giả sẽ luôn luôn ở trong một trạng thái an vui và tỉnh giác. Trong tình trạng này, những trạng thái “chướng ngại” hoặc “kích thích” của tâm thức sẽ không thể nào khởi lên được - không còn tham lam, sân hận, si mê và lười biếng.
    Nhưng chúng ta đều là con người và vì vậy đều có những lỡ lầm. Phần lớn chúng ta cứ lỗi lầm liên tiếp. Mặc dầu cố gắng hết lòng, nhưng đôi khi chúng ta vẫn để cho chính niệm mình bị sơ xuất, và bị mắc kẹt vào những lỗi lầm đáng tiếc. Nhưng đó cũng là điều bình thường của con người mà thôi. Chính niệm giúp ta ghi nhận được những sơ xuất ấy. Và cũng chính niệm nhắc nhở ta vận dụng chính niệm để tự kéo mình ra khỏi. Những lỡ lầm này sẽ tiếp tục xảy ra, nhưng nhịp độ của nó sẽ dần dần giảm đi theo sự tu tập của ta.
     Và một khi chính niệm đã đẩy được những tâm thức vẩn đục này sang một bên, những tâm thức khác tốt lành hơn sẽ thay thế chúng. Thù hận sẽ được thay thế bằng tình thương, đam mê sẽ được thay thế bằng sự buông xả. Chính niệm cũng ghi nhận được những đổi thay này, và nó nhắc nhở hành giả biết cố gắng tinh tiến để duy trì những trạng thái tốt lành ấy. Nhờ chính niệm mà tuệ giác và tình thương được lớn mạnh. Thiếu chính niệm, chúng sẽ không bao giờ có thể tăng trưởng và thành thục được.
     Nằm sâu kín trong tâm thức ta là một cơ chế tinh thần luôn chấp nhận những kinh nghiệm mà tâm ta cho là đẹp, là dễ chịu và loại bỏ những kinh nghiệm được cho là xấu, là khó chịu và đau đớn. Cơ chế ấy làm phát khởi những tâm thức mà chúng ta đang cố gắng tu tập để tránh - như là tham lam, đam mê, sân hận và ghen tức. Chúng ta muốn tránh những tâm thức chướng ngại này, không phải vì chúng là điều xấu ác theo nghĩa thông thường, nhưng bởi vì chúng rất là độc đoán; bởi vì chúng xâm lấn tâm ta, chiếm hữu hoàn toàn sự chú ý của ta; bởi vì chúng cứ chạy quanh quẩn theo những suy nghĩ vòng vo; và bởi vì chúng ngăn che ta với thực tại sinh động.
     Những chướng ngại ấy sẽ không thể nào khởi lên khi chính niệm có mặt. Chính niệm là sự chú ý vào giây phút hiện tại. Vì vậy nó là một liều thuốc trực tiếp hoá giải được hết tất cả những tâm thức nào làm trở ngại cho việc ấy. Là một thiền sinh, chỉ khi nào chúng ta lơ đễnh, sống trong thất niệm, cơ chế phân biệt ấy mới có thể giành quyền kiểm soát - nó nắm bắt cái này và loại bỏ cái kia. Và từ đó, những mâu thuẫn sẽ xuất hiện làm lu mờ đi ý thức của ta. Chúng ta không còn khả năng ghi nhận được những gì đang xảy ra. Ta quá bận rộn với một ý nghĩ trả thù, hoặc tham lam, hoặc là gì gì đó... Chính niệm sẽ nhận diện được sự kiện ấy. Chính niệm sẽ nhớ lại phương pháp thực tập, và tập trung lại sự chú ý của ta, khiến cho những rối loạn ấy từ từ phai nhạt đi. Và cũng là chính niệm cố gắng duy trì cho nó được lâu dài, để những chướng ngại ấy không còn nổi lên được nữa. Vì vậy, chính niệm là một loại thần dược hóa giải được hết tất cả mọi chướng ngại. Nó vừa là biện pháp chữa trị mà cũng vừa là một biện pháp ngăn ngừa.
    Chính niệm phát triển đúng mức là một trạng thái hoàn toàn tự tại, không bị dính mắc vào bất cứ một sự việc gì trong cuộc đời này. Nếu ta giữ được trạng thái này, ta sẽ không cần phải nhờ đến bất cứ một cái gì khác để chuyển hóa những khó khăn của mình. Chính niệm là một ý thức sâu sắc. Nó nhìn thấy sự vật một cách thẩm thấu, xuyên qua mọi bình diện của ý niệm và tư tưởng. Cái nhìn ấy sẽ mang lại cho ta một niềm tin vững chắc và kiên cố, không ngờ vực. Nó được biểu hiện bằng một sự chú tâm chuyên nhất, không gián đoạn, không lay động và cũng không bao giờ thối chuyển.
    Năng lực của chính niệm không những chỉ cô lập các chướng ngại trong tâm thức, mà còn làm phơi bày cơ chế hoạt động của nó ra, để rồi tiêu hủy đi. Chính niệm làm thanh tịnh mọi ô uế trong tâm. Kết quả là một tâm thức hoàn toàn trong sáng và an ổn, hoàn toàn bất động trước mọi phong ba và thăng trầm của cuộc sống.
                                                                                   Bhante Henepola Gunaratana 

                                                                                            Nguyễn duy Nhiên dịch

Thứ Ba, 10 tháng 6, 2014

TÌNH YÊU VÀ ĐÔI CÁNH



   Ngày xưa, trong ngôi nhà gỗ cạnh cánh rừng có một cô gái sống cô đơn.         Hôm nọ, trong lúc dạo chơi cô thấy hai chú chim non mất mẹ đang thoi thóp trong tổ trên một chạc cây. Cô đem chúng về và nuôi trong một cái lồng rất đẹp.Với sự săn sóc chan chứa tình thương của cô, hai chú chim ngày càng trở nên vừa khỏe vừa xinh. Mỗi sáng chúng cất tiếng líu lo để chào cô. Đôi chim chính là... Tình yêu của cô!

   Ngày kia, cô quên cài cửa lồng, thế là ,một con vọt ra, nhưng nó chưa bay đi hẳn mà lại lượn vài vòng quanh cô như muốn chào cô lần cuối. Cô gái buồn bả nhìn theo, cô không muốn phải xa rời nó, cô không muốn tình yêu của cô mất đi. Chính vì vậy, khi con chim bay đến thật gần, cô với tay tóm lấy nó, sung sướng giữ chặt nó trong tay. Nhưng một lúc sau, cô cảm thấy con vật yêu quý bỗng trở nên mềm nhũn, hốt hoảng xòe tay ra, cô bàng hoàng nhận thấy con chim đã chết, nó đã chết bởi chính tình yêu mà cô dành cho nó.

   Thẫn thờ nhìn con chim lẻ bạn còn lại trong lồng và mường tượng rằng nó cần được tự do bay trên bầu trời, cô tiến đến mở cửa lồng và nhẹ nhàng tung chú chim vào không trung. Nó lượn quanh cô một vòng, hai vòng, rồi ba vòng, cô đón nhận niềm vui của nó bằng ánh nhìn rạng rỡ và trìu mến, những muộn phiền trước đó không còn nữa.

   Bỗng nhiên chú chim dịu dàng đáp xuống đậu trên vai cô và hót vang những giai điệu mượt mà, chưa bao giờ cô được thưởng thức.

   Qua tiếng hót dịu kỳ kia, cô chợt hiểu rằng cách nhanh nhất để đánh mất tình yêu là khi ta nắm giữ nó thật chặt. Trái lại, để giữ mãi sự yêu thương thì ta phải ân cần trao cho cuộc tình một đôi cánh tự do.

  
                                                                                  Nguồn  Internet 

Thứ Bảy, 7 tháng 6, 2014

THƯ MỘT NGƯỜI MẸ MỸ DẠY CON DÙNG IPHONE



Hai mẹ con Greg Hoffman
   Bức thư dạy con cách dùng điện thoại hiện đang nhận được rất nhiều chia sẻ không chỉ bởi nội dung thú vị mà còn là sự chân thành, tình yêu và bài học sâu sắc dành cho con.
   Cậu bé Greg Hoffman, 13 tuổi, người Mỹ, sau rất nhiều lần xin xỏ cũng được cha mẹ đồng ý mua cho một chiếc iPhone. Tuy nhiên, để được phép sử dụng chiếc điện thoại thông minh này, quả không dễ dàng với Greg. Cậu bé phải tuân thủ khá nhiều luật lệ do mẹ đặt ra. Mà những luật lệ này, theo đánh giá của chuyên gia tâm lý trẻ em, Josh Shipp, thì đó là những điều tuyệt vời nhất cha mẹ có con nên học lỏm. “Mẹ thông thái không nên cho con dùng máy tính hay điện thoại khi chưa dạy chúng cách sử dụng thông minh và có trách nhiệm”, chuyên gia Josh Shipp nói. Hãy nhớ, chỉ cần giao vào tay con một chiếc điện thoại và không nói cho chúng cách dùng hay đặt ra luật lệ nhất định, rất có thể cha mẹ sẽ phải trả giá đắt.
   Những quy tắc gắt gao khi cho con dùng điện thoại được mẹ Greg khéo léo thể hiện trong nội dung một bức thư hiện đang nhận được rất nhiều chia sẻ, đặc biệt là các bậc phụ huynh, không chỉ bởi nội dung thú vị mà còn là sự chân thành, tình yêu và bài học sâu sắc dành cho con.


     Con yêu!
   Hiện tại, hẳn con rất tự hào và phấn khích khi đã trở thành chủ sở hữu của chiếc iPhone. Điều này thật tuyệt, phải không con?! Con là cậu bé 13 tuổi tốt bụng và có trách nhiệm, vì vậy, nhận món quà này là hoàn toàn xứng đáng. Nhưng, để sử dụng nó, con phải tuân theo quy tắc nhất định. Hãy đọc kỹ những "luật" sau đây:
   Con yêu! Tất cả mong ước của mẹ là con sẽ trở thành chàng trai khỏe mạnh, có thể làm chủ công nghệ chứ không phải là nô lệ của nó. Nếu con thấy khó khăn trong việc tuân theo luật lệ mẹ đưa ra, đồng nghĩa với việc con mất quyền sở hữu chiếc iPhone này!
   Mẹ rất rất yêu con và mong chờ nhiều thật nhiều tin nhắn sắp tới của con từ chiếc iPhone này. Con đừng nặng nề với những điều khoản dưới đây! Nó chỉ là những bài học làm "kim chỉ nam" cho con trong cuộc sống.
   1. Chiếc điện thoại này là của mẹ. Mẹ đã bỏ tiền mua nó. Mẹ chỉ đang cho con mượn thôi. Mẹ quả thực quá vĩ đại, phải không?
   2. Mẹ luôn biết mật khẩu.
   3. Nếu có cuộc gọi đến, con hãy nghe. Hãy nói "Xin chào" và luôn có thái độ đúng mực. Không bao giờ được phớt lờ cuộc gọi đến từ bố/mẹ.
   4. Trả lại điện thoại cho bố/mẹ vào 7h30 tối hàng ngày và 9h tối vào cuối tuần. Điện thoại của con sẽ tắt nguồn vào ban đêm và chỉ được khởi động lại vào 7h30 sáng. Hẳn con không thích khi gọi điện cho bạn vào ban đêm lại nghe thấy tiếng bố/mẹ bạn ấy trả lời?! Hãy học cách tôn trọng khoảng thời gian riêng của người khác để con cũng được tôn trọng.
   5. Không được mang điện thoại đến trường. Hãy trò chuyện trực tiếp với người con định nhắn tin nếu có cơ hội. Giao tiếp là một kỹ năng quan trọng trong cuộc sống. Tin nhắn có thể giúp con kết bạn nhưng để duy trì nó, cần nhất sự chân thành.
   6. Nếu điện thoại rơi vào WC, rơi xuống đất và hư hỏng hay bị mất… con phải chịu trách nhiệm hoàn toàn cho việc sữa chữa, đền bù. Vì đó là lỗi của con nên bất kỳ ý định xin xỏ nào, mẹ cũng tuyệt đối không chấp nhận. Con có thể kiếm tiền bằng vài việc vặt như: cắt cỏ, trông em, dọn nhà…
   7. Không được dùng công nghệ để nói dối hay lừa lọc người khác. Không được nhắn tin hay gửi email có tính khích bác hay sỉ nhục ai đó. Gây tổn thương cho người khác thì một ngày không xa con sẽ phải trả giá đắt.


  8. Điện thoại là để con giữ gìn và củng cố các mối quan hệ. Không phải để xem phim "đen" hay vào những trang web "bẩn" học điều xấu. Tất cả nội dung tìm kiếm trên web cần phải chia sẻ với bố/mẹ. Bố mẹ quản con quá chặt? Đừng nghĩ thế, con yêu! Là bố mẹ đang "bảo vệ" con và muốn dành điều tốt nhất cho con.
   9. Tắt máy hoặc chuyển qua im lặng… khi con đang trong nhà hàng, rạp chiếu phim hay nói chuyện với người khác. Đừng để chiếc iPhone biến con thành người thô lỗ!
   10. Không được gửi hay nhận hình ảnh "khoe thân" nhạy cảm của con hoặc người khác. Nếu con không nghe lời thì dù thông minh đến đâu cũng có ngày con bị cám dỗ và làm những việc phải hối hận cả đời.
   11. Không cần thiết phải chụp/quay quá nhiều video. Sự trải nghiệm, cảm nhận mọi thứ và bài học/ kiến thức rút ra mới là quan trọng nhất.
   12. Thỉnh thoảng hãy quẳng điện thoại đi mà vui sống. Đừng để điện thoại ràng buộc, chi phối thời gian của con. Hãy học cách sống thiếu nó!
    13. Đừng chỉ chăm chăm cúi đầu vào điện thoại khi ngồi cùng bạn bè/ người thân. Có những khoảnh khắc có ‘102’ con sẽ đánh mất đấy! Hãy nhìn ngó xung quanh, con sẽ nhận thấy cuộc sống thật nhiều điều thú vị và tươi đẹp.
    14. Nếu không tuân thủ những "luật lệ" trên, mẹ sẽ đòi lại điện thoại. Chúng ta sẽ ngồi nói chuyện và bắt đầu lại từ đầu. Mẹ luôn bên con vì chúng ta cùng một đội.

    Smart Parenting? Mom Gives Son An iPhone…but It Comes With These 18 ‘Must-Follow’ Rules
    Dear Gregory
  Merry Christmas! You are now the proud owner of an iPhone. Hot Damn! You are a good & responsible 13 year old boy and you deserve this gift. But with the acceptance of this present comes rules and regulations. Please read through the following contract. I hope that you understand it is my job to raise you into a well rounded, healthy young man that can function in the world and coexist with technology, not be ruled by it. Failure to comply with the following list will result in termination of your iPhone ownership.
   I love you madly & look forward to sharing several million text messages with you in the days to come.
   1. It is my phone. I bought it. I pay for it. I am loaning it to you. Aren’t I the greatest?
   2. I will always know the password.
   3. If it rings, answer it. It is a phone. Say hello, use your manners. Do not ever ignore a phone call if the screen reads “Mom” or “Dad”. Not ever.
   4. Hand the phone to one of your parents promptly at 7:30pm every school night & every weekend night at 9:00pm. It will be shut off for the night and turned on again at 7:30am. If you would not make a call to someone’s land line, wherein their parents may answer first, then do not call or text. Listen to those instincts and respect other families like we would like to be respected.
  5. It does not go to school with you. Have a conversation with the people you text in person. It’s a life skill. *Half days, field trips and after school activities will require special consideration.
  6. If it falls into the toilet, smashes on the ground, or vanishes into thin air, you are responsible for the replacement costs or repairs. Mow a lawn, babysit, stash some birthday money. It will happen, you should be prepared.
  7. Do not use this technology to lie, fool, or deceive another human being. Do not involve yourself in conversations that are hurtful to others. Be a good friend first or stay the hell out of the crossfire.
  8. Do not text, email, or say anything through this device you would not say in person.
  9. Do not text, email, or say anything to someone that you would not say out loud with their parents in the room. Censor yourself.
  10. No porn. Search the web for information you would openly share with me. If you have a question about anything, ask a person ? preferably me or your father.
  11. Turn it off, silence it, put it away in public. Especially in a restaurant, at the movies, or while speaking with another human being. You are not a rude person; do not allow the iPhone to change that.
  12. Do not send or receive pictures of your private parts or anyone else’s private parts. Don’t laugh. Someday you will be tempted to do this despite your high intelligence. It is risky and could ruin your teenage/college/adult life. It is always a bad idea. Cyberspace is vast and more powerful than you. And it is hard to make anything of this magnitude disappear — including a bad reputation.
  13. Don’t take a zillion pictures and videos. There is no need to document everything. Live your experiences. They will be stored in your memory for eternity.
 14. Leave your phone home sometimes and feel safe and secure in that decision. It is not alive or an extension of you. Learn to live without it. Be bigger and more powerful than FOMO — fear of missing out.
  15. Download music that is new or classic or different than the millions of your peers that listen to the same exact stuff. Your generation has access to music like never before in history. Take advantage of that gift. Expand your horizons.
16. Play a game with words or puzzles or brain teasers every now and then.
17. Keep your eyes up. See the world happening around you. Stare out a window. Listen to the birds. Take a walk. Talk to a stranger. Wonder without googling.
  18. You will mess up. I will take away your phone. We will sit down and talk about it. We will start over again. You & I, we are always learning. I am on your team. We are in this together.
  It is my hope that you can agree to these terms. Most of the lessons listed here do not just apply to the iPhone, but to life. You are growing up in a fast and ever changing world. It is exciting and enticing. Keep it simple every chance you get. Trust your powerful mind and giant heart above any machine. I love you. I hope you enjoy your awesome new iPhone. Merry Christmas!
                                                                    Mom
                                                          Trích email của anh QuangNgo@........



Thứ Năm, 5 tháng 6, 2014

LÒNG BIẾT ƠN LÀM THAY ĐỔI CUỘC ĐỜI


 “Nếu ‘cám ơn’ là lời cầu nguyện duy nhất của bạn trong suốt cuộc đời, từng đó thôi đã đủ”
                                                       Meister Eckhart

   Thật đáng kinh ngạc vì sao một một hành vi đơn giản – một lời cám ơn dễ dàng có thể thay đổi cuộc đời của người ta nhiều đến vậy?
   Một trong những điều tác động sâu sắc nhất đến cuộc đời tôi chính là sự nhận thức về sức mạnh to lớn của lòng biết ơn. Biết ơn hay tri ân: chỉ là cách dùng từ. Giản dị thôi bạn ạ: chỉ một lời cám ơn.
   Sự tri ân đã ảnh hưởng đến mọi thứ trong đời tôi, đã biến tôi thành một người lạc quan, tích cực hơn nhiều. Tôi đã trở thành một người sáng tạo hơn, một người thành đạt hơn, một người chồng, cha, con, và anh, em tốt hơn (ít nhất tôi cũng nghĩ mình như thế). Và còn gì nữa? Một người hạnh phúc hơn. Mặc dù tôi chưa hoàn thiện, nhưng lòng biết ơn đã khiến tôi trở nên tốt đẹp hơn.
   Lòng biết ơn có thể thay đổi cả cuộc đời tôi ư? Tôi có thể khẳng định điều này. Có thể bạn không có những thuận lợi giống như tôi, nhưng tôi quả quyết rằng lòng biết ơn giản dị ấy sẽ làm thay đổi cuộc đời của mọi người một cách tích cực và tức thời. Có bao nhiêu sự thay đổi khác đến trong đời ta nhanh chóng, dễ dàng, và sâu sắc như thế?
   Hãy xem xét đôi điều mà lòng biết ơn có thể mang lại cho cuộc sống của bạn, và cách mà nó thay đổi cuộc đời bạn. Những ví dụ tôi đưa ra dưới đây, dựa trên kinh nghiệm bản thân, và của một số người tôi đã trò chuyện, có thể không hoàn toàn giống với cuộc đời của tất cả các bạn. Nhưng xin bạn hãy chọn những cách phù họp với mình.
  1. Hãy dành một khoảng thời gian vào buổi sáng cho sự “tri ơn”
Xin dành một phút vào buổi sáng của bạn và biến một phút này thành một thói quen hàng ngày, để nhớ đến những người đã làm một điều gì đó tốt, đẹp cho bạn, và nghĩ đến tất cả những gì bạn chịu ơn trong cuộc đời mình. Bạn sẽ không nghĩ được hết mọi điều trong một phút, nhưng như thế cũng đủ rồi. Và một phút ấy sẽ ngay tức khắc làm cho ngày của bạn khởi sắc hơn, và giúp bạn bắt đầu một ngày nhẹ nhàng, đúng hướng. Bạn có nghĩ ra cách nào tốt hơn cho một phút ấy ?
  2. Khi bạn có một ngày khó khăn… hãy lập một danh sách những gì trong đời mà bạn chịu ơn. Tất cả chúng ta đôi lúc không tránh khỏi một vài ngày không vui, những ngày mà chúng ta thức dậy với cảm giác nặng nề. Chúng ta quá căng thẳng vì công việc! Chúng ta bị ai đó nhăn nhó, hay nạt nộ! Chúng ta vừa mất một người thương! Chúng ta làm tổn thương người yêu! Chúng ta mất một hợp đồng bạc tỉ, hay dự án triển khai không vay được vốn đầu tư! Một trong những điều có thể làm cho một ngày “xấu”của ta khả quan hơn nhiều là nghĩ đến những thứ ta mang ơn trong đời. Ai trong chúng ta lại không chịu ơn nhiều người, và nhiều thứ: những người sinh thành, dạy dỗ ta, những người yêu thương giúp đỡ ta, sức khỏe, công việc ta đang làm, một mái nhà che nắng mưa, và quần áo ấm trong một ngày đông giá….? Và chính cuộc sống, từng ngày ta đang sống, chẳng đáng cho chúng ta tri ân sao?
  3. Thay vì nổi giận với ai đó, hãy thể hiện lòng biết ơn. Đây là một sự thay đổi hành vi thật khác biệt- giống như một cái xoay mình 180 độ. Và không phải lúc nào ta cũng làm được như ta búng đồng xu vậy. Nhưng tôi cam đoan với bạn điều này rất tuyệt vời. Chẳng hạn, nếu bạn nổi nóng với anh bạn đồng nghiệp vì một điều gì đó, hãy kiềm chế để đừng bắn ra những lời nặng nề , gay gắt, hay phản ứng trong cơn thịnh nộ. Thay vào đó, hít vài hơi thở sâu, tự trấn tĩnh rồi dịu xuống.
   Hãy nghĩ đến những lý do bạn biết ơn anh ấy. Anh ấy có làm một việc nào tốt cho bạn? Anh ấy đã từng giúp một ai khác? Hãy cố tìm một việc tốt nào đó, dù có khó khăn. Hãy tập trung vào những điều khiến bạn chịu ơn người ấy. Chẳng hạn, bạn có thể nghĩ về phần mềm diệt vi-rút rất hiệu quả mà anh ấy giới thiệu cho bạn, hay quyển sách anh ấy tặng lần trước. Chính điều này sẽ thay đổi cơn giận dữ lúc đó. Nếu bạn cảm thấy khá hơn, hãy thể hiện lòng biết ơn của bạn. Bạn có thể dần cải thiện được tính khí, quan hệ, và mọi việc sẽ nhẹ nhàng, khả quan hơn. Sau khi nói lời cám ơn, bạn có thể nhờ giúp đỡ : Xin anh ấy lần sau đừng xé bỏ giấy tờ quan trọng của bạn. Và điều bạn xin giúp đỡ theo sau lời cám ơn không phải là điều khó chấp nhận.
   4. Thay vì chỉ trích người yêu, người chồng hay vợ của mình, hãy nói lời cám ơn. Giống như với người bạn đồng nghiệp, lòng biết ơn có thể thay đổi cuộc hôn nhân hay mối quan hệ của bạn. Nếu bạn không ngừng chỉ trích, phê phán người chồng/ vợ của mình, là bạn đang dần hủy hoại cuộc hôn nhân của mình. Tôi xin cam đoan với bạn điều này: Ai cũng cần nói ra những vướng mắc, nhưng không ai muốn bị phê bình mãi. Khi thấy lòng bực bội, chỉ muốn chì chiết cho hả giận, hãy cố ngưng lại, hít một hơi thở sâu. Cố gắng dịu xuống, nghĩ đến những gì người vợ/ chồng đã làm cho mình để thấy biết ơn. Nói lời cám ơn càng sớm càng hay. Mối quan hệ của bạn sẽ tốt đẹp hơn. Người vợ/ chồng bạn sẽ học điều này từ bạn- nhất là khi bạn thường xuyên thực hành. Tình yêu của bạn sẽ được nhân lên, và mọi chuyện sẽ thuận thảo, êm ái hơn.
   5. Thay vì phàn nàn về con cái, hãy cám ơn các con. Nhiều bố mẹ (có cả tôi trong đó) hay tỏ ra chán nản với con mình. Nào là chúng quá chậm chạp, không làm được chuyện gì ra hồn. Hoặc chúng chưa ngoan: chúng không thể tự làm vệ sinh cá nhân, hay chúng cứ ngoáy mũi và cắn móng tay? Thật không may, nếu cha mẹ cứ trút những chán ngán lên đầu con trẻ, con cái sẽ cảm thấy mình tệ hại. Chuyện này thực không hay chút nào, nhưng quả thực là chuyện dài của các ông bố bà mẹ. Có một cách hay hơn: tuân theo phương pháp trên để bình tâm lại, và nghĩ đến những gi khiến mình phải cám ơn các con. Nói ra điều đó với các con. Sau đó tìm một dịp tốt để bảo ban, thay vì mắng mỏ, phê phán con cái.
   6. Khi đối mặt với một trở ngại lớn, bạn phải cám ơn khó khăn này. Nhiều người trong chúng ta thường xem những khó khăn trong công việc, trong cuộc sống là điều tệ hại. Nếu có gì đó trục trặc, bạn chỉ phàn nàn hay ca cẩm -làm thế chẳng giải quyết được gì! Thay vì than thở, hãy cám ơn những thách thức, trở ngại ấy bởi đó là cơ hội để bạn lớn lên, để học, và để biết cách làm tốt hơn. Điều này sẽ biến đổi bạn- từ một người hay than thở thành một người tích cực luôn đối mặt với khó khăn và hoàn thiện mình. Bạn sẽ được yêu mến hơn và bạn sẽ thành công hơn. Như thế, trở ngại không phải là điều tệ hại phải không?
   7. Khi bạn gặp một bất hạnh, một tai họa, xin bạn hãy cám ơn vì bạn còn được sống. Gần đây tôi mất một người cô, và các con tôi mất đi một người bà. Các bi kịch, mất mát này có thể khiến ta bị thương tật nếu ta không vượt qua được. Bạn không thể nào không buồn thương- điều đó là điều phải làm vì bạn không là người vô cảm. Nhưng bạn có thể nghĩ thêm một điều gì khác, dễ chịu hơn nỗi bất hạnh này: hãy cám ơn đời- bạn còn được sống. Hãy cảm nhận vẻ đẹp mong manh của cuộc sống vô thường. Tình yêu người vẫn còn đó trong trái tim bạn. Xin hãy nhân cơ hội này thể hiện yêu thương với những người còn hiện hữu trong đời bạn. Và nhất là hãy vui sống đi khi bạn còn có thể.
   8. Thay vì nghĩ suy, đau khổ về những gì bạn không có, hãy nhìn xem bạn có gì. Bạn đã bao giờ ngồi tính sổ và than thở “ Chao ơi, sao tôi có ít thế?”. Hay “ Sao tôi chưa có được ngôi nhà mơ ước?”, “ Sao mình vẫn chưa đổi được chiếc xe đời mới đẹp hơn?” hoặc “ sao người hàng xóm hay anh bạn cùng lớp mình có việc làm tốt thế, ăn mặc sang trọng, xài toàn những thứ đắt tiền nhất !”
  Nếu thế, xin bạn hãy xem đây là lúc thích họp để bạn cám ơn cuộc đời và những gì bạn có. Thật dễ dàng khi bạn quên đi hàng tỉ người trên hành tinh này còn sống trong nghèo khổ- những người chưa có một mái nhà ( dù lụp xụp) che nắng mưa hay manh áo ấm, chưa đủ cơm ăn, những người không có một chiếc xe máy và sẽ chẳng bao giờ có, những người không có một thứ tiện nghi, thiết bị hiện đại nào và thậm chí còn không biết đến tên các thứ ấy. Còn nữa: những người không có một việc làm, hoặc chỉ làm những việc lao động tay chân quần quật, nhọc nhằn: bán mặt cho đất, bán lưng cho trời. Xin bạn so sánh cuộc đời bạn với của họ, để cám ơn cuộc đời và những gì bạn đang có. Và hãy nhận ra rằng bạn đã có nhiều hơn sự đủ đầy, nhất là hạnh phúc không phải là một điểm đến của ngày mai, – hạnh phúc đang ở đây, trong những gì bạn có và trong lòng bạn.
“ Mỗi ngày, hãy suy nghĩ khi tỉnh giấc: Hôm nay mình may mắn còn được sống. Mình có một cuộc sống quí giá, và mình sẽ không lãng phí nó. Mình sẽ dùng mọi khả năng để làm cho mình tốt đẹp hơn, sẽ mở rộng trái tim cho những người khác, sẽ học hỏi vì lợi ích của mọi người. Mình sẽ nghĩ tốt về tha nhân. Mình sẽ không nổi giận hay nghĩ xấu về ai. Mình sẽ làm hết sức thật nhiều điều tốt đẹp ích lợi cho người khác.”
                                                                       Đạt Lai Lạt Ma
Nguồn : 8 Tremendously Important Ways That Gratitude Can Change Your Life by Leo Babauta –                       

Thứ Ba, 3 tháng 6, 2014

CÁI GÌ VẬY CON ?




  
   Người cha già ngồi trên chiếc ghế đá cùng người con trai . Đột nhiên, một chú chim sẻ bay lượn rồi đậu gần đấy.
  Người cha già hỏi con trai “Cái gì vậy con?”
  Người con trả lời “Một con chim sẻ” rồi quay lại với tờ báo anh đang đọc.
  Vài phút trôi qua, người cha lại hỏi con trai: “Cái gì vậy con?”
  Người con trả lời: “Cha, con đã nói với cha rồi. Đó chỉ là một con chim sẻ”.
   Một lúc nữa lại trôi đi, người cha già lại hỏi: “Cái gì vậy con?”.
  Đến lúc này, có chút bực dọc, khó chịu trong giọng điệu của người con trai khi anh ta trả lời cha: “Đó là một con chim sẻ, một c-o-n c-h-i-m s-…ẻ”.
   Một lúc lâu sau, người cha lại hỏi con trai cũng vẫn câu hỏi “cái gì vậy con?”.
  Lần này người con trai thực sự tức giận hét vào mặt người cha già mà rằng: “Tại sao cha cứ hỏi đi hỏi lại con cùng một câu hỏi thế hả? Con đã nói bao nhiêu lần rồi, đó chỉ là một con chim sẻ. Cha không hiểu hả?”.
  Thoáng chút ngần ngừ, người cha đi vào phòng mình, mang ra một cuốn nhật kí đã cũ nát. Cuốn sổ ông giữ gìn kể từ khi người con trai ra đời. Mở một trang, người cha đưa cho cậu con trai đọc. Khi người con trai đón lấy, anh ta thấy những dòng chữ được viết trong nhật kí như sau:
  “Hôm nay, đứa con trai bé bỏng 3 tuổi ngồi cùng tôi trên chiếc ghế đá. Khi một con chim sẻ đậu trên cửa sổ, con trai đã hỏi tôi 23 lần rằng đó là cái gì, và tôi cũng đã trả lời 23 lần rằng đó là một con chim sẻ. Tôi nựng con mỗi lần nó hỏi tôi cùng một câu hỏi, lặp đi lặp lại 23 lần. Tôi không hề cảm thấy khó chịu, mà trái lại, càng yêu thương đứa con ngây thơ bé bỏng này hơn”…
                                                      Nguồn Internet

Chủ Nhật, 1 tháng 6, 2014

THỞ ĐI NHẸ MỘT KIẾP NGƯỜI

                                                      Thở đi nhẹ một kiếp người
                                             Vui đi để có  nụ cười thênh thang
                                                                          Sưu tầm


Chủ Nhật, 25 tháng 5, 2014

LƯỢC Ý TRÀ VÀ THIỀN,NHÂN GIAN CÕI TỊNH


•  Không biết từ bao giờ hình ảnh của Trà đã in đậm vào cõi nhân gian, hương vị của Trà đã thấm sâu vào trong cuộc sống thường nhật, vị chát rồi ngọt của Trà đã thấm đậm vào tâm thức của bao lớp người trong kiếp nhân sinh. Rồi Trà như cam lộ nhuận thắm cửa thiền sâu lắng, gợi lên khúc đại từ sắc sắc không k hông.
Trà thường có vị đắng, chát, rồi sau đó lẫn vào một chút ngọt ngào, cũng như cuộc đời ai cũng phải trãi qua bao đắng cay chua chát, nhưng nếu vẫn bền gan vững chí, thì cuối cùng rồi cũng gặt hái được những thành quả ngọt ngào của câu chữ “Khổ tận cam lai” còn nếu như không có một chút gì hồi đáp, thì âu cũng là “duyên số” mà thôi.
Hương vị của Trà hàm chứa đầy đủ các chất liệu hương vị của cuộc đời, cho nên thường thì khi còn niên thiếu rất ít có ai thích uống trà, vì vị của Trà không ngọt ngào như tương lai và mơ ước của những người trẻ tuổi, nhưng khi trãi qua hết thảy mọi xúc cảm thăng trầm vinh nhục, được mất có không của cuộc đời, đến tuổi xế chiều, ngồi thưởng thức một chén trà lại là cơ hội để bạn già ôn lại chuyện xưa, để người đi xa nhắc về những kỷ niệm, để bao cuộc đời bể dâu, thăng trầm trôi nổi nói lại duyên xưa.
Khách phong trần nhìn lại cuộc đời của mình, để rồi ăn năn hay tỉnh thức, hoặc giả tự mình vui với chính sự thành công của mình, hay tự an ủi mình trong những gì không được may mắn hay thất bại, người trong nhân gian thấm sâu vị đắng chát hay ngọt ngào của trà là như vậy đó, thưởng thức trà, hương trà trong được mất của thế nhân.
Trà pha với nước như người với cuộc đời, khi thả trà vào nước lá trà lúc nào cũng trôi nổi bềnh bồng, chẳng khác gì ta khi bước vào đường đời nổi trôi chưa có nơi cố định, hoặc giả công việc thời thế chưa đến lúc hanh thông. Rồi màu của trà, vị của trà, dần dần đậm lại, như màu sắc cuộc đời trãi qua những thăng trầm thêm kinh nghiệm sống trong ta, vị trà đắng rồi lại ngọt, mách bảo cho ta hương vị của cuộc đời không bao giờ đắng mãi và cũng không có ngọt bùi khi không có sự nổ lực của chính tự thân.
Trà khi pha nổi rồi chìm, đắng chát ngọt ngào không khác cuộc đời được mất hơn thua, vinh nhục, cay đắng, trà vẫn thế không thay hương vị, đời vẫn vậy chưa từng đổi thay, trà vị có chát hay ngọt cũng chỉ có người thưởng thức mới biết được, đời vui hay buồn, vinh hay nhục cũng chỉ có người trãi qua rồi mới cảm nhận được thôi.
Trà được xưng là Trà Đạo vì theo quan niệm của cổ nhân trong trà có ba điều đạo lý.
Điều thứ nhất: trà có vị đắng cay như cuộc đời.
Điều thứ hai: hương của trà thơm như ái tình của cuộc sống.
Điều thứ ba: đắng rồi lại ngọt, như cuộc khổ lại cam qua, trong trà gói trọn bao nhiêu triết lý của cuộc đời, biểu hiện hết thảy ngọn ngành cảnh giới của nhân sanh.
Cuộc đời chẳng khác gì trà khi trãi qua ba giai đoạn, nếu được rèn dũa tôi luyện thì phần còn lại đó là trà sẽ là vị ngọt, còn cuộc đời sẽ là sự thành công hay trọn đầy bao ước nguyện.
Trà được người kính trọng bởi vì trà có đầy đủ những gì người muốn có, theo kinh nghiệm của người xưa uống trà có thể huân tập được 10 đức tính như; tán u uất, dưỡng sinh, dưỡng khí, trừ bịnh, lễ giáo, biểu kính, thưởng vị, dưỡng thân, hành đạo, nhã chí. Vì vậy trà được đưa vào Thiền môn vì những tính chất đặc hữu của mình, trãi qua sự vận dụng của Thiền định trong trà, đạo của trà thâm nhập vào thế giới của Thiền tư thành Thiền trà
Trà vào cửa Thiền với tự thân vốn không có sự phân biệt quý hay tiện, cho nên khi thể nhập vào đạo Thiền đệ nhất nghĩa với “Phật tánh bình đẳng không nam bắc”. Khi thưởng thức trà tâm phải tịnh để cảm nhận được hương vị của trà, ý niệm sống trong hiện tại của thiền lắng đọng trong từng làn hương thoảng của trà. Nếu ngộ được niệm tịnh trong trà, tinh thần của trà, ý chân của trà, thì người uống trà cùng Thiền sư trong một cảnh giới, không còn niệm nào sai khác “Bổn lai vô nhất vật” thì còn việc gì “hà xứ nhạ trần ai”.
Nói đến trà ta liền chợt nghĩ đến hình ảnh của cuộc sống thường ngày, việc uống chén trà dường như đã quen thuộc lắm, dùng ý niệm của nhị đế để hiểu trà thì trà thuộc về tục đế, thế giới trần gian, còn thiền thì lại không có lời thắc mắc là tục hay chân, là trần hay cảnh, chỉ có một niệm hiện tiền, uống trà và cũng chưa bao giờ nhớ hay quên, bởi vì Trà chưa từng rời bỏ Thiền một bước vì “Trà tức là lìa ngôn từ, hết chư tướng, ly tứ cú, tuyệt thị phi”, nên trà chỉ còn lại nguyên ý là đệ nhất nghĩa đế mà thôi.
Người thế gian uống trà trong niệm “nhàn hạ thanh cao”, kẻ học Phật uống trà trong liễu ngộ pháp “đệ nhất nghĩa đế “. Chấp có chấp không, hay tất cả đều không hay có, rồi chẳng có Thiền cũng không có cảnh trần gian, nếu như vậy, thì pháp giải thoát không còn cách nào để tự mình chứng ngộ, và cảnh của cuộc đời không có gì để nhàn hạ thanh cao.
Người uống trà trong tâm niệm tục đế, thì trong trà không có phẩm chất của thiền tư, nhưng nếu lại nhất niệm hướng trà về với chân đế, thì trà thật là vô vị, không còn ngọt ngào hương vị của nhân gian. Trà và Thiền phải là một vị, như câu “Nhị đế dung thông” trà thế gian hay trà thiền cảnh thì cũng viên tròn trong ý “Chân tục không hai”, nếu có thể dùng được tâm và ý này để thưởng thức trà, thì đây là người biết uống trà vậy.
Trà hiện “Bình thường tâm” là trà phổ biến khắp các thứ tầng của cuộc sống, cũng là thú vui tao nhã của cuộc đời, nhưng là mang theo trong đó một ý niệm dung nhập vào cảnh Thiền, từ tục đạt đến chân, từ sắc đến vô sắc, thưởng thức trà như vậy thật là đang tu tập thiền định và đang hành trì một trong vô lượng pháp môn tu vậy. Cho nên Lục Tổ Huệ Năng nói: “Phật Pháp tại thế gian, không lìa thế gian giác, lìa thế gian để tìm đến Bồ đề, cũng không khác đi tìm sừng của con thỏ vậy.”.
Thiền sư đem trà cúng dường Phật, với tâm trọn thành trong niệm cúng dường cảm ân, lấy trà để mời khách là nguyện niệm lân mẫn cúng dường, hai pháp cúng dường, nhưng chỉ trong một niệm hoan hỷ, Phật hay chúng sanh cũng chỉ trong tâm tâm bình đẳng. Lấy trà để cúng dường, ý diễn trà cũng là sắc thân, dùng trà để bổ trợ cho sắc thân đầy đủ thắng duyên tu hành thành Phật. Trong bài Ẩm Trà Ca của Thầy Hiểu Nhiên đời Đường có câu: “uống trà một ngụm điều dứt hôn trầm, tinh thần sảng khoái mãn trần gian, uống thêm ngụm nữa tâm thanh ý tịnh thần tự tại, bổng thấy lòng mình mát rượi như hạt mưa bay, đang sái gội trần gian”.
Trà Thiền chỉ trong chén trà mà ta đang thưởng thức, đây là một câu ngạn ngữ trong cửa Thiền khi nói đến đạo của Trà và Thiền. Thiền sư uống trà, trà trở thành “Thiền”, thế nhân uống trà, trà trở thành “Lễ”, lễ trong ý kính, Thiền trong trong niệm tịnh, kính và tịnh hợp nhất thành tâm thanh tịnh, mà tâm thanh tịnh rồi trần cảnh không hai, thế gian, cõi thiền là một, Thiền sư là khách, khách cũng là thiền, như trà chỉ một vị, khách thiền cảm nhận như nhau, không sai không khác, như vậy là “Trà Thiền một vị, Tăng Tục không hai”
Tác giả: Thích Tâm Mãn

Thứ Sáu, 23 tháng 5, 2014