Chủ Nhật, 12 tháng 3, 2017

MÊ NGỘ



                                                                                                                   

                                                            MÊ NGỘ 

                                                  Hít vào lại thở ra...
                                                  Đường về quá đỗi xa
                                                  Trước mặt khoảng trời sáng,
                                                  Sau lưng bóng chiều tà.

                                                  Từng ngày mãi dần qua,
                                                  Hoàng hôn chim về tổ.
                                                  Lặng yên rồi chìm đắm.
                                                  Lẩn thẩn một mình ta.
  
                                                  Sinh ra rồi già chết,
                                                  Luẩn quẩn một vòng đời.
                                                  Sinh tồn cùng hoại diệt,
                                                  Biết bao giờ được ngơi.
    
                                                  Gốc rễ và cội nguồn. 
                                                  Vô định rồi lang thang,
                                                  Chân xiêu cùng gối mỏi,
                                                  Kiếp người vẫn dỡ dang.

                                                  Trải qua bao hoạn nạn,
                                                  Nhiệp chướng quá sâu dày.
                                                  Đi qua rồi để lại,
                                                  Cứ thế mãi vòng quay.

                                                  Tâm mê theo lối cũ,
                                                  Bám chặt đã lâu ngày.
                                                  Gập ghềnh nhiều chướng ngại,
                                                  Tinh tấn nguyện đổi thay.

                                                   Hôm nay lại gặp đây,
                                                   Thế gian quả là vậy,
                                                   Tùy duyên mà động tĩnh.
                                                   Tâm sáng sẽ hiện bày.

                                                   Phật dạy hãy buông ra,
                                                   Buộc tâm từng sát na.
                                                   Nương pháp về chốn cũ,
                                                   An lạc cõi Ta bà.

                                                   Nguyện đời bớt gian nan,
                                                   Luân hồi theo nghiệp chướng,
                                                   Chúng sinh đều ngộ thấu,
                                                   Lệ đẫm bớt tuôn tràn.

                                                   Bát Nhã hằng tỏa chiếu,
                                                   Pháp tánh khắp đất trời,
                                                   Thanh tịnh cùng mầu nhiệm.
                                                   Xóa sách những kiếp đời.

                                                                                        Minh Đạo

MÊ NGỘ
Kính họa bài MÊ NGỘ của nhà thơ Minh Đạo .
Hơi thở cuộc đời ta
Đường về chẳng gần xa
Trước mặt việc được mất
Như giấc mộng hằng sa .

Đêm ngày cứ trôi qua
Bao cơn mưa  tầm tả
Lắng yên ngồi nhìn lại
Quán chiếu bóng hình ta .

Trong sanh đã có diệt
Tiếp diễn giữa lòng đời
Luân hồi và  sanh tử
Biết khi nào thảnh thơi .

Cội rễ của đau buồn
Suốt cả đời vương mang
Thân tàn vai kiệt sức
Kiếp sống thật bẽ bàng .

Trải qua  bao đại nạn
Tập khí giữa đời này
Mãi đi đều lạc bước
Xin quay về nẻo ngay .

Tâm thường nhớ chuyện cũ
Tiếc nuối vòng mê say
Chẳng thấy lòng tự tại
Che lấp bước đường dài .

Phước duyên gặp lại đây
Niềm hạnh phúc tràn đầy
Tuỳ tâm ta hành pháp
Đẹp mãi ở phút nầy .

Lời Phật dạy bao la
Buông bỏ tháng ngày qua
Trở về nương chánh pháp
Chẳng còn thấy xót xa .

Nguyện cho khắp nhân gian
Giã từ kiếp lầm than
Liễu tri nguồn chơn tánh
Khơi dậy ánh đạo vàng .

Bát Nhã tâm thường chiếu
Vào tận cõi lòng người
Phút giây hằng vắng lặng
Ôi ! Đẹp cả cuộc đời .
                     Tánh Thiện

http://www.daophatngaynay.com/vn/van-hoc/tho/23434-me-ngo.html
https://quangduc.com/a60325/me-ngo
https://minhdao1160.wordpress.com/
http://poem.tkaraoke.com/69658/ME_NGO.html

 

 

Thứ Bảy, 4 tháng 3, 2017

MUỐN THÀNH CÔNG CẦN NUÔI DƯỠNG ĐỨC TÍNH GIỐNG NHƯ NƯỚC

                                                                     

Trước kia có một vị thương nhân trẻ tuổi, vì bị người hợp tác bán đứng mà cả tiền của đều mất hết. Anh ta quá thống khổ nên muốn nhảy xuống hồ tự vẫn. Khi đến bên hồ, anh gặp một vị trí giả đang ngồi tĩnh tọa, liền đem cảnh ngộ kể lại cho vị trí giả nghe…
Vị trí giả mỉm cười rồi khuyên bảo và dẫn anh ta về nhà mình. Sau đó, ông lấy ra một tảng băng rất to và cứng từ trong tầng hầm và nói với vị thương nhân: “Cậu hãy dùng sức lực mà làm cho nó tan ra!”

Vị thương nhân dùng búa đập, anh ta đập hết sức nhưng cũng chỉ có thể tạo ra những vết nứt nhỏ trên mặt tảng băng kia.

Dường như cảm thấy còn chưa tận sức, vị thương nhân lại vung búa đập tảng băng, nhưng trong chốc lát cũng chỉ có một chút băng vụn bắn ra. Anh ta thở hồng hộc và lắc đầu nói: “Tảng băng này quả thực là quá cứng!”

Vị trí giả không nói mà đem tảng băng đặt lên nồi sắt nấu. Khi nồi bắt đầu nóng lên thì tảng băng cũng dần dần tan ra. Vị trí giả hỏi: “Cậu có lĩnh ngộ được ra điều gì không?”

Vị thương nhân nói: “Có một chút! Cách mà tôi đối phó với tảng băng là không đúng. Tôi không nên dùng búa đập, mà nên dùng lửa đốt”.

Trí giả lắc đầu, vị thương nhân lộ rõ vẻ mặt khó hiểu, cúi đầu xuống và xin được thỉnh giáo. Vị trí giả nói một cách thâm sâu: “Cái mà ta muốn cho cậu thấy chính là những đặc tính quý giá của nước. Người thành công cũng cần phải có những đức tính ấy!”

Băng tuy là nước, nhưng so với nước lại cứng rắn gấp trăm vạn lần. Càng trong hoàn cảnh giá lạnh khắc nghiệt nó lại càng thể hiện ra đặc tính vững chắc như sắt thép của mình. Con người cũng nên như thế, càng ở trong gian khó thì càng phải có “ý chí kiên cường”.

Nước hóa thành hơi, hơi là vô hình, nếu hơi tụ trong một phạm vi nhất định thì sẽ tạo ra lực rất lớn, lực đẩy mạnh vô cùng. Đây chính là “Tụ khí sinh tài”.

Nước làm sạch vạn vật, cho dù vật bẩn như thế nào trên thế gian này, nước đều mở rộng lòng mình tiếp nhận mà không oán không hận. Sau đó, từ từ tự mình làm sạch. Đây chính là “Bao dung tiếp nhận”.

Nước nhìn như không có lực, chảy xuôi từ chỗ cao xuống chỗ thấp, khi gặp vật cản nó kiên nhẫn vô cùng, nếu gặp phải hòn đá, nước sẽ dần dần mài mòn hòn đá ấy. Đây là “Lấy nhu thắng cương”.

Nước có thể dâng cao cũng có thể hạ xuống thấp. Khi ở trên cao nước hóa thành mây mù, lúc ở dưới thấp lại hóa thành mưa và sương, nhiều giọt nước nhỏ hội tụ lại thành sông, chảy từ cao xuống thấp. Đây là “Co được giãn được”.

Nước mặc dù là lạnh nhưng lại có một tấm lòng lương thiện. Nó không tranh không đấu, hơn nữa còn nuôi sống vạn vật trên thế gian nhưng lại không đòi hỏi báo đáp. Đây là “Nuôi dưỡng thiên hạ”.

Sương mù nhìn như mờ ảo, nhưng lại mang thân thể tự do nhất. Nó có thể kết thành mưa mà hóa thành hình ảnh giọt nước và lại có thể tán ra thành vô hình lơ lửng giữa đất trời. Đây chính là “công thành thân thoái” (làm xong việc rồi thì lui), cũng là một cảnh giới cao của con người.

Lòng người như nước! Sở dĩ năng lực, thiện ác, dục vọng … của mỗi người không giống nhau là bởi vì có cảnh giới khác xa nhau mà thôi.


                                                                                    Theo Tri Thức VN

NGA THỬ NGHIỆM THÀNH CÔNG THUỐC TRỊ ĐỦ LOẠI UNG THƯ?


 
Giáo sư Andrei Simbirtsev Ảnh: FMBA

Báo chí Nga đưa tin các nhà khoa học nước này đã thử nghiệm thành công một loại thuốc mới có thể giúp chống lại mọi khối u ác tính trên người ở mọi giai đoạn.

Báo Izvestia hôm 3-3 đưa tin loại thuốc trên đã được thử nghiệm trên không gian và có thể sử dụng cho bệnh nhân ung thư trong vòng 3-4 năm nữa.

 “Thuốc của chúng tôi được đặt tên là “Protein sốc nhiệt”, dựa trên thành phần hoạt chất chính. Đó là một phân tử được tạo ra bởi bất cứ tế bào cơ thể nào của con người để phản ứng lại các tác nhân gây căng thẳng khác nhau. Các nhà khoa học nhận biết sự tồn tại của phân tử này đã lâu rồi” - GS Andrei Simbirtsev, Phó Giám đốc Viện Nghiên cứu khoa học các cách điều trị thuần sinh học cao cấp thuộc Cơ quan Y Sinh Liên bang Nga (FMBA), cho biết.

 
Theo ông Simbirtsev, thoạt đầu, các nhà khoa học cho rằng loại protein này chỉ bảo vệ các tế bào của con người khỏi bị hư hại. Sau đó, họ phát hiện nó có một đặc điểm hiếm hoi là giúp các tế bào sản sinh những kháng nguyên khối u và nhờ đó tăng cường được khả năng miễn dịch chống lại khối u.

 
Điều đáng nói là loại protein này chỉ có với số lượng tối thiểu trong cơ thể người. Thế nhưng, các nhà khoa học Nga đã xác định được loại gien chịu trách nhiệm sản sinh ra nó, từ đó tạo tế bào vi khuẩn có thể tổng hợp loại protein này. “Các tế bào vi khuẩn như vậy sinh sôi nảy nở rất nhanh, điều đó giúp chúng tôi thu thập được số lượng protein rất lớn” - GS Simbirtsev xác nhận. Khi được hỏi về hiệu quả của thuốc trị ung thư trên, nhà khoa học Nga nhấn mạnh loại thuốc mới này đã được thử nghiệm trên chuột có khối u ác tính và đa số đều hoàn toàn hồi phục, ngay cả ở giai đoạn sau của căn bệnh.

                                                                                Theo seatimes

Thứ Sáu, 3 tháng 3, 2017

THOÁT KHỔ




             THOÁT KHỔ
          
Lung linh tỏa sáng đài cao,
Cúi đầu gập lạy len vào tánh trong.
Hiểu rằng chẳng ỷ cầu mong.
Nương theo  pháp Phật thong dong cõi trần.

Nghe đời vốn dĩ phù vân,
Thoáng qua chớp mắt xoay vần khóc than.
Gập ghềnh vạn nẻo gian nan,
Mưa nhuần ơn pháp khô khan nẩy mầm.

Dù qua bao nỗi thăng trầm,
Bên đời bên đạo trăm lần cũng qua.
Chẳng cầu phú quý vinh hoa,
Thị phi tham ái rời xa ưu phiền.

Giả từ khúc mắc oan khiên,
Thiện tâm kiên cố qua miền lời ru,
Cơ duyên chẳng thuận đường tu,
Mỉm cười nhân thế công phu tận tường.

Trang nghiêm chùa Phật lên đường,
Tâm không vắng lặng vầng dương rạng ngời,
Nương theo sáng chiếu ngàn khơi,
Ba đường sáu nẻo đời đời thoát ra.

                                          Minh Đạo
https://quangduc.com/a60285/noi-ay-thoat-kho-tho-
https://www.hoavouu.com/p41a42901/thoat-kho


Thứ Năm, 2 tháng 3, 2017

CÔNG ĐỨC NHIỄU THÁP (Khenpo Sodargye)

 




Khenpo Sodargye Rinpoche
Giáo Pháp vô song, sâu xa, thâm sâu, vi tế, tuyệt diệu
Trong hàng trăm nghìn triệu kiếp thật khó gặp gỡ,
Giờ đây con đã gặp và nghe, thọ nhận và gìn giữ,
Con thề sẽ thấu triệt ý nghĩa chân thực của Thiện Thệ.
Để làm lợi lạc mọi hữu tình chúng sinh, hãy quyết tâm thành tựu Bồ đề tâm quý báu và tối thượng.
Hôm nay, tôi sẽ tận dụng buổi học này để giới thiệu lợi lạc của việc nhiễu quanh các bảo tháp Phật giáo. Phần lớn Phật tửđều biết về lợi lạc lớn lao từ việc nhiễu tháp. Tuy nhiên, vài người có thể không biết về khía cạnh này nếu các chi tiết nhất định không được giới thiệu. Bởi thế, bây giờ tôi sẽ nói với các bạn về chủ đề này một cách ngắn gọn.
Bảo tháp đại diện cho tâm linh thiêng của tất cả chư Phật. Về mặt lịch sử, bảo tháp tồn tạitrước Đức Phật Thích Ca Mâu Ni – trong Kinh Bách Nghiệp, có một vị vua tên Chakpa. Trong đời quá khứ, Ngài xây dựng bảo tháp Sharira (bảo tháp thờ xá lợi Phật) sau khi Câu Lưu Tôn Phật nhập diệt. Trong thời kỳ của Phật Ca Diếp, có một vị vua tên Zhizhi cũng xây dựng nhiều bảo tháp. Khi Phật Thích Ca từ bỏ đời thế tục và trở thành tu sĩ, Ngài làm vậy trước bảo tháp Brahma Tathagataya. Bảo tháp Swayambhu[1] ở Nepal cũng tồn tại trước sự xuất hiện của nhiều vị Phật. Về khía cạnh này, lịch sử của các bảo tháp khác với lịch sử của tượng và kinh Phật.
Ở Ấn Độ, sau khi Phật Thích Ca Mâu Ni nhập Niết bàn, Vua A Dục đã xây dựng 84000 bảo tháp ở khắp nơi trên thế giới; Tổ Long Thọ cũng xây dựng bảo tháp Sharira; cũng có một bảo tháp Phật giáo ở Bodh Gaya (Bồ Đề Đạo Tràng) ở Ấn Độ. Có nhiều bảo tháp Đại thừavà Theravada ở Ấn Độ. Khi bảo tháp được giới thiệu đến Tây Tạng, Vua Trisong Detsen xây dựng nhiều bảo tháp trong đó có Bảo tháp Samye ở U-Tsang và bảo tháp đã lan rộng đến vùng Amdo và Kham, rồi dần dần trên toàn Tây Tạng. Bảo tháp Quiyun ở chùa Bạch Mã thuộc Lạc Dương (Trung Quốc) là một trong những bảo tháp lâu đời nhất ở vùng Trung Hoa. Nó được xây dựng trong thời phong kiến. Tuy nhiên, vài người tuyên bố rằng Chùa Putong[2] còn lâu đời hơn. Dù thế nào, sau khi Phật nhập diệt, các bảo tháp đã lan khắp cõi Nam Thiệm Bộ Châu (cõi Jambudvipa trong vũ trụ học Phật giáo), và nhiều kẻ chí thành đã dâng những cúng phẩm và đỉnh lễ các bảo tháp này. Đặc biệt, những bảo tháp Sharira được xây dựng bởi Vua A Dục là ruộng phước điền vĩ đại để cả con người và phi nhân tỏ lòng kính lễ và dâng cúng dường nhằm tích lũy công đức lớn lao.
Khi phân loại các bảo tháp, có tám bảo tháp lớn ở Ấn Độ và ở Tây Tạng, các bảo thápKalachakra (Kim Cương Thời Luân) thường được thờ phụng. Theo những nghi lễ của Mật thừa Phật giáo, có nhiều kiểu bảo tháp khác nhau. Có vài bảo tháp trong các Terma của Đức Liên Hoa Sinh, thứ được sử dụng để thực hành Pháp. Theo các bản văn Đại thừachẳng hạn Niết Bàn Kinh, các bảo tháp Phật giáo khác với bảo tháp của Thanh Văn và Duyên Giác Phật về mặt hình dạng và sức mạnh linh thiêng. Bảo tháp đại diện cho tâm của Đức Phật, theo Mật Tập Kim Cương (Guhyasamaja Vajra), “Một bảo tháp là cung điện nơi chư Phật an trú”. Vì thế, người ta cần xem bảo tháp là cung điện của tất cả chư Phật. Trong Giảng Giải Về Các Giới Luật Gốc Của Phật Giáo Theravada có viết rằng “bảo tháp là Pháp thân”. Về mặt này, theo Kinh Đại Bảo Tích (Maharatnakuta Sutra), “Không có sự khác biệt giữa công đức của những vị dâng cúng dường khi Ta còn sống với những vị cúng dường lên một bảo tháp sau khi Ta nhập diệt. Tại sao vậy? Bởi Đức Phật là sự hiển bày thanh tịnh của Pháp thân chứ không phải Hóa thân hay thân vật lý”. Bởi thế, bảo tháplà biểu tượng của Tam Bảo, nó là đại diện tinh túy của Pháp thân Phật và là hiện thân của Đức Phật.

PHIỀN NÃO

                                                                       

                         PHIỀN NÃO

Đã đến trần gian nguyện thượng hương,
Biết là kiếp bạc vẫn tơ vương.
cầu tự mãn, xua sân hận,
Thường niệm từ bi, nhận hiểu thương.
Còn thẹn đường tu soi vạn ngã,
Ôm tròn thánh quả đến muôn phương.
Phiền nan hóa giải  bình tâm trí,
Não đoạn nghiệp tiêu chơn lý tường.

                                           Minh Đạo

https://quangduc.com/a60367/phien-nao




AN BẦN MÀ VUI (Tánh Thiện)



Kết quả hình ảnh cho nghèo mà vui

Cuộc đời như gió qua cầu
Dại gì ta lại khổ sầu làm chi
Đời ta ta tự bước đi
Thắp lên ngọn đuốc từ bi với người .

Ta không van khấn vái trời
Chỉ mong hoàn thiện cho đời ngát hương
Chẳng cần ăn uống cao lương
Cơm chay đạm bạc rau tương đủ rồi .

Canh khuya ta lặng yên ngồi
Dõi theo hơi thở dưỡng bồi thân tâm
Viễn ly hình tướng sắc trần
Chuyên tâm niệm Phật an bần mà vui .

                   Tánh Thiện
 
                   25-2-2017

Thứ Tư, 1 tháng 3, 2017

TIẾT LỘ CỦA BÁC SĨ CHUYÊN KHOA GIÚP BẠN KHÔNG BỊ UNG THƯ ĐÁNH LỪA NỮA

                                                               ung thu th



Thật khó tin nếu có một bác sĩ nói với bạn rằng đừng có điều trị nếu bị ung thư! Nhưng đây lại là bác sĩ được mệnh danh “Lương tâm của giới y học” của Nhật Bản.
Makoto Kondo, 65 tuổi, là bác sĩ xạ trị bệnh viện đại học Keio, với 40 năm điều trị ung thư, ông đã rất can đảm để bày tỏ những ý kiến về sức khỏe có liên quan đến cá nhân và cộng đồng mà mọi người không tiện nói, được người dân Nhật yêu mến gọi bằng cái tên “Lương tâm của giới y học
Sinh ra trong một gia đình có truyền thống làm nghề y, bác sĩ Kondo tốt nghiệp đại học Keio, sau đó sang Mỹ du học, và lấy bằng tiến sĩ tại đây.
Sau khi về nước ông vào làm giảng viên tại đại học Keio, chuyên về điều trị xạ trị cho bệnh nhân ung thư, cũng là người nổi tiếng tiên phong về liệu pháp điều trị bảo tồn vú nổi tiếng trên Nhật Bản. Những thành tựu cống hiến của ông được toàn thể xã hội đánh giá cao, năm 2012 ông giành được giải thưởng “Kikuchi Kan lần thứ 60”( giải thưởng cho các giới nhân sĩ có đóng góp to lớn cho nền văn hóa Nhật Bản)
Tác giả của những cuốn sách bán chạy nhất nói về các cảnh báo về y tế như “ ung thư đừng vội phẫu thuật”, “ Bệnh nhân ơi, không nên đấu tranh với ung thư”, “ liệu pháp tự bỏ mặc phát triển trong điều trị ung thư”…
Makoto thực sự được các phương tiện thông tin đại chúng biết đến vào năm 1988, khi ông có bài viết “ Không cần cắt bỏ ung thư vú mà tự khỏi” được đăng trên tạp trí “ văn nghệ Xuân Thu” của Nhật Bản. Bởi bài viết này trái ngược hoàn toàn so với nhận thức của đại đa số dân chúng, nên rất thu hút sự chú ý của người đọc, do đó có ảnh hưởng rất lớn.
Tuy nhiên, bởi bài viết của ông đi ngược lại với những nguyên tắc thông thường chính quy trong giới y học, nên từ năm 1988, ông Kondo vĩnh viễn không được thăng chức tại trường đại học Keio. Đối với vấn đề điều trị ung thư, trong cuốn sách mới của mình, ông Kondo có những cách nhìn nhận khác nhau.
Điều đáng sợ không phải là ung thư, mà là “ điều trị ung thư
Tại sao có môt số người ban đầu tinh thần rất tốt, sau khi bị ung thư lại sống không được bao lâu? Đó là bởi vì họ tiếp nhận “ cách điều trị ung thư”.
Chỉ cần “không điều trị” ung thư, bệnh nhân có thể giữ cho mình được trạng thái tinh thần tỉnh táo, cho đến thời khắc cuối cùng của cuộc đời. Chỉ cần có phương pháp điều trị đúng, cơ thể cũng có thể hoạt động tự do bình thường. Có rất nhiều trường hợp ung thư không có đau đớn. Các cơn đau đớn thật sự có thể khống chế được.
Nếu bạn không xuất hiện các triệu chứng như đau đớn, khó chịu, không ăn được…, lại bị phát hiện có ung thư khi khám sức khỏe, như vậy “ khối u” đó nhất định là “ u lành tính”. Chỉ dựa vào phim X quang có thể kiểm tra ra ung thư vú có đến 99% là u lành tính, nhưng đại đa số các bệnh nhân vẫn tiến hàn phẫu thuật cắt bỏ vú, xin mọi người hãy cẩn thận điều này.
Ung thư thật sự phát hiện dù sớm đi nữa cũng không có tác dụng.
Tế bào ung thư gốc khai sinh tại thời điểm đầu tiên, thời gian sống của người bệnh đã được xác định, khi bệnh được phát hiện sớm khiến thời gian sống thêm có vẻ lâu hơn. Vì vậy, trong rất nhiều trường hợp, chúng ta cần phải quan sát xem “tỷ lệ sống của bệnh nhân ung thư có được 10 năm không”, mới có thể phán đoán được rốt cuộc một bệnh nhân có được “điều trị khỏi“ không.
Phẫu thuật là tổn thương nghiêm trọng do con người tạo ra
Sau khi phẫu thuật xong, thể lực sẽ giảm xuống, cơ thể sẽ rất dễ bị nhiễm trùng, và còn có thể mang lại những di chứng suốt đời không thể điều trị khỏi, chết trên bàn phẫu thuật cũng là chuyện thường có trong điều trị ung thư. Nếu bác sĩ khuyên bạn làm phẫu thuật, vậy tốt nhất bạn nên suy nghĩ thật kỹ lưỡng, sau khi làm phẫu thuật xong thì sẽ như thế nào.
Chú ý rằng việc phẫu thuật rất có thể càng kích thích tế bào ung thư. Trong giới y học có một cách nói hình tượng: “ Một khi động dao phẫu thuật, tế bào ung thư sẽ bùng phát như một trận bão lửa, bùng nổ mạnh như mìn vậy.” Bởi phẫu thuật sẽ để lại vết thương, miệng vết thương sẽ phá vỡ ranh giới của các tế bào bình thường, các tế bào ung thư trong máu sẽ nhân cơ hội lan rộng, nhanh chóng thâm nhập vào các mô lành mạnh xung quanh, cuối cùng bùng phát nặng hơn.
Độc hại của hóa trị liệu
Người bị ung thư ở độ tuổi trưởng thành có thể dùng hóa trị liệu điều trị khỏi, đó là 4 loại ung thư sau, bệnh bạch cầu cấp, u lympho ác tính, ung thư tinh hoàn, ung thư biểu mô màng đệm tử cung, mà những loại ung thư này chỉ chiếm khoảng 10% tổng số  tất cả các loại bệnh ung thư.
Hóa trị liệu có thể kéo dài được mạng sống của bệnh nhân hay không vẫn là một vấn đề cần phải đợi chứng minh, nhưng các loại thuốc dùng để hóa trị có độc tính rất mạnh, có thể mang lại những tác dụng phụ nghiêm trọng. Tuổi càng cao, thời gian hút thuốc lá càng nhiều, độc tính của phương pháp hóa trị liệu càng biểu hiện rõ ràng hơn. Có 5.9% bệnh ung thư, dù có điều trị hay không, thời gian sống đều như nhau.
Bất kể nền y học có phát triển đến như thế nào, ung thư ác tính đều không thể dựa vào sức người mà có thể điều trị khỏi được. Những câu chuyện cảm động lòng người đại loại như “ung thư biến mất” “ sống sót một cách kỳ diệu” đại đa số đều có liên quan tới u lành tính. U lành tính cũng giống như một cái mụn ở trên mặt, không cần quan tâm đến nó, tự nó sẽ biến mất, nhưng các bác sĩ lại thông qua các phương tiện thông tin đại chúng tuyên bố rộng rãi rằng “ Chúng tôi đã điều trị khỏi bệnh ung thư”.
Hãy cùng chờ xem những thay đổi tốt hơn
Cho dù bác sĩ có xác định bạn bị ung thư, nếu bạn cảm thấy đau khổ, vậy hãy cùng chờ xem những chuyển biến tốt hơn của bệnh. Nếu như bạn muốn điều trị, vậy hãy kiểm tra thật kỹ, xem liệu những chẩn đoán của bác sĩ có chính xác không.
Phẫu thuật thành công không phải điều trị khỏi ung thư.
Cho dù cuộc phẫu thuật có thành công mỹ mãn, không có bất kỳ sai sót nào, thì tế bào ung thư chắc chắn cũng nhất định sẽ tái phát lại vào một thời điểm nào đó.
Phương pháp điều trị càng “tiên tiến”, càng cần phải cẩn thận.
Có rất nhiều kỹ thuật điều trị ung thư vẫn đang ở giai đoạn thử nghiệm đã được mang ra áp dụng điều trị, chỉ cần khoác lên nó hai chữ “ tiên tiến” là bệnh nhân bị dắt mũi đến để thử nghiệm. Tóm lại, mọi người nên cẩn thận hơn với các phương pháp điều trị mang hai từ “ tiên tiến” bên mình.
Phương pháp chụp X quang toàn thân 360°- chụp cắt lớpLượng bức xạ của 1 lần chụp CT tương đương với 200 -300 lần chụp X quang thông thường! Lượng sóng bức xạ của 1 lần kiểm tra CT có thể dẫn tới ung thư.
Tăng cường hệ miễn dịch có hiệu quản trong điều trị không?
Tăng cường hệ miễn dịch không có ích trong việc phòng và điều trị ung thư, thậm trí có thể nói là hoàn toàn không hiệu quả. Tại sao lại như vây? Bởi chức năng của những tế bào miễn dịch là tấn công các yếu tố bất thường từ bên ngoài thâm nhập vào cơ thể, nhưng tế bào ung thư là tế bào đột biến hình thành từ trong cơ thể, nên đối với hệ miễn dịch của con người tế bào ung thư không phải là kẻ thù. Tế bào ung thư có thể phát triển lên tới đường kính 1 cm, có thể vì vậy được phát hiện khi kiểm tra, tất cả đều là vì tế bào miễn dịch NK không coi tế bào ung thư là kẻ thù, đây là bằng chứng không thể chối cái việc hệ thống miễn dịch không thể tiêu diệt các tế bào ung thư. Vậy chúng ta phải làm như thế nào? Hãy quên ung thư đi, đừng làm phẫu thuật, cũng đừng làm xạ trị, càng không nên làm hóa trị liệu.
Đợi khi cơ thể bắt đầu khó chịu, hãy nghĩ cách để làm giảm những cơn đau đớn đó là được. Như vậy sau đó, bạn mới có thể kéo dài sinh mệnh của mình trong trạng thái thoải mái nhẹ nhàng nhất.  Nếu bác sĩ không nói rõ ràng, thì cũng không nên hỏi, bởi vì không ai có thể biết rốt cuộc bạn sống được bao lâu.
Bất kể bệnh nhân bị ung thư hay bị bị các bệnh khác, đều đi khám và điều trị theo phác đồ điều trị của bác sĩ.
Nhưng bệnh nhân cũng không cần giao toàn bộ quyền quyết định sử phương pháp điều trị nào cho bác sĩ, bác sĩ cũng không có tư cách áp đặt với bệnh nhân.
Chúng ta có thể học theo những hòn đá không ngừng lăn kia.
Những hòn đá lăn liên tục đó sẽ không bị mọc rêu.
Chỉ có vận động cơ thể nhiều hơn, não bộ hoạt động nhiều hơn, cơ thể mới không bị rỉ sét. Hãy để cảm xúc trở nên phong phú hơn mỗi ngày, mỗi ngày đều để những cảm xúc vui vẻ đến với mình, “ Năm giác quan” của chúng ta (thị giác, thính giác, xúc giác, vị giác, khứu giác) mới không trở nên buồn chán.
Hãy tránh xa những điều mang lại cho bạn sự khó chịu, trân trọng những niềm vui của cuộc sống. Tập các bài tập thể dục chân tay một cách đúng mực, hoạt ngôn, sử dụng não bộ nhiều hơn, để giữ sự linh hoạt của cảm xúc và giác quan.
Thường  xuyên đi bộ, máu mới có thể vận chuyển lưu thông toàn thân, mới không bị tích tụ ở nửa thân dưới, huyết áp mới có thể ổn định.
Hãy cười to, có thể hỗ trợ giúp vận động cơ quan biểu hiện cảm xúc và cơ hoành, hô hấp sẽ sâu hơn, tuần hoàn máu sẽ tốt hơn, giúp cơ thể trở nên nóng hơn.
Ăn nhiều những món ăn ngon, làm nhiều những việc mình thích, để tâm trạng trở nên hân hoan vui vẻ, để cơ thể tiết ra nhiều serotonin, dopamine, endorphin, giúp tâm trạng trở nên vui vẻ hơn, theo cách này bạn sẽ thấy cuộc sống thật vui vẻ hạnh phúc.
Kinh nghiệm cho tôi biết, chỉ cần trong lòng vui vẻ, sẽ quên đi những điều nhỏ nhặt, ung thư cũng không bùng phát. “Không trầm cảm” mới là phương pháp giữ gìn sức khỏe theo cơ chế tự nhiên, vĩ đại nhất.
Trong một loạt các cuốn sách của Makoto Kondo đều chủ trương, nếu bạn không may bị mắc bệnh ung thư, không nên điều trị, hãy để nó phát triển tự nhiên, điều trị ung thư không những không có ích, mà chỉ mang lại nhiều đau đớn hơn, bị dày vò nhiều hơn. Tóm lại, điều bác sĩ Kondo muốn nhắc nhở chúng ta đó là:
Các phương pháp chẩn đoán sàng lọc và điều trị bệnh ung thư hiện nay, nếu xuất phát từ góc độ hỗ trợ giúp nâng cao khả năng sinh tồn thay vì khả năng tiêu diệt tế bào ung thư, thì hầu như đều không có hiệu quả rõ ràng. Phương pháp tốt nhất hiện nay, đó là hãy giữ thói quen sinh hoạt tốt và giữ cho tâm trạng luôn được vui vẻ thoải mái.
Từ cách nhìn nhận của bác sĩ Kondo, chúng ta thấy một điểm tương đồng với quan điểm trị bệnh của y học cổ truyền Trung Hoa, rằng bệnh tại tâm sinh. Ngày xưa thời Hoàng Đế, con người rất coi trọng tu dưỡng đạo đức, nhiều trong số họ là những người tu luyện theo các trường phái Phật gia và Đạo gia, có đạo đức phẩm hạnh, sức khỏe tốt mà không cần dùng thuốc.
Những điều này khiến ta liên tưởng đến Pháp Luân Đại Pháp, một môn tu luyện cho người hiện đại, rất nhiều người thông qua tu dưỡng tâm tính theo nguyên lý Chân Thiện Nhẫn mà khỏi bệnh một cách thần kỳ đã không còn là điều quá khó hiểu.

                                                                                         Kiên Định, Tú Linh


Thứ Hai, 27 tháng 2, 2017

HÃY ĐỌC ĐỂ CẢM THẤY CUỘC SỐNG NHẸ NHÀNG HƠN



Kết quả hình ảnh cho tùy duyên
                                   
Tôi vừa đọc một cuốn sách cũ, tôi đã học được nhiều bài học sâu sắc. Tôi cảm thấy nó là cách rất tốt để mọi người có thể sống một cuộc đời ít phiền muộn. Chính vì vậy, tôi muốn chia sẻ đôi điều mà tôi đã học được từ cuốn sách ấy với mọi người..!

1. Sự thanh tịnh nằm ở trong tâm

Cả đời làm việc, đến cuối cùng chỉ muốn bản thân được an nhàn để hưởng thụ cuộc sống. Bạn luôn muốn tìm kiếm sự thanh tịnh ở bên ngoài trong khi bạn không phát hiện rằng nó là cái mà ai cũng có thể đạt được mà chỉ cần lấy ra từ trong tâm. Nếu tâm của bạn bớt tham sân si, bớt ganh đua, ghen ghét... thì tự khắc bản thân sẽ thấy thật thanh thản và thấy đời bỗng nhẹ nhàng làm sao.

2. Tức giận chỉ là một cục than hồng có thể làm đau người khác, nhưng người bị bỏng đầu tiên chính là bản thân bạn

Sẽ có lúc bạn cáu gắt với mọi người nhưng bạn đâu ngờ điều đó lại làm hại chính bản thân mình. Đừng bao giờ nói bất kì câu gì khi bạn tức giận. Người ta thường nói : “Giận quá mất khôn”. Tôi nghĩ điều đó rất đúng, bởi tôi đã từng đánh mất một người bạn của mình chỉ vì nói ra những lời nặng nề kinh khủng khi bạn đó không làm tôi vừa ý. Lúc đó, tôi làm tổn thương người ấy để bây giờ tôi đánh mất một người bạn thân.

3. Suy nghĩ sẽ định hình con người bạn

Chúng ta nghĩ thế nào thì con người chúng ta như thế ấy. Bạn nghĩ bạn vô dụng, chắc chắn bạn sẽ không bao giờ làm nên trò trống gì vì bạn chẳng thèm hành động. Bạn nghĩ bạn thông minh, dĩ nhiên bạn sẽ thông mình vì tự bản thân sẽ biết cách tạo nên điều đó. Chỉ cần suy nghĩ tích cực thì mọi chuyện sẽ tốt đẹp thôi! Do đó, cuộc sống cũng sẽ ít buồn phiền, vì lúc nào bạn cũng cố biến mọi thứ bạn gặp phải trong cuộc sống thành niềm vui riêng cho mình.

4. Biết người là thông minh, biết mình là sự giác ngộ
Chiến thắng bản thân còn hơn là chiến thắng cả ngàn trận đánh. Đó là một bài học sâu sắc mà ai cũng cần biết. Tự chinh phục tâm chính mình chính là ải lớn nhất mà con người phải trải qua. Do đó, chúng ta phải tập thiền định để hiểu về chính bản thân mình. Biết được bản thân thích gì, làm gì để thỏa mãn nó chính là cách để bạn sống vui hơn mỗi ngày. Đừng tưởng đây là điều dễ thực hiện vì có người đã mất cả đời chỉ để làm điều này thôi đấy! Chính tôi cũng là người sẽ phải rèn luyện nhiều trong thời gian tới.

5. Thay thế đố kị bằng ngưỡng mộ

Còn đố kị thì tâm bạn sẽ còn buồn phiền. Thay vào đó, chúng ta nên đón nhận sự thành công của người khác bằng sự ngưỡng mộ. Tâm bình thản rồi lấy cái tốt của người khác để làm gương sẽ khiến bạn dễ dàng phấn đấu mà không có sự căm phẫn. Đố kị chỉ làm lòng người thêm nhơ bẩn, thậm chí vì đố kị con người có thể biến chất, trở thành người chuyên làm những hành động xấu xa mà đôi khi chính bản thân mình cũng không ngờ tới.

6. Nhân từ với tất thảy mọi người

Luôn luôn nhẹ nhàng với trẻ con, yêu thương người già, đồng cảm với người cùng khổ, nhân từ với kẻ yếu thế và người lầm lỗi. Một lúc nào đó trong đời, bạn sẽ rơi vào những hoàn cảnh đó. Động lòng trắc ẩn với mọi người, kẻ giàu cũng như người nghèo; ai cũng có nỗi khổ. Có người chịu khổ nhiều, có người chịu khổ ít.
Nhân từ để yêu thương và đồng cảm với họ. Vì mỗi người có một nỗi khổ riêng chỉ có họ mới thấu. Bởi vì bạn luôn nhìn người bằng con mắt nhân từ nên đời bạn sẽ luôn đẹp. Mọi thứ đều hoàn hảo. Tâm can được thanh lọc bởi những hành động mà bạn dành cho người khác.

7. Tùy duyên

"Bàn tay ta vun đắp, thành bại thuộc vào duyên, Vinh nhục ai không gặp, có chi phải ưu phiền"

Bài học sâu sắc cuối cùng mà tôi đã học được chính là để mọi thứ tùy duyên. Như nhà sư đã nói, cái gì của mình thì nó sẽ thuộc về mình, còn cái gì không phải thì nó mãi mãi sẽ không thuộc về mình. Vì vậy, nếu muốn nắm bắt gì đó, đặc biệt là tình yêu thì hãy để tùy duyên.
Bạn có thể cố gắng theo đuổi nhưng có lúc bạn cũng phải biết buông bỏ nếu mọi chuyện đã quá giới hạn và không còn khả năng cố gắng. Cứ nắm giữ chỉ làm bạn đau khổ rồi vấn vương muộn phiền sẽ là điều không thể né tránh. Tâm sẽ nhẹ nhàng nếu bạn để mọi thứ tùy duyên. Đó là cách để bạn có thể chấp nhận cuộc sống dễ dàng hơn.

***Hãy sống như hôm nay là ngày cuối cùng. Tôi đã làm được 4/7 điều rồi và thấy đời mình nó cũng thanh thản đi bớt phần nào. Đặc biệt, tôi thích nhất là điều cuối cùng. Tôi cũng mong rằng những điều này sẽ giúp ích cho bản thân mỗi bạn..!
                                                                                                   Theo vitalk




Thứ Bảy, 25 tháng 2, 2017

SỰ HÌNH THÀNH ĐẠI THỪA


                                                              Kết quả hình ảnh cho hoa vô ưu





Phong trào phát triển một đường lối Phật Giáo mới, về sau nầy được gọi là Mahayana (Đại thừa), bắt đầu thành hình trong thời gian 250 năm, từ năm 150 TCN đến 100 CN, là kết quả tích tụ của nhiều phát triển vốn có từ trước. Nguồn gốc của nó không liên hệ với một cá nhân nào, và cũng không đặc biệt liên kết với một tông phái nào của thời kỳ Phật Giáo sơ khai. Có thể phong trào đó khởi dậy từ nhiều nơi trong xứ Ấn Độ, tại miền nam, miền tây bắc và miền đông.
Phong trào nầy có ba đặc tính tổng quát. Thứ nhất là sự đồng tình hết lòng với quan niệm về Bồ Tát Đạo vốn đã được một vài tông phái nguyên thủy khởi xướng từ trước. Thứ hai, họ đưa ra một vũ trụ quan mới, dựa vào các pháp quán kiến về Đức Phật mà dưới cái nhìn mới, đã trở thành một vị siêu nhân, siêu thế. Thứ ba, họ có những quan niệm mới về A-tỳ-đàm (Abhidhamma, Vi Diệu Pháp), phát nguồn từ kết quả thiền quán về "không tính" sâu kín của vạn vật và từ đó có một nhãn quan triết lý mới. Từ ba đặc tính nầy, phát sinh một định hướng mới về giáo pháp của đạo Phật và tạo ra hằng loạt các diễn giải mới lạ, và dần dần tạo nắn thành một phong trào gọi là Đại thừa với tính chất riêng biệt.
Mahayana đi vào lịch sử như một liên hiệp lỏng lẻo của nhiều nhóm, mỗi nhóm liên kết với một hay nhiều kinh điển mới. Các kinh điển nầy được viết ra bằng các phương ngữ miền Trung Ấn chẳng bao lâu sau khi chúng được trước tác. Tiếp theo là các sửa đổi, rồi dần dần trở thành một loại ngữ văn "Sanskrit tạp", rất gần với Sanskrit cỗ, ngữ văn quý trọng của Ấn Độ. Những người nào chấp nhận các văn liệu nầy là kinh điển chính thống -- lời giảng dạy của Đức Phật -- được xem như thành viên của phong trào mới. Điều đó không có nghĩa là các tu sĩ trong phong trào mới nầy bắt buộc phải từ bỏ truyền thống cũ, vì họ vẫn tiếp tục tuân giữ các giới luật trong truyền thống cũ của họ. Các người Đại thừa vẫn là một thiểu số trong giới Phật tử Ấn Độ trong một thời gian dài. Đến thế kỷ thứ bảy Công Nguyên, nhà hành hương Huyền Trang ước tính là phân nửa trong số 200,000 vị tu sĩ tại Ấn Độ theo phong trào Đại thừa.
Những người truyền thống lúc đó không chấp nhận các văn liệu mới nầy là "lời dạy của Đức Phật" (Phật ngôn - Buddhavaccana) như các kinh nguyên thủy. Thật ra, kinh điển nguyên thủy cũng bao gồm bài giảng của các vị đại đệ tử nhưng được họ chấp nhận là vì Đức Phật đã từng khen ngợi các vị đại đệ tử đó và Ngài đồng ý với các bài giảng đó. Ngay cả sau khi những vị đó đã qua đời, một vài bài kinh khác đã được thêm vào nếu chúng có cùng văn phong và nội dung với tạng kinh luật.
Kinh điển mới của Mahayana hoàn toàn khác hẳn về văn phong và âm điệu. Nhưng chúng được nhiều người theo phong trào mới chấp nhận là "Phật ngôn" vì nhiều lý do. Thứ nhất, họ tin rằng Đức Phật vẫn hiện hữu, cảm nhận được qua các trạng thái nhập thiền và mộng tưởng, và đã giảng các bộ kinh đó. Thứ hai, chúng được xem như sản phẩm từ các tuệ giác bát nhã có cùng một căn bản như các bài pháp của Đức Phật. Thứ ba, về sau nầy, nhiều người Đại thừa lại tin rằng các kinh điển đó là lời giảng của Đức Phật nhưng đã được dấu đi tại quốc độ của các loài thần rắn (Naga, Long vương), cho đến khi nào loài người có thể nhận thức được tầm mức quan trọng của kinh thì mới thỉnh được chúng qua năng lực trong lúc tham thiền. Mỗi một giải thích đều cho rằng các kinh điển nầy được phát khởi từ kinh nghiệm tham thiền. Tuy nhiên, chúng thường có dạng các lời đối thoại giữa Đức Phật lịch sử và các đệ tử cùng với sự hiện diện của chư thiên.
Các loại kinh điển mới nầy được các người Đại thừa xem như "thời kỳ Chuyển Pháp Luân lần thứ hai", một cấp độ giảng dạy cao sâu hơn các kinh nguyên thủy. Giờ đây, các đệ tử Bồ Tát được hình dung ra như có trí tuệ cao hơn các vị A-la-hán. Vì các kinh điển mới được xem như có giá trị giải thoát, các người Đại thừa cho rằng sẽ có nhiều phước đức nếu chúng được sao chép lại, quảng bá, tụng đọc, tham cứu, thực hành, và ngay cả việc tôn thờ lễ lạc chúng. Điều nầy cho thấy có một thái độ tự vệ của phong trào mới, vẫn còn là thiểu số, đang cố gắng củng cố, xây dựng một thế đứng, phản ứng chống lại các chỉ trích của giới tăng sĩ truyền thống. Có lẽ các kinh điển Mahayana được trước tác bởi một số các vị pháp sư có uy tín và muốn khởi xướng phong trào mới. Các vị nầy, tu sĩ lẫn cư sĩ, truyền bá tư tưởng mới trong và ngoài cộng đồng Phật giáo đương thời để lôi cuốn thêm tín đồ mới. Họ ca ngợi các tính chất cao quí của quả vị Phật Chánh Đẳng Giác, một sự hoán chuyển tâm thức sâu xa, thực hiện qua việc khai phát tâm thức giác ngộ -- giác tâm (bodhi-citta), một lòng hứng khởi để đạt quả vị Phật, qua các phương tiện của Bồ Tát Đạo.
Các quan niệm mới về giá trị của kinh điển đã khuyến khích phong trào Đại thừa có thêm nhiều tự do phóng khoáng, nhiều sự "mặc khải", để tạo ra hằng loạt các kinh điển mới ở Ấn Độ cho đến khoảng năm 650 CN. Các bộ kinh nầy thường được trước tác bởi các vị tu sĩ ẩn danh, thông thường có một nhóm tác giả viết ra một văn bản mới với nhiều chi tiết, càng ngày càng phát triển rộng thành các tác phẩm lớn, có khi lên đến vài trăm trang giấy. Trong khi đó, các kinh điển nguyên thủy thường ngắn gọn hơn, mỗi bài kinh chỉ có vài ba trang. Thật ra, trong một vài bài kinh nguyên thủy, Đức Phật được nhắc đến như là một đại nhân cao quý, xuất chúng, chung quanh là hàng trăm vị chư thiên và đại đệ tử. Các kinh điển Mahayana đã mô phỏng theo lối diễn tả nầy. Trong các kinh đại thừa, Đức Phật thường dùng các ẩn dụ, lời nói bóng bẩy, đa nghĩa, và giảng cho nhiều vị Phật khác, nhiều vị Bồ Tát trong nhiều tầng trời của vũ trụ. Những vị cứu rỗi nầy, chư Phật và chư Bồ Tát với nhiều danh hiệu và nguồn gốc mới lạ, trở thành đối tượng cho việc tôn thờ, sùng bái và cầu nguyện, và từ đó gia tăng tính hấp dẫn, thu hút quần chúng, giúp thành công cho việc truyền bá phong trào Đại thừa.
Đầu tiên, phong trào mới nầy được gọi là Bồ Tát Thừa (Bodhisatva-yana). Tên gọi đó để phân biệt với Thanh Văn Thừa (Sravaka-yana) của những người hành trì các lời dạy nguyên thủy của Đức Phật và nhắm đến quả vị A-la-hán (Arahat), không phải quả vị Chánh Đẳng Giác (Samma-sambuddho). Tên gọi đó cũng để phân biệt với Độc Giác Thừa (Pratyeka-Buddha-yana), dùng để chỉ các vị tu sĩ sống đơn độc, trong các thời xa xưa, tự giác ngộ nhưng không truyền dạy cho người khác. Dần dần, khi bị nhiều chỉ trích và phê bình của những người không tán đồng các tư tưởng mới, phong trào nầy phản ứng lại bằng cách gia tăng ca ngợi tầm mức quan trọng của hạnh Bồ Tát và đưa ra một danh xưng mới: Mahayana (Đại thừa). Các "thừa" khác giờ đây bị khinh chê là thấp kém, và bị gán cho một tên gọi khác là Hinayana (Tiểu thừa). Lý do biện minh cho cái "lớn" của Đại thừa ở trong 3 lãnh vực: ý nguyện từ bi muốn cứu vớt muôn loài, tuệ giác thâm sâu mà họ cổ võ, và mục tiêu nhắm đến quả vị tối thượng của Phật.
Vào khoảng năm 200 CN, một bộ kinh mới có tên "Hoa sen của Chân Pháp" (Diệu Pháp Liên Hoa, Saddharmapundarika) được viết ra với một cái nhìn mới: mặc dù vẫn còn chống báng "Tiểu thừa", bộ kinh cho rằng Tiểu thừa được bao gồm trong và hoàn mãn bởi Đại thừa. Phẩm 2 của bộ kinh nầy, trong việc dung nạp Tiểu thừa, đưa ra một quan niệm về sau trở nên rất phổ thông trong Đại thừa: quan niệm về cách dùng "phương tiện thiện xảo". Họ dựa vào một quan niệm vốn đã có sẵn từ trước cho rằng Đức Phật đã khéo léo giảng dạy tùy theo trình độ và căn duyên của người nghe -- việc nầy được thực hiện bằng cách chọn lựa các bài giảng của Ngài trong tạng kinh luật đã có sẵn. Tuy nhiên giờ đây, Ngài được xem như đã giảng dạy với nhiều cấp độ khác nhau và có vẻ như mâu thuẩn. Những người có trình độ cao cần phải tháo bỏ các lời giảng giản dị dành cho những người căn cơ thấp. Mặc dù mọi người đều có khả năng thành Phật, không thể nào giảng các bài pháp cao siêu cho những hạng căn cơ thấp vì họ sẽ bị rối loạn. Vì vậy, cho những người "vô minh, căn cơ thấp", Đức Phật dạy về Tứ Diệu Đế, tạo mục đích đạt Niết Bàn qua quả vị A-la-hán. Vị A-la-hán giờ đây được xem như vẫn còn ngã mạn và không đủ lòng từ bi vì chỉ muốn thoát khổ một mình, không chịu giúp các chúng sinh khác. Cho những ai muốn nghe thêm nữa, Đức Phật giảng về Niết Bàn thật sự của quả vị Phật, và tất cả chúng sinh đều có thể đạt được quả vị nầy, kể cả hàng A-la-hán, dù rằng những vị A-la-hán vẫn tưởng rằng họ đã đạt được mục đích tối hậu. Đức Phật chỉ có một cỗ xe, Nhất Thừa (eka-yana), cỗ xe của Phật, nhưng Ngài dùng "phương tiện thiện xảo" để tạo ra 3 cỗ xe khác: Thanh văn thừa, Độc giác thừa, và Bồ tát thừa. Ngài truyền cỗ xe nào thích hợp với căn cơ của từng người, nhưng khi họ đã phát triễn tới một cấp độ nào đó thì Ngài sẽ truyền cho cỗ xe Phật tối thượng. Dù vậy, vì kinh đề cao Bồ tát đạo là con đường đưa đến Phật quả, thật khó mà phân biệt được giữa Bồ tát thừa và Phật thừa. Cuối cùng, kinh nầy vẫn hàm chứa ý nghĩa đề cao các hàng Bồ Tát theo định nghĩa của phong trào mới. Thật ra, không phải các kinh điển Mahayana đều theo quan niệm Nhất Thừa nầy. Có vài bộ kinh cho rằng trong ba thừa đó, quả vị A-la-hán không thể tiến xa hơn nữa, và Niết Bàn của A-la-hán có tầm mức thấp kém hơn Phật quả.
Tuy nhiên, theo các tiêu chuẩn của quả vị A-la-hán qua kinh điển nguyên thủy của nhiều tông phái, chẳng hạn như tông phái Theravada ngày nay, thì quan niệm trên -- về sự thấp kém của A-la-hán -- là một điều khó hiểu và vô lý. Không thể nào cho rằng A-la-hán là một người còn chấp ngã và ích kỷ. Theo định nghĩa trong kinh điển nguyên thủy, vị A-la-hán là người đã hoàn toàn tận diệt các tư tưởng về "tự ngã, cái tôi", vốn là nguồn gốc của chấp ngã và ích kỷ. Vị ấy cũng thường được kinh điển nguyên thủy mô tả như một người có lòng từ bi vô lượng, và hết lòng giảng dạy truyền bá đạo pháp, đem lại nhiều lợi lạc, hạnh phúc cho người khác. Niết Bàn và Giác ngộ chỉ có một, không có phân chia cấp độ. A-la-hán là những người đã đi theo con đường Phật dạy, phát triển tuệ giác, hoàn toàn tận diệt mọi lậu hoặc, và không còn tạo nghiệp để vướng mắc trong luân hồi sinh tử. Sự khác biệt giữa Phật và A-la-hán chỉ là khác biệt giữa vị Thầy khai sáng Chánh Pháp và các vị đệ tử hành trì thành công Chánh Pháp đó.
Cũng cần ghi nhận ở đây là các vị tu sĩ Thanh Văn Thừa đã đóng góp tích cực cho công trình quảng bá đạo Phật trong toàn xứ Ấn Độ và các nước lân bang trong một thời gian dài hơn 500 năm, từ khi Đức Phật hoằng khai Chánh Pháp cho đến khi có mặt phong trào Đại thừa. Thêm vào đó, truyền thống Theravada vẫn công nhận rằng con đường lâu dài đưa đến quả vị Phật, trải qua rất nhiều kiếp sống, là con đường cao thượng nhất, bởi vì sẽ cứu giúp được vô lượng chúng sinh. Con đường Bồ Tát nầy vẫn được một số các Phật tử Theravada hành trì, và xem như là một con đường đáng ngưỡng phục. Tuy nhiên, không phải người nào cũng đạt đến quả vị Phật vì chỉ có một vị Phật trong mỗi thời kỳ, và vị Phật trong thời kỳ tới là Bồ Tát Di Lặc. Vì vậy, đa số Phật tử Theravada đi theo con đường A-la-hán, họ hành trì theo các lời giảng dạy đã có sẵn của Đức Phật Cồ Đàm, ngày nay vẫn còn được lưu truyền rộng rãi, với mục đích có thể chứng đắc được một trong bốn quả thánh (Dự Lưu, Nhất Lai, Bất Lai, và A-la-hán) đưa đến giác ngộ, giải thoát ngay trong đời nầy hoặc đời sau.
Trong giai đoạn đầu khi mới thành hình, phong trào Đại thừa khuyến khích các cư sĩ đi theo Bồ Tát Đạo, thoát khỏi ràng buộc gia đình và lập ý nguyện xuất gia, trở thành tu sĩ, hành trì để đạt đến một trình độ tâm linh cao thượng. Về sau, vai trò của cư sĩ tại gia lại được đề cao hơn, chẳng hạn như trong kinh Duy Ma Cật (Vimalakirti-nirdesa). Từ quan niệm nguyên thủy Bồ Tát là người sắp thành Phật và thường dùng để chỉ các tiền thân của Phật Cồ Đàm, quan niệm về Bồ Tát trong Đại thừa được triển khai với ý nghĩa mới, trở thành một người cao thượng, giàu lòng hy sinh và từ bi để cứu nhân độ thế, làm việc từ thiện, chia xẻ công đức, đáp ứng các lời cầu nguyện, khuyến khích lễ lạc, phúng tụng, xây tháp v.v. Quan niệm nầy càng ngày càng trở nên phổ thông, nhất là khi Đại thừa được truyền sang Trung Hoa và một số kinh điển đã được trước tác thêm tại đó.
Qua nhiều thế kỷ, các tu sĩ Phật Giáo tại Ấn Độ học tập và hành trì theo cả hai truyền thống Thanh Văn Thừa và Đại Thừa, có khi họ cùng ở chung một tự viện. Ngay cả các nhà hành hương Trung Hoa cũng không phân biệt được Đại thừa như là một phong trào riêng rẻ trước thế kỷ 4 Công Nguyên. Về sau nầy, danh từ Tiểu thừa (Hinayana) đã bị nhiều người đồng hóa với ý nghĩa hạ tiện, thấp kém, và do đó cần phải tiến lên một mức độ cao hơn của Đại thừa (Mahayana).Trong ý nghĩa lịch sử, danh từ Hinayana khởi nguyên do các kinh điển Mahayana đặt ra để chỉ những truyền thống và bộ phái nguyên thủy vốn không công nhận các kinh điển mới của phong trào Đại thừa.
Các nhà Phật học ngày nay thường dùng danh từ "Phật Giáo Kinh Bộ" (Nikaya Buddhism) hoặc "Phật Giáo Nguyên Khởi" (Original Buddhism) để chỉ các tông phái sử dụng kinh điển nguyên thủy trước thời kỳ phát triển kinh điển đại thừa. Để chỉ các truyền thống Phật Giáo hiện tại, họ dùng danh từ "Phật Giáo Bắc Phương" (Northern Buddhism) để chỉ Phật Giáo Tây Tạng (Mật tông), "Phật Giáo Đông Phương" (Eastern Buddhism) để chỉ Phật Giáo tại Trung Hoa, Nhật Bản, Đại Hàn và Việt Nam, và "Phật Giáo Nam Phương" (Southern Buddhism) để chỉ Phật Giáo tại Tích Lan, Miến Điện, Thái Lan, Lào và Cam Bốt.

                                                                                        John R. O'Neil
                                      ("The Formation of Mahayana", Phước Hạnh trích dịch)