Thứ Tư, 20 tháng 5, 2015

ÔNG PHẬT BÙN - THE BUDDHA IN MUD

                                 

Thuở xưa có một tên trộm. Một hôm sau một mẻ trộm, chưa được gì hết đã bị phát giác. Anh ta chạy thục mạng loanh quanh tìm chỗ trốn, bước đường cùng đến một đập nước đành nhẩy vội xuống bờ đập. Nhìn quanh quất không thấy có một lùm bụi nào để chui vào ẩn trốn, anh đành ngồi đại xuống đám cỏ đầy bùn. Xa xa đám người rượt theo tìm anh đang chạy tới. Bí quá, anh nhắm mắt lại không dám nhìn họ, cũng không dám nhúc nhích. Đám đông chạy tới nơi, ngạc nhiên thấy một người ngồi an nhiên giữa đám bùn.

Họ bảo nhau:
“Ông này là ai?”
Một người thấy tư thế của ông giống như một thầy tu, nên nói với mấy người kia:
“Có thể ông ta đang ở trong thiền định!”
Thế là mọi người đồng chắp tay kính cẩn chào và hỏi:
“Thưa thầy, chúng con xin phép làm rộn thầy.

Từ nẫy giờ thầy có thấy một người nào chạy ngang qua đây không? Chúng con đang truy tìm một tên trộm.” Anh trả lời: “Ờ… tôi không để ý, không nghe thấy gì hết.” Thế là đám đông kéo nhau đi. Chừng một đoạn đường họ quay trở lại chỗ anh ngồi. Anh vẫn còn ở đó vì chưa biết đi đâu. Thấy anh im lặng, không nhúc nhích, họ rất kính nể, sụp xuống xá lậy và mời anh về trụ ngôi chùa làng đến bây giờ chưa có vị tăng nào về. Trong lúc ngặt nghèo như thế, anh chỉ biết nhận lời để chờ thời.

Tuy ở trong chùa, nhưng máu ăn trộm nơi anh vẫn mạnh. Anh định bụng chờ cơ hội thuận tiện, trộm một mẻ kha khá rồi trốn biệt qua tỉnh khác thật xa.

Sáng sớm hôm đó, anh vào chánh điện, tóm gọn cho vào tay nải nào lư hương, đèn đuốc… những món đồ thờ phụng cổ kính đắt giá, sửa soạn ra đi. Thình lình một Phật tử đến than khóc vì một người thân mới qua đời đêm qua. Ông ta đến chùa nhờ anh cầu siêu. Anh để vội tay nải xuống, lấy khăn lông lau lau chùi chùi mấy món đồ, làm như đang lau dọn bàn thờ. Anh an ủi ông Phật tử vài câu, ghi tên kẻ quá vãng vào tờ giấy và hứa sẽ đến nhà tụng kinh. Thế là mưu toan ăn trộm một lần nữa lại bất thành! Anh thở dài, ngao ngán. Xếp vội các món đồ thở trở lại lên bàn, anh lót lòng đỡ mấy miếng bánh còn lại từ chiều hôm qua, xong chuẩn bị đến nhà Phật tử. Cũng may anh tìm được nghi thức tụng kinh cầu siêu trong tủ kinh sách, nên yên lòng khoác áo ra đi.

Và như thế ngày này qua ngày nọ, anh ẩn nhẫn trong chùa đợi thời cơ. Nhưng chẳng gặp được cơ hội thuận tiện. Rồi người thì hỏi đạo, kẻ thì thỉnh đi tụng đám, anh không có thì giờ tính kế mưu nữa, chỉ biết tìm tòi trong tủ kinh những sách Phật pháp đọc và học để trả lời câu hỏi của Phật tử. Rồi anh tập ngồi thiền, niệm Phật cho khỏi suy nghĩ lo lắng đến tương lai. Lâu ngày cuộc sống của anh “đạo tặc” bất đắc dĩ phải nương náu của chùa này cũng êm xuôi, dần dần anh cảm thấy an ổn hơn. Và thấm thoát đã hơn năm.

Thói quen mới của anh bây giờ là theo thời khóa của nếp sống nhà chùa, từ miếng ăn miếng ngủ đến lao động và công phu sáng chiều. Anh vui với công việc hàng ngày: quét dọn vệ sinh nhà cửa, trồng trọt chút rau chút bắp. Anh vui với những người nông dân chất phác chân lấm tay bùn, chia xẻ với họ từng niềm vui nỗi buồn, thúng nếp họ gặt, đám khoai anh trồng. Nghĩ lại thời gian qua anh đã sống quá tệ hại, không biết đến công lao cần cù khó nhọc của họ, mà nỡ trộm cướp thành quả dành dụm chắt chiu của họ. Thật tội lỗi biết bao! Anh cảm thấy hối hận vô vàn. Và từ đó anh dành nhiều thì giờ bái sám.

Kể từ đây dấu vết thói quen của cuộc đời một tên trộm thực sự tan biến. 
Anh bây giờ là một con người mới, con người hiền thiện và là chỗ nương tựa tâm linh cho dân làng.
                                                                               Thuần Bạch- Ngọc Bảo

Vài lời mạn bàn:

“Đồ tể buông dao cũng thành Phật đạo”… huống gì một tên trộm vì hoàn cảnh đưa đẩy bất đắc dĩ bỗng trở thành một vị sư và lâu ngày lộng giả thành chân, chuyển hóa thành một con người mới hoàn toàn. Nếu không có cơ duyên này, tên trộm có thể suốt đời là một tên trộm. Nhưng cơ duyên đến không phải do ngẫu nhiên, mà vì những sắp xếp nào đó trong nghiệp quả mà tên trộm mang theo trong đời, và nếu không có những chủng tử có sẵn, chắc chắn tên trộm đã trốn chùa ra đi từ lâu, không cần quan tâm gì đến những lời yêu cầu hay hoàn cảnh tội nghiệp của đám dân làng chất phác, thế nhưng anh ta đã nấn ná ở lại để dần dà trở thành một vị sư thực sự.

Cuộc đời con người có những diễn biến thật bất ngờ, họa và phúc đan nhau nối tiếp như một tấm thảm muôn mầu thật thú vị. Tâm con người cũng thế, như một hang động bí ẩn đầy những ngõ ngách kỳ lạ với những cảnh trí muôn vẻ. Người theo cảnh hay cảnh theo người? Đi sâu tìm hiểu tâm con người, có lẽ chúng ta sẽ hiểu được phần nào những cơ duyên đến trong cuộc đời chúng ta.

The Buddha in mud

Once there was a thief. One day he was found while he was breaking into a house. Off he ran as fast as he could, until he reached a dam. He jumped to the bank of the dam, fearful of the people in hot pursuit after him. Looking around, there was no bush to hide in, so he just sat down on a clump of weeds full of mud. Petrified with fear of being caught, he dared not move, just sat motionless with his eyes closed. The pursuers were startled when they found a muddy man sitting motionless. They asked themselves: “Who is this man?” One of them thought this man looked like someone in meditation, so he told the others: “He’s a monk in meditation!” Everybody became respectful, they bowed to him and asked: “Master, we are sorry to bother you, but did you see a man running by earlier? We are looking for a thief.” The thief reply: “Oh no... I did not notice anything…” So they left, but came back after a while. The thief was still sitting there, because he did not know where to go. Thinking this is a kind of profound meditating practice, the pursuers were full of respect. They asked him to become the monk of the village’s temple, which until now had been without any residing monk. Being in such a situation, the thief had no other choice than to accept it.
Although living in the temple, a thief was always a thief. He soon thought of stealing the valuable things in the temple and take off when there was a chance.

That morning, he went into the main shrine, removed all the valuable statues, worshipping appliances etc... stuffed them into a bag and got ready to go. Suddenly there came a crying believer, because a member of his family just passed away last night. The believer asked him to go to his house to pray for the dead. The thief hastily put down his bag, acting as though he was just dusting and cleaning the appliances. He comforted the believer, took his name on a piece of paper, then promised to go there to pray. Sighing disappointingly for his foiled plan, he put back all the stolen things and set out to the believer’s house. Before that, he was careful to bring along one of the prayer book that he found in the shrine.

And so the days went by, he stayed in the temple waiting for the good time to leave. But he never had the chance. Believers kept coming, asking questions, or inviting him to their house for funeral prayers, and to be able to serve them he had to read and learn the sutras. Soon he began to practice meditation, chanting the Buddha’s name to relieve himself of his worries and stress. The old thief who was forced to become a monk now had to learn to live the life of a monk, and unexpectedly, this simple life gradually brought peace to him.

A year passed by. His daily schedule now was like the schedule of a real practitioner. He worked all day, cleaning, growing the vegetables, practicing meditation and chanting the sutras every morning and night. He partook in the joy, the sadness of the peasants in the village, shared with them the products that he grew by himself. Looking back at his previous life, he was horrified. How can he think of stealing from these poor, hard working people! He was ashamed of himself. From now on, he would make time to repent for his past sins.
Henceforth, he was transformed from a thief to a real practitioner. All traces of his past life were now erased. He became a new person, a person of goodness and a spiritual support for the people of the village.



Thứ Hai, 18 tháng 5, 2015

SỬA SOẠN LÌA ĐỜI





Bài pháp với đề tài thực dụng “Đem sự tu tập vào đời sống” đã được Ni Sư Tenzin Palmo trình bày với phong cách đơn giản mà tinh tế, linh hoạt cuả bà.
 Ni Sư chấm dứt bài giảng, nhìn thính chúng, mỉm cười chờ đợi những câu hỏi của các Phật tử tham dự. Chánh điện Thiền Tự Tiêu Dao sinh động hẳn lên và hội chúng tranh nhau đưa tay xin hỏi.
 Thông qua sự thông dịch của hai em Phật tử, Ni Sư từ tốn giải đáp từng thắc mắc về cá nhân Ni Sư, về cuộc sống đời thường cho đến các ưu tư về trải nghiệm thiền tập...
Một Phật tử đã hỏi một câu thú vị:
- “Đọc cuốn Cave in the Snow, con biết là Jetsuma đã suy nghĩ về cái chết từ khi còn rất bé, ở độ tuổi mà các con cuả con chỉ biết ăn ngủ, chơi đùa. Trong 12 năm ẩn tu trên núi tuyết, Ni Sư nhiều lần đối diện với hiểm nguy. Có lần Ni Sư bị chôn sống nhiều ngày trong hang dưới trận bão tuyết và tưởng chừng không thể thoát khỏi lưỡi hái cuả Tử thần... Xin Ni Sư hoan hỉ cho con biết cảm nghĩ của Ni Sư về Cái Chết.”

- “Tôi may mắn sinh ra trong một gia đình “lạ đời” ở Luân đôn! Cái chết không là điều cấm kỵ (taboo) mà luôn được gia đình bàn cãi hàng ngày một cách cởi mở. Trong khoảng đời ở trong hang trên núi tuyết, nhờ tu tập mà tôi đã bình tĩnh đối phó với mọi chuyện. Tôi bình thản đón nhận cái chết nếu nó xảy ra cho tôi vào thời điểm ấy.
 Bây giờ, đôi khi tôi nghĩ rằng: A! Cái chết đến hả. Chắc là hứng khởi (exciting) lắm đấy!”

Cử toạ cười ồ trước câu kết dí dõm, nửa đùa nửa thật cuả Ni Sư Tenzin Palmo.
 Từ cuối phòng, cô trụ trì mở lối cho một thính giả đi lên phía trước Chánh điện. Anh ấy trông tiều tụy, da dẽ xám xanh và nét mặt lộ vẻ lo buồn. Anh chắp tay vái chào, ngồi xuống bồ đoàn, ngước nhìn Ni Sư, nghẹn ngào không nói được. Cô trụ trì đỡ lời:

“Anh D muốn xin ý kiến Ni Sư về việc sửa soạn thế nào khi sắp lìa đời. Anh bị ung thư phổi, đã mổ xẻ và hóa trị gần ba năm nay nhưng không thuyên giảm, bịnh đã đến thời kỳ cuối. Mạng sống không còn bao lâu. Hôm nay anh đến để thưa hỏi Ni Sư, dù anh là tín đồ Công giáo.”
Đại chúng im phăng phắt vì kinh ngạc.

 Ni sư xoay người đối diện với anh D. Nhìn anh với ánh mắt đầy thương cảm, Ni sư hỏi: “Anh có muốn nói chuyện riêng với tôi không?”

Anh D thưa: “Dạ không cần. Con muốn Ni Sư trả lời cho con trước hội chúng để mọi người cùng được lợi lạc.”

Một tràng pháo tay nổi lên tán thưởng sự chia sẻ đầy can đảm và độ lượng của anh.

 Hướng về anh D, Ni sư Tenzin Palmo nói chậm rải từng tiếng một:

“ Ai rồi cũng phải chết cả! Có những đứa bé chết từ thuở sơ sanh. Có kẻ chết trẻ, người chết già vì đủ mọi lý do: tai nạn, bịnh tật, già yếu... Ai cũng biết về cái chết nhưng cứ tưởng là nó đến cho  người khác chớ chưa đến lượt mình... mãi cho đến lúc nó thình lình hiện ra trước mắt thì hoảng hốt, lo sợ, bấn loạn vì thiếu sự chuẩn bị. Chết vì bệnh tật là may mắn hơn vì có thời gian sửa soạn cho sự ra đi.

Để sửa soạn lìa bỏ cuộc đời:

 1/ Điều trước tiên là buông bỏ mọi giận hờn, oán hận mà từ trước tới nay ta ôm ấp trong lòng. Mở lòng tha thứ hết mọi người. Buông xã hết.

 2/ Hãy nói những lời yêu thương và biết ơn ta từng muốn nói mà chưa có dịp hay còn ngần ngại.

 3/ Hãy di chúc về tài sản, ước muốn cuả mình. Cần phân minh và công bằng để thân nhân không tranh dành, cãi cọ trong thời gian ta mới lìa đời.

 4/ Hướng tâm, nghĩ tưởng về Đức Chuá, Đức Mẹ nếu là tín đồ Công giáo, về Phật A Di Đà nếu là Phật giáo. Nếu không có tôn giáo thì nên hướng về Ánh Sáng.

5/ Thân nhân không nên than khóc và níu kéo: “Đừng đi, đừng bỏ em, đừng bỏ con...” vì sẽ gây quyến luyến, khó khăn thêm cho người sắp ra đi. Điều nên làm là nhắc nhở kẻ hấp hối nhớ đến những điều thiện lành. Dù người ấy có vẻ như đang hôn mê, không nói năng được nhưng thân nhân vẫn luôn nhắc nhở, cầu nguyện vì trong thâm sâu, họ vẫn còn biết.

 6/ Nếu thân thể bị đau đớn thì cứ dùng thuốc giảm đau. Người tu tập cao có thể chịu đựng vì quán chiếu tánh không của cơn đau. Nhưng với người bình thường thì đau quá làm họ sân hận, bấn loạn. Hơn nữa, thuốc giảm đau không ảnh hưởng đến thần thức sau khi chết.

 7/ Một điều cần nhắc nữa là: Khi ra đi, người chết thường thấy hình ảnh của ông bà, cha mẹ hay thân quyến quá cố hiện ra, vẫy gọi mình. Đừng đi theo họ mà chỉ hướng đến Chúa, Phật hay Ánh Sáng, là con đường hướng thượng.”
Ghi lại những lời khuyên hữu ích vì cảm niệm công đức cuả Ni Sư. Xin chia sẻ cùng tất cả. Thực hành là chuyện của mỗi người.
                                                                      Ni sư Tenzin Palmo
                                                                 ( Trích email LamNguyen )

Chủ Nhật, 17 tháng 5, 2015

ĐÔI MẮT



                                                                     Đôi mắt em dịu hiền
                                                                     An vui và thánh thiện
                                                                     Rải tâm từ cùng khắp
                                                                     Đời bớt khổ triền miên  

                                                                     Vì thương người chứa chan
                                                                     Sầu não cùng lang thang
                                                                     Mắt em đầy giọt lệ
                                                                     Nguyện đời bớt gian nan
   
                                                                     Tìm đời bằng trí huệ
                                                                     Tìm người bằng tình thương
                                                                     Giữa dòng đời sanh tử
                                                                     Biết sao lý vô thường
              
                                                                                                 Minh Đạo - 2015

                                           
 

Thứ Năm, 14 tháng 5, 2015

BÌNH TĨNH TRƯỚC NHỮNG KHEN CHÊ CỦA CUỘC ĐỜI

                                     
 


Có một chú tiểu rất thông minh đến gặp một vị Lạt ma và nói rằng: “Trời ơi Ngài nổi tiếng lắm, đi đâu con cũng nghe danh ngài”. 
   Được khen vị Lạt ma liền hướng vô bên trong và kêu: “Này thị giả, hãy mang kẹo ra cho chú tiểu”.
   Chú tiểu nói tiếp: “Ngài làm như vậy, sao mà giống như Phật dạy quá!” .
   Vị Lạt ma lại gọi: “ Thị giả, mang thức ăn ngon ra cho chú tiểu”.   
   Chú tiểu khôn ngoan đó lại nói tiếp: “ Chính Ngài là Đức Phật taị thế”. 
   Vị Lạt ma lại gọi vào trong: “Haỹ mang thêm 3 đồng tiền vàng cho chú ". 
   Chú tiểu nghĩ rằng như vậy là đũ rồi và đứng chờ nhận quà.            
Chờ mãi mà không thấy ai ra,chú  hỏi vị Lạt ma sao thị giả của Ngài chưa đem kẹo, thức ăn và vàng ra. 
   Vị Lạt ma nói, “Tại sao ta phải cho con kẹo, thức ăn, vàng thật chớ? Con chỉ cho ta những lời nói trống rỗng. Ta cũng cho lại con những lời nói trống rỗng”.

  

Bình tĩnh trước những khen chê của cuộc đời
Khen và chê là hai phạm trù thuộc cảm xúc tương phản, luôn luôn làm dao động nội tâm chúng ta, kích thích sự hưng phấn hay ức chế, đem lại sự an lạc hay phiền não, có lợi hay bất lợi, là tuỳ thuộc cả hai đối tượng “trao và nhận”. Hãy coi lời khen ngợi và chỉ trích là như nhau.

Đã là con người không ai muốn mình là trò hề, là con rối trong mắt người khác. Một lời chỉ trích không có gì để lên án, nếu nó được góp ý với thái độ chân thành và không gian phù hợp. Nhưng vì cái tôi, cái ngã của chúng ta quá lớn nên khó chấp nhận lời góp ý từ người xung quanh.Nếu được khen hẳn nhiên chúng ta sẽ đón nhận với thái độ vui mừng, hớn hở, sung sướng tuy nhiên không phải lời khen nào cũng đúng và đáng để hãnh diện nếu nó không kèm theo một hành động cụ thể tương thích.

Tâm lý chung của con người là thích được khen hơn là chê, vì nghe những lời khen dễ hơn, lọt tai hơn, cảm xúc thăng hoa hơn, v.v… nhưng sống ở cõi Ta bà này, làm sao ta có thể luôn luôn đúng, vì thế nó phải có đúng có sai, có công bằng và thiếu công bằng, có ưu thì phải có khuyết, có khen ắt phải có chê.

Nhưng chê thế nào, cách chê người khác ra sao đó là một điều khó. Khen chê cũng là một nghệ thuật. Người chê được ví von như một nghệ sĩ biểu diễn trong bóng đêm nhưng bắt buộc phải truyền tải được cái hồn cho khán giả, như vậy có nghĩa là gì? Người chê phải có một trải nghiệm sâu sắc, kiến thức uyên thâm, giao tiếp tốt, hiểu lòng người, đặc biệt phải có cái tâm “thẳng” không cong quẹo. Có như vậy thì mới chê đúng, khen đúng đối tượng. Còn người bị phê phán giống như một người thợ mới vào nghề, làm thế nào để chứng tỏ khả năng, năng lực làm việc, bản lĩnh trong mọi tình huống, để đón nhận tất cả những gì đang diễn ra bên ngoài với vô vàn những điều không như ý muốn.
Chúng ta cùng nhau quay lại thời Đức Phật còn tại thế. Một hôm, Đức Phật và chúng Tỳ kheo đi trên con đường giữa Ratãgahã và Nalandã. Ði sau là tu sĩ ngoại đạo Suppiyo và một đệ tử là Brahmadatta. Suppiyo dùng vô số phương tiện hủy báng Phật, hủy báng Pháp, hủy báng Tăng. Trái lại, thanh niên Brahmadatta dùng vô số phương tiện tán thán Phật, tán thán Pháp, tán thán Tăng.
Khi đêm vừa tàn, chúng Tỳ kheo đem sự việc trên bàn luận với nhau. Ðức Phật đi đến, sau khi biết tự sự Ngài dạy rằng:
“Này các Tỳ kheo, nếu có người hủy báng ta, hủy báng Pháp, hủy báng Tăng, các ngươi chớ vì vậy sanh lòng căm phẩn, tức tối, tâm sinh phiền muộn…”
“Này các Tỳ kheo, nếu có người tán thán ta, tán thán Pháp, tán thán Tăng, thời các ngươi không nên hoan hỷ, khoái trá, tâm không nên thích thú…”
Tại sao Đức Phật lại dạy chúng Tỳ kheo như thế, vì Ngài cho rằng khi bị chê trách thì tức giận, buồn phiền, khi được khen ngợi thì vui sướng tột độ, như vậy đều có hại, và không biết chính xác được lời nói của những kẻ ấy đúng hay sai sự thật.
Theo phản xạ tự nhiên của con người, nếu như bị tấn công thì phải chống trả bằng mọi cách, coi đó là kẻ thù không đội trời chung. Có như vậy mới chứng tỏ được bản lĩnh của mình, không yếu thế, không hèn mọn, không nhu nhược và ngu dốt. Cái tâm háo thắng nó sinh ra suy nghĩ ấy.
Trong Kinh Tứ Thập Nhị Chương, Đức Phật có dạy: “Khi bị kẻ xấu quấy phá, nhục mạ hãy cố nín lặng như người đem lễ vật biếu người khác, họ không nhận, thì lễ vật ấy được trả lại. Cũng như người ngửa mặt nhổ bọt lên trời, bọt chẳng tới trời, trái lại rơi vào mặt mình…”.
Học cách nín lặng không có nghĩa là ta đánh mất “mình”, sợ người khác đánh giá mình non kém, mà nín thinh để trả lại món quà cho người đang phỉ báng ta. Sự háo thắng nó được thể hiện rất rõ khi ta tìm mọi cách để trả thù cho những gì được gọi là “nợ”. Đó là cách suy nghĩ không sáng suốt và thiếu tích cực.Cho dù được tán thán hay bị phê phán thì chúng ta cũng hoan hỷ xem xét kỹ lưỡng, phân tích đúng sai, để từ đó rút ra cho mình những điều phù hợp nhất cho bản thân.
Bởi lẽ người thầy vĩ đại nhất của một con người không ai khác chính là bản thân mình. Không ai có thể yêu cầu, bắt buộc chúng ta thay đổi nếu điều đó ta thấy không phù hợp và cần thiết. Vì vậy, mỗi cá nhân phải tự học cách thay đổi, hoàn thiện, cải biên, làm mới mình, khi được “soi” vào những tấm gương lớn hơn.
Trong cuốn “Chê và Bị Chê” tác giả Trần Xuân Tuyết đã viết thế này: “Nếu vừa bị chê, chúng ta đã đỏ mặt tía tai là bản lãnh chúng ta còn thật kém cỏi, không bao giờ có được “bạn hiền”. Vừa bị chê, đã sợ sệt, là nhu nhược, khó lòng đi xa trên con đường sáng tạo cho đời cũng như cho chính bản thân. Bị chê, nhưng lạnh lùng không tiếp thu, xem xét lại mình, là khinh mạn, kiêu căng, là phản bội lại chính mình. Bị chê, vờ vịt nhận thiếu sót cho đẹp lòng người chê là giả dối. Những người bảo thủ và tự đại, những người hống hách và độc đoán, những người dốt nát mà hợm hĩnh, thường ít có khả năng chịu đựng được lời chê”. Một quan điểm đúng đắn ở mọi thời đại.
Chê người khác đã là một việc khó nhưng có đủ bản lĩnh, tầm vóc để đón nhận lời chê còn khó hơn. Hãy bình tĩnh lắng nghe và đi vào chi tiết từng câu nói của người chê, trong lúc ấy gần như tâm chúng ta bớt loạn và không thốt ra những lời vô nghĩa. Đừng để cảm xúc đưa mình tới suy nghĩ rằng mình đang bị lấn át hay cảm giác bị ức chế, mà hãy tìm trong mỗi câu chỉ trích một điều đúng mà bản thân chúng ta cần thay đổi.Cho dù thế nào đi chăng nữa, thì chúng ta cũng không nên lo lắng người khác đang nghĩ gì về chúng ta. Nếu cứ chăm chăm như vậy, chúng ta sẽ bị người khác kiểm soát xúc cảm và bị phụ thuộc vào lời nói cũng như hành động của họ.
Hãy dần từ bỏ những đánh giá bên ngoài, chọn lọc thông tin cần thiết, tìm cho mình những người bạn chân thành, vì chỉ có những người bạn chân thành mới cho ta sự tin cậy để ta lắng nghe và sửa đổi. Từ đó, chúng ta sẽ nhìn nhận và đánh giá mọi việc, sẽ bớt quan tâm tới những đánh giá từ bên ngoài. Đừng bao biến mình thành kẻ bất cần, không muốn nghe lời chỉ trích, dù cho nó có giá trị thật sự.
Cho dù là vô tình hay hữu ý mà chúng ta phải nghe những lời nhận xét thiếu căn nguyên thì cũng nhẹ nhàng bước qua nó và từ bỏ ý định đi tìm lí do tạ sao như vậy. Khi tâm an thì tất cả mọi thứ đều an. Hãy nghĩ đến những gì viên mãn mà chúng ta đang có và hãy vui vì điều ấy.
Ở đời này, việc giữ một tâm thế bình ổn trước những lời khen chê, hay những lời nhận xét gay gắt, hoặc những lời phê bình, v.v… không hề đơn giản. Tất cả đều cần có thời gian và sự kiên trì, nhẫn nhịn và biết lắng nghe trong mọi tình huống của cuộc sống.
                                                                   Theo KienThuc


Thứ Ba, 12 tháng 5, 2015

THỊ PHI

   

Dưới đây là 2 câu chuyện nói về cách mà người thời xưa đối diện với những thị phi.
Câu chuyện thứ nhất:
Trong một buổi nhàn hạ, vua Đường Thái Tông hỏi chuyện vị quan cận thần là Hứa Kính Tôn rằng:
– Trẫm thấy khanh phẩm cách cũng không phải là phường sơ bạc. Sao lại có nhiều tiếng thị phi chê ghét như thế?
Hứa Kính Tôn trả lời:
– Tâu bệ hạ. Mưa mùa Xuân tầm tã như dầu, người nông phu mừng cho ruộng đất được thấm nhuần, kẻ bộ hành lại ghét vì đường đi trơn trợt. Trăng mùa thu sáng vằng vặc như gương treo trên bầu trời đêm, hàng thi nhân vui mừng gặp dịp thưởng du ngâm vịnh, nhưng bọn đạo chích lại ghét vì ánh trăng quá sáng tỏ. Trời đất kia vốn vô tư không thiên vị, mà cơn nắng mưa thời tiết vẫn bị thế gian trách hận ghét thương. 
Còn hạ thần đâu phải một người vẹn toàn thì làm sao tránh khỏi tiếng chê bai chỉ trích.Cho nên ngu thần trộm nghĩ, đối với tiếng thị phi trong thế gian nên bình tâm suy xét, đừng nên vội tin nghe. Vua tin nghe lời thị phi thì quan thần bị hại. Cha mẹ tin nghe lời thị phi thì con cái bị ruồng bỏ. Vợ chồng tin nghe lời thị phi thì gia đình ly tán. Tiếng thị phi của thế gian nọc độc còn hơn rắn rết, bén hơn gươm đao, giết người không thấy máu.
Câu chuyện thứ hai:
Một lần, Phật đi giáo hóa ở vùng có nhiều người tu theo Bà La Môn giáo. Các tu sĩ Bà La Môn thấy đệ tử của mình đi theo Phật nhiều quá, nên ra đón đường Phật mà mắng chửi. Phật vẫn đi thong thả, họ đi theo sau không tiếc lời rủa xả. Thấy Phật thản nhiên làm thinh, họ tức giận, chặn Phật lại hỏi:
– Ngài có điếc không?
– Ta không điếc.
– Ngài không điếc sao không nghe tôi chửi?
– Này tín đồ Bà La Môn, nếu nhà ông có đám tiệc, thân nhân tới dự, mãn tiệc họ ra về, ông lấy quà tặng họ không nhận thì quà đấy về tay ai?
– Quà ấy về tôi chứ ai.
– Cũng vậy, ông chửi ta, ta không nhận thì thôi.
 Trong kinh Phật viết rằng, khi người ác mắng chửi người thiện, người thiện không nhận thì người ác giống như người ngửa mặt lên trời phun nước bọt, nước bọt không tới trời mà rời xuống ngay mặt người phun. Có thọ nhận mới dính mắc đau khổ, không thọ nhận thì an vui hạnh phúc. Thế nên từ nay về sau nếu có nghe thấy ai đó nói lời không tốt về mình, chớ có thọ nhận thì sẽ được an vui.Theo Phật giáo, khẩu nghiệp là một trong những nghiệp nặng nề nhất mà một người có thể tạo ra. Vết thương bạn gây ra trên thân thể người khác còn có ngày lành nhưng vết thương gây ra bởi lời nói thì chẳng biết ngày nào mới lành lại được.
http://media.kenh9.tv/http/1200x1200/bocau.net-BcKCN8-42026.jpgVì vậy hãy cẩn trọng với lời nói của mình, đừng gây ra thị phi vì vô ý thức, cũng đừng trách móc người khác chỉ vì lỗi lầm của họ bởi: “Every saint has a past, every sinner has a future”, nghĩa là “Vị thánh nào cũng có một quá khứ, và tội đồ nào cũng có một tương lai”.
Nguồn: giadinhonline

Chủ Nhật, 10 tháng 5, 2015

MỘT BÀI VIẾT HAY VỀ BỘT NGHỆ CỦA MỘT VỊ BÁC-SỈ TRẺ VN.

                                        



Bột nghệ:
Bột nghệ là một thuốc sát trùng (antiseptic) rất mạnh, là một antibiotic thiên nhiên (trụ sinh), có nhiều anti-oxidants (chống lão hoá). Khi dùng nghệ tươi để tẩy sẹo mổ hay sẹo trứng cá (trẻ dậy thì), thì vết sẹo lành thật nhanh và các mụn cũng bị tẩy sạch. Nghệ tốt hơn các thuốc trị trứng cá vì vừa sát trùng, vừa lành vết thương, vừa làm nhạt sẹo rất hiệu nghiệm. Chỉ trong vòng 1, 2 tuần là vết sẹo lành, vết sẹo nhoà đi và không thấy vết mổ nữa.
Nếu ta trộn chung bột nghệ với mật ong thật và sống (không phải nước đường, mật miá hay caramel – nước đường thắng như nước mầu) thì lại thêm anti-oxidants và mạnh như natural antibiotic.
Cháu có người mợ khi chạy sang Mỹ thì bị lang beng, loang lổ cùng mặt. Người con trai học bác sĩ lấy vợ bác sĩ Ấn độ, mách cho là bên gia đình vợ dậy trộn bột nghệ (mua ở tiệm Ấn độ bao to cho rẻ) với mật ong tươi (chưa nấu, mua ở local farmer’s market), viên thành cục như ô mai cam thảo. Sau khi phơi khô thì cho vào microwave cho khô kỹ thêm. Thật ra mấy thứ sát trùng, antiobiotic này không thể mốc được. Mỗi ngày, mợ cháu nhai 3 viên, sáng trưa chiều ba bữa. Chỉ trong 2-3 tháng là da mặt trở lại bình thường, một mầu và trắng mịn như xưa.
Mỗi khi bị vết thương, sưng cổ họng… cần antibiotic, cháu cứ mua Turmeric viên từ các health food stores, uống thay cho trụ sinh. Chỉ 2-3 ngày là hết sưng. Tuy nhiên, ta là người Á Đông cần để ý xem mình có ăn món gì quá nóng (ớt, tỏi, sầu riêng, xoài, mít…), làm sưng cơ thể, khơi dậy arthritis (sưng khớp xương) thì nên bớt đi và uống nước mát. Nếu không chắc là bệnh gì thì nên nấu chè đậu xanh cả vỏ (neutralizer, detox), rong biển (phổ tai, seaweed) hay ăn nhiều rau ngò (1 bó cilantro 1 ngày - the best detoxifying herb) mà ăn. Chỉ trong vòng 1 ngày là tống được các chất độc như chì (lead), kim nhũ (mercury)… ra khỏi cơ thể. Những chất chemical và toxic metals rất độc, làm cho gan, thận… bị tắc nghẹt và ngưng làm việc tẩy độc. Rau ngò là binding agent, quện lấy các chất toxic metals và đẩy ra ngoài.
Cá (nục hay bất cứ loại cá nào) đã ươn hay mang toxic chemicals từ water run off ( từ chemical plants, pesticides từ ruộng đồng…) có thể làm  tắc gan, cứng gan và gan ngưng làm việc tẩy độc ngay. Cơ thể ta có thể nhiễm trùng hay nhiễm độc trầm trọng và blood pressure cũng như sugar level drop nhanh chóng. Mercury có thể ảnh hưởng đến luồng điện trong cơ thể và óc, và làm ngăn cản (impair) những functions thật basic nhất như thở, đi đứng, tim đập… và có thể gây nên epilepsy (phong đòn gánh) hay bất tỉnh. Cá còn có thể đưa vào thân ta parasites (ký sinh trùng) nếu ăn sống (sushi, sashimi, seviche, gỏi…) nấu chưa chín hẳn hay chưa lọc sạch phần độc. Những ký sinh trùng có thể làm shut down toàn cơ thể trong 24 tiếng, làm gan sưng vù và nghẽn các lục phủ ngũ tạng, hay làm máu đóng cục, nghẽn các tinh mạch. Phổi không thở được, thì không có air exchange là tim cũng shut down. Ông bố chồng cháu ăn cá lúc 12 giờ trưa, 1 giờ là ngất siủ và blood pressure dropped to nothing. Ông ta vào nhà thương, 5 ông bác sĩ không chẩn được bệnh. Cháu hỏi một ông Nutritionist, chuyên về Toxicology thì được biết như trên. Cháu vội chạy vào nhà thương, chỉ cho các đấng kia biết và họ làm detox.
Parasites rất nguy hiểm, nhưng nguy hiểm bội phần khi chết hơn là khi sống. Khi sống, nó có thể đục thủng thân ta, muốn đi đâu là đi, từ da đến óc, làm ta bị chẩy máu toàn thân. Nếu nó lên óc thì có thể đứt mạch máu óc, mù mắt… Tuy nhiên, khi chết, các bạch huyết cầu trong thân ta bu lại, bám lấy con xác ký sinh trùng và tạo nên một cục to như bướu (tumor), làm nghẹt sự lưu thông của mạch máu hay cản trở việc làm của bắp thịt. Nếu bác có giờ, cháu mời bác tìm trong Internet chương trình Monsters Inside Me để hiểu rõ hơn.
Nước ngọt (Coca Cola, Pepsi Cola… ) rất độc cho sức khoẻ vì nhiều lý do:
1. Đường refined, biến chế, tẩy trắng… rất addictive (dễ nghiện) hơn bất cứ các chất độc khác. Trong cái lưỡi của người bình thường, các tế bào phát triển trước hết là tế bào cho ta thưởng thức chất ngọt, xong đến chua, mặn, đắng, chát và cay. Diet của người Mỹ chỉ có 3 vị là ngọt, mặn và chua. Cơm Ấn độ có cả 6 vị. Chính vì thế mà người Mỹ hay làm thức ăn và uống nhiều đường để bán cho nhiều hàng, dù biết là đường trắng cũng như bột mì trắng (hoá ra glucose khi vào cơ thể ta) làm gan ngưng làm insulin. Đó là khi ta mệt rũ ra và phài ăn thêm đường hay kẹo. Sau một thời gian dài, ta mắc bệnh tiểu đường (diabetes), tức là cơ thể không thể hấp thụ (metabolize) được đường từ thức ăn và ăn đường vào là sẽ thải qua đường tiểu ra. Cơ thể trở thành malnourished (thiếu dinh dưỡng) và nhiều phần bắt đầu chết dần.
2. Đường là nguyên do gây ra nhiều loại cancers.
Đường (refined sugar, refined starches, corn syrup…) là nguyên cơ của nhiều bệnh ung thư (cancers). Nếu ta có thèm chất ngọt  thì nên ăn trái cây hay dùng các loại complex sugar (mật ong, kẹo mạch nha, agave nectar…), complex starches (gạo lứt) hay thay đường bằng lá cây Stevia (zero calorie) hay Xylitol (natural sugar but zero calorie). Xin chớ dùng Equal (Aspertame), Sweet & Low (Saccharin) hay Splenda. Cơ thể ta không thể nhận ra các chất hoá học nhân tạo này và không tiêu hoá được (metabolize). Các chất này đọng đầy các bộ phận detox như gan, kidney, pancreas… và làm chướng ngại vật như đống rác. Một ngày nào đó, cơ thể ta đầy rác rến, không làm việc nữa và đình công vĩnh viễn.
Nếu bác lùi xa và quan sát lại xã hội Mỹ thì sẽ nhận định là xứ Mỹ giầu có nhất nhưng cũng là sắc dân đứng hàng đầu về cancer, heart attack, strokes, diabetes và bao nhiêu bệnh nhà giầu như depression, gout… Nếu ăn theo đúng loại metabolic type của mình (Sympathetic hay ParaSympathetic ) và theo đúng loại máu của mình (A, B, AB, O, positive, negative…) thì sẽ không có bệnh gì. Ngoài ra môi trường sống có những pollution thấy được (rác rến, Asbestos…) và loại không nhìn thấy (Ozone, Radiation, Radon…). Có những nhà hay văn phòng xây quá gần cột điện cao thế, làm chất sắt hay metals trong máu chạy bậy bạ.
3. Các chất artificial flavoring rất độc. Mình không biết là các chất đó có phải là thức ăn cho người hay là chất bậy bạ như mấy hãng vô lương tâm bên Trung Hoa làm.
4. Carbon Dioxide làm nước có bọt có thể  tạo nên các bong bóng trong cơ thể ta và gây nên vấn đề. Nếu thiếu kiến thức, nhiều khi các chemists vườn pha các chất tẩm bậy, phạt nhau, làm hư hại cơ thể hay tạo nên sạn trong thân.
5. Coca Cola, Pepsi Cola… rất nhiều chất độc mạnh, có thể dùng để lau chùi bình điện đóng corrosion, hay chất rỉ sét, đóng vôi, đóng nhựa. Chất acid rất tai hại dù lưỡi ta không cảm nhận được nhưng tiêu thụ trường kỳ độc.
6. Chất phèn để lọc nước và preservatives để tránh hư thối cũng rất là độc. Đó là những chất chemical hoá học, không phải là natural như đường trong trái cây, gạo hay đậu thiên nhiên. Cơ thể ta không nhận ra các molecules đó thì không tiêu hoá mà cũng không thải ra ngoài. Rốt cục, người ta toàn là chất độc, chất acid, ký sinh trùng… trục trặc hết chuyện này đến góc kia, gia tăng tốc độ của việc lão hoá cơ thể.
7. Nước bên Mỹ phải lọc từ chất chemical (pesticide, insecticide…), rác rến (particles, mud…) đến minerals, metals độc. Các nước ngoài không dùng các loại máy reverse osmosis nên có thể còn những chất này. Tuy nhiên, nếu uống nước purified, reverse osmosis… thì cơ thể ta sẽ thiếu chất minerals (khoáng chất) và thiếu ăn thức ăn tươi (thiếu vitamins) thì óc không làm việc điều hoà, làm điện chạy liên tục thì tư tưởng sẽ bị đứt đoạn, thiếu quân bằng, tứ chi rã rời, bủn rủn, chóng mặt hay có khi nói năng lảm nhảm, không đầu đuôi. Minerals rất ư quan trọng cho cơ thể ta làm việc chính xác. Ăn uống thiếu dinh dưỡng, tiêu thụ thức ăn giả (margarine hay shortening, transfat, đường hoá học, artificial flavoring, coloring…) sẽ làm cho cơ thể bị yếu dần. Lúc ấy, các con bệnh, vi trùng (bacteria), siêu vi trùng (virus)… sẽ xâm chiếm thân yếu như các ký sinh trùng (rong rêu, cây tầm gởi…) xâm nhập ăn tươi nuốt sống cây yếu ớt. Từ từ, chúng tiêu hủy cơ thể chúng ta.
Tốt hơn hết, ta nên ăn uống kỹ lưõng bằng cách học hỏi qua Internet. Chưa bao giờ việc nghiên cứu dễ dàng, nhanh chóng và phong phú như thời đại Information Age này. Tránh ăn thức ăn tiền chế (frozen TV dinners, các thức của VN hoặc Trung Quốc làm sẵn…) và tránh pizza, hamburgers, thức nướng cháy bén lửa (carcinogenic gây ra cancer), uống nước ngọt, thịt chứa preservatives như bacon, ham, luncheon meats, Spam, hot dogs, Vienna Sausages, lạp xưởng…
Ngoài ra, cháu xin lưu ý về vụ ăn chay, các thức giả cá, giả giò… làm bằng đậu nành, rong biển, mì căn… Nhiều món như các bác đã thấy là plastic. Ăn vào không tiêu nhưng nếu không may mà không thải ra, thì ở lì trong ta, làm tắc tị, nghẹt cứng đường ruột hay trong ruột dư. Ngoài ra đậu nành dù mang tên là lành nhưng có thể rất tai hại cho nhiều người. Đậu nành mimic (giả) estrogen, một hormone có nhiều trong đàn bà nhưng thân đàn ông cũng có sản xuất một ít. Nếu ta có quá nhiều estrogen thì sẽ gây ra hormonal imbalance, làm xáo trộn cơ thể. Một người bình thường có trên 100 loại hormone thì mới function hoàn hảo. Quá nhiều loại hormone này, thiếu hormone kia, sinh ra nhiều bệnh. Đàn bà quá nhiều testosterone thì mọc râu rậm rạp, giọng nói ồ ồ như vịt đực. Đàn ông ăn quá nhiều đậu nành thường hay có giọng mái, thanh tao như đàn bà và ít râu ria, mặt mày láng coóng, da mịn màng, đi đứng yểu điệu như con gái. Đây là loại estrogen supplement các cô “boy” bên Thái Lan (hay Micheal Jackson) uống để thêm nét con gái.
Nếu anh có máy hiển vi xem live blood test, thì có thể nhìn thấy các hồng/bạch huyết cầu, đếm từng tế bào, các parasites (run sán lải to nhỏ), các chất độc cũng như rác rưởi bơi lội trong toàn thân ta

                                                                 Nguồn  tredeponline

Thứ Sáu, 8 tháng 5, 2015

THIỀN VÀ KHOA HỌC

  Soeur Elaines McInnes là một vị nữ tu Thiên chúa Giáo, và cũng là một Thiền sư Phật giáo. Năm 1980, sau 15 tu học về thiền quán ở Tokyo, Bà có đuợc danh xưng là Zen Roshi – Thiền sư. Trong vòng 40 năm, Bà đã đem mùi vị của Thiền Quán rải khắp các nhà tù trên thế giới.
  Tác dụng của sự kiểm soát hơi thở và Stress
 1) Sự tương quan giữa Mind và Body :

Thế kỷ thứ XVII, René Descartes nhà toán học và triết học người Pháp, khẳng định thuyết nhị nguyên, tách rời thế giới tâm linh và thế giới vật chất, (mind – body dualisme) theo ông, Mind: tư tưởng, và Body: cơ thể, là hai cái entity không làm cùng 1 chất liệu. Này nhé: nếu bạn cầm dao cắt vào da thịt, máu sẽ tuôn trào, nhưng nếu bạn đưa bộ óc lên bàn mổ, thì ý tưởng không chảy ra theo vết cắt...vì vậy những gì xảy ra trong tư tưởng hoàn toàn biệt lập với những gì xảy ra trong cơ thể, nói cách khác đó là hai phần tử riêng biệt, không ảnh hưởng gì đến nhau. Nếu như Descartes còn sống đến ngày nay thì hẳn là ông đã thấy mình thật sự sai lầm...
 Tư tưởng và cơ thể con người là 2 bộ phận liên quan mật thiết, những tình cảm yêu ghét, giận hờn không thể cân đo đong đếm đó có thể dẫn đến những căn bệnh rất thực tế như nghẽn tim, loét bao tử, hay ngược lại những căn bệnh hiểm nghèo mà bác sĩ tưởng chừng phải bó tay bỗng nhiên thuyên giảm một cách kỳ diệu sau những cuộc hành hương. Và nữa, sức mạnh của thiền định – Meditation – là một sự thật không thể chối cãi. Sự kiện những vị thiền sư Tibet ngồi toạ thiền trong tuyết lạnh và sử dụng Hoả thân để làm nóng lớp chăn phủ trên người đã làm nao núng giới khoa học gia Tây phương.
  
Có một sự giải thích khoa học nào không cho những sự kiện tưởng như thuộc về một thế giới huyền bí của tâm linh đó? Hay chúng ta đành dễ dãi bằng lòng với cách xếp hạng chúng vào mục...Khoa học huyền bí, và phải kêu gọi đến...lòng tin - faith - để mà...gật gù: “Đã bảo là huyền bí rồi mà!”. Trước khi vận dụng đến “khả năng tin tưởng” của tâm linh, chúng ta hãy thử dùng con mắt khoa học để khảo sát về hiện tượng tương quan giữa Cơ thể (Body) và Ý tưởng (Mind) qua các chứng bệnh. (Trong phạm vi bài này Tiff chỉ xin bàn tới sự liên quan giữa Stress, các căn bệnh gây ra bởi Stress và ứng dụng của Thiền – Meditation – trong đòi sống hàng ngày).     




2) Sự liên quan giữa Stress và Bệnh:        
Tất cả chúng ta đều biết Stress gây ra rất nhiều bệnh. Cái list của những căn bệnh thời đại đó càng ngày càng dài ra tưởng như không bao giờ hết. Cái Stress cao độ (intense) và kéo dài (prolonged) làm yếu đi khả năng đề kháng của cơ thể (immunity defense), làm mệt mỏi trái tim, làm hư hoại những tế bào của não bộ (memory’s brain cell), làm tăng mỡ đọng ở eo và mông (một trong những risk factor của heart desease (nghẽn tim, infartus...), cancer và diabetese (đái đường). Stress cũng dự phần lớn vào những bệnh thoái hoá như polyarthritis rhumatoide – thoái hóa khớp xương), những bệnh tâm thần – depression, và góp phần làm cho các tế bào mau già.    
   
Các cơ cấu giữa Stress và Disease chỉ mới được hiểu khá tường tận từ khoảng đầu thập niên này (vào khoảng năm 1990, những bài học về Stress còn nằm trong phần Psychiatric mà không phải là phần Diagnosis – bệnh lâm sàng).      
3) Stress là gì?     
  
Trước hết ta hãy thử lược sơ qua, để hiểu rõ hơn Stress là gì? Stress là một trong những khả năng sinh tồn của loài ngươì. Nói khác đi Stress là một phản ứng tự vệ của cơ thể trước các nguy cơ. Stress là một phản xạ tự nhiên giúp con người đối phó với những bất trắc từ bên ngoài tác động. Khi gặp nguy hiểm – đối đầu với con sư tử chẳng hạn – cơ thể con người cần phải nhanh chóng sẵn sàng để “đương đầu” hay “chạy trốn” (fight or flight reponse).

Khi não bộ đánh hơi được một sự nguy hiểm, một tín hiệu được báo ngay cho:   

A- Adrenal glands (nằm trên chóp thận) để tiết ra hai loại hormones:    

- Adrenaline (epinephrine) và         
- Glucocorticoids & cortisol.   
  
B- Các tế bào thần kinh vùng Hypothalamus để tiết ra chất:  

- Nor-epinephrine. Các loại hormones này là những chất hóa học cực mạnh, có tác dụng làm cho: **
- Các giác quan nhạy bén hơn, các cơ bắp (muscle) săn chắc lên,  giảm thiểu khả năng tiêu hoá (tác dụng của nor–epinephirine). 

- Tim đập nhanh hơn, phổi: hô hấp nhanh hơn, chuẩn bị đưa oxygen tới các tế bào (t/d của epinephrine).

- Độ đường tăng trong máu để cung cấp nhiệt lượng cần thiết (cortisol).

- Nói tóm lại cơ thể chúng ta đang ở trong tư thế sẵn sàng tác chiến hay ….chạy trốn.    
Một khi Stress đã qua đi, (như trong ví dụ này, con sư tử đã đi...chỗ khác chơi) thì các hormones trở về trạng thái cũ. 

Thế nhưng trong xã hội ngày nay, Stress biến đổi hình thức, nó không còn đơn thuần là một con sư tử, nanh dài móng nhọn, mà nó thiên biến vạn hóa ra hàng triệu tình huống khác: một ông Boss khó tính,  một ông xã (hay bà xã) ưa cằn nhằn, một cuộc tình sóng gió, 3 tiếng đồng hồ kẹt xe trên xa lộ, 50 cm tuyết sáng thứ hai…v.v...Cái phản ứng “đánh”  hay “chạy”  (fight or flight) của cơ thể vẫn không thay đỗi nhưng cái Stress ngày nay đã khác với cái stress ngày xưa. Và không phải trong tình huống nào mình cũng có thể...Đánh hay Chửi được, mà phần nhiều là phải...chịu trận!!!. Vì vậy cơ thể con người gần như luôn luôn đầy ắp những thứ hormones này. Chính sự hiện diện lâu dài, ngày này qua ngày khác, và ở nồng độ cao (high concentration) của các stress hormones mà tạo ra các nguy cơ tác hại cho cơ thể: 
    
a- Tổn thương các mạch máu, đưa đến các bệnh về tim mạch (heart disease). 

b- Giảm khả năng đề kháng của cơ thể (immunity systeme), đưa đến cancer, bệnh nhiễm trùng (infectious disease).... 
c- Mất calcium trong xương gây ra osteoporosis ở phụ nữ lúc mãn kinh (menopausis).  
d- Làm tăng mỡ đọng ở eo và mông - heart disease.      
e- Diabetese, đái đường, mất trí nhớ…        
f- Cái liste của những tác hại vì Stress còn rất là daì, đó là chưa kể đến những căn bệnh thần kinh như depression, parkinson' disease, Alzheimer, stroke vv và vv…     


4) Thiền - Quán sổ tức, và Stress.  
  
Theo DR.Andrew Weil (University of Arizona) thì cách điều hoà hơi thở là cách thức hữu hiệu nhất để chống lại sự âu lo (anxiety) và Stress, và ngay đối với cả những thể loại nặng nhất của bệnh khủng hoảng thẩn kinh (panic disorder). Vì khi bạn chú tâm vào hơi thở, và thở sâu, chậm, yên lặng và đều đặn thì bạn không thể nào...stress, hay lo âu được. Bởi lẽ rất dễ hiểu là cơ thể bạn không thể nào cùng lúc lúc làm được những việc trái ngược nhau. Như chúng ta biết, ngược lại với Stress, sự điều hoà hơi thở sẽ làm cho tim đập chậm, giảm huyết áp, làm an tĩnh hệ thần kinh. Khi não bộ không nhận được tín hiệu nguy cơ nữa thì cơ thể trở lại với trạng thái điều hoà, các bộ phận điều tiết những Stress hormone không còn được kích thích cũng sẽ trở về trạng thái bình thường, và cơ thể bạn không nằm trong trạng thái chuẩn bị ứng chiến như ta đã thấy ở trên. Và như thế, bạn vừa..."shut down" những tác hại của Stress.   

Hiện nay những Bệnh viện lớn như Columbia Medical center ở New York city, những bệnh nhân trước khi giải phẫu Tim, đều được mời tham dự những buổi Thiền, Meditation. Ở những bệnh nhân có tham gia thiền quán, người ta nhận thấy ít lo âu trước khi mổ, ít mất máu trong khi mổ và hồi phục nhanh hơn sau khi mổ. 

Điều hòa hơi thở chỉ là một dạng thô thiển nhất của Thiền quán, cần nói thêm là Thiền không chỉ là sự điều hòa hơi thở nhưng nếu bạn biết áp dụng vào đời sống hàng ngày thì ít ra bạn cũng ngăn ngừa hay chặn đứng được những tác hại của Stress, tuy bạn chưa đi vào trạng thái Thiền định nhưng bạn cũng đã kiểm soát được mình qua sự điều tức. Khi kiểm soát được hơi thở của mình, cơ thể của bạn là của bạn. Có thể bạn chưa đạt được giải thoát hay Đốn ngộ với sự kiểm soát hơi thở, nhưng ít ra đời sống bạn cũng sẽ được thoải mái hơn và...ít bệnh tật hơn!!!  

Thứ Năm, 7 tháng 5, 2015

QUỲNH HƯƠNG


                                                  Trăng lên hoa nở khách đề thơ
                                                  Hương ngát hoa đời ý vẩn vơ
                                                  Trà nguội đêm tàn sương điểm lạnh
                                                  Say đời say mộng mãi còn mơ

                                                                                                                Minh Đạo - 2015