Chủ Nhật, 22 tháng 5, 2016

VỀ ĐÂU



                                                                         VỀ ĐÂU

Giữa muôn trùng biển khơi,
Trên chiếc thuyền bé nhỏ
Trôi dạt đến nhiều nơi,
Về đâu ta chẳng rõ.

Bên góc trời gian khó,
Chất chứa bao não phiền,
Chẳng tìm ra lối ngõ.
Cứ mãi sống cuồng điên.

Không chịu nghĩa tất nhiên,
Giữ tâm được lặng yên,
Soi đời qua quán tưởng,
Vượt bể khổ triền miên.

Chìm nổi trong vô minh,
Thì mãi chỉ thấy mình.
Lu mờ và khuất lấp.
Bồng bềnh chuyện tử sinh.

Cố giữ tâm an tĩnh,
Không giao động lung lay,
Nguyện cúi đầu cung thỉnh,
Pháp bảo gặp đời này.

Chú rùa gặp bộng cây,
Cố giữ khỏi chia tay
Dù muôn trùng sóng gió,
Kiếp sau còn gặp may!!!.

Nối nhau mãi trả vay
Lênh đênh suốt tháng ngày,
Nương pháp về chốn cũ
Tâm an giữa cõi này.

                              Minh Đạo



Thứ Bảy, 21 tháng 5, 2016

HỌC CÁCH BỎ BỚT ĐỂ TẬP TRUNG HƠN

               
                     
                                       


Ở một vùng quê nọ, có 2 cha con một nhà trồng hoa đang sinh sống trong một khu vườn rộng lớn. Người cha chăm chỉ, yêu lao động và được cả xã hội công nhận về thành công trong lĩnh vực trồng hoa. Còn người con có rất nhiều tài. Anh lớn lên trong vòng tay yêu thương và đầy đủ vật chất mà người cha ban cho. Anh đã học được nhiều nghề, làm được nhiều điều hay. Nhưng ở tuổi 35, anh vẫn là một người vô danh trong xã hội.

Anh luôn suy nghĩ về điều này, vẫn không thể hiểu tại sao mình làm nhiều điều hay mà đến giờ vẫn là người vô danh.

Học cách bỏ bớt để tập trung hơn
Người cha hiểu ý, liền đưa anh đến vườn hoa mà ông chuẩn bị thu hoạch. Ông chỉ vào cây bông hồng to nhất, đẹp nhất và rực rỡ nhất nằm giữa vườn cho cậu con trai và hỏi:
– Con có biết tại sao cây bông hồng kia lại to và đẹp rực rỡ hơn các cây khác không?
– Có phải vì cha mua giống mới không?
– Không phải, người cha đáp, tất cả đều chung một giống hoa con ạ.
– Thế có phải cha tưới cho nó nhiều nước và bón cho nó nhiều chất dinh dưỡng hơn không?
– Cũng không phải. Điều kiện chăm sóc và môi trường sinh trưởng của chúng đều như nhau.
– Vậy thì chắc là đất ở chỗ đó tốt hơn?
– Con lại sai nữa rồi. Đất cũng giống nhau.
Người con không biết trả lời sao nữa. Anh nghĩ mãi nhưng vẫn không thể giải thích nổi.
Lúc này, người cha mới ôn tồn bảo:
– Con có nhận thấy cây bông hồng này ít lá và ít nụ không?
– À đúng rồi. Nhưng có nghĩa là gì hả cha?
– Trong khu vườn này, chỉ duy nhất có cây bông này là ta thường xuyên nhìn tới. Khi thấy nhiều lá mọc quanh nó, ta tỉa bớt. Khi thấy nó có nhiều chồi, nhiều nụ đâm ra, ta cũng tỉa bớt.
Người con có vẻ hiểu ra điều gì đó, gật đầu liên tục. Người cha tiếp lời:
– Tất cả các cây hồng đều có điều kiện sống như nhau, nhưng cây này lại được đặc ân của ta là tỉa bớt cành, nụ và lá nên chất dinh dưỡng sẽ tập trung vào bông hoa, không bị phân tán đi nơi khác. Chính vì thế nó to hơn, đẹp hơn và rực rỡ hơn.
Trầm ngâm một lúc, ông lại tiếp:
Cũng như con, tuy con rất giỏi, rất nhiều tài, làm được rất nhiều việc nhưng vẫn giống như những người khác vì con thiếu tập trung, bị phân tán năng lượng và thời gian vào quá nhiều thứ. Con cần phải xác định mình sẽ trở thành người như thế nào trong 5 năm tới. Con đam mê gì nhất, điều gì khiến cho con trăn trở nhất, điều gì khiến con có thể sống chết với nó, không quản khó khăn? Lúc đó con sẽ là người thành công, con trai ạ.
Lúc này, người con đã hiểu ra vấn đề. Anh khóc rồi quỳ xuống hôn vào tay người cha và cảm ơn ông về câu chuyện đã giúp anh nhìn nhận cuộc đời tốt hơn.
Vậy đấy các bạn ạ. Ai cũng có nhiều mối quan tâm, nhiều sự lựa chọn trong cuộc sống và sự nghiệp. Nhưng nếu không biết cách bỏ bớt để tập trung cho điều mình mong muốn thì mãi mãi vẫn sẽ là người vô danh.

                                                                         Nguồn: trích internet


Thứ Ba, 17 tháng 5, 2016

KÍNH MỪNG PHẬT ĐẢN



                                                                              PHẬT ĐẢN 

                                                           Đón mừng Phật đản ngát trầm hương,
                                                           Thị hiện Như Lai giữa cõi thường.
                                                           Phước báu muôn đời soi khắp lối,
                                                           Cơ duyên vạn thuở rọi bao đường.
                                                           Gặp thầy tìm đạo xa màu mực,
                                                           Nương pháp theo bè tiến ánh dương.
                                                           Bát nhã đem đèn xin khấn nguyện,
                                                           Sông mê vượt thoát mọi tai ương.

                                                           Tai ương hoạn nạn chẳng làm ngơ,
                                                           Đắm đuối bao năm ngấn lệ mờ.
                                                           Ngộ lý chuyển tâm vươn tới đạo,
                                                           Tìm chân qui hướng tiến lên bờ.
                                                           Chúng sanh đau khổ Thầy khai hóa,(*)
                                                           Bồ tát từ bi con ngóng chờ.
                                                           Vạn ách trầm luân mong tế độ,
                                                           Đi về thường lạc khỏi bơ vơ.
                                                            (*)Deva manuṣyānāṃ śāstṛ : Thiên Nhân Sư, là Bậc thầy của cõi người và cõi trời.

                                                                                                    Minh Đạo

Chủ Nhật, 15 tháng 5, 2016

Ý NIỆM CÔNG ĐỨC TẮM PHẬT TRONG ĐẠI LỄ PHẬT ĐẢN


Lễ Tắm Phật như cam lộ tưới mát, công đức vô lượng khó có thể nghĩ bàn. Trong Kinh Dục Phật Công Đức có chép: "...Đức Phật còn dạy rằng, nhờ việc tắm tượng như thế, chúng sanh trong hiện đời được nhiều phước báu thù thắng, sở nguyện thành tựu, quyến thuộc được an ổn, mau thành chánh giác."

Đại Lễ Phật Đản từ ngàn xưa cho đến bây giờ, đối với tất cả mọi người con Phật trên khắp năm châu bốn biển, từ thành thị đến thôn quê, từ miền núi đến đồng bằng, từ đất liền đến hải đảo, cứ mỗi độ lễ Phật Đản trở về mọi người ai nấy bổng thấy trong lòng cảm giác hân hoan cứ như dâng trào, niềm vui chờ đón cứ muốn tràn đầy như một dòng nước lâu ngày bị bờ đê ngăn chận, đây là ý nghĩa của của công đức hình ảnh chín rồng phung nước tắm Phật.


Phật Đản lại về, cuối xuân đầu hạ, cây đủ lá xanh tràn trề sức sống, hoa sen rộ nở đóa đóa diệu hồng, trắng mát, tỏa hương khoe sắc, như đón bậc vĩ nhân, từng đợt gió mang theo hơi nước của mưa xuân, cả thế gian như đắm chìm trong tươi mát, đất mẹ nhận những giọt cam lộ làm thấm nhuận đại địa đang xuân, sức sống tràn trề, tương lai tươi sáng, đây là ý nghĩa của những giọt nước từ cửu long phúng thủy tắm Phật sơ sinh.

Phật Đản lại về người người con Phật, nô nức thi đua trổ tài làm cho Phật đài trang nghiêm tráng lệ hơn nữa, xe hoa kiệu Phật thêm màu sắc mới, nghệ thuật treo đèn kết hoa thắm màu rực rỡ, mọi thứ đều hoàn mỹ tốt đẹp, không khác cung Tỳ La thuở trước, kém gì vườn Tỳ Ni ban xưa, tất cả đều là mới, tất cả đều là vui mừng cho nên gọi là Đản sanh, là công đức của những giọt nước của chín rồng phúng thủy ngày xưa, khi tắm cho Đức Phật sơ sinh vì muốn Ngài đem niềm tin mới và chân lý sáng ngời đến cho nhân loại.

Phật Đản lại về làm cho tâm của tất cả mọi người như bừng tỉnh lại, thấy được quá khứ của một năm, nhìn được lỗi lầm của mấy tháng, làm được gì, hay chưa làm được, đủ quyết tâm chưa hay chỉ đại khái thôi? đem niềm vui đến được bao người, gây khổ não cho mấy nhiêu kẻ khác, cảm thấy tự mình chưa đủ quyết tâm học Phật, cho nên lại thêm một lần nữa tắm Phật để nguyện cầu tin tấn thêm lên. Vì vậy những giọt của rồng tắm cho Phật lại một lần nữa thấm nhuận tâm điền của người biết nhìn ra lầm lỗi và tự mình biết hổ thẹn, tàm quý để sửa sai, Phật dạy đây là loại người có khả năng chóng thành Phật nhất, công đức của nước tắm Phật vì khiến người biết tàm quý ăn năn.

Phật Đản trở về, mọi người lại thành kính tác lễ tắm Phật hơn hai nghìn năm vẫn như vậy nao nức, suốt bao nhiêu lần cải triều, thay chúa vẫn một mực thăng hoa, xã hội loại người từ chế độ phong kiến đến kỷ nguyên khoa học hiện đại vẫn hết lòng cung kính học theo, vì lẽ gì? chỉ có một điều duy nhất, Phật là bậc đã giác ngộ, giáo pháp của Ngài là chân lý, con đường của Ngài là điểm đến của an lạc và giải thoát, vì tin như vậy nên chín rồng mới phúng nước cúng Phật, tắm cho Ngài là thể hiện chân thành và kính tin nhất đối với bậc Đại Giác, vì vậy đây là những giọt nước của niềm tin thanh tịnh, đủ công đức để làm trổi dậy chánh tín thanh tịnh của tất cả mọi người, đây gọi là công đức của cam lộ thánh thủy tắm Đức Như Lai vậy.

Phật Đản trở về, nhìn hình tượng sơ sanh của Đức Đại Giác, đủ tướng ngây thơ chân chất, cụ hình chính trực quang minh, trần lao không có chút bợn nhơ, phiền não không một hạt đeo dín, chiêm ngưỡng sơ sanh Phật tướng, hướng tâm mình về chốn tịnh minh, thấu suốt não phiền thế gian, đã hay; nên sửa tâm ta ngay thẳng, chỉ có tâm chánh mới thoát khỏi não phiền, chỉ có lòng chân thật mới được người tôn kính, gia đình hạnh phúc, xã hội bình yên đều có nguồn gốc từ tâm thanh tịnh. Đây là nhơn duyên thứ nhất để tâm về với Phật, là công đức vô lượng của Phật tướng nên rồng phung nước tắm gội Thế Tôn, nay con tắm Phật cũng nguyện được đắc tâm như vậy, vì thế nên gọi đây là công đức của giọt nước tắm Phật thân.

Mùa Phật Đản ai cũng một niềm nao nức đến chùa dự lễ tắm Phật, cùng thầy lành bạn quý kết thêm duyên, thầy lành là duyên quý, vì từ nơi thầy con học được đức từ bi hỷ xã, từ nơi thầy con được hành hạnh tri túc thường lạc, vì thầy dạy cho con pháp lành của chư Phật, nên thầy lành khó gặp là ý như vậy. Bạn quý, vì gặp nhau không khởi tâm phiền não, gặp nhau không có lời thị phi, cùng nhau học Phật, cùng nhau tu trì, cùng nhau phát tâm đồng tu cho đến ngày thành Phật đây là bạn quý vậy.
Cho nên "nhất Phật xuất thế thiên Phật hộ trì" một Đức Phật ra đời thì có ngàn chư Phật đến để hộ trì, và ngày Phật ra đời cũng chính là ngày mà mười phương chư Phật đến hộ trì và chúng con là những vị Phật trong tương lai nhân ngày Phật Đản Sanh phát tâm học Phật, chúng con tin chắc rằng những giọt nước của rồng tắm Phật trong đó cũng có phần của con, vì rằng trong những giọt nước có chứa công đức "Bất thối Bồ tát vi bạn lữ" luôn đồng hành cùng vói những Đức Phật trong tương lai, đây là công đức của tắm Phật vậy.

Lễ Phật Đản không ai nhắc ai mà hầu như tất cả mọi người nếu có tâm lành, thì điều nghĩ đến phải làm một việc thiện nào đó, trong mùa Phật Đản, như ăn chay để tạo phước, giúp đỡ một ai đó để nói lên hạnh từ, từ lời nói cho đến hành động như có một năng lực huyền diệu, khiến cho mọi người như tỉnh giác hơn, sống an lạc hơn, đây là công đức sống trong an lạc của Đức Phật, vì Ngài ra đời cũng vì nhân duyên đó, cho nên khi Ngài ra đời thiên long cảm được an lạc nên hoan hỷ phát tâm tắm Phật, và công đức này vẫn hằng diệu cho đến ngày nay.

Nói sao cho hết công đức của Phật, trong kinh thường dạy "công đức của Phật không thể nghĩ bàn". Trong Kinh Dục Phật Công Đức có chép về tắm phật có 15 công đức: "... Những ai chí tâm cúng dường như thế sẽ có được mười lăm công đức thù thắng sau: 1. Thường biết tàm quý; 2. Phát khởi niềm tin thanh tịnh; 3. Tâm ngay thẳng; 4. Được gần gũi bạn lành; 5: Chứng huệ vô lậu; 6. Thường gặp chư Phật; 7. Luôn hành trì chánh pháp; 8. Làm đúng với lời nói; 9. Tuỳ ý sanh vào quốc độ chư Phật; 10. Nếu sanh trong nhân gian thì sanh vào dòng họ tôn quý, được người khác tôn kính, khởi tâm hoan hỷ; 11. Nếu sanh trong nhân gian thì tự nhiên biết niệm Phật; 12. Không bị ma quân gây tổn hại; 13. hay hộ trì chánh pháp trong thời mạt pháp; 14. Được chư Phật trong mười phương gia hộ; 15. Mau thành tựu được năm phần Pháp thân."
Phật Đản dấu ấn của Phật thường trụ tại thế, ánh sáng của Chánh Pháp lan rộng khắp nơi nơi, Tăng già Đạo Phật như càng thêm nguyện lực, tín chúng bổn đạo như thêm trọn niềm vui, trong công đức của Chư Phật. lại một mùa Đản Sanh hòa hợp an lạc, thanh tịnh, thái bình.
                                                                                                     Theo Hoavouu.com


Thứ Bảy, 14 tháng 5, 2016

KÍNH MỪNG PHẬT ĐẢN

                                                                                       
                                                                                               


                                                                            KÍNH MỪNG PHẬT ĐẢN

                                    Kính mừng Phật Đản đến năm nay,
                                    Quì gối dâng hương dạ tỏ bày.
                                    Mưa pháp thấm nhuần mang ý diệu,
                                    Dòng thiền lưu chảy nhận duyên may.
                                    Nương theo vầng tuệ từ bi chuyển,
                                    Qui hướng câu kinh nghiệp chướng thay.
                                    Bát Nhã sáng soi bờ giải thoát,
                                    Ân sâu nguyện lớn giữa đời này.

                                                                          Minh Đạo

Thứ Năm, 12 tháng 5, 2016

NHỮNG SUY NGẪM VỀ VIỆC THỜ PHẬT

 

 

Hiện nay, có nhiều gia đình hướng đến việc thờ Phật tại gia. Tuy nhiên nhiều người lúng túng và băn khoăn không biết tiêu chuẩn nào được phép thờ Phật? Thờ thế nào là đúng?
Tất cả những ai tìm Phật ở ngoài cũng như người đi tìm “lông rùa, sừng thỏ”, chỉ khi nhận diện được các bản tánh của mình thì mới tin rằng: “Tâm tức là Phật” và bản tánh của mình đầy đủ tất cả, xưa nay vẫn thanh tịnh. Nhưng vì bị vẩn đục bởi những tham sân si, ô nhiễm bởi những ý tưởng, vọng niệm cho nên như mặt trời bị áng mây che lấp không làm sao sáng tỏ được.
Hiện nay, có nhiều gia đình hướng đến việc thờ Phật tại gia. Tuy nhiên nhiều người lúng túng và băn khoăn không biết tiêu chuẩn nào được phép thờ Phật? Thờ thế nào là đúng?
Đã có nhiều bạn gặp và kể với tôi sau khi đến xem về việc lập ban thờ Phậttừ tư vấn của thầy cúng thì thấy việc thờ tự rất khó khăn. Trước hết, gia đình đó phải là phật tử nhiều đời, nhà phải đủ rộng và ánh sáng để lập ban thờ. Người đứng ra lập ban thờ phải giữ đủ năm giới và rất nhiều những tiêu chuẩn khác nữa….
Thú thật, số người có thể đáp ứng đủ những tiêu chuẩn “vàng” kia chắc chỉ đếm được trên đầu ngón tay. Vì ngay từ thời đức Phật còn tại thế, cũng chưa có quy định nào nói về việc muốn thờ Phật phải giữ đủ tất cả những giới như trên. Có chăng đây chỉ là suy luận của người phàm tục mà thôi.
Có lẽ, xuất hiện cách hiểu sai lệch như vậy là do hoằng pháp của Phật giáo kém và bị hoàn cảnh chi phối. Chúng ta biết đến đạo Phật với tư cách là tín ngưỡng chứ không phải là một tôn giáo, thiếu chính kiến và trí tuệ trước những sự việc xảy ra trong cuộc sống.
Chính vì lẽ đó nên chúng ta thường lo sợ trước những lời phán dọa từ người khác. Nhìn chung, việc tiếp cận đạo Phật của người Việt nhiều đời nay mới chỉ ở bề nổi mà chưa chú trọng ở bề sâu.
Chúng ta nên nhớ thờ Phật chỉ là biểu tượng, nghi thức chứ không nên trọng hình thức. Đây chỉ là phương tiện, là cách thức để chúng ta nhắc nhở tâm mình hướng tới Phật.
Dù chúng ta có lập ban thờ đẹp đến nhường nào đi chăng nữa mà không chuyên cần tu học, đoạn ác tu thiện thì tất cả cũng đều vô ích. Đức Phật chưa bao giờ bắt chúng sinh phải lập ban thờ to với những lễ vật đắt tiền, cầu kì. Vậy mà chúng sinh vô minh luôn nghĩ nếu làm vậy thì Phật sẽ chứng tâm cho ta. Và những điều ta mong cầu đều thành tựu.
Dường như chúng ta đang đem đời áp đặt cho đạo, lấy cái tầm thường để phủ đậy lên trên trí tuệ. Chúng ta luôn nghĩ ở những bức tượng, bức ảnh kia mới có Phật mà quên mất Phật ngay tại tâm ta. Các vị Tổ sư đã từng dạy:“Tâm như nước. Phật như trăng. Nước yên, trăng hiện.”
Tất cả những ai tìm Phật ở ngoài cũng như người đi tìm “lông rùa, sừng thỏ”. Chỉ khi nhận diện được các bản tánh của mình thì mới tin rằng: “Tâm tức là Phật” và bản tánh của mình đầy đủ tất cả, xưa nay vẫn thanh tịnh. Nhưng vì bị vẩn đục bởi những tham sân si, ô nhiễm bởi những ý tưởng, vọng niệm cho nên như mặt trời bị áng mây che lấp không làm sao sáng tỏ được.
Xét cho cùng, khi một người Phật tử thành khẩn lễ lạy trước bàn thờ Phật, thắp hương, tụng kinh theo hồi chuông tiếng mõ thì thật ra người đó đang thành khẩn lễ lạy những vị Phật, Bồ Tát trong chính mình.
Khi niệm danh hiệu Đức Phật là chúng ta đang tưởng nhớ tới vị thầy đã chỉ dẫn cho nhân loại con đường giác ngộ. Đồng thời hướng vào trong chiều sâu tâm thức để kêu gọi Phật tánh. Khi niệm danh hiệu đức Bồ Tát Quán Thế Âm chính là lúc chúng ta khơi dậy lòng từ bi trong tâm và phát hạnh nguyện lắng nghe những đau khổ của thế gian.
Phật vốn không ở trong những bức tượng, những ngôi xá lợi. Phật không nghe thấy những lời cầu xin, không nhìn thấy những lễ lạy, không cần đến những cây nhang, cây hoa cắm trên ban thờ. Bởi vì Phật chính ở trong tâm ta. Thiên đàng hay địa ngục, luân hồi hay Niết Bàn, cõi Ta Bà hay thế giới Tây Phương Cực lạc cũng là tại tâm.
Nói như vậy, không có nghĩa là ta phải bác bỏ mọi nghi lễ, tụng niệm hay coi thường sự thành khẩn. Lòng tin, sự thành khẩn trong đạo Phật là những sức mạnh vô cùng mãnh liệt. Nó có khả năng giúp đỡ rất nhiều cho người Phật tử, nhất là trong những giờ phút khó khăn. Nhưng lòng tin trong đạo Phật không phải là đức tin không bờ bến, đức tin không điều kiện của những tôn giáo thần khải.
Đó là sự tin tưởng nơi những người đi trước, nơi những vị thầy dẫn dắt cho ta, cho tới khi chính ta thực nghiệm được con đường chỉ dẫn. Dần dần, sự tin tưởng tạm thời đó sẽ được thay thế bằng sự tin tưởng vững chắc mang lại bởi kinh nghiệm bản thân.
Như vậy, người tu Phật phải hiểu rằng mỗi khi mình lễ lạy, tụng niệm hay lập ban thờ Phật là mình đang hướng về những sức mạnh tâm linh bên trong. Chứ không phải là những quyền lực huyền bí bên ngoài. Và nếu sức mạnh mình cầu khẩn tưởng là bên ngoài nhưng kỳ thật là sức mạnh bên trong thì tự lực và tha lực trong thực tế liệu còn gì khác nhau?
Chính vì lẽ đó nên chúng ta cần trưởng dưỡng cây Bồ Đề trong thân tâm. Dòng tâm thức sẽ tiếp tục dẫn ta theo con đường đã huân tập. Thờ Phật là cách giúp tâm hồn ta thanh lọc và trong sạch hơn. Bất kể tôn giáo, giới tính, xuất thân nào cũng đều có thể thờ Phật.
Tùy theo hoàn cảnh gia đình mỗi người sẽ có ban thờ Phật thích hợp. Nếu không có đủ điều kiện để mua hoa quả, hương trầm, lư đồng thì cũng không sao cả. Chúng ta đừng nên nghĩ nếu không đủ những lễ vật ấy là bất kính với Phật. Đây thật sự là suy nghĩ sai lầm.
Phật chứng tâm chứ không chứng quả. Chỉ cần có tâm thành kính thì chỉ cần một bát nước trong dâng lên cúng dường Chư Phật là đủ. Lễ bạc nhưng lòng thành chính là vậy. Thờ Phật qua tranh ảnh hay tượng Phật cũng đều đúng. Vạn sự tùy duyên. Bởi vậy, chúng ta đừng nên xét nét hay ép buộc bản thân phải làm theo những lễ nghi cầu kì, phô trương và tốn kém.
Nếu tất cả mọi người đều thờ Phật, nhà nhà đều thờ Phật thì cuộc sống này sẽ thật sự tốt đẹp và yên bình. Và trong tương lai không xa, không phải chúng ta sẽ thành Phật hay sao?
“Ta là Phật đã thành, các ngươi là Phật sẽ thành”
Theo Phật giáo Việt Nam

Thứ Tư, 11 tháng 5, 2016

DUYÊN NGHIỆP

                                                                     
               



                                                                                DUYÊN NGHIỆP 

                                                                 Duyên nghiệp theo nhau nối tháng ngày,
                                                                 Tròn tu liễu pháp vực tâm lay.
                                                                 Gieo nhân vạn thuở đang chờ chực,
                                                                 Gặt quả bao đời sẽ trả vay.
                                                                 Phiền não ươm mầm sinh cõi mộng,
                                                                 Si mê che lấp hiện cơn say.
                                                                 Đem đường cầu đạo tìm bờ giác,
                                                                 Tuệ nhật nguồn chơn nguyện mở bày .

                                                                                                             Minh Đạo


TRÍ TUỆ TRONG ĐẠO PHẬT

                   
                                       


Người ta thường nói đạo Phật là đạo của từ bi và trí tuệ.
Đối với nhiều người Phật tử, từ bi là quan trọng hơn cả, và nếu không có từ bi thì không có đạo Phật. Đạo Phật là con đường diệt khổ, vậy thì từ là đem vui, bi là cứu khổ, còn gì đúng hơn nữa khi nói đạo Phật là đạo của từ bi ?
Nhưng người ta cũng có thể tự hỏi : có thể nào thâu gồm lại đạo Phật trong hai chữ từ bi ? Liệu từ bi có đủ để định nghĩa đạo Phật, để phân biệt đạo Phật với các tôn giáo và triết thuyết khác ? Nói một cách khác, có thể nào xem từ binhư là một đặc điểm của đạo Phật ?
Nhìn chung quanh, chúng ta thấy đạo giáo nào cũng chủ trương tình thương bao la, rộng lớn, như lòng bác ái của đức Ky Tô, thuyết kiêm ái của Mặc tử. Nhưng chỉ có đạo Phật mới nổi bật lên bằng sự đề cao trí tuệ. Có thể nói rằng trong suốt lịch sử tư tưởng nhân loại, không có một tôn giáo nào đặt trọng tâm vào vai trò của trí tuệ hơn là đạo Phật. Bởi vìBuddha (Phật) phát xuất từ chữ Phạn bud, có nghĩa là hiểu biết. Đức Phật là người đã hiểu biết trọn vẹn, đã tỉnh thức, đã giác ngộ, là người có trí tuệ vẹn toàn.
Như vậy có thể nói rằng trí tuệ mới chính thực là đặc điểm, là nền tảng, là cốt tủy của đạo Phật.
Trí tuệ là gì ?
Trước hết, chúng ta phải hiểu rõ trí tuệ trong đạo Phật là gì, bởi vì trí tuệ có một ý nghĩa rất đặc biệt trong đạo Phật. Trí tuệ trong đạo Phật phải được phân biệt với quan niệm thông thường về trí tuệ.
Theo nghĩa thông thườngtrí tuệ là kết quả của hoạt động trí thức (intellect), dựa lên lý trí (raison), dùng đến lý luận, khái niệm, ngôn từ, và chủ yếu gồm những sự hiểu biết, những kiến thức đã được gom góp lại.
Trong đạo Phậttrí tuệ cũng được gọi là trí huệ, bởi vì cùng một chữ Hán có thể đọc là huệ hay là tuệ. Người Hoa thường đọc là huệ (tiếng quan hỏa đọc là "huậy"), trong khi người Việt hay dùng chữ tuệ hơn, với đa số những chữ ghép thuộc danh từ nhà Phật, như tuệ căn, tuệ giác, tuệ kiếm, tuệ lực, tuệ nhãn, tuệ tâm, tuệ tánh... Tiếng Pali là pañña, tiếng Phạn là prajñâ, và khi phiên âm sang tiếng Hoa thì trở thành Bát Nhã (chữ ñ đọc như là nh của tiếng Việt).
Triết lý Ấn Độ cổ xưa có 3 danh từ để chỉ định sự hiểu biết : ñâna (p) / jñâna (s)viññâna (p) / vijñâna (s) và pañña(p) / prajñâ (s).
Ñâna thường chỉ định sự hiểu biết thông thường, theo nghĩa rộng của nó. Trong một số kinh điển, người ta cũng gặp chữ ñâna dùng theo nghĩa pañña.
Viññâna là sự hiểu biết dựa lên lý trí, dùng phương pháp suy luận và phân tích.
- Trong khi đó, pañña là trí huệ thâm sâu, sự hiểu biết toàn diện, có tính chất trực giác, không dựa lên lý luận, khái niệm, ngôn từ, mà vượt khỏi ngôn từ. Tiếng Pháp thường dịch là sagesseconnaissance profonde, transcendantale, hay cognition intégrale, nhưng những chữ đó vẫn chỉ diễn tả được một phần nào cái không thể diễn tả được.
Chính vì khó dịch cho nên tại các nước Á châu, người ta thường giữ nguyên phiên âm chữ Phạn, Bát Nhã trí huệ (Hoa) hay hannya-chie (Nhật) để chỉ định trí tuệ trong đạo Phật.
Trí tuệ Bát Nhã và trí tuệ thông thường, như khoa học chẳng hạn, còn khác nhau ở nơi đối tượng của sự hiểu biết. Như đức Phật đã nói rõ trong bài bài thuyết pháp "lá trong rừng Sinsapa", sự giảng dậy của ngài chỉ nhằm vào con đường giải thoát, là điều cấp bách và thiết thực nhất. Nếu so sánh khoa học và đạo Phật với những tia sáng, thì chúng ta có thể ví khoa học với ánh sáng tỏa khắp nơi, và đạo Phật với một tia laser tụ hết cả năng lực vào một điểm, tức là diệt khổ.
Trong đạo Phật còn một danh từ nữa gần với huệ là giác (bodhi, phiên âm là Bồ đề)Giác là thức tỉnh, đối lại với ngủ mê. Vì vậy trong nghi thức tụng niệm, chúng ta thường gặp câu "... xa bể khổ nguồn mê, chóng quay về bờ giác". Và trong đạo Phật, giác ngộ và tuệ giác là mục đích của người tu Phật, đi theo gót của đức Phật Thích Ca, là vị "Chánh đẳng chánh giác"(samma-sambuddha), là người đã giác ngộ hoàn toàn.
Trí tuệ trong đạo Phật Nguyên thủy
Vai trò của trí tuệ trong đạo Phật nguồn gốc (primitif) và đạo Phật Nguyên thủy (Theravada) rất rõ ràng, sáng sủa : trí tuệ là phương tiện duy nhất đưa tới giác ngộ, và giải thoát khỏi khổ đau. Bài "Trí tuệ trong đạo Phật" của HT Thích Minh Châu (trong site Internet Buddhasasana) đã trình bầy một cách minh triết và   đầy đủ về vấn đề này. Tôi chỉ xin nhắc lại một vài điều căn bản trong giáo lý của đạo Phật Nguyên thủy.
Nếu chúng ta lấy " vòng mười hai nhân duyên " (paticca-samuppâda) mà xét lại, thì chúng ta sẽ thấy đầu mối của sự khổ đau, của sự đọa đầy trong vòng trầm luân của con người chính là vô minh (avijjâ). Vì vô minh là đầu mối của vấn đề, cho nên trí tuệ chính là giải đáp của vấn đề.
Trong " con đường chánh tám nẻo " (atthangika-magga), chánh kiến (sammâ-ditthi) và chánh tư duy (sammâ-sankappa) là hai nẻo thuộc về huệ (pañña), là giai đoạn cuối cùng, quan trọng nhất của sự tu tập (trong khi chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng thuộc về giớisila, và chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định thuộc về địnhsamâdhi). Dĩ nhiên sự tu tập theo đạo Phật không thể phân chia ra thành từng giai đoạn rõ rệt như vậy, và tám nẻo của con đường đó phải được đi đều với nhau, nhưng chúng ta cũng có thể nhận thấy trong sự phân chia đó môt trình tự phù hợp với những gì xẩy ra trong tâm lý con người. Phải nhiếp được thân khẩu ý (giới), thì mới tinh tấn, niệm và định tâm được(định), và như vậy thì mới hiểu   và nhìn rõ được sự thật (huệ).
Trong kinh Pháp Cú (Dhammapada), là một trong những kinh cổ xưa nhất của đạo Phật, có một phẩm nói về " người ngu và kẻ trí ". Ngu phải hiểu ở đây không phải là sự ngu dốt, đần độn, kém thông minh, thiếu kiến thức, mà phải hiểu như sự mê muội, đắm chìm trong những đam mê, ảo tưởng của cuộc đời. Trí, như đã nói trên, không phải là sự thông minh, uyên bác, mà là sự hiểu biết sâu xa, trọn vẹn, về con đường chánh, đưa tới an lạc và hạnh phúc. HT Minh Châu có lấy thí dụ một người có rất nhiều kiến thức về rượu, biết rõ những chất liệu của rượu, những tác động của rượu trên cơ thể, nhưng vẫn uống nhiều rượu, vẫn say và nghiện rượu, vẫn bị rượu chi phối. Như vậy thì người ấy có trí thức chứ không có trí tuệ về rượu, người đó là người ngu. Trái lại, một người hiểu biết về rượu, nhưng cũng biết rõ sự nguy hại của rượu, không uống rượu say, không nghiện rượu, vượt ra khỏi sự chi phối của rượu. Như vậy người ấy mới thật là có trí tuệ về rượu, người ấy mới là kẻ trí.
Nói tóm lại, trí tuệ trong đạo Phật Nguyên thủy có mặt trong suốt tất cả giáo lý căn bản của đạo Phật : " bốn sự thật, con đường tám nẻo, ba pháp ấn, lý nhân duyên "... và đóng một vai trò chủ chốt trên con đường đưa tới giải thoát và giác ngộ. Trí tuệ có nghĩa là hiểu biết trọn vẹn và hành trì theo Chánh Pháp, để phá bỏ màn vô minh và nhận chân sự thật.
Trí tuệ trong đạo Phật Đại thừa
Trí tuệ chính là sợi giây nối liền đạo Phật nguồn gốc, đạo Phật Nguyên thủy và đạo Phật Đại thừa (Mahâyâna). Người ta thường gọi Trưởng Lão Bộ (Sthaviravada), tiền thân của đạo Phật Nguyên thủy (Theravada), là "Cổ phái Trí tuệ"(Ancienne Ecole de Sagesse), và gọi phái Trung Quán (Mâdhyamaka) của Đại thừa là "Tân phái Trí tuệ"(Nouvelle Ecole de Sagesse).
Thật ra, như chúng ta được biết, trong lịch sử phát triển của đạo Phật, các trường phái Đại thừa phân chia ra làm hai khuynh hướng : một bên là trí tuệ và một bên là đức tin.
Tiêu biểu nhất cho trí tuệ là hệ thống Bát Nhã, dựa lên bộ kinh đồ sộ Bát Nhã Ba La Mật Đa ( Prajñâpâramitâ-sûtra),(toàn   bộ in ra được 600 quyển!), với hai bài kinh quan trọng nhất là Đại Bát Nhã Tâm Kinh (Mahâprajñâpâramitâ-hrdaya-sûtra) và Kinh Kim Cương (Vajrachchedika-prajñâpâramitâ-sûtra). Tinh thần Bát Nhã được triển khai bởi ngài Long Thụ (Nâgârjuna), cầm đầu phái Trung Quán (Mâdhyamaka), nhà luận sư nổi tiếng đã chứng minh một cách sắc bén rằng sự thật không thể nào hiểu thấu được bằng lý luận. Theo ngài, trí tuệ là con đường khó, mà đức tin là con đường dễ. Ngài giảng muốn hiểu giáo lý của đức Phật thì phải hiểu hai mức độ, hay đúng hơn hai kích thước của sự thật, sự thật tương đối (samvriti-satya) và sự thật tuyệt đối(paramartha-satya). Và sự thật tuyệt đối là tánh Không(sûnyatâ), là cái không thể nghĩ bàn, không thể nắm bắt bằng những khả năng thông thường của trí tuệ, mà chỉ có thấu hiểu được bằng trực giác, bằng thực nghiệm.
Bài Đại Bát Nhã Tâm Kinh, tuy chỉ có 260 chữ, nhưng chứa đựng được tất cả cốt tủy của tinh thần Bát Nhã. Pâramitâcó nghĩa là vượt qua. Người ta có thể hiểu theo nghĩa vượt qua bên kia bờ, bên này là vô minh phiền não, bên kia là giác ngộ giải thoát, và trí tuệ Bát Nhã là con thuyền chở con người qua bên kia bờ sông. Nhưng đọc và thấm cả bài kinh, chúng ta mới thấy rằng trí tuệ theo tinh thần Bát Nhã rất là đặc biệt, có thể gọi là siêu việt. Trong bài kinh có câu " vô trí diệc vô đắc ", nghĩa là không có trí tuệ mà cũng không có chứng đắc. Sau khi khẳng định rằng " không có sắc, thọ, tưởng, hành, thức, không có mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý, không có sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp ", thì kinh nói rằng " không có vô minh, cũng không có hết vô minh, không có già chết, cũng không có hết già chết, không có khổ, tập, diệt, đạo, không có trí tuệ, cũng không có chứng đắc ", tức là tất cả những gì đã học trong giáo lý căn bản của đức Phật đều không có thật, đều là những chân lý tương đối, tạm bợ... Bởi vì tướng Không của các pháp là không sanh không diệt, không dơ không sạch, không thêm không bớt, không một không hai. Thấu được lẽ Không của các pháp, của mọi sự vật, mới là trí tuệ thực sự, vượt qua cả trí tuệ (au-delà de la sagesse). Đó mới là ý nghĩa của kinh Bát Nhã siêu việt, tức là Prajñâpâramitâ-sûtrâ, bộ kinh căn bản của Đại thừa.
Trí tuệ trong Thiền tông
Tinh thần Bát Nhã được tiếp nối trong Thiền tông Trung Hoa, từ vị sơ tổ Bồ Đề Đạt Ma (Bodhidharma) từ Ấn Độ qua vào thế kỷ thứ 6. Người ta thường gán cho ngài Bồ Đề Đạt Ma 4 câu thu gọn lại tôn chỉ của Thiền, là " Giáo ngoại biệt truyền, Bất lập văn tự, Trực chỉ nhân tâm, Kiến tánh thành Phật ". Nhưng thật ra, theo các nhà Phật học, thì lục tổ Huệ Năng mới là tác giả của tôn chỉ này. Và điểm quan trọng là ngài đã đánh dấu một khúc ngoặt, đã làm một cuộc cách mạng trong Thiền tông bằng cách thay thế quan niệm " khán tâm " bằng quan niệm " kiến tánh ".
Theo ông Daisetz Suzuki, hai chữ " khán " và " kiến " đều có nghĩa là " nhìn ", song chữ " khán " có chữ " thủ " trên chữ " mục ", như bàn tay để trên mắt để che ánh sáng, với ý nghĩa " cố gắng nhìn " (hay là " nhòm, soi ", (regarder, scruter), trong khi đó " kiến " chỉ có chữ " mục " trên đôi chân, tức là " thấy ", một cách tự nhiên, không cố gắng (voir). Như vậy, quan niệm cổ điển của Thiền là " khán tâm ", cố gắng nhìn vào cái tâm của mình, soi cái tâm của mình, trong khi đó ngài Huệ Năng chủ trương " kiến tánh ", nhìn thấy cái tánh, cái Phật tánh trong mình, một cách tự nhiên và hồn nhiên, không cố gắng.
Từ đó, cái nhìn của Thiền về trí tuệ trở nên vô cùng đơn giản : " mây tan thì trăng hiện ". Không cần phải mài viên gạch để mong nó trở thành tấm gương, không cần phải tự hỏi cây phướn động hay gió động. Chẳng nên phân tách, đắn đo, suy nghĩ, bởi vì chỉ cần một niệm dấy lên là bị sương mù cuốn đi xa ngàn dặm. Bởi vậy cho nên giác ngộ có thể tới từ một tiếng hét, từ một viên đá văng vào một khúc gỗ, một mảnh tượng Phật bùng cháy... Phật chính là tuệ giác, là ở trong tâm mình chứ không đâu xa lạ. Tìm trí tuệ ở đâu khác cũng là "ôm cây đợi thỏ" hay "khắc thuyền tìm kiếm".
Thiền cũng ở trong đường hướng chung của Bát Nhã, không chấp trước, không phân biệt, không mong cầu, không trụ vào đâu. Chính " ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm " là câu trong kinh Kim Cương đã đả khai trí tuệ cho Lục tổ Huệ Năng và vua Trần Thái Tông.
Con đường phát triển trí tuệ
Làm thế nào để phát triển trí tuệ ? Đó là câu hỏi chung của những người tu học Phật.
- Đối với người mới học Phật thì đạo Phật có vẻ phức tạp, với nhiều môn phái, kinh điển, không biết nên theo ai, bắt đầu bằng gì. Với niềm lo âu là nhỡ lầm thầy, lẫn sách thì có thể sai đường, mất thời giờ hay có khi có hại.
- Đối với người đã lâu năm tu học Phật, thì nhiều khi thấy rằng mình tuy đã có khá nhiều hành lý về giáo lý, nhưng vẫn dậm chân tại chỗ, và thực tế mà nói vẫn chưa tiến được bao nhiêu (đôi khi có lẽ vì hành lý nặng quá!).
Đạo Phật là một con đường thực nghiệm. Mỗi người tự rút ra những kinh nghiệm cá nhân, chỉ có giá trị cho chính mình. Nhưng dẫu sao, từ nhiều kinh nghiệm cá nhân, chúng ta cũng có thể rút ra một số bài học chung :
1. Những lịch trình tu học Phật thường được theo từ xưa tới nay vẫn còn giá trị.
* Đó là " tam vô lậu học ", tức là giới (sila), định (samâdhi) và huệ (pañña).
* Đó là " văn, tư, tu ", tức là ba loại hiểu biết, được phân biệt trong Trường Bộ Kinh (Digha-nikaya) và Thanh Tịnh Đạo (Visuddhi-magga) : sự hiểu biết dựa lên học hỏi (sutta-maya-pañña), sự hiểu biết dựa lên suy tư (cinta-maya-pañña) và sự hiểu biết dựa lên tu tập (bhavana-maya-pañña).
* Đó là " lục độ Ba la mật ", tức là bố thí, trì giới, tinh tấn, nhẫn nhục, thiền định, trí huệ.
2. Trí huệ dĩ nhiên là giai đoạn cuối cùng và cao nhất. Nhưng chúng ta cũng không quên được vai trò cốt yếu của thiền định (bhavana hay jhâna / dhyâna) : chính nhờ thiền định mà đức Phật Thích Ca đã giác ngộ dưới gốc cây Bồ đề, và chỉ có thiền định mới giúp phát triển được trí huệ, nhờ hai phương pháp là chỉ (samatha, calme mental, tranquillity),tức là định (samâdhi), và quán (vipassana, vision pénétrante, insight). Một câu hỏi có thể đặt ra, nhưng có lẽ chỉ có những đương sự mới có thể trả lời được : tụng niệm (theo Tịnh Độ tông chẳng hạn) có thể đưa tới trạng thái chỉ (hayđịnh), nhằm đi tới "nhất tâm bất loạn". Nhưng liệu tụng niệm có thể nào đưa tới trạng thái quán, và như vậy đưa tớihuệ không ?
3. Kinh điển có cần thiết hay không trong sự phát triển trí tuệ? Thiết tưởng đạo Phật là con đường trung đạo, cho nên cũng nên nhìn kinh điển trong tinh thần đó.
Kinh điển chỉ là phương tiện, là ngón tay chỉ mặt trăng, cho nên không nên coi kinh điển là chính yếu, không nên bám víu vào kinh điển, và bù đầu bù óc vào kinh điển.
Ngược lại, cũng không nên bác bỏ mọi kinh điển, bởi vì kinh điển có thể giúp mình tiến bước trên con đường tu học. Chúng ta nên nhớ rằng ngay cả những người có căn cơ xuất chúng như ngài Huệ Năng cũng nhờ nghe câu kinh mà ngộ đạo.
Liên hệ giữa từ bi và trí tuệ
Nói về trí tuệ sẽ rất thiếu sót nếu không nói tới những tương quan giữa từ bi và trí tuệ.
Người ta thường cho rằng đạo Phật Nguyên Thủy đặt nặng về trí tuệ, trong khi đạo Phật Đại Thừa đặt nặng về từ bi. Sự thật không hẳn là như vậy.
Trong kinh Từ Bi (Metta-sutta), thuộc hệ thống Pali, đức Phật đã dậy cho chúng ta phải thương yêu, cứu độ tất cả các chúng sanh, không phân biệt, không điều kiện, không giới hạn. Trong bài kinh này, ngài không nói tới những liên hệ mật thiết giữa trí tuệ và từ bi, nhưng nếu chúng ta hiểu rõ lý duyên khởi, là sự tương quan, tương duyên, tương tác, tương hữu giữa mọi sự vật, thì sự liên hệ mật thiết giữa từ bi và trí tuệ trở nên vô cùng sáng tỏ. Bởi vì tất cả chúng sanh đều có liên đới với nhau như anh em, bà con ruột thịt, cho nên sự khổ đau của chúng sanh cũng không khác gì sự khổ đau của chính mình.
Với Đại Thừa, lý tưởng A La Hán được thay thế bằng lý tưởng Bồ Tát, và từ bi được đề cao bởi những nhân vật như ngài Duy Ma Cật (Vimalakirti) : " Sở dĩ Bồ Tát bệnh là bởi vì chúng sanh bệnh. Bao giờ chúng sanh khỏi bệnh, thì Bồ Tát cũng khỏi bệnh". Trong Kinh cũng nhấn mạnh : " Có hai điều mà Bồ Tát phải ghi nhớ, là không bao giờ bỏ rơi chúng sanh, và nhìn thấy rõ rằng tất cả là Không".
Có thể nói rằng từ bi có vững chắc được là nhờ nền tảng trí tuệ, và trí tuệ có phát triển được là nhờ ở từ bi.
Thiếu trí tuệ thì từ bi sẽ có thể chỉ là cảm xúc nhất thời, và thiếu từ bi thì trí tuệ khó lòng được thể hiện. Trong hành động cứu độ chúng sanh, con người từ bi tự quên mình, thực nghiệm được thêm Vô ngã, tánh Không, và tự mở mang thêm trí tuệ. Tới khi không còn phân biệt giữa người cứu độ và người được cứu độ, thì lúc bấy giờ đã tự giải thoát hoàn toàn.
Từ bi và trí tuệ đi đôi và gắn liền với nhau, vì từ nguồn trí tuệ mà suối từ bi tuôn chẩy, nhờ suối từ bi cho nên cây trí tuệ trổ hoa.
Như vậy, trong đạo Phật, từ bi và trí tuệ bổ túc cho nhau, nương vào nhau mà hiện hữu, cũng như hai mặt của một bàn tay, hay đôi cánh của một con chim.
Con chim bay xa, bay xa mãi, khi không còn thấy bờ bên này hay bên kia...
                                                                              Trịnh Nguyên Phước