Chủ Nhật, 2 tháng 5, 2021

TẮM NƯỚC NÓNG HAY NƯỚC LẠNH TỐT HƠN CHO SỨC KHỎE?

 


Ảnh Pixabay.

Có người cho rằng tắm nước lạnh rất dễ bị bệnh, trúng gió, nhưng cũng có người cho rằng tắm nước nóng thì bị khô da. Vậy thực hư chuyện này là như thế nào, tắm nước nóng hay nước lạnh sẽ tốt cho sức khoẻ hơn. Cùng xem giải đáp qua bài dưới đây.

Lợi ích của việc tắm nước nóng

Thông thường khi bị cảm, bạn hay phải tắm với nước nóng. Nước nóng sẽ giúp làm thông thoáng khoang mũi, giảm các triệu chứng nghẹt mũi, giúp cho hô hấp được dễ dàng hơn.

Tắm trong làn nước nóng còn giúp các cơ bắp của bạn được thư giãn, tránh khỏi đau nhức và lấy lại được sự linh hoạt cho cơ thể sau những giờ hoạt động, làm việc mệt mỏi.

Nước nóng như là một liều thuốc an thần mà thiên nhiên ban tặng, giúp xoa dịu những mệt mỏi, căng thẳng và giúp thần kinh của bạn ở trong trạng thái thư giãn nhất, thư giãn cơ bắp, không đau đầu và lưu thông máu hiệu quả.

Khi tắm với nước nóng, các áp lực lên các khớp bị cứng, bị sưng sẽ giảm bớt đi, do đó, sau khi tập thể dục ở cường độ cao, bạn có thể tắm với nước nóng để xoa dịu các khớp, tránh gây tổn thương lên nó.

Tắm với nước nóng còn giúp tiêu diệt những loại vi khuẩn gây bệnh mà bạn đã tiếp xúc khi đi ra ngoài. Ngoài ra, nước nóng còn giúp bạn có được giấc ngủ ngon và ngủ sâu hơn.

Lợi ích của việc tắm nước lạnh

Tắm nước lạnh sẽ giúp kích thích các mạch bạch huyết và hệ miễn dịch từ đó sản sinh ra các tế bào chống lây nhiễm và tăng cường miễn dịch cho cơ thể, chống lại vi khuẩn, vi rút.

Nước lạnh còn giúp tăng nhịp tim do tuần hoàn máu hiệu quả, giúp bạn tập trung tối đa vào công việc. Nước lạnh kích thích các dây thần kinh và loại bỏ những cảm giác buồn ngủ và lười biếng mỗi sáng của bạn, giúp bạn tập trung hoàn toàn năng lượng cho buổi sáng. Khi tắm bằng nước lạnh, não bạn sẽ được kích hoạt tràn đầy sinh lực.

Ngoài ra, nước lạnh còn kích thích sự trao đổi chất trong cơ thể. Tắm với nước lạnh còn giúp bạn đốt cháy được calo, chất béo. Có nghiên cứu cho rằng bạn có thể giảm tới 4kg/năm mà không cần ăn kiêng hay tập luyện gì.

Ngoài ra, nước lạnh còn giúp tăng nồng độ beta-endorphin và noradrenalin trong máu và não để giúp cho tâm trạng bạn vui vẻ, thoải mái và chống trầm cảm.

Như vậy, không có câu trả lời chính xác là tắm nước nóng hay nước lạnh tốt hơn mà tắm nước nóng hay nước lạnh sẽ tốt hơn nếu bạn tắm đúng lúc, đúng thời điểm, đúng nhiệt độ để được hiệu quả cao nhất.

Buổi sáng bạn thích hợp với nước lạnh, và buổi tối thì nên tắm nước nóng. Sau 23 giờ trở đi bạn tuyệt đối không nên tắm, đặc biệt là vào mùa đông.

Nước nóng giúp hạn chế bệnh cảm, ho, sổ mũi, đau đầu. Còn nếu bạn khó ngủ thì tắm nước nóng sẽ giúp cơ thể bạn thư giãn và ngủ ngon hơn rất nhiều.

Tuy nhiên nếu như tắm nước nóng bạn phải chú ý đến nhiệt độ nước, nếu nhiệt độ quá cao sẽ lấy đi chất dầu của da đầu, nở lỗ chân lông và làm tim bạn mệt hơn. Nhiệt độ tắm thích hợp vào mùa đông sẽ là 24-29 độ C.

Khi tắm với nước nóng hoặc lạnh, bạn không nên dội nước thẳng từ đầu xuống, rất dễ gây đột quỵ cho bản thân. Bạn phải làm ướt tay, chân rồi mới làm ướt toàn bộ cơ thể.

Theo DKN

CÂY MUỐN LẶNG MÀ GIÓ CHẲNG MUỐN NGỪNG...

 

                             
                                           
Con dâu nói : “Nấu lạt tý bà lại chê nhạt nhẽo, giờ nấu mặn chút bà lại bảo nuốt không vô, rốt cuộc bà muốn sao đây?” 

Mẹ nhìn thấy con trai vừa về đến nhà, một câu không rằng bèn gắp thức ăn bỏ vào miệng nhai. Cô ta hằn hộc nhìn chồng. Anh gắp thử một miếng ăn, nhả ra ngay tức thì.

Con trai nói : “Anh không phải đã dặn em rồi sao, mẹ bị bệnh không thể ăn quá mặn !”

“OK ! Mẹ là của anh, sau này do anh nấu nhé !” Con dâu giận dỗi đi thẳng vào phòng. Con trai chỉ còn cách thở dài, và quay sang nói với mẹ : “Mẹ, đừng ăn nữa, con đi nấu mì cho mẹ ăn.”Mẹ nói : “Không phải con có chuyện muốn nói với mẹ sao, có thì giờ hãy nói, đừng để trong lòng !”

Con trai nói : “Mẹ à, tháng sau con được thăng chức, con sẽ rất là bận … còn phần vợ con, cô ta nói muốn ra ngoài kiếm việc làm, cho nên ……”

Ngay lập tức mẹ hiểu ý con trai muốn nói gì : “Con trai ơi, đừng gửi mẹ vào viện dưỡng lão nhé con !” Giọng nói nức nghẹn như khẩn cầu van xin .

Con trai trầm tư nghĩ ngợi một hồi lâu, trong đầu anh ta như đang cố tìm một lý do tốt hơn để thuyết phục mẹ : “Mẹ à, thật ra viện dưỡng lão không phải là một nơi không tốt, mẹ biết rồi đấy, khi vợ con kiếm được công việc, nhất định sẽ không còn thời gian chăm sóc mẹ chu đáo nữa đâu. Trong viện dưỡng lão vừa có cái ăn, vừa có chỗ ở, lại có người chăm sóc, không phải tốt hơn nhiều so với ở nhà hay sao ?”

Tắm xong, ăn tạm một tô mì gói, con trai bèn đi vào phòng sách. Anh thờ người đứng trước cửa sổ, có vẻ do dự. Ngày ấy mẹ còn trẻ đã ở góa, ngặm đắng nuốt cay nuôi anh khôn lớn nên người, và còn gửi anh ra nước ngoài du học. Nhưng, bà chưa bao giờ dùng tuổi thanh xuân của mình đã một đời hy sinh vì anh đem ra uy hiếp mặc cả về sự hiếu thảo của anh, ngược lại là vợ đã đem hôn nhân ra uy hiếp anh ! Không lẻ phải cho mẹ vào viện dưỡng lão thật sao ? Anh tự hỏi bản thân, anh ta có chút không nhẫn tâm.

“Có thể cùng cậu đi hết cuộc đời là vợ cậu, không nhẽ là mẹ cậu sao ?” Con trai của bác Tài thường hay nhắc khẻ anh như thế.“Mẹ cậu đã lớn tuổi như thế, tốt số thì có thể sống thêm vài năm, Tại sao không tranh thủ thời gian đó sống thật hiếu thảo với bà cơ chứ ? Cây muốn lặng mà gió chẳng ngừng, con muốn phụng dưỡng mà người còn đâu!” Bà con họ hàng thường hay khuyên nhủ anh như thế.

Con trai không muốn suy nghĩ thêm nữa, sợ mình sẽ vì thế mà thay đổi quyết định. Ánh mặt trời tắt dần những tia nắng chói chang và khuất dần sau ngọn đồi, trả lại bầu trời một màn đêm u tịch. Một ngôi nhà quý tộc dành cho người già được xây dựng ở vùng ngoại ô trên đồi núi.

Đúng thật, tiền càng chi ra nhiều, con trai càng cảm thấy an lòng. Khi con trai dắt mẹ bước vào đại sảnh, một chiếc ti vi 42 inch mới tinh đang chiếu một bộ phim hài, nhưng người xem nơi ấy không hề nở một nụ cười.

Những người già mặc cùng một kiểu áo, tóc tai đều na ná nhau đang ngồi cô quạnh trên chiếc ghế sofa, thần sắc đờ đẫn đến u buồn. Có người thì đang ngồi lẩm bẩm một mình, có người thì đang chầm chậm cúi người xuống muốn nhặt lấy một mẫu bánh vụn đang nằm trên sàn nhà.

Con trai biết mẹ thích nơi tươi sáng, vì thế đã chọn cho bà một căn phòng đầy đủ ánh sáng. Từ cửa sổ nhìn ra ngoài, dưới bóng râm là một vườn cỏ thơm ngát. Mấy cô y tá đang đẩy những người già ngồi trên xe lăn, cùng họ tản bộ dưới ánh hoàng hôn, bốn bề tĩnh lặng khiến cho người cảm thấy xót lòng. Dù hoàng hôn có đẹp bao nhiêu, ánh chiều tà rồi cũng dần buông xuống, anh ngậm ngùi tiếc nuối.

“Mẹ ơi, con … con phải đi rồi !” Mẹ chỉ biết gật đầu.

Khi anh đi khỏi, đôi tay gầy guộc của mẹ giơ lên vẫy chào anh, miệng không còn một chiếc răng, đôi môi khô tái nhợt muốn lên tiếng gọi với anh, nhưng gọi không thành tiếng, lộ ra một ánh mắt ngập ngừng đậm vẻ u sầu.

Lúc này con trai chợt nhận ra mái tóc của mẹ đã bạc dần, đôi mắt sâu thẩm và khuôn mặt xuất hiện nhiều vết chân chim. Mẹ quả thật đã già đi rồi !

Anh chợt hồi tưởng lại một số chuyện ngày xưa. Năm đó anh mới 6 tuổi, mẹ có công chuyện phải về quê, không tiện dắt anh theo, nên đành phải gửi tạm nhà bác Tài vài hôm. Lúc mẹ sắp rời khỏi, anh sợ hãi ôm chặt lấy chân mẹ không chịu buông, khóc thật thê lương và kêu gào trong nước mắt : “Mẹ, mẹ ơi, đừng bỏ con mà đi ! Mẹ đừng có đi mẹ ơi !” Cuối cùng mẹ cũng không bỏ lại anh một mình ……

Anh vội rời khỏi phòng, tiện tay đóng cửa phòng lại, không dám ngoáy đầu nhìn lại, anh sợ, sợ cái ký ức ấy hiện về như bóng ma cứ lờn vờn bám lấy anh.

Anh về đến nhà, nhìn thấy vợ và mẹ vợ đang hăng tiết vứt bỏ tất cả những vật dụng trong phòng của mẹ với khuôn mặt khoái chí vui mừng.

Một chiếc huy chương —– đó là chiến lợi phẩm đoạt giải nhất trong cuộc thi viết văn hồi tiểu học của anh với chủ đề “MẸ CỦA TÔI” ; Một quyển từ điển Anh – Việt —– đó là món quà đầu tiên mẹ đã dành dụm tiền chi tiêu cả tháng trời để mua tặng anh ! Và còn nữa, chai dầu gió mẹ phải xoa trước khi đi ngủ, không có anh xoa dầu cho bà, gửi bà đến viện dưỡng lão thì còn ý nghĩa gì nữa kia chứ ?

“Đủ rồi, đừng vứt nữa !” Con trai tức giận.

“Rác nhiều như thế, không đem vứt đi, thì sao có thể chứa được đồ của tôi.” Mẹ vợ thở hổn hển nói.

“Thì đúng rồi đấy ! Anh mau mau đem cái giường cũ nát của mẹ anh khiên ra ngoài đi, ngày mai tôi sẽ mua cho mẹ tôi một chiếc giường mới !”

Một đống ảnh lúc ấu thơ chợt hiện ra trong mắt anh, đó là những tấm ảnh mẹ đã dẫn anh đi sở thú chụp lưu niệm.

“Tất cả đều là tài sản của mẹ tôi, một thứ cũng không được bỏ !”
“Anh tỏ thái độ gì vậy hả ? Dám lớn tiếng với mẹ tôi ưh, tôi bắt anh phải xin lỗi mẹ tôi ngay lập tức !”

“Tôi cưới cô là có nghĩa vụ yêu thương mẹ cô, tại sao ? Cô lấy tôi thì không thể yêu thương mẹ tôi được sao ?”

Cơn mưa sau đêm tối mang một chút hơi lạnh lẽo, đường phố vắng lặng đìu hiu, xe cộ và người đi trên đường thưa thớt dần. Một chiếc xe hơi đang chạy vượt đèn đỏ và phóng qua những biển cấm nguy hiểm, không ngừng tăng tốc phóng nhanh trên đường. Chiếc xe hơi ấy chạy thẳng đến viện dưỡng lão được nằm trên lưng chừng đồi núi, anh ngừng xe và phóng nhanh lên lầu, mở cửa phòng ngủ của mẹ. Anh đứng nhìn bất động, mẹ đang lấy tay xoa đôi chân phong thấp của mình âm thầm khóc trong đêm.

Bà nhìn thấy con trai đang cầm trên tay chai dầu gió, cảm thấy an ủi và nói : “Mẹ quên lấy đi, cũng may con mang đến cho mẹ !”

Anh bước vội đến bên mẹ và quỳ xuống.

“Tối rồi, tự mình mẹ có thể xoa được mà, ngày mai con còn phải đi làm, hãy về nhà đi !”

Anh ngập ngừng một hồi lâu, nhưng cuối cùng không nhịn được khóc và nói : “Mẹ ơi, con xin lỗi, xin hãy tha thứ cho con ! Chúng ta cùng về nhà nhé !”

"Cây muốn lặng mà gió chẳng ngừng, con muốn phụng dưỡng mà người còn đâu ..." 

                                                                                                  Nguồn internet

Thứ Bảy, 1 tháng 5, 2021

CẢNH GIỚI TRÍ TUỆ: NÚI CAO KHÔNG LỜI, NƯỚC SÂU KHÔNG CÓ SÓNG

 


Ảnh VTC News

Người sống nơi thế gian, tâm trí cần thoáng đạt một chút, được – mất xem nhẹ một chút, mục tiêu giảm xuống một chút, tâm danh lợi ít đi một chút, cân nhắc suy nghĩ vì người khác nhiều hơn một chút. Đây chính là cảnh giới của trí tuệ.


Lòng tham là thứ đáng sợ nhất, không những chỉ phá hủy, hủy hoại đi những thứ hữu hình, mà còn có thể làm đảo loạn thế giới nội tâm của bạn, khi đứng trước tâm tham lam còn khiến lòng tự tôn cùng những nguyên tắc bạn tuân thủ đều có thể sụp đổ.

Ngu si cùng cố chấp, oán cùng hận, sẽ chỉ làm cho tâm trí quay cuồng, khiến người bất an. Buông xuống những “có – không”, “đúng – sai”, tâm trí mới có thể thông suốt, nhẹ nhõm tự nhiên và đẩy xa tâm vô minh ngu si. Thiên đường và địa ngục chỉ cách nhau có một niệm, một khi phiền não buông xuống liền sẽ hóa thành tâm bồ đề, suy nghĩ một khi đã chuyển biến tâm tình liền trở thành bầu trời quang tạnh.

Người biết đủ thường vui, là một cảnh giới cao đẹp của sinh mệnh, sống trên thế giới này, người cùng người trong thế gian mỗi ngày đều tồn tại rất nhiều cám dỗ mê hoặc, mọi thứ chúng ta nhất định phải lần lượt tuần tự mà dần dần tiến lên, lượng sức mà làm, tất cả mọi sự nắm bắt có độ, sống có chừng có mực.

Tâm trong sạch hết thảy sẽ minh bạch, tâm vẩn đục hết thảy đều u ám; tâm si hết thảy sẽ mê, tâm ngộ hết thảy thanh tỏ, tâm là đạo diễn của vở kịch cuộc đời, suy nghĩ là nguồn gốc của thước phim cảnh đời, hết thảy đều từ tâm tạo thành, căn nguyên đều ở nội tâm, thế giới là bóng ảnh của tâm người, cảnh giới là biến hóa của tâm người mà tạo thành.

Đừng mang ánh mắt tổn thương đi soi nhìn quá khứ, bởi vì dĩ vãng chỉ là dĩ vãng, quá khứ đã đi qua không thể quay trở về, cách thông minh nhất chính là sống sao cho tốt nhất đối với hiện tại của bạn. Hiện tại chính là đang nắm giữ ở trong tay của bạn, bạn phải đường đường chính chính trong cái khí chất nhất loạt mà chào đón tương lai, mà biến tương lai phía trước trở thành đẹp nhất có thể.

Lắng nghe, lĩnh hội là chìa khóa khai mở cánh cửa tâm hồn, nếu có người tìm đến bạn để dốc bầu tâm sự, giãi bày nỗi lòng, bạn nhất định phải nhẫn nại chăm chú, nhập tâm mà lắng nghe, bởi vì đó là họ tín nhiệm và uỷ thác đối với bạn, sự lắng nghe của bạn cũng là một sự an ủi, cộng hưởng, cỗ vũ đối với họ.

Thế giới không thiên vị nặng nhẹ nghiêng về bên này bên kia, bạn không cần thiết phải đi tranh giành cái gì, cuộc sống chỉ bởi dục vọng trong tâm người làm mê loạn, thì mới nhất định phải phân thành thứ bậc cao thấp. Không tranh là cảnh giới cao của cuộc đời. Rất nhiều lúc, giữ vững tầm nhìn của bản thân mình, kỳ thực là một loại nội hàm và tu dưỡng, cũng là một loại thành thật chất phác và tốt bụng.

Lắng nghe là một dạng tư thái của cuộc sống, nó là một kiểu đối đãi thân thiết, tin cậy từ tận trong lòng, là mỹ diệu của giao lưu. Học được lắng nghe là một loại pháp bảo của xử thế, dù cho bạn cấp bách muốn nói bàn chuyện gì khác, cũng không nên nóng lòng vội vàng, chăm chỉ mà lắng nghe người khác, đợi đến khi họ dốc bầu tâm sự giãi bày hết, kiên trì tiếp thêm nữa bạn sẽ có những thu hoạch ngoài ý muốn.

Trên thế giới này, có thể chân chính cảm thụ được cuộc sống mỹ hảo nhất thì chỉ có 2 kiểu người, đó là trẻ thơ cùng người già nhìn thông thấu thế sự, lứa tuổi trẻ thơ vô tư là bởi vì cách nghĩ của trẻ nhỏ rất giản đơn, người lớn tuổi trầm tĩnh an tường là bởi vì họ đặt mình đứng ở một góc độ khác bên ngoài, và thấu hiểu đạo lý chân thực của cuộc sống.

Núi cao không lời, nước sâu không có sóng

Đời người sống trên thế gian nên cùng thấu ngộ đạo lý nhân sinh: “Cao sơn vô ngữ, thâm thủy vô ba”, tạm dịch: “Núi cao không lời, nước sâu không có sóng”. Ý nói: Người có cảnh giới cao, tâm tĩnh thì sẽ không dài dòng, không chấp nhặt hay gợn sóng lăn tăn.

Trên thế giới này chỉ duy nhất có một điều sẽ không thay đổi, đó chính là thế giới luôn sẽ không ngừng biến đổi, bạn phải tin vào sức mạnh của thời gian, vì vậy hãy nhanh chóng thoát mình ra khỏi quá khứ, phóng thích nỗi nhớ, sâu chuỗi đúc kết quá khứ, nhưng không phải là tối ngày gặm nhấm quá khứ đã trôi qua, rất nhiều thứ của quá khứ đã không còn có ý nghĩa đối với hiện tại của bạn, bạn hãy ngẩng đầu lên một chút, để nhìn đường đi gồ ghề trước mặt, và bước những bước đi cho vững chắc, tiến lên phía trước!

Cũng không cần phải kỳ vọng quá nhiều, không cần phải giả tưởng, đừng cưỡng cầu, hãy cứ thuận theo tự nhiên, một điều gì đó nếu như đã chủ định sẽ xảy ra thì nhất định sẽ xảy ra, chúng ta không thể cải biến thời tiết, nhưng có thể cải biến tâm tình; chúng ta không thể cải biến dung mạo, nhưng có thể triển hiện dáng vẻ vui cười; chúng ta không thể khống chế, kiểm soát người khác, nhưng có thể nắm giữ chính mình; chúng ta không thể biết trước ngày mai, nhưng có thể tận dụng hôm nay; chúng ta không thể thắng lợi mọi thứ, nhưng có thể tận lực mọi sự.

Vận mệnh hãy tự mình nắm giữ ở trong tay, ví như hạnh phúc, bạn không hạnh phúc, ai sẽ đồng cảm với nỗi đau của bạn; ví như kiên cường, bạn không kiên cường ai sẽ thương xót sự yếu đuối nhút nhát của bạn.

Ví như nỗ lực cố gắng, bạn không cố gắng, ai sẽ giúp đỡ dìu dắt bạn từ xuất phát điểm đến nơi bạn dừng lại; ví như trân quý, bạn không quý tiếc, ai sẽ cùng bạn tuổi thanh xuân vùn vụt phôi phai; ví như kiên trì, bạn không kiên trì, ai sẽ cùng bạn khi tiến khi lui… Chỉ có tự mình nắm giữ vận mệnh trong tay, mới có thể khiến sinh mệnh của chúng ta tỏa sáng.

Thân cư ngụ ở nơi xã hội này có đôi khi cảm giác lực bất tòng tâm, không biết nói lời cho bóng bẩy, dù là đã không dành cho mình lợi ích riêng nào đó, ngay cả khi đã nỗ lực chăm chỉ rồi, ngay cả khi cũng khẳng định rằng không có nhiều người tranh giành cướp công đi nữa, cũng không cách nào thành kiểu người ở trên tầng cao, cũng không cách nào làm cho hết thảy mọi người đều thích bạn. Nhưng mỗi một lần khi nản lòng thối chí nhất định xin hãy đừng quên rằng: bạn mặc dù tầm thường, nhưng chân thật nhất, bạn tuy rằng vì tốt bụng thiện lương mà chịu tổn thương, nhưng cuối cùng nhất định có thể đạt được hạnh phúc.

Đạm bạc chân thật là đối với nhân cách của bản thân mình, đối với tôi luyện của tình cảm, là quên đi cả 2 thứ “vật” và “ngã” tại ngay trong rối nhiễu của trần thế, là một loại tường hòa của nội tâm, cũng là một loại tĩnh lặng thâm sâu, nó là lĩnh hội sâu sắc của cuộc đời, là cảnh giới cao của nhân sinh; đối diện với hồng trần huyên náo, đối diện với phồn hoa cám dỗ, dùng một phần bình tĩnh, một phần ung dung đến đối diện cuộc sống, được mà thản nhiên, mất mà đạm nhiên, ung dung tự tại.

Chúng ta không thể lựa chọn được sinh mệnh, nhưng chúng ta có thể lựa chọn cách thức sống.

Ban Mai biên dịch

Thứ Sáu, 30 tháng 4, 2021

TÂM KHÔNG 心空 • TÂM KHÔNG - VIÊN CHIẾU THIỀN SƯ

 


THIỀN SƯ VIÊN CHIẾU (999 – 1090) : 

Thiền sư Viên Chiếu tên huý là Mai Trực, người huyện Long Đàm, châu Phúc Đường, nay thuộc địa phận huyện Thanh Trì, Hà Nội, là con người anh của Thái hậu Linh Cảm đời Lý. Đến thụ nghiệp với thiền sư Định Hương ở núi Ba Tiêu (còn gọi là núi Ba Sơn), tinh thông phép Tam quán. Đã từng soạn sách Dược sư thập nhị nguyện văn được vua Lý Nhân Tông cho đem bản thảo tặng vua Triết Tông đời Tống được đánh giá cao, giảng giải kinh nghĩa rất tinh vi. Thiền sư Viên Chiếu thuộc thế hệ thứ 8 dòng thiền Vô Ngôn Thông. Các tác phẩm của Viên Chiếu thiền sư có Tán Viên Giác kinh, Thập nhị Bồ Tát Hành hành tu chứng đạo tràng  Tham đồ hiển quyết

Tháng 9 năm Canh Ngọ niên hiệu Quang Hựu thứ 6 (1090) đời vua Lý Nhân Tông, sư không bênh, gọi đệ tử đến bảo rằng : Thân mình ta đây, xương thịt gân cốt đều do bốn đại hợp thành, tất không thể thường tồn được. Cũng như khi khung nhà đã hư hỏng thì rui mè đều rơi rụng. Các người hãy trân trọng lời kệ của ta đây!” .Đọc kệ xong thiền sư qua đời thọ 92 tuổi đời, 56 tuổi hạ :





 

Tâm không

Thân như tường bích bĩ đồi thì,
Cử thế thông thông thục bất bi?
Nhược đạt tâm không vô sắc tướng,
“Sắc”, “không” ẩn hiện nhậm suy di.


Tâm Không
 
Thân như tường vách cũng rồi tan,
Vội vã người đời xót mãi mang.
Nếu biết tâm không, không tướng sắc,
Sắc không ẩn hiện mặc thời gian.
 
Minh Đạo (Phỏng dịch)
 

 


CỰC THỊNH TẤT SUY, SỐNG NGÀY YÊN ỔN NÊN NGHĨ ĐẾN NGÀY GIAN NGUY

 


Người thông minh, dù thuận lợi hay khó khăn, dù nghèo khó hay giàu sang, vinh quang hay tầm thường, thậm chí là đối diện với sống chết, đều sẽ nghĩ đến vấn đề ý nghĩa của sinh mệnh. Mà ý nghĩa thực sự của sinh mệnh, đôi khi nó sẽ đến một cách thật là giản dị.

Cổ nhân giảng: “Vật cùng tắc biến”, “Vật cực tất phản”“Cực thịnh tất suy”, ý nói một vật hoặc một sự việc khi đi đến điểm cực độ trong giới hạn thì sẽ phản đảo lại. Cho nên, càng là ở vào lúc vô vọng, thì càng có thể là hy vọng đang ở ngay trước mắt. 

Thân ở vào nghịch cảnh, chính là cơ hội tốt để tôi luyện bản thân mình. Cũng như vậy, khi thân đang trên đỉnh vinh quang, nhất định phải biết giữ mình, khiêm hạ, nếu không, khi bị danh lợi khống chế, sẽ khó tránh khỏi cảnh thân bại danh liệt.

Lý Tư

Lý Tư là Thừa tướng thời Tần Thủy Hoàng, văn võ song toàn, là người đặt ra triện thư, thống nhất văn tự, công phạt sáu nước, thống nhất thiên hạ, thành tựu cả đời không sao kể xiết. Ông không chỉ là vinh hiển cá nhân, thanh thế gia tộc cũng rất hiển hách.

Phàm đời người khi đến hoàn cảnh như vậy, khó tránh khỏi vênh váo tự đắc, ngông cuồng ta đây, nhưng Lý Tư lại đủ thông minh để tự xét lại mình. Ông đã làm tới chức quan cao nhất, dưới một người mà trên vạn người, nhưng lại cảm thán:

“Than ôi! Ta nghe nói: ‘Sự vật không nên đi đến chỗ quá thịnh’. Lý Tư này là kẻ áo vải đất Thượng Sái, một tên đầu đen ở nơi làng xóm, nhà vua không biết ta hèn kém, cất nhắc lên tận vị trí này. Nay ta ở địa vị không thua kém ai, có thể nói là giàu sang cùng cực rồi vậy. Nhưng phàm sự vật đến cùng cực rồi thì sẽ suy, ta chưa biết sau này kết cục ra sao”.

Quả thực đúng như sự lo lắng của Lý Tư, Tần Thủy Hoàng sau khi băng hà, tình thế chính trị thay đổi, do không đấu lại kế phản gián của Triệu Cao, hai cha con Lý Tư đều bị Tần Nhị Thế xử tử, phải chịu ngũ hình, chém ngang lưng ở thành phố Hàm Dương. 

Trước khi bị xử tử, Lý Tư nói với con trai của mình: “Ta muốn lại được dắt chó, đi đến cửa đông Thượng Thái bắt thỏ, giá mà được như vậy!”.

Một người trước khi chết, lại không phải lo lắng vinh hoa phú quý tích lũy cả đời sẽ đi về đâu, mà chỉ có một nguyện vọng vô cùng đơn giản: Cùng con trai sống tự do không lo không nghĩ, thoải mái dắt chó đi dạo, đi săn thỏ.

Những nguyện vọng này từ một người chí cao vô thượng, có đóng góp lớn cho quốc gia, đúng là có phần kỳ lạ. Nguyện vọng nhỏ này, nếu mà so với danh lợi phú quý trong mắt người đời thì không đáng là gì, nhưng đây lại là mong ước chân thành nhất.

Tại thời khắc này, danh lợi phú quý chẳng phải cũng thoảng qua như mây khói hay sao? Thời gian nếu như có thể quay trở lại, bạn có nguyện ý sẽ sống một cuộc đời tầm thường hay lại từng bước dấn thân vào chốn hiểm nguy để theo đuổi danh lợi?

Mã Viện

Lý Tư cả đời công danh hiển hách, nhưng đến cuối đời lại toàn là thất bại. Trong khi Mã Viện cả đời khốn đốn, cuối cùng lại từng bước tiến về thành công. Ông là người có chí lớn, hơn nữa nhãn quan lại rất tốt.

Vào những năm cuối cùng của nhà Tân, quần hùng khởi lên khắp nơi, ông biết Công Tôn Thuật không phải là người tài, dứt khoát đầu quân cho Lưu Tú, sau được coi trọng, nhiều lần chinh chiến đều lập công lớn, rồi được phong làm phục ba tướng quân. Sau lần đi phá địch ở Giao Chỉ, được phong làm tân tức hầu, ban cho thực ấp 3000 hộ.

Người mà phải trải qua nguy nan mới đạt được thành công, thường dễ bị thắng lợi làm mờ đôi mắt, tự nhiên sẽ đánh giá cao năng lực của mình. Nhưng Mã Viện ngay lúc đắc ý nhất, lại nhớ tới lời khuyên của người em trai Mã Thiếu Du:

“Nhân sinh trên đời, không nên theo đuổi vinh hoa phú quý quá mức, chỉ cần có vật chất tối thiểu nhất, có sự trang trọng tối thiểu nhất là đủ rồi, quá nhiều sẽ chỉ tự chuốc lấy khổ mà thôi”.

Mã Viện luôn có thể tự  xem lại chính mình. Ông ngay sau khi yên ổn có thể suy nghĩ về lúc nguy nan, ngay lúc thành công lại không nghĩ sẽ hưởng thụ như thế nào, mà chỉ nghĩ đến khốn cảnh “Mưa to sương mù, khí độc nóng bức”.

Ông tự nguyện buông hết thảy trói buộc của danh lợi, hoàn toàn đắm mình vào thiên nhiên rộng lớn, sống một cuộc đời giản dị. Thời khắc thức tỉnh là đáng quý nhất, ít ra cũng không như Lý Tư, muốn trở về với tự nhiên cũng không được nữa rồi.

Một đời ngập trong vàng son, cầu danh cầu lợi đến không còn lối thoát, những ví dụ xưa đầy máu và nước mắt, thật khiến chúng ta phải suy ngẫm thêm về cuộc sống hiện tại của mình.

Chân Chân biên dịch

Thứ Năm, 29 tháng 4, 2021

DUYÊN TRẦN (Thơ)

 




DUYÊN TRẦN (Thủ nhất tự - Bát vỹ đồng âm)
 
Vẫn hẹn hoa tràn nắng ngập sân,
Vườn ươm hạnh phúc rộn duyên trần.
Vòng tay ấm áp tình vô tận,
Việc phước thanh cao nghĩa sáng ngần.
Vả lại lòng an đâu có lẫn,
Ví như kiếp bạc cũng không cần.
Vào đời nhận rõ thôi nương phận,
Vạn sự nhau cùng lấy chữ chân…
 
2019
Minh Đạo
 
 
nỗi niềm qua ( Đối họa )
(Thủ nhất tự - Bát vỹ đồng âm – Ngũ độ thanh)
 
Chưa hè phượng nở khắp vườn sân,
Chất nỗi niềm qua lặng nẻo trần.
Chỉ lỡ thời yêu đời xót tận,
Còn đâu buổi dỗi dạ trong ngần.
Công chàng mấy nhịp vay nào lẫn,
Cảnh bậu ngàn năm ngẫm vốn cần.
Có dẫu quay tròn xô đẩy phận,
Chong đều nghĩ kỉ sống tình chân.
 
30/3/2019
 
HƯƠNG TRẦN ( Đối họa )
(Thủ nhất tự - Bát vỹ đồng âm – Ngũ độ thanh)
 
Lá rọi xanh đồng tỏa ngõ sân,
Lòng vui chẳng động lắng hương trần.
Len vào cửa tĩnh càng vô tận,
Lóng  mở thời an sẽ lộng ngần.
Lẳng lặng am thiền soi trí lẫn,
Lầm than cõi thế dụng tâm cần.
Lần ra nẻo khổ  sao buồn phận,
Lý sự tu tròn hiểu nghĩa chân.
 
31/3/2019
 
PHƯỢNG HỒNG  ( Đối họa )
(Thủ nhất tự - Bát vỹ đồng âm – Ngũ độ thanh)
 
Phượng thắm chưa về tỏa ngõ sân,
Phần ta sợ mãi dáng vai trần.
Phờ duyên nỗi nhớ dài không tận,
Phải dạ tình trông rối đã ngần.
Phớt bệnh… lùi mơ thành chả lẫn,
Phòng đau… giảm lụy biết đang cần.
Phù dung mấy nẻo buồn than phận,
Phá được ngây lòng tỏ ngưỡng chân.
 
31/3/2019
 

ẨN Ý NÀO ĐẰNG SAU CHUYỆN TÌNH “LƯƠNG SƠN BÁ – CHÚC ANH ĐÀI” ĐƯỢC TRUYỀN TỤNG NGÀN ĐỜI?

 

Ảnh qua Evarociocom

“Lương Sơn Bá và Chúc Anh Đài” là một trong bốn truyền thuyết lớn trong dân gian Trung Quốc, được truyền miệng qua nhiều thế hệ, kể về nàng thiếu nữ Chúc Anh Đài giả trai để được đi học, kết bạn đồng môn với chàng nho sinh Lương Sơn Bá, nhưng cuối cùng hai người không đến được với nhau, để lại một chuyện tình bi kịch lưu truyền thiên cổ.

Nhưng liệu câu chuyện này có phải chỉ đơn thuần là mối tình éo le giữa đôi tình nhân bạc mệnh, thế nhân vì bị cảm động bởi mối tình ấy mà lưu truyền mãi đến ngàn đời sau? Có lẽ là không phải chỉ như vậy, sau đây chúng ta hãy nhắc lại một đoạn về nội dung câu chuyện:

Chuyện tình Lương Sơn Bá – Chúc Anh Đài

Lương Sơn Bá từ khi trở về nhà, trong lòng u sầu buồn bã, không ăn không uống, dần dần lâm phải bệnh nặng. 

Sau khi hay tin Sơn Bá đã chết, Anh Đài đã khóc lóc thảm thiết suốt ba ngày ba đêm, Chúc viên ngoại cũng không khỏi bất ngờ, nhưng lại nghĩ lần này thì Anh Đài thế nào cũng đã dứt hết hy vọng rồi, Chúc viên ngoại thúc giục Anh Đài chuẩn bị đồ cưới, Anh Đài trong lòng không chịu, nhưng không còn cách nào khác, liền nói với cha rằng: “Muốn con gả cho Mã gia cũng được, nhưng con gái có một tâm nguyện: Ngày lên kiệu hoa, con muốn toàn thân mặc đồ tang, trên đường đi ngang qua mộ của Lương huynh, mong được xuống kiệu cúng tế, sau đó con gái mới đến Mã gia. Cha nếu như đồng ý con gái, con gái sẽ gả, nếu như không đồng ý, con gái chỉ có chết thôi”.

Câu chuyện kết thúc vào ngày cưới của Chúc Anh Đài, khi đoàn rước dâu đi ngang qua mộ Lương Sơn Bá. Khi ấy, một trận cuồng phong nổi lên, Chúc Anh Đài lúc đó đang cúng tế mộ người tình đã khuất bỗng thấy nắp mộ mở ra.

Nàng chẳng hề đắn đo suy nghĩ mà đi thẳng vào và biến mất. Người đời sau kể lại, từ phần mộ của Lương Sơn Bá, một đôi bướm quấn quýt bên nhau bay ra, có lẽ cũng chính là hóa thân của đôi tình nhân sẽ mãi ở bên nhau trong kiếp uyên ương hồ điệp.

Có thực hay chỉ là hư cấu?

Theo khảo chứng của các nhà sử học nghiên cứu về thời Ngụy – Tấn, câu chuyện “Lương – Chúc” khởi nguồn tại thị trấn Mã Hương, huyện Nhữ Nam, tỉnh Hà Nam. Tại đây hiện còn những di tích như mộ Lương Chúc, Lương gia trang, Chúc gia trang, Mã gia trang, thư viện Hồng La Sơn, mộ của Trâu Đồng – thầy Lương Chúc,… 

Từ cách đây gần 1000 năm, trong bản “Nghĩa Trung Vương miếu ký” của Tri phủ Minh Châu thuộc triều Tống tên là Lý Mậu Thành có ghi chép: Lương Sơn Bá sinh vào mùng 1 tháng 3 Âm lịch năm 352 Công nguyên, qua đời vào ngày 16 tháng 8 Âm lịch năm 373 Công nguyên, chưa từng kết hôn. Chúc Anh Đài kết hôn vào mùa xuân năm 374, miếu Lương Sơn Bá (còn gọi là miếu Nghĩa Trung Vương) xây dựng vào năm 397. Sau này, các ghi chép quan trọng khác còn có “Lý Tú Khanh kết nghĩa Huỳnh Trinh Nữ” của Phùng Mộng Long đời nhà Minh và “Chúc Anh Đài tiểu truyện” của Thiệu Kim Bưu đời nhà Thanh. Kết cục của đôi uyên ương khổ mệnh hoá bướm cũng có ghi chép trong “Chúc Anh Đài tiểu truyện”.

Tháng 7 năm 1997, người ta phát hiện một ngôi mộ có từ đời Tấn, trong miếu thờ Lương Sơn Bá ở Ninh Ba. Vị trí, quy cách và đồ tùy táng của ngôi mộ đều trùng khớp với thân phận Huyện lệnh huyện Ngân và nơi an táng của Lương Sơn Bá được ghi chép trong sách sử. Đây được cho là tư liệu, hiện vật đáng tin cậy.

Điều này cho thấy, câu chuyện về cặp đôi Lương Sơn Bá – Chúc Anh Đài không hoàn toàn là hư cấu mang tính phóng tác văn học. Liệu đây có phải là câu chuyện Thần thoại thời thiên cổ lưu lại cho người đời sau?

Trong các tác phẩm điện ảnh, cuộc tình của đôi trai tài gái sắc bị Mã Văn Tài dùng mọi thủ đoạn để ngăn cản. Tuy nhiên, như chúng ta đã biết, Mã Văn Tài thuộc dòng dõi danh gia học thức, am hiểu lễ nghĩa, lại sinh ra trong thời đại nhà Tấn – sau thời đại Tam Quốc, con người xem trọng phép tắc nhân nghĩa, anh ta vốn là bậc văn tài có tiếng thì liệu có thể xấu xa đến như vậy không?

Thực ra còn có một câu chuyện khác về Mã Văn Tài vốn được ít người biết, mà lại hoàn toàn trái ngược với nhân vật được tạo hình phản diện trong văn học.

Vốn dĩ Anh Đài là một kỳ nữ hiếm có xưa nay, nàng không cam lòng ngồi chờ số mệnh, mà lại nghĩ ra một cách. Nàng đích thân viết một lá thư cho Mã công tử Mã Văn Tài, âm thầm nhờ lão bộc gửi cho anh ta.

Mã công tử cũng là truyền nhân của dòng dõi có học, am hiểu lễ nghĩa, thấu tình đạt lý, lại là người rất có tiếng tăm. Khi xem lá thư này xong, anh ta cảm thấy nàng Chúc  Anh Đài này thật đúng là một kỳ nữ dám nghĩ dám làm, lại có thể viết ra được một lá thư như vậy, cũng là điều thiên cổ xưa nay hiếm gặp.

Lại nhìn nét bút có tình có nghĩa, văn phong trang nhã đẹp đẽ, trích dẫn cổ kim, trong nhu có cương, bất giác cũng sinh lòng ái mộ, thầm nghĩ: “Kỳ nữ như thế này, tiếc thay lòng đã có người khác, Mã Văn Tài ta đây xem ra vô phúc rồi. Nhưng Anh Đài nàng có thể làm nghĩa nữ, lẽ nào ta lại không phải là một đấng nam tử hay sao? Người quân tử tác thành chuyện tốt cho người, ta vẫn còn hiểu được. Nhưng hôn nhân là đại sự, muốn hủy hôn không phải chuyện dễ. Quả thực là khó xử”.

Điều đó cho thấy Mã Văn Tài là người rộng lượng, anh ta thành tâm muốn giúp cho hai người thành đôi lứa. Nhưng số trời không chiều lòng người, kết cục lại trở thành một câu chuyện buồn. Có lẽ đó cũng là định mệnh an bài như vậy… Dự định của Mã Văn Tài chưa được thực hiện thì Lương Sơn Bá đã qua đời, từ đây mở ra giai thoại của câu chuyện tình yêu Lương – Chúc. 

Vậy tấm lòng tốt của anh ta xem như trở thành vô ích hay sao? Thật ra số mệnh của Mã Văn Tài đâu chỉ đơn giản là làm người thứ ba, anh ta tận mắt chứng kiến hết thảy mọi chuyện này từ đầu đến cuối, trong lòng cảm khái lẫn tiếc thương. Mã Văn Tài về nhà kể lại mọi chuyện với cha, hai cha con hôm sau vào triều đã tấu lại với hoàng thượng, thuật lại tường tận mọi chuyện. Ai nấy đều ngợi khen Chúc Anh Đài là bậc kỳ nữ. Từ đây câu chuyện “Lương Sơn Bá và Chúc Anh Đài” đã trở thành giai thoại thiên cổ được truyền tụng cho đến ngày hôm nay.

Người xưa nói: “Quân tử không tranh đoạt vợ người khác”. Nên mới nói, nếu xã hội đề cao nhân nghĩa, tự mỗi người đều có ước thúc, thì đâu dễ xảy ra chuyện tranh đoạt vợ của người khác. Dẫu không thành một mối lương duyên, thì cũng thành một bài học lưu hoài trong nhân thế.

Ý nghĩa chân thực của chuyện tình Lương Sơn Bá – Chúc Anh Đài

Trong câu chuyện này, nếu nhìn kỹ thì sẽ thấy có sự an bài của tạo hóa, số mệnh nhân vật thứ ba Mã Văn Tài nhìn qua thì trông như là hoa rơi vô tình, nhưng thực ra là có sự sắp đặt để trở thành người làm chứng cho chuyện tình cảm động trời xanh, lưu truyền thiên cổ. Nếu như không phải là Mã Văn Tài thì khó lòng khiến người đương thời, tức là hoàng đế nhà Tấn, cảm thấy tính chân thực của câu chuyện mà xác lập danh phận cho họ. 

Nhưng số phận an bài xảo diệu như vậy, rốt cuộc nội hàm chân chính trong chuyện này muốn để lại cho con người đời sau là điều gì? Nó có khiến cho người ta có những nhận thức chính diện về câu chuyện của cả ba người này? Ở đây xin được chia sẽ cùng độc giả hai góc nhìn:

Thứ nhất, đây là an bài trong số phận của Lương Sơn Bá và Chúc Anh Đài. Họ vốn dĩ là những sinh mệnh trên Thiên thượng. Chính vì động phải phàm tình mà phải hạ xuống nhân loại, chịu hết mọi thống khổ bi ai trong chuyện tình yêu trai gái, trả hết nợ nghiệp rồi quay về con đường sinh mệnh chân chính của mình. Nếu như ai xem qua tác phẩm “Hồng Lâu Mộng”, sẽ ngộ ra ý nghĩa chân thực này. Lâm Đại Ngọc vốn là sinh mệnh trên Trời, chỉ vì mang nợ một gáo nước mà phải hạ xuống cõi người, dùng hết nước mắt một đời người mà trả nợ cho Giả Bảo Ngọc, chấp nhận một mối tình duyên dang dở mà qua đời. Nếu quả thực nhân duyên của hai người là vậy, không chừng hẳn đây lại là điều tốt. Hai sinh mệnh vốn từ nơi Thiên thượng đến, trả hết món nợ ân tình, sau quay trở về bản nguyên của mình là những sinh mệnh trên Thiên thượng vốn thuần khiết và thanh nhã.

Điều thứ hai chính là để lại tấm gương cho hậu thế về đạo nghĩa chân chính của tình yêu. Lương – Chúc ban đầu nảy sinh tình cảm mà kết duyên, nhưng sau vì giữ trọn trung nghĩa mà hai người đều tận mệnh, bản tính vốn dĩ chung thủy, trong thời khắc cuối cùng có thể tận nghĩa vứt bỏ sinh tử, vốn tự nhiên mà đạt đến cảnh giới của Thần. Lương – Chúc không vì tư tình nam nữ mà làm trái ý Trời, không cãi lệnh cha mẹ, thà rằng tự mình chịu đựng, kìm nén cảm xúc nhớ mong và đau khổ của ly biệt. Đây là kính Trời, cũng là tận hiếu. Tình yêu của họ không mang cái dục của phàm tục, mà là biểu hiện một cách chân thành, vô tư, và thuần khiết, như vậy họ đã chứng thực được cảnh giới cao trong nơi nhân loại, bởi vậy mới có thể cảm động trời đất.

Thiên hạ hữu tình, nhưng trời cao chính là trân quý sinh mệnh, thấy đôi nam nữ kia đời này không thể kết duyên vợ chồng, lại sớm đã lìa đời. Họ nếu xuống hoàng tuyền sẽ khó có thể gặp lại nhau, nếu muốn tác hợp lại cho trọn vẹn nhân duyên kiếp này thì phải đợi một thời gian rất dài, cho đến hoàn cảnh thích hợp để họ cùng được chuyển sinh làm người, rồi lại phải trải qua một quãng thời gian nhân sinh lâu dài mới có thể tái hợp. Như vậy quả thực rất khó, do đó Thần đã cho họ biến thành đôi bướm trong thế giới của Thần, có thể ở bên nhau mãi mãi. 

Người xưa có câu rằng: “Vợ chồng đến với nhau là tình, ở với nhau là nghĩa”. Câu chuyện này thực ra để lại cho hậu thế một bài học: Nếu quan hệ vợ chồng chỉ đơn giản là tình cảm trai gái nảy nở ban đầu, không nói đến đạo nghĩa, vừa đụng một chút mâu thuẫn lại đường ai nấy đi, thì đó không phải là vợ chồng thật sự có thủy có chung. Hơn nữa, duyên phận vợ chồng vốn là an bài của tạo hóa, là sắp đặt của Thiên thượng, nếu hủy bỏ giữa chừng thì chính là phá vỡ đặt định của Thần, cũng khiến cha mẹ không an lòng, ấy là bất kính với Trời, cũng là bất hiếu với phụ mẫu.

Con người ta đến với nhau là bằng tư tình luyến ái, nhưng đó chưa phải là tất cả. Có thể cùng gắn bó trong hoạn nạn, chứng thực được đạo lý vợ chồng hay không, mới đủ cơ sở để cùng nhau xác lập vị trí trong trời đất. 

Chính vì trung nghĩa vẹn toàn như vậy, chuyện tình Lương – Chúc mới có thể trường tồn với thời gian, đến ngàn năm vẫn còn truyền tụng. Là vợ chồng với nhau, không lẽ không thể cùng nhau đi quá trăm năm?

Thiên Bảo