Thứ Tư, 26 tháng 4, 2017

VÔ ÚY TỰ TẠI (Gyalwang Drukpa)

Kết quả hình ảnh cho drukpa là gì



Đức Pháp Vương Gyalwang Drukpa đã có buổi Pháp thoại tại Viện Teen Murti, thủ đô New Delhi nhân kỷ niệm Quốc khánh lần thứ 64 của Ấn Độ. Dưới đây là bài phỏng vấn Ngài do Narayani Ganesh thực hiện cho Thời báo Times Of India vào ngày 27 tháng 8, 2011. (Nguồn: “Fearless and Free”, http://www.speakingtree.in/spiritual-articles/lifestyle/fearless-and-free Trang web www.speakingtree.in  08/2011)

Câu hỏi: Thưa Pháp Vương, khái niệm “tự do” có ý nghĩa gì đối với Ngài?

Trả lời: Tôi nghĩ rằng tự do là một chủ đề mà mọi người thường nhắc đến. Ai cũng muốn có được tự do, nhưng dường như có rất nhiều cách giải nghĩa cụm từ này và nhiều khái niệm khác nhau về tự do. Theo tôi, có tự do về thể chất và tự do về tinh thần. Ta phải đạt được sự tự tại từ bên trong trước, từ đó các sắc màu của cuộc sống bên ngoài sẽ thay đổi.

Trong tâm trí, chúng ta luôn cần được tự do để có lựa chọn đúng đắn; nhưng ta thường lưỡng lự không làm như thế, bởi vì chúng ta còn thiếu trí tuệ, tâm bị xao lãng, vọng động, rối loại và khổ đau thường từ đó mà ra. Đây quả thực là một thách thức rất lớn trong cuộc sống. Một bạn trẻ thời nay thường xuyên phải đối mặt với rất nhiều sự lựa chọn, nhưng làm thế nào để có lựa chọn tốt? Rồi cách tiếp cận vấn đề của chúng ta thường thiên về vật chất hơn về tinh thần. Cách lựa chọn này đôi khi mang lại cho ta niềm vui trong chốc lát, nhưng chỉ làm ta rối loạn hơn. Chưa kể, nó sẽ dần tạo thành một thói quen. Nếu chúng ta biết rõ mình phải lựa chọn, ra quyết định như thế nào, đó là tự do. Nhưng chúng ta còn vô minh, thiếu trí tuệ, đó chính là sự trái ngược với tự do.

Câu hỏi: Thưa Ngài, cái gì có thể giúp một người chứng ngộ sự tự tại bên trong?

Trả lời: Bạn cần phải có trí tuệ, phải tìm và nhận ra được trí tuệ ấy ở trong chính mình mà không vướng mắc vào bản ngã. Điều này dẫn ta tới triết lý sống rằng cần thấu hiểu bản chất tự nhiên. Mỗi chúng ta đều nên theo một triết lý sống nào đó. Hiện tại, chúng ta chỉ hay quan tâm tới khía cạnh vật chất của cuộc sống. Tuy nhiên, ta cần hiểu biết hơn về bản chất tự nhiên. Ví dụ, khi ta chọn một cặp kính thì vẻ bề ngoài của nó không quan trọng bằng bản chất tự nhiên, lợi ích và công dụng của nó, bởi suy cho cùng, tất cả đều bắt nguồn từ bản chất tự nhiên. Từ đó dẫn dắt ta quay trở về với tình yêu tự nhiên.

Thấu hiểu vẻ đẹp bằng cách nhận biết khởi nguồn của nó. Rồi bạn sẽ cảm thấy mãn nguyện, thấy mình có khả năng chọn lựa một cách thư thái, an vui, không nóng nảy vội vã, bởi bạn đang thấm dần triết lý sống.

Câu hỏi: Ngài đã từng nói Niết bàn và Luân hồi là hai mặt của cùng một thực tại. Vậy Niết bàn không phải là một trạng thái bất diệt, vĩnh cửu, khác hẳn với Luân hồi hay sao?

Trả lời: Tôi không cho rằng Niết bàn là vĩnh cửu, mà cả Niết bàn và Luân hồi đều là vĩnh cửu. Nói như vậy không có gì là khó hiểu, bởi có nhiều cách để nhận thức niết bàn và luân hồi. Luân hồi là sự phóng chiếu, sự chuyển động của niết bàn. Nếu bạn nghĩ rằng niết bàn là một cái gì đó bất di bất dịch, một trạng thái vĩnh cửu thường hằng thì chính cách nghĩ đó là thiếu chính kiến.

Vấn đề là chẳng có gì để chỉ bày, mà chúng ta chỉ có thể bàn luận về nó. Thực chất, Niết bàn không thật có, bởi tất cả chúng ta – cái bàn này, bạn và tôi – đều là Niết bàn, nếu như bạn thực chứng được tự tính của vạn pháp. Nếu không thì tất cả đều là Luân hồi. Tự nhiên là gì và chiều sâu của tự nhiên là gì? Có biết bao khía cạnh của tự nhiên như núi, sông, cây cối, những thác nước, cầu vồng… Tất cả đây đều là những nhận thức ban đầu và tạm thời về tự nhiên. Nếu ta sống có triết lý thì cái nhìn của ta về tự nhiên sẽ sâu sắc hơn nhiều.

Câu hỏi: Vậy ý Ngài là tất cả tự nhiên chỉ là những phân tử luôn chuyển động, rằng luôn có sự thay đổi dù bên ngoài không hiển thị như thế?

Trả lời: Cách nói đó có lẽ cũng đúng, nhưng ý tôi là tất cả đều là tính không – và bạn thực sự không thể miêu tả tính không bằng ngôn ngữ khoa học. Nói tính không là không có gì hay là vô tận đều không đúng, bởi tính không là thứ ta không thể miêu tả bằng ngôn ngữ.

Ngay cả Đức Phật hay các đấng giác ngộ khác cũng không thể miêu tả nó. Khi ta dần chứng ngộ bản chất của tự nhiên, bạn có thể dùng từ toàn tri hay tôi có thể nói “Tôi có thể đọc được ý nghĩ của bạn”, “Tôi có thể nhìn được phía bên kia!” Có nhiều chân ngôn và năng lực kì diệu, nhưng những từ ngữ này cũng chưa diễn tả đủ. Trí tuệ toàn tri chân chính xuất phát từ sự thấu hiểu tính không. Những chướng ngại tâm sinh lý bạn đang trải qua dường như là bị động, chúng không có tầm quan trọng gì đối với hiểu biết của bạn. Cũng không có nghĩa là chúng sẽ tan vỡ hay tòa nhà sẽ tan vỡ.

Ví dụ, một toàn nhà bằng bê tông sẽ không còn là vật chất đối với bạn nữa; nó không còn quan trọng nữa. Nếu tôi thấu hiểu tính không thì một toà nhà sẽ không hiển lộ một cách vật chất nữa. Tôi cũng sẽ chẳng cố “nhìn thấu” một tòa nhà hay một người khác. Một khi bạn đạt được sự chứng ngộ sâu xa, bạn sẽ bắt đầu thực sự hiểu biết. Bạn trở thành toàn tri.

Câu hỏi: Trở lại chủ đề tự tại, không phải ta đang bó buộc mình khi đặt ra những giới hạn và danh tính để miêu tả sự tự tại?

Trả lời: Khi nghe những chuyện về một ai đó gặp vấn đề với visa nhập cảnh, tôi thường tự hỏi mình tại sao lại có những biên giới? Tôi nghĩ câu trả lời là sự tham lam và bản ngã, chúng luôn kêu lên “Đây là lãnh địa của tôi, không gian của tôi”. Đây là một hiểu biết sai lầm của bản ngã. Bạn đã tạo ra nỗi sợ hãi từ bản ngã. Sự tự tại phải được đạt tới trong tỉnh thức.

Hãy xé toang rào cản tinh thần đó. Trước khi kiến lập những rào cản thể chất, ta cần phải vượt qua những rào cản tinh thần. Bạn phải cảm thấy thực sự an lạc, dù đang ở bất kỳ đâu. Bạn phải biết khoan dung và chấp nhận. Để đạt được điều đó, trước hết bạn phải cảm thấy thoải mái, an lạc với chính bản thân. Sức mạnh để đạt được điều này đến từ bên trong tâm thức của bạn. Ý chí của bạn phải trở nên to lớn, không nhỏ nhoi. Bạn phải biết yêu thương. Bạn phải có sự tự tin.

Tôi muốn dùng một ẩn dụ như thế này: Một con voi rất to lớn; nó từ tốn, trông rất hay và bước đi với sự tự tin. Những loài nhỏ bé lại thường chạy loanh quanh một cách loạn động, luôn sống trong sợ hãi, bất an, vì thế chúng cắn xé và luôn trong tinh thần hoảng loạn. Để thực sự lớn mạnh, bạn cần sự tự tin bên trong chính mình. Trải nghiệm tự tại bắt nguồn từ sức mạnh tinh thần và lòng bi mẫn, chứ không phải từ sức mạnh cơ bắp hay từ một sức mạnh của một đạo quân.

Câu hỏi: Khushwant Singh nói rằng lý thuyết của sự tái sinh và đầu thai là không có cơ sở. Ông từng hỏi Đức Dalai Lama rằng tại sao chỉ có một số người theo đạo Phật và đạo Hindu có thể nhớ được kiếp trước của mình; và ông cho rằng lý thuyết này có sự liên hệ mật thiết với nền văn hóa Nam Á. Đức Dalai Lama chỉ cười khi nghe câu hỏi này. Ngài có bình luận gì về chuyện này?

Trả lời: Điều này không hoàn toàn đúng. Có rất nhiều câu chuyện về những người thuộc các tín ngưỡng khác có khả năng nhớ được kiếp trước của mình. Gần đây tôi còn được gặp một em bé theo đạo Hồi, em bé này quả quyết rằng em nhớ về kiếp trước của mình, khi em đã từng là một vị sư tu tập theo truyền thống Drukpa! Hay có một em bé người Sikh ở Chandigarh đã nhận ra một đôi vợ chồng là cha mẹ của mình trong kiếp trước.

Tôi nghĩ Đức Dalai Lama cười bởi đây không phải là cái bạn có thể dễ dàng giải thích. Nếu muốn nói gì với ông ta, chắc Ngài sẽ phải mất rất nhiều thời gian. Phần lớn người ta không tin vào sự tái sinh, và kể cả trong số những người tin, phần lớn họ cũng không nhớ nổi kiếp trước của mình!

                                                                         (Drukpa Viet Nam)

Thứ Ba, 25 tháng 4, 2017

ĐỌC TỤNG KINH VĂN (Thích Chúc Hiền)

                                                                                   Kết quả hình ảnh cho phật pháp nhiệm mầu

                                                                       Đọc tụng kinh văn lắng nghiệp trần,
                                                                       Lời kinh thánh thoát diệt tham sân.
                                                                       Đèn thiền tỏa chiếu xua niềm tục,
                                                                       Đuốc tuệ ngời soi thấu lẽ chân.
                                                                       Phật Phật tuyên thuyên kinh liễu nghĩa,
                                                                       Tăng Tăng trùng tụng pháp chơn âm.
                                                                       Kinh văn rõ nghĩa, kinh vô tự,
                                                                       Phản chiếu, hồi quang tâm nhiếp tâm!

                                                                                                                     Chúc Hiền

TUỔI ĐÁ MÒN (Thích Tánh Thiện)

                                                                       Kết quả hình ảnh cho tuổi già

                                                                                                 TUỔI ĐÁ MÒN
                                                                                  Kính gởi tặng các vị cao niên trên 60 tuổi .

                                                                      Sáu mươi tuổi chẳng còn chi nghĩ tới
                                                                      Chuyện cuộc đời chuyện mơ mộng tương lai
                                                                      Tuổi này đây xin chuẩn bị về ngay
                                                                      Bên kia núi cả bầu trời xanh cỏ

                                                                      Thất thập chẳn tuổi cuộc đời buông bỏ
                                                                      Bỏ tiền tài sự nghiệp cả nước non
                                                                      Giờ chẳng màng gánh nặng mất hay còn
                                                                      Tuổi thu xếp trở về nơi chốn cũ

                                                                      Tám chục đến đạo đời nay đã đủ
                                                                      Chẳng còn gì bàn tính chuyện  vu vơ
                                                                      Mong lòng ta có được một bến bờ
                                                                      Nhìn sao sáng bên vầng trăng thơ mộng .

                                                                                                                    Tánh Thiện
                                                                                                                     25-4-2017

Thứ Hai, 24 tháng 4, 2017

VĂN HOÁ THIỀN MÔN (Thích Tánh Thiện)


                                                                   Kết quả hình ảnh cho thiên

                                                                                 Thiền môn nét đẹp lắng yên
                                                                                 Lòng người đạo sĩ an nhiên tháng ngày
                                                                                 Mở khai tâm trí trong ngoài
                                                                                 Như như bất động hiển bày nội tâm

                                                                                 Đường vào thiền tập ở tâm
                                                                                 Cho ta chẳng phạm sai lầm tứ tung
                                                                                 Nhìn về hướng đẹp bao dung
                                                                                 Tâm ta mở cánh cửa tùng bao la

                                                                                 Dù ai quyền chức cao xa
                                                                                 Cũng không thay đổi lòng ta bao giờ
                                                                                 Thiền môn bóng mát vườn thơ
                                                                                 Đưa người về lại bến bờ thong dong .


                                                                                                                 Tánh Thiện
                                                                                                                  24-4-2017

 

CHƠN TÂM - VỌNG NIỆM (Thích Chúc Hiền)

                                                             

                                                                                  Xướng: CHƠN TÂM

                                                                  Chơn tâm tịch tĩnh chiếu đêm ngày,
                                                                  Động tịnh xưa nay, chẳng đổi thay.
                                                                  Đến đến, đi đi, tuỳ cảnh hiện,
                                                                  Cười cười, nói nói, ứng duyên bày.
                                                                  Không thêm, không bớt, luôn tròn đủ,
                                                                  Chẳng thiếu, chẳng dư, mãi vẹn đầy.
                                                                  Tự tại, thong dong, ngời vạn nẻo,
                                                                  Niết Bàn, Cực Lạc chính tâm đây!

                                                                                                           Chúc Hiền

                                                                                     Họa: VỌNG NIỆM


                                                                  Vọng niệm lăng xăng suốt tháng ngày,
                                                                  Đảo điên, quanh quẩn, lắm dời thay.
                                                                  Đi đi, đến đến, thô tâm hiện,
                                                                  Đứng đứng, ngồi ngồi, vọng nghiệp bày
                                                                  Sáu cõi luân hồi, từng hội đủ,
                                                                  Ba đường khổ luỵ, cứ huân đầy.
                                                                  Ưu sầu, vất vưởng, tràn muôn nẻo
                                                                  Địa ngục, u đồ do bởi đây!

                                                                                                         Chúc Hiền

Chủ Nhật, 23 tháng 4, 2017

HAI VIÊN GẠCH XẤU

Kết quả hình ảnh cho hai vien gach xau
                                                               

SỰ HOÀN HẢO VÀ MẶC CẢM               
Thiền Sư Ajahn Brahm

 Sau khi mua đất để xây tu viện vào năm 1983, chúng tôi hết sạch tiền. Chúng tôi lâm vào hoàn cảnh nợ nần. Miếng đất trống trơn, chẳng có nhà cửa gì cả, một túp lều cũng không. Những tuần sau đó chúng tôi không có giường để nằm mà phải ngủ trên những tấm cửa cũ mua rẻ từ một vựa phế liệu và chúng tôi kê gạch bên dưới các góc để nâng nó lên cao một chút.
(Dĩ nhiên là không có nệm vì chúng tôi là những tu sĩ trong rừng.)

Vị viện chủ được dành cho tấm cửa đẹp nhất, một tấm cửa phẳng phiu. Còn tấm cửa của tôi thì có một lỗ trống ở giữa do trước kia đó là chỗ tra bộ khóa. Tôi nói đùa rằng khi ngủ dậy tôi không cần bước xuống giường để đi vệ sinh. Thật ra thì buổi tối rất lạnh vì gió luồng qua lỗ trống đó thổi lên khiến tôi ngủ không yên.

Chúng tôi là những tu sĩ nghèo cần cất nhà nhưng không đủ tiền để thuê thợ xây – đối với chúng tôi tiền mua vật liệu xây dựng cũng hầu như vượt quá khả năng rồi. Vì thế chúng tôi phải học cách xây: nào là đào móng, trộn hồ, đặt gạch, nào là cất mái, lắp ống nước – nói chung là tất cả mọi công việc. Hồi chưa xuất gia tôi học vật lý và là một giáo viên trung học, chưa biết lao động chân tay. Thế nhưng sau vài năm sống ở đây tôi đã trở thành thợ khéo, và thậm chí gọi nhóm xây dựng của chúng tôi là BBC (Buddhist Building Company – Công ty Xây dựng Phật giáo). Nhưng nhớ lại khi mới bắt đầu thật là khó khăn.

Mới thoạt nhìn thì việc xây tường đâu có gì khó: chỉ lót một lớp hồ mỏng bên dưới, một chút ở hai bên, một lớp ở trên. Thế nhưng khi bắt tay đặt viên gạch lên thì công việc hóa ra không dễ : tôi gõ nhẹ ở một đầu cho bằng thì đầu kia nhô lên. Tôi gõ đầu kia xuống thì viên gạch chệch ra, không còn thẳng hàng nữa. Sau khi gõ lại cho ngay ngắn thì ở góc nó lại hơi vênh. Bạn cứ thử làm đi thì biết.

Là thầy tu tôi có thì giờ lẫn sự kiên nhẫn cần thiết để tiến hành công việc. Thế nên tôi cẩn thận từng chút để mọi viên gạch đều ngay hàng thẳng lối dù mất thời gian bao lâu cũng được. Cuối cùng tôi cũng xây xong bức tường đầu tiên và đứng lùi ra mấy bước để ngắm nhìn. Chỉ lúc đó tôi mới thấy – Mô Phật ! – có hai viên gạch bị lệch. Thật là xấu xí khủng khiếp. Nó làm hỏng cả bức tường. Thật là quá dở.

Nhưng lúc đó thì vữa đã đông cứng rồi không thể gỡ hai viên gạch đó ra được. Thế nên tôi xin phép thầy Viện chủ cho đập bỏ bức tường để xây lại. Tôi thật là vụng về và lấy làm xấu hổ. Nhưng thầy Viện chủ không cho.

Sau này khi dẫn khách đi xem công trình tôi tránh để khách đi ngang qua bức tường đó. Tôi không muốn người ta nhìn thấy nó. Nhưng một hôm, sau khi xây xong chừng ba bốn tháng tôi đi cùng với một vị khách đi xem và vị ấy nhìn thấy bức tường.

Ông ta khen ngợi, “ Bức tường này xây đẹp đó.”
Tôi ngạc nhiên hỏi, “ Đạo hữu có bỏ quên kính trong xe không? Hay là mắt của đạo hữu có làm sao? Đạo hữu có thấy hai viên gạch lệch kia không? Nó làm xấu cả bức tường.”

Những gì ông ta nói sau đó làm thay đổi quan niệm của tôi về bức tường, về cách tôi nhìn chính mình và cả cách nhìn đời. Ông ta nói, “ Có, tôi có thấy hai viên gạch xây lệch đó. Nhưng tôi cũng thấy 998 viên gạch xây ngay hàng thẳng lối.”

Tôi hết sức kinh ngạc. Đó là lần đầu tiên trong vòng nhiều tháng tôi nhìn thấy được những viên gạch khác ngoài hai viên bị lỗi kia. Phía trên, phía dưới, ở hai bên hai viên gạch lệch là những viên gạch tốt, được xếp ngay ngắn. Ngoài ra, những viên gạch xây tốt chiếm một số lượng nhiều hơn hai viên gạch xấu rất nhiều. Thế mà trước đây mắt tôi chỉ tập trung nhìn hai viên gạch hỏng thôi. Tôi không nhìn thấy cái gì khác. Đó là lý do khiến tôi không thích nhìn bức tường, cũng không thích mọi người nhìn thấy nó. Đó là lý do khiến tôi muốn đập bỏ nó. Bây giờ khi tôi có thể nhìn thấy những viên gạch khác thì bức tường trông cũng không tệ lắm. Mà ông khách còn khen là xây đẹp nữa đấy. Hai mươi năm sau bức tường vẫn còn đó nhưng tôi không còn nhớ hai viên gạch xấu nằm ở đâu. Tôi không còn nhìn thấy lỗi lầm.

Có bao nhiêu người đã cắt đứt mối quan hệ hay đi đến ly dị bởi vì họ nhìn thấy “hai viên gạch xấu”? Bao nhiêu người trong chúng ta đây đã từng thất vọng, thậm chí nghĩ đến việc tự tử, chỉ vì thấy trong ta “hai viên gạch xấu”? Sự thật là có nhiều viên gạch tốt, hoàn hảo, ở bên trên, bên dưới, ở khắp xung quanh viên gạch lỗi – nhưng chúng ta có lúc không nhìn thấy. Thay vào đó, mắt chúng ta chỉ tập trung nhìn vào chỗ không tốt. Chúng ta chỉ thấy lỗi lầm và chúng ta nghĩ tất cả đều xấu, thế cho nên chúng ta muốn đập bỏ. Và đôi khi, thật đáng tiếc, là chúng ta phá hủy cả “một bức tường đẹp”.

Tất cả chúng ta đều có hai viên gạch xấu, nhưng những viên gạch đẹp trong mỗi người chúng ta lại rất nhiều, nhiều hơn những viên gạch xấu. Khi chúng ta thấy được điều này thì sự việc không đến nỗi tệ. Không những chúng ta có thể làm lành với mình, với những lỗi lầm của mình, mà còn có thể làm hòa với người khác. Đây là một tin tức không tốt đối với giới luật sư, nhưng là một tin tốt lành cho tất cả các bạn.

Tôi đã kể lại câu chuyện này nhiều lần với những người xung quanh. Một hôm, có một người thợ nề bước đến gần và nói cho tôi nghe một bí mật nghề nghiệp. “Tất cả thợ nề chúng tôi đều phạm lỗi, nhưng chúng tôi nói với khách hàng là nó làm cho ngôi nhà có một “nét độc đáo” không có nhà nào khác có được. Thậm chí chúng tôi còn đòi thêm vài ngàn đô la vì nét độc đáo này!”

Vậy thì “nét độc đáo” trong ngôi nhà của bạn thoạt đầu có thể là một lỗi lầm. Tương tự như thế, bạn có thể xem các lỗi lầm của bạn, của bạn bè, và của cuộc đời nói chung là những “nét độc đáo” làm phong phú cái toàn thể - một khi bạn không tập trung nhìn vào những lầm lỗi .

                                                                  Trần Ngọc Bảo
                                    Trích dịch từ cuốn “Who Ordered This Truckload of Dung?”


9 CÂU DANH NGÔN CỦA CỔ NHÂN – 9 BÀI HỌC LÀM NGƯỜI ĐẦY TRÍ TUỆ

                                                          tu dưỡng, người xưa, Bài học,

Biển rộng có thể dung chứa nước của trăm sông, vì dung chứa nên mới thành ra to lớn. Có thể khoan dung độ lượng, rộng rãi phóng khoáng, đây cũng chính là biểu hiện của một người có tu dưỡng…
1. Thiện thượng nhược thủy (Thiện cũng giống như dòng nước)
Lão Tử giảng: “Thượng thiện nhược thủy, thủy thiện lợi vạn vật nhi bất tranh, xử chúng nhân chi sở ác, cố cơ ư đạo”.
Tạm dịch: Người thiện ví như dòng nước, nước làm lợi cho vạn vật mà không tranh giành, chịu ở nơi mọi người ghét, nên gần với Đạo.
Ý nói rằng, cảnh giới tối cao của thiện cũng giống như phẩm chất của nước, tưới mát cho vạn vật mà không tranh không giành, ở những nơi mà mọi người không để ý tới, vì thế mà tiếp cận gần với Đạo.
Đặc tính của nước là “chí thiện chí nhu”, vô cùng lương thiện vô cùng ôn nhu; lại “miên miên mật mật”, liên tục không ngừng; khi thì nhỏ nhẹ lặng lẽ, lúc lại cuộn trào mãnh liệt; không tranh với người mà dung nạp vạn vật. Đạo của cuộc sống chính là như vậy.
2. Đại trí nhược ngu (Tài trí giả ngu dốt)
Trung Quốc cổ đại có câu thành ngữ “đại trí nhược ngu”. Câu thành ngữ này xuất phát từ “Hạ Âu Dương thiếu suất trí sĩ khải” của Tô Đông Pha đời Tống: “Đại dũng nhược khiếp, đại trí nhược ngu” (Kẻ dũng mãnh giả như khiếp sợ, kẻ tài trí giả như ngu dốt).
Ý nói kẻ có tài trí rất cao nhưng không để lộ tài năng, biểu hiện ra giống như ngu dốt. Ý tứ tương tự còn có câu: “Đại xảo nhược chuyết” (Khéo léo mà giả như vụng về).
3. Đạm bạc minh trí (Đạm bạc thì chí sáng suốt)
Câu này nguyên là xuất phát từ “Hoài Nam tử: Chủ thuật huấn” của Hoài Nam vương Lưu An vào những năm đầu thời Tây Hán. Trong “Giới tử thư” của Gia Cát Lượng có đoạn: “Phi đạm bạc vô dĩ minh chí, phi ninh tĩnh vô dĩ trí viễn”, tức là không đạm bạc thì không thể sáng cái chí, không yên tĩnh thì không thể nghĩ được xa.
Lão Tử cũng giảng: “Điềm đạm vi thượng, thắng nhi bất mỹ”, ý nói điềm đạm là thượng sỹ, thắng cũng không đắc ý. Không “thanh tâm quả dục” (tâm thanh tĩnh, ít ham muốn) thì không thể có chí hướng rõ ràng kiên định; không an định thì không thể thực hiện được lý tưởng, cũng không chịu khó chịu khổ để học tập được.
4. Tích thủy xuyên thạch (Nước chảy đá mòn)
Câu này có nguồn gốc từ cuốn “Hạc lâm ngọc lộ” của La Đại Kinh thời Tống: “Nhất nhật nhất tiễn, thiên nhật thiên tiễn, thằng cứ mộc đoạn, thủy tích thạch xuyên”. Tạm dịch: Một ngày một đồng, nghìn ngày nghìn đồng, thừng cưa gỗ đứt, nước chảy đá mòn.
Trương Quai Nhai là người thời Tống, làm huyện lệnh huyện Sùng Dương. Lúc bấy giờ, đời sống xã hội trong huyện vô cùng bất ổn, trộm cướp hoành hành, ngay cả kho tiền của huyện cũng thường xuyên bị mất trộm. Trương Quai Nhai quyết tâm phải xử lý việc này đến nơi đến chốn.
Một ngày nọ, Trương Quai Nhai trông thấy một tiểu lại lật đật đi ra từ kho tiền, trên chiếc khăn đội đầu còn giấu một đồng tiền. Ngay lập tức ông liền hạ lệnh tra khảo. Tiểu lại không phục, nói: “Một đồng tiền thì có là gì đâu? Ông có thể đánh tôi nhưng không thể giết tôi!”. Trương Quai Nhai giận dữ đáp: “Một ngày một đồng, nghìn ngày nghìn đồng, thừng cưa gỗ đứt, nước chảy đá mòn. Phải chém!”.
Từ đó về sau, “tích thủy xuyên thạch” (nước chảy đá mòn) trở thành một câu thành ngữ để nói về sự kiên trì bền bỉ không ngừng, nhiều lực lượng nhỏ bé tích tụ lại cũng có thể làm nên thành quả vô cùng to lớn.
5. Hậu tích bạc phát (Tích lũy nhiều, dùng ít một)
Đây là một câu trong “Giá thuyết tống Trương Hổ” của Tô Đông Pha: “Bác quan nhi ước thủ, hậu tích nhi bạc phát”, tức là đọc nhiều mà giữ lại ít, tích lũy nhiều mà dùng ít một. Ý nói rằng, đọc sách nhiều đến đâu cũng chỉ có thể chắt lọc tinh hoa mà giữ lại, tích lũy nhiều đến đâu cũng chỉ có thể dùng từ từ từng chút một.
6. Nhất nặc thiên kim (Lời hứa nghìn vàng)
Câu này xuất hiện trong “Quý Bố, Loan Bố liệt truyện”: “Đắc hoàng kim bách cân, bất như đắc Quý Bố nhất nặc”. Tạm dịch: Được trăm cân vàng, không bằng được một lời vâng của Quý Bố.
Ở nước Sở có một người tên là Quý Bố, tính tình cương trực trượng nghĩa. Chỉ cần là việc đã đồng ý làm thì bất kể khó khăn đến mấy anh ta cũng nghĩ cách làm cho bằng được, vì thế mà ai ai cũng đều nể trọng. Người ta nói: “Một lời hứa của Quý Bố còn đáng giá hơn nghìn vàng”. Nói lời giữ lời, sẽ có được tín nhiệm của thiên hạ.
7. Thái nhi bất kiêu (Thư thái mà không kiêu căng)
Trong “Luận ngữ” của Khổng Tử có đoạn vua Nghiêu nói”: “Quân tử huệ nhi bất phí, lao nhi bất oán, dục nhi bất tham, thái nhi bất kiêu, uy nhi bất mãnh”, ý rằng người quân tử ban ơn mà không hao tổn, khổ cực mà không oán hận, mong muốn mà không tham lam, thư thái mà không kiêu căng, uy nghiêm mà không dữ tợn.
Ở đây chủ yếu bàn về những yêu cầu cơ bản đối với việc trị quốc mà Khổng Tử đề xuất, đồng thời nói đến giai đoạn lịch sử của ba vị “Tam hoàng”, khi vua Nghiêu truyền ngôi cho vua Thuấn, vua Thuấn truyền ngôi cho vua Vũ.
8. Vô dục tắc cương (Không cầu tự được)
Trong “Luận ngữ – Công dã tràng đệ ngũ” có đoạn:
Khổng Tử nói: “Ta chưa từng thấy người nào kiên cường”. Có người đáp: “Thân Trành là người như vậy”. Khổng Tử nói: “Thân Trành nhiều dục vọng, sao có thể gọi là kiên cường?”
Truyện kể lại rằng, một ngày nọ Khổng Tử đang thuyết giảng đạo lý cho các môn sinh, không kiềm lòng được bèn cảm thán: “Ta chưa từng gặp người nào thực sự kiên cường bất khuất”. Các đệ tử đều cảm thấy rất kỳ lạ, họ cho rằng người như vậy giống như Tử Lộ, ngoài ra còn có Thân Trành, đều là những người hết sức kiên cường bất khuất.
Nhất là Thân Trành, tuy rằng trẻ tuổi nhưng mỗi lần tranh luận cùng người khác thì không bao giờ dễ dàng nhượng bộ. Cho dù là đối với trưởng bối hay sư huynh thì cũng không kiêng nể chút nào, thái độ lúc nào cũng vô cùng cứng rắn cương quyết. Mọi người đối với anh ta đều ba phần nhượng bộ.
Cho nên các môn sinh khi nghe Khổng Tử cảm thán rằng chưa từng gặp qua người nào kiên cường thì không hẹn mà cùng nói: “Nếu nói về kiên cường thì Thân Trành là hoàn toàn xứng đáng thưa thầy!”
Khổng Tử nói: “Thân Trành nhiều dục vọng, sao có thể gọi là kiên cường?”
Một đệ tử hỏi: “Thân Trành không tham lam tiền tài, vậy sao Thầy lại nói anh ta nhiều dục vọng?”
Khổng Tử trả lời: “Thực ra, cái gọi là dục vọng không phải chỉ nói về tham lam tiền tài. Nói một cách đơn giản, phàm là chưa rõ phải trái trắng đen liền tranh cãi với người khác thì cái tâm đó còn hơn cả tư tâm tư lợi, đó chính là ‘dục’. Thân Trành tuy rằng tính cách chính trực nhưng lại cậy mạnh tranh thắng, thường hành sự theo cảm tính, đây chính là một loại ‘dục’. Người như vậy làm sao có thể gọi là cương cường bất khuất?”
Khổng Tử lại nói: “‘Cương’ cũng không phải là hiếu thắng khoe sức khoe tài, mà là một loại công phu tự khắc chế chính mình. Có thể khắc chế dục vọng của bản thân mình thì bất kể là ở hoàn cảnh nào cũng không đi ngược lại thiên lý, hơn nữa còn kiên định trước sau như một, không dễ dàng thay đổi, lúc này mới đúng là ‘cương’ chân chính”.
9. Hải nạp bách xuyên, hữu dung nãi đại (Biển nạp trăm sông, có thể dung chứa nên thành to lớn)
Câu này nguyên là từ “Tam quốc danh thần tự tán” của Viên Hoành mà ra: “Hình khí bất tồn, phương thốn hải nạp”. Lý Chu Hàn chú giải: “Lòng người phải giống như biển tiếp nạp trăm sông, ý nói là bao la rộng lớn, khoan dung độ lượng”.
Biển rộng có thể dung chứa nước của trăm sông, có thể dung chứa nên mới thành ra to lớn, “Hải nạp bách xuyên, hữu dung nãi đại”. Có thể khoan dung độ lượng, rộng rãi phóng khoáng, đây cũng chính là biểu hiện của một người có tu dưỡng.
TinhHoa tổng hợp