Thứ Sáu, 15 tháng 3, 2019

VÀI CẢM NHẬN NHÂN ĐỌC TẬP THƠ VỀ NGUỒN CỦA THẦY MINH ĐẠO





          VÀI CẢM  NHẬN NHÂN ĐỌC TẬP THƠ VỀ NGUỒN CỦA THẦY MINH ĐẠO

     Nhận được tập thơ VỀ NGUỒN, tập thơ thứ 7 của thầy Minh Đạo gởi tặng, tôi rất thích vội ghi ngay vài cảm nhận về cách nhìn những hiện tượng trong đời sống qua thiền vị mà Thầy đã thể hiện trong tập thơ.

    Tiện đây tôi xin giới thiệu vài nét về Thầy, mặc dù biết ý Thầy thích sống lặng lẽ, không muốn nói về mình… Trong lĩnh vực thư pháp (chắc nhiều người đã biết), thầy có phong thái riêng, với nét bút bay lượn đặc trưng không lẫn với ai cả… Trong hội họa với trên 100 bức tranh còn lại  trong không gian tĩnh lặng nhà Thầy sau những lần triển lãm và hình như Thầy chuyên vẽ về thủy mặc, có phong cách nhẹ nhàng, uyển chuyển…Còn trong lĩnh vực thi ca Thầy viết nhiều đề tài, đa số theo thể thơ Đường luật …
 
    Trở lại với tập thơ VỀ NGUỒN, hình thức trang trí, trình bày tập thơ do chính Thầy thực hiện (Design) toát ra cả đạo tâm, nhẹ nhàng, không cầu kỳ, rối rắm. Ngoài thể Thất ngôn bát cú Đường luật Thầy còn vận dụng những biến thể: Vận hồi đầu, tập danh, Giao cổ đối, Ngũ độ thanh, Chiết tự - khoán th, Bát điệp - Thuận nghịch độc, Đảo vận, Hoán vận …,và thường đối họa để nói rõ hơn ý mình.

   Đi vào nội dung, nhiều người cũng đồng ý với tôi là đọc nhiều lần để cảm nhận ra sự sâu lắng, tinh tế trong từng câu, từng bài (Ý tại ngôn ngoại).
  Mở đầu tập thơ, Thầy trích 4 câu thơ trong bài Về nguồn:

                                      Hoàng hôn vội vã lặn sau đồi,
                                      Trăng xuống chuông chùa phút dạ vơi.
                                      Lững thững mt mình rong cõi mộng,
                                      Băn khoăn my li tậnTây tri…

  “ Sinh, lão, bệnh, tử “là quy luật cuộc đời, con người không ai có thể tránh khỏi, Sinh ra, lớn lên, về già, ốm đau bệnh tật, rồi giả biệt cõi đời. Thời gian thấm thoát, chính vì vậy “vội vã”vì sợ thân Tứ đại biến đổi, hư hoại. Đến thời điểm nào đó tác động bởi lời kinh, câu kệ, bài giảng của vị các ân Sư v, v…và  tỉnh giác…
   Thản nhiên trước những biến cố, những thay đổi trong cuộc đời như đau ốm bệnh tật, hoạn nạn, sự nghiệp, địa vị v.v… Vì hiểu rõ quy luật vô thường, bởi vốn không có gì trường cửu, vĩnh hằng, mọi thứ đều biến dịch, thì có gì phài khủng hoảng trước những đổi thay.
    Nhận thức lẽ vô thường, có sự chuẩn bị tâm lý, quán chiếu sâu sắc là hết sức cần thiết, để khi vô thường xảy đến chúng ta có được sự bình tâm, tỉnh trí, hạn chế hoặc tránh được những khổ não, bất an. 
                                        Văng vẳng chuông ngân lòng thổn thức,
                                         Dương gian mấy thuở… ngẫm thân bèo.
                                                                                    ( Qua đèo )
   Khi đã quay đầu và nhận ra tính chơn như, cảnh giới duyên dung bất sinh cùng bất diệt mà qui thuận theo giáo pháp:
                                          Bất diệt bất sanh, lìa vọng tưởng,
                                          Nương duyên thuận pháp, ngắm liên thanh. (*)
                                                                                     ( Hơn thua tráo tr )

   Và cũng chính Phật tánh bao trùm khắp vũ trụ và chúng ta đang ngập tràn trong bể tịnh thủy nầy mà không nhận ra:

                                             Cũng thế dương trần đang phước lạc,
                                             Suy ngàn vi diệu mãi bên ta…
                                                                                       ( Lại ngẫm )
   Một chủ đề khác trong tập VỀ NGUỒN mà tôi cũng tâm đắc khi Thầy Minh Đạo đã dành khá nhiều bài nói về “Đạo hiếu”.
   Ân dưỡng dục sinh thành nằm trong tứ trọng ân là bốn ân lớn nhất của đời người .. Đó là Ân Cha Mẹ - Ân Tam Bảo Sư Trưởng – Ân quốc gia Xã Hội – Ân chúng sanh vạn loại. Với ân Cha mẹ đức Phật có dạy: “Tâm hiếu là tâm Phật, hạnh hiếu là hạnh Phật “ và trong kinh Tăng Chi có đoạn “Nếu một bên vai cõng Mẹ,  một bên vai cõng Cha, làm như thế suốt trăm năm cho đến một trăm tuổi. người con cũng chưa làm đủ  hay trả ơn đủ cho Cha Mẹ “.  Bao nhiêu năm vất vả nuôi con khôn lớn, chịu khổ cực như gánh đậu trưa hè qua đường phố, hay nhặt từng bó rau khắp bờ đê để đổi gạo nuôi con:

                                               Nhiều năm dưỡng bởi hơn tình kể…
                                               Trọn kiếp thương vì khổ nỗi lê.
                                               Gánh đậu nuôi mầm qua dãy phố…
                                               Bó dền nhắc đoạn suốt bờ đê…
                                                                                        ( Thiếu mẹ trên đời )
     Những ray rứt trong đời sống khi nghĩ về Cha mẹ, chẳng hạn một lần viếng mộ Mẹ nhân ngày Thắng hội Vu Lan bên nghĩa trang, Thầy viết:
                                                Thu về Thắng hội bên bia đá,
                                                Đau nhói tấc lòng nghĩa tạc ân…

                                                                                          ( Nhớ ngày còn mẹ )
    Trong những bài viết về Cha mẹ vế ân trời bể nầy Thầy đã dung cụm từ “ Sống chẳng chê”, “chẳng chê” để khẳng định là còn ở trong cõi đời nầy phải trọn hiếu ở cả hai lĩnh vực tinh thần và vật chất, đó chính là “chỉ nguyện”:
                                                 Ân nầy trả hết thì đâu dễ,
                                                 Chỉ nguyện với lòng sống chẳng chê…
                                                                                          ( Mẹ ơi! )
   Còn khi đề cập đến tình ban, quan điểm của Thầy khá sâu sắc. Theo kinh Hiền Nhân của đức Phật“Bạn có bốn thứ: một là kết bạn như hoa, hai là kết bạn như cân, ba là kết bạn như núi, bốn là kết bạn như đất”.Tổ Quy Sơn có dạy: “Đi xa phải nhờ bạn tốt, luôn gạn lọc những điều mắt thấy tai nghe; đi đến đâu, ở chỗ nào đều cần chọn bạn “. Có câu: “Sanh ra ta ấy là cha mẹ, giúp ta nên người, thành tài ấy là bạn hiền”
   Trong tu học cũng như đời sống phải hiểu tinh thần “Nhập thế” theo giáo lý của đức Phật. giúp đỡ lẫn nhau hoàn thiện nhân cách, ứng xử phù hợp đạo lý làm người để thẳng tiến trên đường tu học :

                                                Tĩnh lặng cùng am chờ tảng sáng,
                                                Bình an với đạo thỏa chân huyền.
                                                Tìm thêm những cảnh lòng nhân khắp,
                                                Hiểu thấu bao lần nghĩa bạn nguyên.
                                                                                         ( Hữu hảo )

 Hay:

                                                 Khắp đường trần có ngàn hoa tươi thắm
                                                  Như diệu pháp  đã thấm trong ta
                                                  Sống  đạo hạnh ấm áp vị tha
                                                  Giữa trầm kha ta an nhiên tự tại
                                                  Vì không ngại đường qua nên trẻ không già
                                                  Bởi một hai chung nghĩa hiệp hòa.
                                                                                         ( Như như lặng lẽ )

         Đức Phật dạy các thầy Tỳ-kheo khi ra khỏi xóm làng, nên sống một mình như thế này:

                                                “Quá khứ đã không còn,
                                                  Tương lai thì chưa tới,
                                                  An nhiên trong hiện tại,
                                                  Không bị vướng tham dục.

   Trong tập thơ nầy Thầy đã đề cập nhiều khía cạnh trong đời sống, những mối quan hệ giữa người với người…tất cả đều mang tinh thần là cố gắng buông bỏ tất cả, không nắm giữ thứ gì trên thế gian vì tất cả đều không thực. Hạnh phúc hay đau khổ không còn là vấn đề, không tham đắm, cố chấp mà an nhiên tự tại. Dù gặp cảnh thuận hay nghịch, luôn giữ một tinh thần thanh thản vì đã biết rõ các pháp vốn tánh không, tùy duyên lưu chuyển:
                                                  Vô trú Sát na nào niệm khởi,
                                                  Thiền môn tự tại có chi bàn.
                                                                                    ( Rời xa )
Hay:
                                                   Đường thiền trụ được ta vui bước,
                                                   Sớm tối đi về ngắm nước trăng…
                                                                                     ( Thanh thản )
       Để kết thúc cho mấy cảm nhận nầy, tôi liên tưởng một bài thơ hay, nổi tiếng của Thiền sư Mãn Giác tặng cho đời: Cáo tật thị chúng trong đó có 2 câu thơ :
                                                    Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận,
                                                    Đình tiền tạc dạ nhất chi mai.

   Cành mai vượt cả không gian, thời gian nở ra bằng tâm thanh tịnh, không khứ, không lai, không đi, không đến luôn mầu nhiệm bao trùm vạn vật. Xuân hết thì hoa tàn nhưng với tinh thần bất diệt thì nhành mai hôm qua và sáng nay trước sân vẫn đầy hương sắc…
  Thuận theo tinh thần nầy trong phần cuối tập thơ, Thầy Minh Đạo có 2 câu thơ:

                                                     Thuận nẻo tùy duyên cần liễu giác,
                                                     Ra vườn thấy rõ một nhành mai…
                                                                                          ( Xuân về )
   Trong khuôn khổ hạn hẹp của bài viết một vài cảm nhận ghi vội, chắc chắn không nói hết ý nghĩa sâu xa trong cả tập thơ mà Thầy muốn gởi đến độc giả, mong được Thầy cảm thông và hoan hỷ bỏ qua.
                                                                                     Xuân Kỷ Hợi  2019
                                                                                                 Tâm Ân
---------------------------------------------------------------------------------------


HÀNH TRÌNH TÌM VỀ NGUỒN CỘI 
(Vài cảm nhận về tập thơ VỀ NGUỒN của Minh Đạo)

Theo giáo lý đạo Phật chúng sanh tùy theo nghiệp báo chiêu cảm mà luân hồi sanh từ trong ba cõi (Dục giới, Sắc giới và Vô sắc giới), sáu đường ( Trời, Người, A-tu-la, Súc sanh, Ngạ quỷ, Địa ngục). Dù cho là đang thác sanh ở cõi nào thì chúng sanh cũng phải chịu đau khổ, biến hoại theo quy luật THÀNH, TRỤ, HOẠI, DIỆT. Thế nên muốn chấm dứt sanh tử thì chỉ còn cách tu trì để giác ngộ giải thoát ra khỏi luân hồi trong lục đạo. Nói là sự giải thoát thực ra chỉ là một khái niệm vì nghỉ rằng chúng ta đang bị trói buộc trong khổ đau phiền não của kiếp nhân sinh, chứ thực chất của sự giải thoát chính là sự trở về. Trở về với bản tánh thanh tịnh, trở về để nhận diện bản lai diện mục, với chơn tâm thật tánh của chính mình. Thế cho nên hành trình vượt thoát là hành trình tìm về nguồn cội vậy!

Tác giả Minh Đạo đã trình bày hành trình tìm về nguồn cội mình trong tập thơ VỀ NGUỒN như thế nào, chúng ta mở tập thơ ra và lần giở vào trong từng bài thơ nhé.

Trước hết, ta thấy tác giả nhận ra mình đang sinh ra làm kiếp người ở chốn dương trần nên phải chịu nhiều khổ lụy của kiếp nhân sinh
Lỡ sinh dương thế nỗi đau nhiều
Quyến luyến danh tài nghĩ vạn chiêu
……………………………………..
Loanh quanh cầu lợi nao bờ mộng
Thấp thỏm chờ mong khổ khúc yêu
(Dương thế)

Bùi Giáng tiên sinh cũng đã từng than thở: “Ta cứ tưởng trần gian là cõi thật, thế cho nên tất bật đến bây giờ!”

Đã làm kiếp người trên dương thế thì phải theo nghiệp lực chiêu cảm mà vui buồn cùng nhân thế
Nghiệp lực đeo nhau suốt cõi đời
Nhiều lần khổ cực chốn nào lơi
Gieo nhân muôn thưở đang rình rập
Gặt quả ngàn năm hổng thoát rời
(Nghiệp lực)

Lỡ xuống dương trần gắng lập yên
Dần buông ái dục bớt ưu phiền
………………………………………
Biết khổ trầm luân rời nẻo dữ
Cầu chân giác ngộ khởi tâm hiền
Vì quen tập khí nên chưa giải
Nguyện lực tinh cần tiến Cửu Liên…
(Buông dần)

Kiếp nhân sinh thì luôn bị vô minh và ái dục dẫn dắt khiến chúng sanh không ngừng tạo nghiệp, thế nên muốn thoát được khổ đau phiền não trước hết là một việc tuy nói thì dễ nhưng làm thì không dễ chút nào đó là BUÔNG!. Buông thế sự, buông phiền não, buông tham ái, buông ngũ dục (tài, sắc, danh, thực, thùy)…vì nếu cứ chắp nhặt mọi thứ, cái chi cũng giữ khư khư và vơ lấy cho mình, cho cái bản ngã của mình thì ta cứ trôi lăn mãi hoài trong lục đạo, đừng nói chi đến cái chuyện về nguồn!
Sống giữa dương trần tựa chốn tiên
Thênh thang chẳng vướng dạ an nhiên
Sáng lên đường luật vui bằng hữu
Chiều xuống bồ đoàn tính chút duyên
(Dương trần)

Có gì sung sướng, an lạc hơn sống trong cõi thế mà lòng không bận chút lợi danh, hơn thua:
Hơn thua cõi thế chỉ tinh ranh
Hiểu chuyện thế gian ngẩm chẳng đành
(Hơn thua tráo trở)

Rời xa nghiệp lậu nghiệp chớ làng nhàng
Tham ái thêm nhiều khổ lụy mang
Việc đến luôn chăm tâm chẳng buộc
Chuyện qua mãi khuất dạ không màng!
(Rời xa)

Khi mà tâm đã quyết chí BUÔNG XẢ thì tâm ta tự nhiên thấy an lạc, thanh thản, sống giữa chốn hồng trần với bao kẻ bon chen lợi danh mà lòng ta không vướng bận
Thanh thản ngày lên thấy nhẹ nhàng
Nương cùng nhịp thở sáng lòng an
Chu toàn việc đến theo lời ngọc…
Dấu tích chuyện qua nhớ kệ vàng…
(Thanh thản)

Khi đã nhận ra:“Cuộc thế phù du như mộng ảo, tàn giấc mơ vàng chưa chín một nồi kê!”, và rồi khi đã bị cuộc đời vùi dập tơi tả, đường đời đã xế bóng, bắt đầu tuột dốc phía bên kia bất chợt “ngoảnh mặt lại nhìn đời như giấc mộng, được mất bại thành bổng chốc hóa hư không!”
Trầm luân mấy độ nay đã hiểu
Buông xả lòng trong nhập đạo tràng
(Thức tỉnh)

Thế cho nên chẳng những BUÔNG mà còn hơn thế: TRÚT B
Trút bỏ tham sân sống nhẹ nhàng
Không còn phiền não có chi mang
Thênh thang dạ sáng đau nào bám
Lận đận tình nao khổ mãi ràng!
(Trút bỏ)

Vì:
Tham ái càng nhiều chẳng đến đâu
Bình yên thanh thản sẽ vơi sầu
Hơn thua tính toán thì đau buộc
Được mất so bì chỉ khổ câu
(Chẳng đến đâu)

Và từ đó
Siêng năng lối đạo vun tâm tịnh
Lặng lẽ đường thiền giúp huệ trong
Hiểu được trầm luân là khổ dứt
Thì nên buông xả nghiệp vơi chồng

(Chẳng chấp)
Ánh đạo ngày đêm vun nẽo giác
ờn thiền sáng tối chỉnh tâm lay
(Tỉnh thức)

Trong hành trình vạn dặm tìm về nguốn cội ta đã trải qua biết bao nhiêu thử thách cam go, vượt qua những NGOẠI CHƯỚNG đã khó mà vượt qua được NỘI MA càng khó hơn nữa, thế nên Đức Phật đã dạy “Hãy tự mình thắp đuốc lên mà đi!”, ngọn đuốc đó là đuốc trí tuệ của Phật, chính ngài đã thắp sáng lên trong cõi ta bà này hơn 25 thế kỷ rồi, ta cứ nối đuốc tuệ đó để thắp sáng lên ngọn đèn trí huệ của Phật và ta sẽ nương theo ánh sáng trí tuệ đó mà tu tập ta sẽ thấy bến bờ giác ngộ, sẽ tìm ra cội nguồn uyên nguyên của mình.
Phật pháp đem đường lắng thiện duyên
Công phu tinh tấn thoát ưu phiền
………………………………………
Bát nhã rạng ngời vun trí lặng
Từ bi rộng mở dưỡng tâm huyền.
(Thiện duyên)

Trong tập thơ gồm 137 bài đa phần làm theo thể thất ngôn bát cú đường luật tác giả còn đề cập thêm vài đề tài khác nữa như ca ngợi tình mẹ, tức cảnh sinh tình, hồi ức về những kỷ niệm… cho thấy sự đa dạng về thi hứng của tác giả, những nỗi niềm được trang trải, những phút ngẩu hứng khi đối cảnh sanh tình dù bị gò bó trong niêm luật khắt khe của thơ Đường nhưng tác giả cũng có những tứ thơ thật dồi dào cảm xúc. Những đề tài này được chèn vào trong tập thơ như những bông hoa xanh, đỏ, trắng…điểm xuyết làm tăng thêm hương sắc trong vườn hoa đạo rực rỡ một sắc vàng giải thoát.Ở đây tôi chỉ hạn chế trong khung của chủ đề chính của tập thơ để cùng với tác giả trên hành trình tìm về nguồn cội của mình, để cùng tìm sự đồng cảm, đồng thời xem như là một sự khích lệ hạnh nguyện của tác giả vậy.

Nhà thơ Vũ Hoàng Chương đã từng nhận ra kiếp sống khổ đau của chúng sanh vạn loại nên đã từng buông lời than thở:
“Biển khổ mênh mông sóng ngút trời
Khách trần chèo một chiếc thuyền khơi
Nào ai ngược gió ai xuôi gió
Ngoảnh lại cũng trong biển khổ thôi!”

Vì vô minh, ái dục mà chúng ta mãi bon chen trong cuộc sống lợi danh, thế nên chúng sanh không ngừng tạo ác nghiệp và cứ tiếp tục trôi lăn mãi, như thế nên đường về “nguồn cội” ngày càng xa lắc “Lang thang từ độ luân hồi, U minh nẻo trước xa xôi dặm về!”
Khi đã nhận chân ra cuộc thế vô thường, nhận ra cuộc sống nhân sinh phải chịu muôn vàn khổ đau, phiền não, nhưng may mắn thay tác giả đã có duyên phước được nương theo ánh sáng tuệ giác của Đức Phật đã sáng soi, và tác giả Minh Đạo đã hành trì theo giáo pháp của Phật để tìm về nguồn cội, tìm về chân như thật tánh, bất sanh bất diệt của mình. Mặc dù trên hành trình vạn dặm đó tác giả đã biết: “Hướng tìm VỀ NGUỒN chắc chắn nhiều khó khăn nhưng cứ tìm rồi sẽ gặp, đi rồi sẽ đến, tôi vững tin như thế…”

Tâm L

(Những ngày tháng hạ 2019)
----------------------------------------- 
   CHỢT TỈNH
( Hoạ theo 4 câu mở đầu tập thơ Về Nguồn của TG Minh Đạo. đăng trên Trang Nhà Quảng Đức)


Phút chốt hoàng hôn phủ sau đồi
Chợt tỉnh đường về giữa biển khơi
Lang thang cõi mộng mình ta biết
Liễu ngộ chân mây rõ cuộc đời.

  Dallas Texas, 24-6-2019
             Tánh Thiện

Các website cùng đăng: https://quangduc.com/a65862/vai-cam-nhan-nhan-doc-tap-tho-ve-nguon-cua-thay-minh-dao


Thứ Năm, 14 tháng 3, 2019

CÂU CHUYỆN VỀ SỰ LƯƠNG THIỆN CỦA TRẺ NHỎ: “VÌ NÓ LÀ BẠN CHÁU”!

                                                                                    Kết quả hình ảnh cho hai đứa trẻ

Dù rất sợ, nhưng cậu bé vẫn can đảm đứng ra hiến máu cho bạn. Khi được cô ý tá hỏi cậu bé trả lời một câu rất đơn giản nhưng lại khiến người ta phải suy nghĩ “Vì nó là bạn cháu”.

Dân làng yêu cầu thị trấn lân cận liên lạc với lực lượng quân đội Hoa Kỳ để giúp đỡ về mặt y tế. Cuối cùng, một bác sĩ và một y tá người Mỹ mang dụng cụ đến. Họ nói rằng bé gái bị thương rất nặng, nếu không được xử lý kịp thời nó sẽ chết vì bị sốc và mất máu.

Phải truyền máu ngay. Người cho máu phải có cùng nhóm máu với bé gái. Một cuộc thử máu nhanh cho thấy không có ai trong hai người Mỹ có nhóm máu đó, nhưng phần lớn những đứa trẻ mồ côi bị thương lại có.
Người bác sĩ nói vài câu tiếng Việt lơ lớ, còn cô y tá thì nói ít tiếng Pháp lõm bõm. Họ kết hợp với nhau và dùng điệu bộ, cử chỉ cố giải thích cho bọn trẻ đang sợ hãi rằng nếu họ không kịp thời truyền máu cho bé gái thì chắc chắn nó sẽ chết. Vì vậy, họ hỏi có em nào tình nguyện cho máu không.
Đáp lại lời yêu cầu là sự yên lặng cùng với những đôi mắt mở to. Một vài giây trôi qua, một cánh tay chậm chạp, run rẩy giơ lên, hạ xuống, rồi lại giơ lên.
“Ồ, cảm ơn. Cháu tên gì? “. Cô y tá nói bằng tiếng Pháp.

“Hân ạ”. Cậu bé trả lời.
Họ nhanh chóng đặt Hân lên cáng, xoa cồn lên cánh tay và cho kim vào tĩnh mạch. Hân nằm im không nói lời nào.
Một lát sau , cậu bé nấc lên, song nó nhanh chóng lấy cánh tay còn lại để che mặt.
Người bác sĩ hỏi: “Có đau không Hân?”. Hân lắc đầu nhưng chỉ vài giây sau lại có tiếng nấc khác. Một lần nữa, cậu bé cố chứng tỏ là mình không khóc. Bác sĩ hỏi kim có làm nó đau không, nhưng cậu bé lại lắc đầu.
Bây giờ thì tiếng nấc cách quãng nhường chỗ cho tiếng khóc thầm, đều đều. Mắt nhắm nghiền lại, cậu bé đặt nguyên cả nắm tay vào miệng để ngăn không cho những tiếng nấc thoát ra.

Các nhân viên y tế trở nên lo lắng. Rõ ràng là có điều gì không ổn rồi. Vừa lúc đó, một nữ y tá người Việt đến. Thấy rõ vẻ căng thẳng trên mặt cậu bé, chị nhanh chóng nói chuyện vớI nó, nghe nó hỏi và trả lời bằng một giọng hết sức nhẹ nhàng.
Sau một lúc, cậu bé ngừng khóc và nhìn chị y tá bằng ánh mắt tỏ vẻ hoài nghi. Chị y tá gật đầu. Vẻ mặt cậu ta nhanh chóng trở nên nhẹ nhõm.
Chị y tá khẽ giải thích với những người Mỹ: “Cậu bé cứ nghĩ là mình sắp chết. Nó hiểu nhầm. Nó nghĩ các vị muốn nó cho hết máu để cứu sống bé gái kia.”
“Vậy tại sao nó lại tự nguyện cho máu?” . Người y tá lục quân hỏi.
Chị y tá người Việt phiên dịch câu hỏi lại cho cậu bé và nhận được câu trả lời rất đơn giản: “Vì nó là bạn cháu”.

Tôi nghe câu chuyện này ở Việt Nam và người ta bảo đó là sự thật. Tôi không biết điều đó có thật hay không nhưng tôi biết có nhiều điều kỳ lạ hơn như thế đã xảy ra ở đất nước này”. John Mansur.
                                                                                                      Theo Trí Thức Vn 

Thứ Tư, 13 tháng 3, 2019

CHẲNG KỂ MƯƠI (Thơ xướng họa)



CHẲNG KỂ MƯƠI
Hữu hảo xây niềm chẳng kể mươi,
Kiêng men, ngán thuốc… cũng luôn cười.
Ngày lên dạ mát như non thắm,
Tuổi đến… tình nồng ví biển khơi.
Lả lướt ươm câu vui có bạn,
Thong dong kết phú rộn theo người.
Bồng lai cõi thế ta cùng dựng,
Gắng giữ xuân lòng mãi mãi tươi…

Trần Thông Đạt THIỆN HỮU (nđt)
Vui hoài thiện hữu kể gì mươi,
Nỗi nhớ, đời say, mỉm miệng cười.
Rộn khắp hương trần êm nghĩa tỏa,
Ngây cùng cõi mộng sáng niềm khơi.
Chan hòa nẻo khuất ghìm thêm bạn,
Nhận rõ lòng an trải với người.
Cảm sắc tình nom thời đã dựng…
Theo về tuổi hạc thấm càng tươi.
12/3/2019
Trần Thông Đạt (Kính họa)

Trai Dang Van Họa y đề :
CHẲNG KỂ MƯƠI.
Tang bồng cứ thỏa sợ gì mươi
Mở mắt chào nhau nhoẻn miệng cười
Sáng dậy ta cùng lên núi thẳm
Sang chiều với bạn vượt trùng khơi
Vui đùa kéo được vài năm tuổi
Phấn khởi dài thêm một kiếp người
Sống đẹp nên đời luôn thắm mãi
Cho dù khổ cực cũng hoài tươi .
12/3/19
Trai Dang Van

Tâm Ân VUI CÙNG
Xướng họa theo cùng nỏ ngán mươi,
Niềm thương, nghĩa kết nhoẻn môi cười.
Quay đầu thấy biển hoài xanh thắm!
Ngước cổ trông nguồn mãi mát khơi!
Tuổi có bao thu, hòa nỗi bạn,
Đời ghi mấy buổi, sống tình người.
Nương dâu biến đổi sao càng dựng?
Quẳng hết ưu phiền dạ sáng tươi.
12/3/2019
Tâm Ân (Kính họa)

Dương Khắc Nhân Biết Mấy Mươi (bài họa ).
Cuộc thế vần xoay biết mấy mươi.
Thôi thì hỉ lạc để môi cười.
Phiêu du dẫm bước nơi rừng thẳm.
Vững chải tay chèo giữa biển khơi.
Một thoáng chưa là trang hảo hán.
Khiêm nhường cũng học chút làm người.
Non sông đã tỏ muôn đời dựng.
Gắng giữ ngày sau mãi tốt tươi.
DKN 13/03/2019.

Văn Trung Le "". GIỬ NÉT TƯƠI. ""
Lảo bịnh đến rồi khỏi tính mươi
Niềm vui thư thả mở lòng cười
Vô thường đã định không sao khỏi
Họa phúc an bài nghiệp trổ khơi
Tin tưởng bề trên dần chuyển đổi
Thành tâm kính trọng Phật Trời người
An nhàn tận hưởng đời mang tới
Trút bỏ buồn phiền giử nét tươi
Ngày 13/3/2019

Đình Diệm
AN VUI CÙNG BẠN
Vui cùng bầu bạn nỏ tính mươi
Gần gũi bên nhau thoải mái cười
Nghĩa hữu bao thời hoài đượm thắm
Tình bắng mấy thuở mãi nồng khơi
Ươm câu phú lục trao về bậu
Dệt tứ văn chương gửi đến người
Xướng họa chan hòa hoài đẹp mãi
An vui thơi thảnh đẹp hồn tươi
Hương Thềm Mây – GM nguyễn đình Diệm
14.03.2019

Duc Au 16/3 phúc lũy.
“Chan hòa nẻo khuất ghìm thêm bạn,
Nhận rõ lòng an trải với người”(Trần Thông Đạt)


CHAN chứa thỏa lòng khoe nụ tươi
HÒA đồng thuận ý đặng sầu vơi
NẺO trần dõi thấu say niềm khởi
KHUẤT bóng mãi soi luyến nỗi khơi
GHÌM dạ giữ tình tròn quyện thế
THÊM tâm gìn nghĩa vẹn lưu đời
BẠN chia liều đắng cùng vươn tới
NHẬN RÕ LÒNG AN TRẢI VỚI NGƯỜI!

* PL khoán thi -Mượn câu thi Thi Huynh Trần Thông Đạt .
( THIỆN HỮU - Trần Thông Đạt ).


Duc Au 16/3 phúc lũy.
“Ươm câu phú lục trao về bậu
Dệt tứ văn chương gửi đến người”(Đình Diệm)


ƯƠM cấy mong ngày gặt nụ tươi
CÂU thơ gói trọn thỏa bao lời
PHÚ thi vần xướng đồng tâm khởi
LỤC bát vận hòa thuận dạ khơi
TRAO nghĩa gìn tròn lưu ái thế
VỀ tình giữ vẹn luyến thương đời
BẬU san liệu đắng mơ lòng vợi
DỆT TỨ VĂN CHƯƠNG GỞI ĐẾN NGƯỜI!

* PL khoán thi -Mượn câu thi Thi Huynh Đình Diệm.


Duc Au 15/3 phúc lũy.
“Nghĩa hữu bao thời hoài đượm thắm
Tình bắng mấy thuở mãi nồng khơi”(Đình Diệm)
NGHĨA gieo vững cội hẳn bền tươi
HỮU hảo tri giao thắm nụ cười
BAO thuở giữ tình lưu vẹn ắp
THỜI bày gìn ý quyện nào vơi
HOÀI mong vần xướng thuận dòng thế
ĐƯỢM mộng vận hòa thông lẽ đời
THẮM trọn đắng liều san sẻ khởi
TÌNH BẰNG MẤY THUỞ MÃI NỒNG KHƠI!

Duc Au 16/3 phúc lũy. “Vô thường đã định không sao khỏi
Họa phúc an bài nghiệp trổ khơi”(Văn Trung Le)
VÔ trí buồn dai dạ chẳng tươi
THƯỜNG quanh quẩn đấy nỏ rong chơi
ĐÃ vương trí quẫn đành chôn giấu
ĐỊNH vướng tâm cùng cam để phơi
KHÔNG giữ tình lưu sầu nỗi thế
SAO gìn nghĩa luyến cạn niềm đời
KHỎI xơi liệu đắng bày lung khởi
HỌA PHÚC AN BÀI NGHIỆP TRỔ KHƠI!
* PL khoán thi -Mượn câu thi Thi Huynh Văn Trung Le.
( GIỮ NÉT TƯƠI - Văn Trung Le ).

HOẠ TỪ MIỆNG MÀ RA, NÓI NHIỀU ẮT SẼ CÓ SAI SÓT, VẬY NÊN HÃY HỌC CÁCH IM LẶNG

                                                                        Kết quả hình ảnh cho im lặng
Nói – là một loại năng lực; im lặng, lại là một loại trí tuệ. Chúng ta mất 2-3 năm để học nói, nhưng lại mất mấy chục năm để học cách im lặng. Bởi vậy, khi mở miệng nói, cần phải nhớ đến lời cảnh tỉnh “lưỡi là gốc rễ của lợi hại, miệng là cửa ngõ của phúc hoạ”.

Con người sống cả đời, không chỉ cần làm việc thiện, làm người tốt, mà còn phải học nói lời hay ý đẹp, nếu không, chỉ vì nhất thời nói cho sướng miệng, thậm chí có lúc phải bỏ mạng.

Dưới đây là vài câu chuyện chứng minh đạo lý “lưỡi là gốc rễ của lợi hại, miệng là cửa của họa phúc”trong cuốn “Tỉnh thế hằng ngôn”. Lợi hại hay hoạ phúc của con người, nhiều lúc đến từ lời nói của chính họ. Vì vậy, những lúc cần im lặng thì nên im lặng!

Nhiều lời ắt mất lợi trước mắt, học cách im lặng giữ mình

Hạ Nhược Đôn – cha của danh tướng Hạ Nhược Bật nhà Tuỳ, là đại tướng của Bắc Chu thời Nam Bắc triều, nổi tiếng dũng cảm thiện chiến. Từng lập được công lớn khi tham gia trận chiến bình định Tương Châu, tưởng rằng sẽ được triều đình phong thưởng, ai ngờ bị kẻ gian vu khống, không được thưởng mà bị giáng chức, lòng vô cùng phẫn nộ bất bình.

Thế là, ông nổi giận trước mặt sứ giả, và oán thán trách móc. Lúc đó quyền thần Bắc Chu là Vũ Văn Hộ sớm đã bất mãn, muốn loại trừ ông từ lâu, lần này nghe sứ giả về bẩm báo, lập tức điều Hạ Nhược Đôn về, ép ông tự sát.

Trước khi chết Hạ Nhược Đôn nói với con trai Hạ Nhược Bật rằng: “Ta muốn bình định Giang Nam, nhưng không hoàn thành tâm nguyện. Con phải hoàn thành chí hướng của ta, hơn nữa ta vì cái miệng mà chết, con nhất định phải cẩn thận”.

Nói xong liền dùng kim đâm mạnh vào đầu lưỡi của con trai, muốn dùng nỗi đau này để Hạ Nhược Bật ghi nhớ di nguyện và bài học xương máu lúc lâm chung của ông.

Quả nhiên mấy chục năm sau, Hạ Nhược Bật cuối cùng đã trở thành đại tướng quân thống lĩnh Hữu lĩnh quân của triều Tùy, trong trận chiến tiêu diệt quân Trần ông giữ chức Tổng quản quân, sau khi diệt xong quân Trần, so với Hàn Cầm Hổ, thì ông nổi bật hơn rất nhiều.

Nhưng những ngày tốt đẹp không kéo dài bao lâu, ông lại quên lời giáo huấn của cha mình, vì Dương Tố leo lên chức vị cao là Thượng thư hữu bộc xạ, còn mình vẫn chỉ là một tướng quân, nên trong cuộc tụ họp nào cũng buông lời nhiếc móc, thể hiện thái độ bất mãn.

Một vài người hay kiếm chuyện, liền đem những lời ông nói khi tức giận bẩm cho Tùy Văn Đế Dương Kiên biết. Dương Kiên bắt ông vào ngục để răn đe nhưng vì niệm tình ông đã từng lập công nên liền thả ra, ai ngờ ông không những không cảnh giác và rút kinh nghiệm, ngược lại còn đi khoe khoang ông và thái tử Dương Dũng có mối quan hệ mật thiết, sau đó Dương Dũng bị thất sủng và bị phế truất. Giữa chốn đông người, ông lại kêu gào đòi công bằng cho Dương Dũng.

Văn Đế nổi giận gọi ông ta đến chất vấn: “Ta để Cao Dĩnh, Dương Tố làm Tể tướng, trước mặt mọi người ngươi nhiều lần buông lời gièm pha, nói rằng bọn họ bất tài, chỉ biết ăn cơm, thế là cớ làm sao? Ý ngươi nói hoàng đế ta đây cũng chỉ là phế vật đúng không?”

Hạ Nhược Bật chỉ biết quỳ gối xin khoan hồng, Văn Đế tước bỏ chức quan phế ông thành dân thường. Mặc dù một năm sau phục lại chức quan, nhưng không trọng dụng. Sau khi Tùy Dương Đế kế vị, vì ông trước mặt mọi người bình phẩm Dương Đế quá xa xỉ, cuối cùng bị Tùy Dương Đế giết chết.

Nỗi thống khổ mà hai cha con Hạ Nhược Bật phải dùng xương máu để đánh đổi, đã để lại cho nhân thế bài học rằng: “Ngậm miệng giấu lưỡi cho sâu, yên thân bất cứ nơi đâu”, cảnh báo chúng ta phải ghi nhớ rằng, nhiều lời thì sẽ mất lợi trước mắt, nên học cách im lặng giữ mình.

10 phần thông minh lanh lợi chỉ thể hiện 7 phần; lời nói khéo léo, sắc mặt cười lấy lòng, thì hiếm khi nhân đức

Tiêu Đại trong “Hồng lâu mộng”, từ nhỏ đã từng cùng Ninh quốc công trải qua chiến đấu vào sinh ra tử, ông ta từng lôi chủ nhân đang thở thoi thóp từ trong đống người chết ra ngoài. Không có cơm ăn, ông ôm bụng đói đi trộm đồ ăn cho chủ nhân ăn, không có nước uống, ông uống nước đái ngựa, nhường nửa bát nước xin được cho chủ nhân uống.

Vì những công lao đó, chủ nhân Ninh phủ đã phải nhìn ông với con mắt khác, không làm khó ông. Nhưng ông vô cùng căm ghét cuộc sống thối nát của con cháu đời sau nhà Ninh quốc phủ, ỷ vào ưu thế của bản thân mà tác oai tác quái. Nhưng vì không biết giữ mồm miệng, lúc nửa tỉnh nửa say, đã gọi hết gia nhân Ninh quốc phủ ra, cuối cùng bị nhốt lại, nhét đất và phân ngựa vào mồm.

Khổng tử nói: “Xảo ngôn linh sắc, tiên nhân hỹ”, ý rằng nói năng khéo léo, nét mặt giả bộ niềm nở, hạng người đó ít có lòng nhân. Người thông minh thật sự, miệng lúc nào cũng khôn khéo, trong lòng lúc nào cũng có tính toán, 10 phần thông minh thì chỉ thể hiện 7 phần, ba phần giữ lại để thể hiện sự chừng mực.

Người vàng ngọc ăn nói cẩn thận, bậc quân tử chậm lời ăn nói nhưng hành động nhanh nhẹn

Theo ghi chép trong “Khổng Tử gia ngữ – Quan chu”, thời Xuân Thu, Khổng Tử dẫn đồ đệ đi chu du các nước. Khi đến chiêm ngưỡng từ đường của thái tổ Hậu Tắc. Nhìn thấy bên phải bậc thềm, có một tượng người đúc bằng đồng. Nhưng kỳ lạ là, miệng của tượng đồng này bị bịt lại bằng ba vạch kẻ, bên trên có một hàng chữ: “Cổ chi thận ngôn nhân dã, giới chi tai! Vô đa ngôn, đa ngôn đa bại”.
Đó chính là điển cố của thành ngữ “Nói năng thận trọng”, mà từ cổ chí kim, các nhà hiền triết đều cảnh tỉnh chúng ta: nhất định phải cẩn thận! Không được nhiều lời, nhiều lời ắt có sai sót, lúc nào cũng phải giữ trạng thái thận trọng “như bước bên bờ vực thẳm, như bước trên lớp băng mỏng nước sâu”.

“Dịch kinh” cũng giảng rằng: “Cát nhân chi từ quả, táo nhân chi từ đa”,  ý rằng người có uy đức thì không nói nhiều, người giảo hoạt mới dùng nhiều lời để nói. Người có đạo đức cao sang, tự biết chỉ làm việc thiện thôi là chưa đủ, mà biết là chỉ lúc bất đắc dĩ mới nên mở miệng; người vội vàng hấp tấp, nóng vội thể hiện mình, phơi bày hết sự bực tức trong lòng, cuối cùng dẫn tới thất bại.

Nói – là một loại năng lực; im lặng, lại là một loại trí tuệ. Chúng ta mất 2-3 năm để học nói, nhưng lại mất mấy chục năm để học cách im lặng. Vì vậy, khi mở miệng nói, lúc nào cũng phải nhớ đến lời cảnh tỉnh “lưỡi là gốc rễ của lợi hại, miệng là cửa của phúc hoạ”, nói năng cẩn trọng, làm một người sáng suốt ăn nói có chừng mực, trong lòng biết tính toán.

                                                                                                                  Tuệ Tâm
                                                                                                              Nguồn: SOH