Thứ Ba, 5 tháng 7, 2022

KHOA HỌC TIẾT LỘ LOẠI VITAMIN TỐT NHẤT ĐỂ NGĂN NGỪA ĐỘT QUỴ



 Nghiên cứu phát hiện, bổ sung vitamin D là cách hiệu quả để ngăn ngừa đột quỵ.

Đột quỵ - hay tai biến mạch máu não, vẫn là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong và bại liệt trên toàn cầu, với khoảng 13 triệu ca mỗi năm, theo nhật báo Anh Express.

Các chuyên gia cho rằng có thể tránh được tới 90% trường hợp đột quỵ nhờ thay đổi lối sống.

Và một nghiên cứu mới cho thấy bổ sung vitamin D là một cách hiệu quả để ngăn ngừa căn bệnh nguy hiểm này.

Phát hiện của nghiên cứu mới đã tăng thêm bằng chứng cho thấy vitamin D rất quan trọng đối với não.

Các nhà nghiên cứu từ Đại học South Australia (Úc) đã tiến hành phân tích dữ liệu di truyền của 294.512 người từ Ngân hàng sinh học của Anh Biobank.

Kết quả đã phát hiện ra rằng bổ sung vitamin D là cách hiệu quả để ngăn ngừa đột quỵ, theo Express.

Trước đây, các nhà nghiên cứu tại đại học Johns Hopkins (Mỹ) cũng đã khám phá ra mối liên quan giữa nguy cơ đột quỵ và thiếu vitamin D

Một nghiên cứu khác, cũng của Đại học Johns Hopkins, đã phát hiện thấy mức vitamin D thấp làm tăng gấp đôi nguy cơ đột quỵ.

Các nhà khoa học giải thích rằng vitamin D có tác dụng chống cục máu đông và bảo vệ thần kinh mạnh mẽ.

Nghiên cứu trước đây cũng nhấn mạnh bổ sung vitamin D giúp ngăn ngừa đột quỵ tái phát.

Nghiên cứu được công bố năm 2017 trên tạp chí nghiên cứu y khoa Journal of Clinical and Diagnostic Research, cho thấy duy trì mức vitamin D tối ưu có thể đảo ngược nguy cơ đột quỵ tái phát.

Nhà khoa học dẫn đầu nghiên cứu mới nhất, Giáo sư Elina Hyppönen, Giám đốc Trung tâm Y tế của Đại học South Australia (Úc), cho biết: Vitamin D là một tiền chất hoóc môn có nhiều tác dụng khác nhau đối với sức khỏe, bao gồm cả sức khỏe não bộ.

Giáo sư Elina Hyppönen tiếp tục: Đây là nghiên cứu đầu tiên kiểm tra tác động của hàm lượng vitamin D cực thấp đối với nguy cơ đột quỵ và sa sút trí tuệ.

Một phát hiện quan trọng khác của nghiên cứu là thiếu vitamin D cũng dẫn đến chứng sa sút trí tuệ.

Giáo sư Hyppönen nói thêm: Phát hiện này có ý nghĩa quan trọng đối với nguy cơ sa sút trí tuệ, đặc biệt ở những vùng phổ biến tình trạng thiếu vitamin D. Ví dụ như ở Anh, có thể tránh được tới 17% trường hợp sa sút trí tuệ bằng cách đưa mức vitamin D về bình thường.

Vì vậy, không nên để cơ thể thiếu vitamin D nghiêm trọng, vì nhiều lợi ích sức khỏe của nó.

Hầu hết mọi người sẽ không sao, nhưng đối với những người không nhận đủ vitamin D từ ánh nắng mặt trời, chế độ ăn uống có thể không cung cấp đủ vitamin D mà cần phải uống bổ sung.

Tình trạng thiếu hụt vitamin D rất phổ biến trên thế giới, đặc biệt là ở trẻ dưới 5 tuổi và người trên 65 tuổi, theo Express.

Tuy nhiên, điều quan trọng cần lưu ý là quá nhiều vitamin D cũng gây ra nhiều tác hại, như làm tăng canxi huyết và dẫn đến hàng loạt tổn thương trong cơ thể.

Vì vây, tốt nhất là phơi nắng - cung cấp 90-95% vitamin D cho cơ thể. Nên tắm nắng khoảng 15-20 phút trước 8 giờ sáng.

Nên kết hợp chế độ ăn đầy đủ vitamin D như cá, lòng đỏ trứng, gan, dầu cá, sữa … và chỉ sử dụng vitamin D theo đúng chỉ định của bác sĩ.

Nguồn: thanhnien.vn



Thứ Hai, 4 tháng 7, 2022

ÔNG GIÀ KEO KIỆT – CÂU CHUYỆN Ý NGHĨΑ SÂU SẮC ĐẦY TÍNH NHÂN VĂN

 


Một ông lão đã 76 tuổi, ở cùng vợ tɾong một căn hộ cho thuê ở thành ρhố Sαn Fɾαncisco nước Mỹ. Ông chưα từng mặc quα quần áo hàng hiệu, kính mắt ɾất cũ kỹ, đồng hồ đeo tαy cũng không hợρ thời. Ông không thích món ăn ngon, thích nhất là sữα hâm пóпg và bánh sαndwich cà chuα giá ɾẻ. Ông cũng không có ô tô ɾiêng, ɾα ngoài thường đều đi bằng xe buýt, túi ҳάch mà ông từng dùng để đi làm là túi vải.

Mặt khác, nếu bạn cùng ông đến một quán ɾượu nhỏ uống biα, ông nhất định sẽ cẩn thận kiểm tɾα đối chiếu hóα đơn; nếu bạn ở lại nhà ông ấy, tɾước khi ngủ ông ấy nhất định sẽ nhắc bạn tắt đèn.

Một ông già keo kiệt nghèo khó như vậy, bạn có biết tɾước 76 tuổi ông đã làm những việc gì chăng?\

Ông đã từng cống hiến cho đại học Coɾnell 588 tɾiệu đô lα Mỹ, cho đại học Cαlifoɾniα 125 tɾiệu đô lα Mỹ, cho đại học Stαnfoɾd 60 tɾiệu đô lα Mỹ. Ông từng bỏ vốn 1 tỷ đô lα cải tạo và xây mới 7 tɾường đại học ở New Iɾelαnd và hαi tɾường đại học ở Noɾtheɾn Iɾelαnd. Ông từng thành lậρ quỹ từ thiện để ρhẫu thuật sứt môi hở hàm ếch cho tɾẻ em ở các nước đαng ρhát tɾiển…

Cho đến nαy, ông đã quyên 4 tỷ đô lα, còn 4 tỷ nữα đαng chuẩn bị quyên góρ.

Ông là người sáng lậρ tậρ đoàn được miễn thuế toàn cầu DFS. Keo kiệt với chính mình, hào ρhóng với mọi người, thích kiếm tiền lại không thích được tiền – ông là Chuck Feeney.

Ông đã dựng nên một tấm gương cho những người giàu có: “Tɾong khi hưởng thụ cuộc sống đồng thời quyên góρ cho mọi người”. Bill Gαtes và Wαɾɾen Buffett đều chịu ảnh hưởng nhiều từ ông mà đã thαy đổi hành động củα mình.

Sαu khi việc thiện củα Chuck Feeney bị tiết lộ ɾα, ɾất nhiều ρhóng viên muốn tiếρ xúc với ông. Tɾong tâm αi cũng đều có một nghi vấn: Làm sαo Chuck Feeney có thể dửng dưng tɾước giα tài hàng tỷ đô lα kiα chứ?

Đối với nghi vấn củα mọi người, Chuck Feeney mỉm cười kể cho mọi người một câu chuyện: “Một con hồ ly thấy bồ đào tɾong vườn kết tɾái đầy, muốn vào tɾong ăn một chầu no bụng, nhưng giờ nó mậρ quá, không chui vào được. Thế là bα ngày bα đêm nó không ăn không uống để thân thể gầy xuống, cuối cùng cũng chui vào được! Ăn no nê, cảm thấy thỏα mãn, nhưng khi nó muốn ɾời đi, lại không chui ɾα được. Bất đắc dĩ đành ρhải giở tɾò cũ, lại bα ngày bα đêm không ăn uống. Kết quả, lúc nó đi ɾα, bụng vẫn giống như lúc đi vào.”

Kể xong câu chuyện, Chuck Feeney nói:

“Chỗ Thượng Đế ở không có ngân hàng, mỗi người đều là tɾần tɾụi sinh ɾα, cuối cùng cũng đơn ᵭộc ɾα đi, không αi có thể mαng theo tài ρhú và dαnh tiếng mà bản thân đã đαu khổ tìm kiếm cả đời.”

Tɾuyền thông hỏi Chuck Feeney, vì sαo ông lại quyên góρ hết giα tài củα mình?

Câu tɾả lời củα ông đơn giản và ngoài dự đoán củα mọi người! Ông nói: “Bởi vì tấm vải che Ϯử thi không có túi.”

Cɾe: Cαfef

Chủ Nhật, 3 tháng 7, 2022

VIẾNG CHÙA (Thơ)

 

 VIẾNG CHÙA
( Vận hồi đầu )

Mơ làn tiết mới quyện ngàn mơ,
Chờ đến chùa thiêng khách ngóng chờ.
Ánh đạo yên bình thêm tuệ ánh,
Tơ lòng lắng dịu bớt tình tơ.
Lý thông ứng biện mau hòa lý,
Bờ giác nguyền trau sớm cập bờ.
Cúi lạy cầu may thà chớ cúi,
Ngờ kinh giáo pháp, khổ vì ngờ.

13/2/2019

VIẾNG CẢNH CHÙA (Đối họa)
( Vận hồi đầu )

Mơ viếng cảnh chùa lại được mơ,
Chờ mong tĩnh lặng vẫn luôn chờ.
Ánh huyền đạo cả soi niềm ánh,
Tơ lắng tâm bình xóa nỗi tơ.
Lý sự uyên thâm bền vạn lý,
Bờ duyên rạng rỡ đẹp muôn bờ.
Cúi xin lợi lộc thôi đừng cúi,
Ngờ vực lòng tin mãi mệt ngờ.

13/2/2019

NIỀM MƠ (Đối họa)
( Vận hồi đầu )

Mơ tìm lạc cảnh vẫn hoài mơ,
Chờ mãi niềm mong cứ gắng chờ.
Phước quả xoay vần hay chuyện phước,
Tơ hồng nối nhịp chỉ đời tơ.
Chốn về sanh tử còn nơi chốn,
Bờ đến thường chơn rõ pháp bờ,
Thấy được trầm luân mà sợ thấy.
Ngờ nhân kết nghiệp đúng nên ngờ.

13/2/2019
Minh Đạo

 


ĐỜΙ NGƯỜΙ NGẮN NGỦI: MUỐN THANH THẢN HÃΓ HỌC CÁСH NÓI HAI CHỮ “THÌ THÔI”

 


Khi còn sống, cố nhạc sỹ Trịnh Công Sơn từng có một từ cửa miệng, đó là: “Thôi kệ!”. Ai làm gì, nói gì không haγ, ai xấu, ai ác, ai làm mình buồn, ông đều tóm lại: “Thôi kệ. Cuộc đời có bao lâu”. Đời người sinh ra ngắn ngủi, “có bao lăm ba.

Kỳ thực, cuộc đời nàγ ngắn lắm, muốn sống thanh thản, an nhiên hãγ học cách nói hai chữ: “Thì thôi”

Khi còn sống, cố nhạc sỹ Trịnh Công Sơn từng có một từ cửa miệng, đó là:“Thôi kệ!”. Ai làm gì, nói gì không haγ, ai xấu, ai ác, ai làm mình buồn, ông đều tóm lại:“Thôi kệ. Cuộc đời có bao lâu”.

Đời người sinh ra ngắn ngủi, “có bao lăm ba vạn sáu nghìn ngàγ. Như chiêm bao, như bóng sổ, như gang taγ”, ấγ là ông Cao Bá Quát khi xưa đã nói thế.

Trong ba vạn sáu nghìn ngàγ ấγ, thực ra quỹ thời gian dành cho chính mình trầm ngâm, lắng đọng chẳng là bao. Nào tất bật những cơm áo gạo tiền, lo toan gia đình cùng con cái. Ngàγ cuối tuần có bao việc hiếu hỷ, lúc đêm về còn lo nghĩ buổi chợ sớm mai.

Thật ra.

Hầu hết mọi chuγện dù lớn haγ nhỏ, dẫu vui haγ buồn, 10 năm sau nhìn lại cũng chỉ là một câu chuγện mà thôi. Người gặρ gỡ dù chân tình haγ giả dối, dù γêu tҺươпg haγ lợi dụng, 10 năm sau nhìn lại cũng chỉ là một cái tên mà thôi.

Hoàn cảnh dẫu nghèo hèn haγ giàu có, công việc dẫu hiển vinh haγ tầm thường, khi về già nhìn lại cũng chỉ là cơm ăn ngàγ ba bữa mà thôi. Con cái dù ngoan hiền haγ bất hiếu, lúc nhắm mắt xuôi taγ cũng chỉ còn là duγên ρhận mà thôi.

Thế nên:

Cầu mà không đắc, hi vọng rồi thất vọng, nỗ lực rồi công cốc, gặρ những chuγện không như ý toại lòng, “thì thôi…” Làm gì có ai trong đời toàn gặρ chuγện tốt lành?

“Vạn sự như ý” chỉ là lời chúc vĩnh viễn không thành sự thật. Nghịch cảnh thực ra là món quà, trong nghịch cảnh mới luγện nên vàng kim chói sáng. Yêu người mà chẳng được người đáρ lại, “thì thôi…” Không có duγên thì chẳng thể cưỡng cầu, duγên đến duγên đi thảγ đều là ρhúc.

Thật ra đối đãi mà vẫn bị hiểu lầm, bị oán trách mắng mỏ, “thì thôi…” Nào có ai có trách nhiệm ρhải tốt bụng với ta? Ta lương thiện là bản tính Trời sinh, ác duγên ấγ coi như là hoá giải. Nỗ lực làm việc, mà công chẳng thành, danh chẳng toại, “thì thôi…”

Nếu là một công việc lương thiện, có ích, chỉ cần có cơm ăn áo mặc là được rồi. Chẳng ρhải ai sinh ra trên đời cũng để thành tỷ ρhú với minh ϮιпҺ? Lao tâm khổ tứ nuôi nấng dạγ bảo con cái, mà chúng chẳng chịu vâng lời, “thì thôi…” Cha mẹ đã tận tâm mà con chẳng tận hiếu, âu cũng là trả nợ cho nhau.

Bởi vì kiếρ người ngắn ngủi, ta không nên cố chấρ điều gì nơi quán trọ trần gian. Có lẽ chăng mỗi chúng ta nên nhìn vào trong, lắng đọng, tìm cho riêng mình “Một Cõi Đi Về”:

“Nghe mưa nơi nàγ lại nhớ mưa xa.

Mưa baγ trong ta baγ từng hạt nhỏ.

Trăm năm vô biên chưa từng hội ngộ.

Chẳng biết nơi nao là chốn quê nhà…”.

Nguồn: muslim-times.com

Thứ Bảy, 2 tháng 7, 2022

10 BÀI THƠ THIỀN, ĐỌC XONG TĂNG CẢNH GIỚI, TÂM HỒN THÊM TIÊU DIÊU

 

Nhân sinh có ba cảnh giới: Có thời nhìn núi thấy là núi, có khi nhìn núi không phải là núi, lại có lúc nhìn núi vẫn chỉ là núi. Đi qua ba cảnh giới, bước qua ba giai đoạn, dần dần từng bước tiến gần đến chữ Thiền, cuối cùng mới thấu hiểu ý nghĩa nhân sinh.

Dưới đây là 10 bài thơ vừa đậm đà thiền vị lại tràn đầy ý thơ, mở ra trước mắt chúng ta cánh cửa giác ngộ về nhân sinh

1. Thân như cây Bồ Đề, tâm như đài gương sáng

Thân thị bồ đề thụ,Tâm như minh kính thai. Thì thì cần phất thức,Mạc sử nhạ trần ai – Thần Tú đại sư, “Tu hành kệ tụng”.

Dịch thơ:

Thân là cây Bồ Đề, Tâm như đài gương sáng. Thời thời lau phủi sạch, Chớ để bụi trần ai.

Đại sư Thần Tú là vị cao tăng mở đầu cho Thiền Tông Bắc phái. Bài kệ của ông là hình tượng cô đọng ba giai đoạn trong Phật giáo: Giới – Định – Huệ, ba giai đoạn này thể hiện thế giới quan của giáo lý nhà Phật.

Trong bài kệ gửi cho Ngũ tổ Hoằng Nhẫn, ông đã ví thân và tâm với cây Bồ Đề và đài gương sáng. Nhân thân vốn là Phật thân, tâm tính vốn dĩ thanh tịnh, nhưng do các chủng dục vọng và chấp trước mà khởi lên tạp niệm, khiến tâm ý vấy bẩn bụi trần.

Muốn giữ tâm thuần tịnh thì cần phải “thời thời lau phủi sạch, chớ để bụi trần ai”, thông qua quá trình tu dưỡng kiên trì và bền bỉ mới có thể dần dần lĩnh ngộ Phật lý, cuối cùng giác ngộ, trở thành Phật Đà.

2. Thú vui chỉ có một mình mình hay

Trung thế phả hiếu đạo/Vân gia Nam sơn thuỳ/Hứng lai mỗi độc vãng/Thắng sự không tự tri/Hành đáo thuỷ cùng xứ/Toạ khan vân khởi thì/Ngẫu nhiên trị lâm tẩu/Đàm tiếu vô hoàn kỳ – Vương Duy “Chung Nam biệt nghiệp”

Dịch thơ:

Mùi thiền đứng tuổi mới ham/Về già ở cạnh núi Nam tu hành/Hứng đi lủi thủi vong tình/Thú vui chỉ có một mình mình hay/Ngồi nhìn những lúc mây bay/Đi theo suối nước tới ngay chỗ cùng/Đường rừng chợt gặp lão ông/Vui cười trò chuyện quên không trở về. (Bản dịch của Trần Trọng Kim)

Thơ từ và hội họa của Vương Duy thấm đẫm chất thiền, ông được giới văn chương ca ngợi gọi là “Thi Phật”. Bài thơ khắc họa hình ảnh một lão nhân tu luyện nơi núi sâu rừng già.

Một ngày trên núi Nam, lão nhân lội ngược dòng suối tìm đến nơi đầu nguồn, men theo dòng chảy cho đến khi không còn thấy gì nữa. Lão nhân ngồi xuống, nhàn nhã ngắm trời đất, thấy trên đỉnh núi từng áng mây tuôn ra như suối chảy.

Thì ra nước dưới đất chỉ là nước, nhưng khi lên trời sẽ biến thành mây, mây lại rơi xuống trở thành mưa, mưa biến suối khô thành dòng nước, nước ấy lại lên trời thành áng mây bay… Cuộc đời là một vòng tuần hoàn, đông đi xuân đến, khổ qua rồi sẽ là niềm vui phấp phới. Đời người vốn dĩ là vậy, hà tất phải tuyệt vọng làm chi?

Cảnh giới nhân sinh cũng như thế: Quá trình từ nước thăng hoa thành mây bay, sau đó lại làm mưa rơi xuống cũng giống như trên bước đường tu hành, người tu luyện sẽ phải đối mặt với vô vàn khó khăn, thử thách: Khi là nghiệp bệnh trên thân thể, khi là chướng ngại trong tâm, lại có khi là trở ngại từ ngoại cảnh… Nhưng đừng để ngoại cảnh bào mòn ý chí, hãy đưa suy nghĩ trở lại cái tâm ban đầu.

Tâm thuở ban đầu không có chướng ngại, cứ một mạch thẳng tiến, cứ phăng phăng bước đi mà không thấy đâu là điểm dừng. Hồi tưởng lại lúc đó rồi nhìn lại hiện tại, thì cho dù hiện tại có nghiệt ngã bao nhiêu, chẳng phải chúng ta đã đi được một đoạn đường rất dài rồi sao?

3. Xuân có trăm hoa, thu có trăng

Xuân hữu bách hoa thu hữu nguyệt/Hạ hữu lương phong đông hữu tuyết/Nhược vô nhàn sự quái tâm đầu/Tiện thị nhân gian hảo thời tiết – Huệ Khai thiền sư, “Tụng bình thường tâm thị đạo”

Dịch:

Xuân có trăm hoa, thu có trăng/Hạ về gió mát, tuyết đông giăng/Ví lòng thanh thản không lo nghĩ/Ấy buổi êm đềm chốn thế gian. (Bản dịch của Thiền sư Nhất Hạnh).

Những câu thơ trên vừa có cảnh sắc của cao sơn lưu thủy, lại vừa có hương vị của tuyết nguyệt phong hoa. Người tu luyện nơi thâm sơn cùng cốc, thân ở giữa thiên nhiên, nhàn nhã ngắm mây trời, chẳng vướng bận chuyện thế gian tục sự. Còn người bình thường giữa chốn phàm gian, tìm đâu ra phút giây bình lặng? Ngay cả khi nhàn rỗi thì trong lòng cũng có phiền tâm!

Mùa xuân có trăm hoa, mùa hạ có gió mát, mùa thu có trăng sáng, mùa đông có tuyết trắng. Phong, hoa, tuyết, nguyệt, vào mỗi thời mỗi khắc đều có thể khiến tâm cảnh rộng mở, ấy là vì người khai ngộ có thể bảo trì được sự điềm đạm và bình tĩnh lâu dài.

Người tu luyện cho dù thân đang lặn lội giữa hồng trần, dạt trôi giữa dòng đời điên đảo, thì vẫn có thể đạt đến cảnh giới của gió, tuyết, trăng, hoa. Hay nói cách khác, nếu tâm cảnh rộng mở, an hòa, thì tâm sẽ không rối loạn vì những chuyện nhỏ nhặt, vậy thì thời thời khắc khắc đều trọn vẹn niềm vui.

4. Đời người như quán trọ, ta là khách qua đường

Nhân sinh như nghịch lữ, ngã diệc thị hành nhân – Tô Thức “Lâm giang tiên – Tống tiễn Mục phụ”

Dịch thơ: Đời người như quán trọ/ Ta là khách qua đường

Nhân sinh như quán trọ, người sống trên đời chỉ ký thác tấm thân vào chốn hồng trần. Trong “Xuân dạ yến tòng đệ đào hoa viên tự”, Lý Bạch viết: “Trời đất là quán trọ của vạn vật; quang âm là khách qua đường của trăm năm”.

Mà kiếp phù sinh như mộng, lúc vui được bao?. Giữa trời đất bao la này, người người đều là khách qua đường, hà tất phải tính toán những chuyện hợp tan, xuôi ngược?

Tô Thức đã gửi lòng mình vào thi phẩm, từng câu từng chữ đều thấm đượm tiếng lòng của nhà thơ. Tô Thức cả đời ra vào chốn quan trường, đã từng có hoài bão và lý tưởng chính trị cao đẹp.

Ông hết mình vì sự nghiệp công danh, nhưng đồng thời cũng nuôi dưỡng tâm thiền, tâm Đạo, hành sự theo tư tưởng Lão – Trang, sống thuận theo giáo lý nhà Phật. Mỗi khi quan trường có điều thất ý, rơi vào cảnh ngộ éo le, ông lại giữ cho mình tâm thái “du ư vật chi ngoại” (vượt ra ngoài vạn vật), “vô sở vãng nhi bất lạc” (không gì không thấy vui).

Lấy thái độ điềm đạm tự an, nhàn nhã tự thích để đối đãi với cái ưu lo bộn bề của thế gian, thể hiện một phong thái khoáng đạt, tiêu sái, tùy ngộ mà an.

5. Mọi ân ái trên đời đều vô thường chóng phai

Nhất thiết ân ái hội/Vô thường nan đắc cửu/Sinh thế đa úy cụ/Mệnh nguy ư thần lộ/Do ái cố sinh ưu/Do ái cố sinh bố/Nhược ly ư ái giả/Vô ưu diệc vô bố – “Diệu Sắc vương cầu Pháp kệ”

Dịch thơ:

Mọi ân ái đời này/Đều vô thường chóng phai/Cõi thế nhiều khổ não/Đời người như sương mai/Do ái sinh sợ hãi/Do ái sinh ưu phiền/Kẻ nào lìa chữ ái/Tâm mới được an nhiên.

Nam nam nữ nữ, đại đa số đều vướng mắc trong cái tình nhân thế, khó rời khỏi hai chữ yêu và hận. Nhưng con người lại vì yêu mà sợ hãi, vì yêu mà phiền não, chẳng có được một phút giây tĩnh tại.

Phật giáo giảng về con đường tu luyện, giảng về thất tình lục dục và tham sân si của con người. Chỉ khi buông bỏ được hận và yêu, cái tâm kia mới có thể tĩnh lại, lòng mới thấy được an nhiên. Phật giáo chú trọng tự phản tỉnh bản thân, thông qua thiền định mà đạt đến giác ngộ.

6. Hái cúc dưới giậu đông, thơ thơ nhìn núi Nam

Kết lư tại nhân cảnh/Nhi vô xa mã huyên/Vấn quân hà năng nhĩ/Tâm viễn địa tự thiên/Thái cúc đông ly hạ/Du nhiên kiến Nam sơn/Sơn khí nhật tịch giai/Phi điểu tương dữ hoàn/Thử hoàn hữu chân ý/Dục biện dĩ vong ngôn – Đào Uyên Minh “Ẩm tửu – kỳ 5”

Dịch thơ:

Nhà cỏ giữa nhân cảnh/Không thấy ồn ngựa xe/Hỏi ông: “Sao được vậy?”/Lòng xa, đất tự xa/Hái cúc dưới giậu đông/Thơ thới nhìn núi Nam/Khí núi ánh chiều đẹp/Chim bay về từng đàn/Trong cảnh có thâm vị/Muốn tả đã quên lời.

(Bản dịch Nguyễn Hiến Lê)

Giữa hồng trần cuồn cuộn, có những lúc chúng ta nên để thân và tâm lắng lại, tránh xa những danh lợi, vật chất và truy cầu nơi thế tục. Được như vậy, tâm tình sẽ bình yên thư thái, quan hệ giữa người với người cũng trở nên chân thành.

Bằng những câu thơ tự nhiên như ngọc phác, Đào Uyên Minh đã thẳng thắn bộc lộ những suy nghĩ trong lòng: Một gian nhà cỏ, một mái nhà tranh, thảnh thơi thơ túi rượu bầu, chẳng cầu tước vị, chẳng cầu công danh.

Đó là người có thể giữ được tâm thái ung dung nhàn nhã, tránh xa chốn thế tục xô bồ, làm một bậc tao nhân mặc khách. “Hái cúc dưới giậu đông, thơ thới nhìn núi Nam”, đây quả là ý cảnh mà người hiện đại cả đời truy cầu nhưng vĩnh viễn không cách nào đạt được.

7. Người toan bận rộn, ta thời thong dong

Đãn nguyện lão tử hoa tửu gian/Bất nguyện cúc cung xa mã tiền/Xa trần mã túc quý giả thú/Tửu trản hoa chi bần giả duyên/Nhược tương phú quý tỉ bần giả/Nhất tại bình địa nhất tại thiên/Nhược tương bần tiện tỉ xa mã/Tha đắc khu trì ngã đắc nhàn/Biệt nhân tiếu ngã thái phong điên/Ngã tiếu tha nhân khán bất xuyên/Bất kiến Ngũ Lăng hào kiệt mộ/Vô hoa vô tửu sừ tác điền – Đường Bá Hổ, trích đoạn trong “Đào hoa am ca”

Dịch thơ:

Chốn ngựa xe chẳng cần luồn cúi/Ước nguyền rằng chết với rượu hoa/Bụi xe dấu ngựa cao xa/Cành hoa chén rượu cùng ta duyên nghèo/Đem phú quý so đo đạm bạc/Một đất bằng một ngất trời xanh/Ngựa xe đem sánh thanh bần/Người toan bận rộn, ta phần thong dong/Người cười ta cuồng ngông khờ khạo/Ta cười người điên đảo ngược xuôi/Ngũ lăng phần mộ san rồi/Không hoa không rượu cũng thời ruộng sâu.

(Bản dịch của Hạt Cát)

Bần hàn đem so với phú quý thì cũng giống như đất bằng muốn với tới trời cao. Nếu như “bụi xe vó ngựa” là thú vui của kẻ giàu, thì cỏ hoa rượu nhạt đã định là duyên phận của người nghèo. Nếu dùng kim tiền và vật chất để đo lường thì hai kiểu người, hai loại cuộc sống ấy tự nhiên đã khác nhau một trời một vực.

Nhưng nhìn từ một góc độ khác lại thấy, những kẻ hào phú kia luôn phải sống trong căng thẳng, âu lo, làm việc gì cũng phải thận trọng từng chút từng chút một như đi trên băng mỏng. Trong khi đó, người nghèo lại được sống ung dung nhàn hạ, tâm không lo thế sự, lòng không hối hả đua chen.

Người cười ta cuồng ngông khờ khạo, còn ta, ta cười người điên đảo ngược xuôi”. Chẳng lẽ các ngài đã quên rồi sao: Những bậc quân vương xưa kia, những bậc tướng lĩnh lẫy lừng đã từng một thời quyền cao chức trọng, gọi gió hô mưa, vậy mà nay đâu rồi?

Chẳng những thân thể không còn, mà đến nay quyền uy cũng không có, ngay cả những thứ không đáng để ý đến như hoa tươi rượu nhạt thì nay cũng trở thành mong ước xa vời, thậm chí, một khi nhắm mắt xuôi tay thì ngay cả mộ phần cũng không giữ được.

Thế mới biết, cuộc đời này đâu cần ngựa xe xuôi ngược, đâu cần chức trọng quyền cao, chỉ cần một cành hoa tiêu sái, một chén rượu thong dong là đã đủ cất tiếng cười vang giữa vạn dặm sơn hà.

8. Linh Sơn chính ở tại tâm ta

Phật tại Linh Sơn mạc viễn cầu/Linh Sơn chỉ tại nhữ tâm đầu/Nhân nhân hữu tọa Linh Sơn tháp/Hảo hướng Linh Sơn tháp hạ tu

– Ngô Thừa Ân, “Tây Du Ký”, bài kệ của Ô Sào thiền sư

Dịch:

Phật ở Linh Sơn chẳng ở xa/Linh Sơn chính ở tại tâm ta/Mọi người đều có Linh Sơn tháp/Cứ hướng Linh Sơn tháp mà tu

(Bản dịch của Dương Đình Hỷ)

Chính Pháp và chính Đạo vốn là nhất thể. “Đạo sinh nhất, nhất sinh nhị, nhị sinh tam, tam sinh vạn vật”. Nếu trong tâm không có Đạo, ​​bỏ gốc lấy ngọn, bỏ cái chính yếu lấy cái phụ thì dẫu tìm kiếm khắp nơi cũng hoài công vô ích.

Trong “Lục tổ đàn kinh”, đại sư Huệ Năng từng giảng một câu: Thánh nhân cầu tâm chẳng cầu Phật, ngu nhân cầu Phật chẳng cầu tâm. Truy cầu những thứ bên ngoài thì vĩnh viễn không thể gặp Phật, chỉ có bản tính thuần chân mới chính là Phật.

Tu tốt tâm mình, có suy nghĩ thanh tịnh chính trực, có ngôn hành thiện lương, có tâm thái biết đủ thường vui, thì cuộc sống của chúng ta sẽ an ổn tường hòa, hạnh phúc khoái lạc.

9. Lục căn thanh tịnh là tu Đạo, lui bước hóa ra là tiến lên

Thủ bả thanh ương sáp mãn điền/Đê đầu tiện kiến thủy trung thiên/Lục căn thanh tịnh phương vi Đạo/Thoái bộ nguyên lai thị hướng tiền – Bố Đại hòa thượng, “Thoái bộ”

Tạm dịch:

Tay cầm mạ non cấy khắp đồng/Cúi đầu đáy nước hiện bầu không/Lục căn thanh tịnh là tu Đạo/Lui bước hóa ra là tiến lên

Giữa dòng đời hối hả, ai cũng bon chen muốn tiến lên phía trước mà quên mất rằng: Đôi khi cần phải lùi lại phía sau, lui bước chính là tiến lên.

Con người, điều gì cũng dễ học, nhưng thứ khó học nhất lại chính là khoan dung. Giữa người với người va va chạm chạm, đấu đấu tranh tranh, rất nhiều việc đều là phát sinh hữu ý hoặc vô ý, rất nhiều phiền não như sóng cuộn triều dâng. Nhưng nếu có thể giữ được tấm lòng bao la như biển rộng dung nạp trăm sông thì thực là quý nhân vậy.

Đương nhiên, khoan dung không phải là phó mặc cho số phận, cũng không phải là hèn nhát sợ hãi, phóng túng buông xuôi. Nhẫn nhượng hoàn toàn không phải là không cần tôn nghiêm, mà là thành thục, điềm tĩnh, lý trí, là biểu hiện của tấm lòng phóng khoáng.

Có câu cổ ngữ rằng: “Cật khuy giả trường tại, năng nhẫn giả tự an” (Người chịu thiệt sống lâu, người nhẫn nhịn tự an). Nhẫn, không phải là ngậm bồ hòn làm ngọt, ấm ức nuốt giận vào lòng, mà là bao dung đại độ. Thoái, không phải là vì sợ mà lùi bước, mà là khiêm nhượng, khoan dung.

10. Bồ Đề khi nào đắc chứng quả, mới tỉnh ra rằng ta là ta

Bình sinh bất tu thiện quả/Chỉ ái sát nhân phóng hoả/Hốt địa đốn khai kim thằng/Giá lý xả đoạn ngọc toả.
Di!
Tiền Đường giang thượng triều tín lai/Kim nhật phương tri ngã thị ngã.

– Thi Nại Am, “Thủy Hử”, bài kệ của Lỗ Trí Thâm

Dịch:

Bình sinh chẳng tu thiện quả/Chỉ thích sát nhân phóng hoả/Chợt tỉnh tháo tung dây vàng/Tới đây giật phăng khoá ngọc
Ôi!
Tiền Đường nghe sóng triều vang dội/Mới tỉnh ra rằng ta là ta.

Đây là bài kệ của hòa thượng Lỗ Trí Thâm trước giờ ngộ Đạo. Trong đời mình ông từng làm nhiều chuyện sát nhân, phóng hỏa, sau vì nhân duyên đưa đẩy nên mới miễn cưỡng đặt chân vào cửa Phật. Làm hòa thượng nhưng ông vẫn ăn thịt, uống rượu, vẫn hung hãn đánh người. Mãi đến phút cuối cùng ông mới đột nhiên giác ngộ, chứng đắc quả Bồ Đề, mới nhận ra rằng “ta là ta”.

“Mới tỉnh ra rằng ta là ta”, ấy là khi đã buông bỏ hết thảy, phóng hạ các chủng chấp trước, dục vọng, thậm chí ngay cả ý niệm cũng không khởi lên. Đến lúc này tâm sẽ hiển lộ ra bản tính thanh tịnh vốn có, ấy chính là Phật tâm, là Chân Như Phật tính.

***
Người vốn là người, hà tất phải chuyên tâm đi làm người; Đời vốn là đời, không cần phải lo toan đi xử thế. Cuộc sống nhân sinh, quan trọng không phải làm người hay xử thế, mà là cảnh giới.

Nhân sinh có ba cảnh giới:

Cảnh giới thứ nhất là: Nhìn núi thấy là núi, nhìn sông thấy là sông.

Cảnh giới thứ hai là: Nhìn núi không phải là núi, nhìn sông không phải là sông.

Cảnh giới thứ ba là: Nhìn núi vẫn là núi, nhìn sông vẫn là sông.

Trong quá trình nhân sinh, ba giai đoạn ấy đan xen nhau, có lúc nhìn núi là núi, có lúc nhìn núi không phải là núi, lại có lúc nhìn núi vẫn là núi. Suy nghĩ lại, cuối cùng minh bạch nhân sinh chính là một quá trình trải nghiệm, thăng hoa, cuối cùng giác ngộ.

Theo NTDVN (Minh Hạnh)


Thứ Sáu, 1 tháng 7, 2022

CHUYÊN GIA DINH DƯỠNG: CHUỐI NGỌT NHƯ VẬY, NGƯỜI TIỂU ĐƯỜNG CÓ NÊN ĂN?

 


                                            Ảnh: SHUTTERSTOCK

Người bệnh tiểu đường có nên ăn chuối hay không luôn là vấn đề gây nhiều tranh cãi.

Một số nghiên cứu cho rằng người bệnh tiểu đường không nên ăn chuối vì nó chứa nhiều đường, trong khi nhiều nghiên cứu khác cho rằng chuối an toàn cho người bệnh tiểu đường.

Cuốn sách nổi tiếng “Siêu thực phẩm Ấn Độ” của Rujuta Diwekar - một trong những chuyên gia dinh dưỡng hàng đầu của Ấn Độ, tác giả của những cuốn sách bán chạy nhất, nêu rõ:

Chuối an toàn để tiêu thụ ngay cả đối với bệnh nhân tiểu đường

Do chỉ số đường huyết của chuối ở mức từ thấp đến trung bình. Điều này đã được hầu hết các hiệp hội sức khỏe khuyến nghị và chấp thuận, theo nhật báo Ấn Độ Times Of India.

Và ở cuối bài, bạn sẽ được hướng dẫn cách ăn chuối an toàn cho người bệnh tiểu đường.

Chuối chín chứa carbs, làm tăng lượng đường trong máu

Chuối chứa khá nhiều carbs và đường - những chất chính làm tăng lượng đường trong máu. Vậy liệu người bệnh tiểu đường có nên ăn chuối? Và liệu chuối có ảnh hưởng đến lượng đường trong máu?

Một quả chuối trung bình chứa khoảng 15 gram đường

Chuối chứa carbs đơn, có thể khiến lượng đường trong máu tăng cao hơn các chất dinh dưỡng khác.

Để biết một loại thực phẩm chứa carb có ảnh hưởng đến lượng đường trong máu hay không, phải xem chỉ số đường huyết (GI) của nó.

GI thấp: 55 trở xuống

GI trung bình: 56 - 69

GI cao: 70 - 100

Người bệnh tiểu đường chỉ nên tiêu thụ thực phẩm có GI thấp. Do chúng được hấp thụ chậm hơn và làm tăng lượng đường trong máu từ từ thay vì tăng đột biến.

Nói chung, chuối có GI từ thấp đến trung bình - từ 42 đến 62, tùy thuộc vào độ chín của chuối, theo chuyên trang sức khỏe của Mỹ Health Line.

Chuối cũng chứa chất xơ, có thể làm giảm lượng đường trong máu

Tuy nhiên, điều đặc biệt là chuối cũng chứa chất xơ, có thể làm giảm lượng đường trong máu

Một quả chuối trung bình chứa 3 gram chất xơ.

Chất xơ đặc biệt quan trọng đối với những người mắc bệnh tiểu đường vì nó có thể giúp làm chậm quá trình tiêu hóa và hấp thụ carbs. Điều này có thể làm giảm lượng đường trong máu tăng đột biến và cải thiện việc kiểm soát đường huyết, theo Health Line.

Chuối xanh - chưa chín, chứa tinh bột kháng, giúp kiểm soát đường huyết

Lượng tinh bột kháng trong chuối thay đổi tùy vào độ chín.

Chuối xanh, chưa chín chứa ít đường và nhiều tinh bột kháng hơn

Tinh bột kháng hoạt động tương tự như chất xơ và sẽ không làm tăng lượng đường trong máu. Chúng cũng có thể giúp cung cấp các vi khuẩn có lợi trong đường ruột, giúp kiểm soát đường huyết tốt hơn.

Một nghiên cứu năm 2015 đã phát hiện điều thú vị là: Trong 8 tuần, những phụ nữ mắc bệnh tiểu đường, được bổ sung tinh bột kháng, có khả năng kiểm soát lượng đường trong máu tốt hơn những người không bổ sung.

Tác động của chuối đối với lượng đường trong máu tùy thuộc vào độ chín

Chuối chín chứa ít tinh bột kháng hơn chuối xanh, nhưng chứa nhiều đường.

Điều này có nghĩa là chuối chín hoàn toàn có GI cao hơn và sẽ khiến lượng đường trong máu tăng nhanh hơn chuối chưa chín.

Chuối xanh chứa tinh bột kháng, không làm tăng lượng đường trong máu và có thể cải thiện việc kiểm soát lượng đường trong máu lâu dài.

Chuối chín chứa nhiều đường hơn, vì vậy chúng có thể khiến lượng đường trong máu tăng cao hơn.

Số lượng tiêu thụ là rất quan trọng

Ngoài độ chín, cần phải chú ý đến số lượng. Lượng càng nhiều càng chứa nhiều carbs. Nghĩa là 1 quả chuối lớn có thể ảnh hưởng đến lượng đường trong máu.

Chuối có an toàn cho những người bị bệnh tiểu đường không?

Không giống như các sản phẩm đường tinh luyện như kẹo bánh, carbs trong trái cây như chuối kèm với chất xơ, chất chống oxy hóa, vitamin và khoáng chất.

Đặc biệt, chuối cung cấp chất xơ, kali, vitamin B6 và vitamin C và một số chất chống oxy hóa và các hợp chất thực vật có lợi

Đối với hầu hết những người mắc bệnh tiểu đường, trái cây - kể cả cả chuối - là một lựa chọn lành mạnh, theo Health Line.

Tuy nhiên, một số người phải theo chế độ ăn ít carb, cần phải hạn chế lượng carb tiêu thụ. Nghĩa là các loại thực phẩm có hàm lượng carb cao hơn, kể cả chuối, phải được hạn chế trong chế độ ăn ít carb.

Đối với người bệnh tiểu đường, nếu bác sĩ cho phép ăn chuối, cần phải lưu ý đến độ chín và số lượng để giảm ảnh hưởng đến lượng đường trong máu.

Tốt nhất nên hỏi ý kiến bác sĩ trước khi thay đổi kế hoạch ăn uống.

Người bệnh tiểu đường có thể ăn chuối như một phần của kế hoạch ăn uống lành mạnh.

Cách ăn chuối an toàn cho người bệnh tiểu đường

Những lời khuyên sau đây có thể giúp người bệnh tiểu đường giảm thiểu ảnh hưởng của chuối đối với lượng đường trong máu:

Ăn ít trong mỗi lần ăn: Chỉ nên ăn 1 quả chuối nhỏ hoặc nửa quả lớn, để giảm lượng đường nạp vào cơ thể trong một lần ăn.

Ăn chuối gần chín: Chọn chuối không quá chín để hàm lượng đường thấp hơn.

Chia lượng trái cây trong suốt cả ngày: Chia đều lượng trái cây trong ngày để giúp giảm lượng đường huyết và giữ cho lượng đường trong máu ổn định.

Ăn kèm với các loại thực phẩm khác: Ăn chuối cùng với các loại hạt hoặc sữa chua, để giúp làm chậm quá trình tiêu hóa và hấp thụ đường, theo Health Line.

Nguồn: thanhnien.vn

Thứ Năm, 30 tháng 6, 2022

10 CÂU NÓI SÁNG TỎ KIẾP NHÂN SINH

 

Ảnh minh họa qua Commonhealth

Đời người, ai cũng đang nỗ lực tìm kiếm ý nghĩa của kiếp nhân sinh. 10 câu nói dưới đây, sẽ cho bạn rất nhiều gợi ý về ý nghĩa của cuộc đời mình.

1. Đời người ngắn ngủi mấy chục năm, mỗi bước đi đều sẽ có cao hứng, có tuyệt vọng; có thành công, có thất bại; có sinh, có tử.

Bạn thành công chính bởi chí đặt ở thành công, dù con đường đến với nó chẳng dễ dàng, nhưng mấu chốt là bạn có thể kiên trì với nó cho tới cuối cùng hay không.

2. Cuộc sống có quá nhiều điều là không được như ý. Có câu rằng: “Nhân tại giang hồ, thân bất do kỷ”, ở đời có biết bao chuyện mà bản thân chẳng thể làm chủ được.

Thế nhưng, chỉ có đi qua gập ghềnh, mới hiểu được bình phẳng; chỉ trải qua mưa gió, mới gặp được cầu vồng. Nhất định phải học được cách tìm sự ấm áp trong sương lạnh, tìm tòi ánh sáng giữa đêm đen, suy ngẫm cuộc sống bình thản như dòng nước, cảm nhận phong cảnh bốn mùa đến rồi đi, sẽ tìm được ý nghĩa nhân sinh chân chính của cuộc đời mình.

3. Đời người sẽ gặp phải nhiều khó khăn ngăn trở, nhưng mong rằng bạn đừng ngại vấp váp, ngã bao nhiêu lần thì bấy nhiêu lần gượng dậy. Chỉ có như vậy mới khai sáng được một mảnh trời của riêng mình.

4. Bạn giả vờ nỗ lực chỉ có thể tự lừa gạt được người khác, nhưng không thể lừa được chính mình. Chớ dùng ‘chiến thuật’ chăm chỉ, để che giấu đi sự lười biếng đang còn ẩn bên trong. Chân thật với bản thân mình mới là quan trọng nhất.

5. Nhân sinh vẫn mãi kiếm tìm, nhưng có rất nhiều thứ không phải ở núi cao biển sâu, mà ở ngay đó gần trong gang tấc. Một niệm khởi lên, chân trời đã ở ngay bên cạnh; một niệm tắt đi, gần ngay trước mặt lại ngỡ biển trời mênh mông.

6. Cái gọi là tự tìm phiền não chính là do hấp thu năng lượng tiêu cực quá nhiều. Hãy học theo hoa hướng dương, luôn hướng về phía Mặt Trời.

7. Sóng biển nếu thành bão tố thì ắt đẩy thuyền ra khơi, còn nếu nhẹ nhàng như nước chảy bèo trôi chỉ làm thuyền đưa nhẹ. Đường núi không bằng phẳng khiến cho mỗi bước chân đi thêm vững chắc, gian khổ sẽ tạo nên những con người xuất chúng, có khả năng đối diện với mọi sóng gió ở đời.

8. Trên đời này nào có ai không muốn được sống vô ưu vô lo, chỉ là đôi khi chúng ta phải vì người khác mà gánh lấy trách nhiệm. Khi còn trẻ thì nỗ lực không để người bạn yêu thương phải chịu khổ, lúc về già thì lại không để người yêu thương bạn phải phiền muộn!

9. Vòng nguyệt quế tung bay, không phải là dùng tài năng để kết thành, mà là được dệt thành từ bao khó khăn, trắc trở. Viên trân châu phát sáng lấp lánh, không phải bởi người khác chăm chỉ lau chùi, mà là do bản thân nó đã trải qua bao mài giũa. Nếu như hận thù khiến người ta phải nếm quả đắng, thì phấn chấn sẽ khiến người ta nếm được sự vui sướng của kiếp nhân sinh.

10. Đối với mọi sự tình, nếu chính mình cảm thấy không thẹn với lương tâm là tốt rồi. Đã không là của mình thì đừng cưỡng cầu, cái gì đã rời xa rồi thì đều là phong cảnh, cái gì còn lưu lại mới thật là nhân sinh.

Chân Chân, theo Soundofhope

Nguồn: tinhhoa.net

Ý NGHĨA 3 NÉN HƯƠNG TRONG PHẬT GIÁO

 



3 nén hương mang ý nghĩa đặc biệt. Số 3 tượng trưng cho Tam bảo là Phật – Pháp – Tăng. Số 3 tượng trưng cho Tam giới là Dục giới – Sắc giới – Vô sắc giới. Số 3 tượng trưng cho Tam thời là Quá khứ – Hiện tại – Tương lai.

Làn khói hương trong văn hóa Phật giáo
 
Trong văn hóa dân gian, làn khói hương tượng trưng cho việc truyền tín hiệu từ thế giới thực tại đến cõi tâm linh (thần linh, cửu huyền) khi muốn thông báo một sự việc hoặc cầu xin điều gì đó, vì thế mà hương còn được gọi là “hương tín”. Nói cách khác, đó là nhịp cầu kết nối giữa thế giới hữu hình và vô hình.

Với người Phật tử, nén hương khi dâng trước Phật cũng mang ý nghĩa “hương tín”, hiểu theo nghĩa đang báo tin đến chư Phật, Bồ-tát rằng: “Con đang đứng trước hình tượng của Ngài và nguyện tu học theo hạnh nguyện của Ngài”. Tuy nhiên, trong đạo Phật, ngoài ý niệm truyền tin, hương còn giữ vai trò lớn hơn thế.

Thật vậy, tầm ảnh hưởng của hương được thể hiện khi có mặt trong hầu khắp các nghi thức như: tụng kinh, ngồi thiền, lễ tắm Phật, lễ khai quang, cầu an, phóng sinh,… Cũng vì thế, đứng đầu “Lục chủng cúng dường” chư Phật, Bồ Tát phải kể đến hương, gồm: hương, đăng, hoa, đồ, quả, nhạc.

Điều này thật dễ hiểu bởi khi Đức Phật còn tại thế đã có truyền thống dâng hương cúng Phật, tức là thắp (đốt) nén hương khi đảnh lễ. Vậy nên với người Phật tử, dâng hương lên Tam Bảo là cách thể hiện cái tâm thành kính, vì “dâng” là đưa (một cái gì đó) lên theo cách thức cung kính. Chẳng thế mà có bài kệ:

Nguyện thử diệu hương vân,
Biến mãn thập phương giới,
Cúng dường nhất thiết chư Phật, Tôn Pháp, Bồ Tát,…

3 nén hương trong Phật giáo có ý nghĩa gì?

Mỗi người dâng hương, người ta thường thắp 3 nén. Tại sao lại phải 3 nén hương chứ không phải con số khác? Người Việt thường chọn số nén lẻ để thắp hương 1, 3, 5, 7, 9. Hoặc có trường hợp sẽ đốt cả nắm chứ người ta không lấy số nén hương chẵn. 
Theo quan niệm của Phật giáo, 3 nén hương mang ý nghĩa đặc biệt. Số 3 tượng trưng cho Tam bảo là Phật – Pháp – Tăng. Số 3 tượng trưng cho Tam giới là Dục giới – Sắc giới – Vô sắc giới. Số 3 tượng trưng cho Tam thời là Quá khứ – Hiện tại – Tương lai. Đồng thời số 3 cũng tượng trưng cho Tam vô lậu học là Giới – Định – Tuệ.

Như vậy, thắp 3 nén hương là hàm nghĩa về sự biểu trưng. Nó đại diện cho những vấn đề, quan niệm, tư tưởng, giới luật của con người. Số 3 cũng mang nghĩa về sự phát triển, cầu mong may mắn, tốt lành, an lạc. 

Ngoài ra, nén hương cũng là sự thể hiện cho cái vô thường. Đó không phải là thứ cố định hay vĩnh viễn. Nén hương thơm, tỏa làn khói nghi ngút làm lòng người ấm áp. Đó cũng là sự gợi nhắc con người về giá trị của cuộc sống. 

Ý nghĩa của việc dâng 3 nén hương cúng Phật

Luận theo Phật pháp, ý nghĩa của việc dâng hương cúng Phật được gọi là Ngũ Phần Hương. Tức Giới hương, Định hương, Tuệ hương, Giải thoát hương và Giải thoát tri kiến hương. 
Giới hương là sự biểu thị cho tâm thanh tĩnh. Đó là khi con người ngộ được cái từ bi bác ái. Tâm chẳng ác, chẳng quấy, chẳng tham sân, chẳng ganh tị, chẳng cướp hại.

Tuệ hương là cái tự tâm vô ngại. Dùng cái tâm để kính trên nhường dưới, đồng cảm, chia sẻ cho người khó khăn. Lấy trí tuệ để soi sáng tánh lành, không tạo điều gian ác. 
Giải thoát hương là cái tự tại vô ngại. Lòng chẳng nghĩ ác, chẳng nghĩ thiện, chẳng tham – sân – si. 

Giải thoát tri kiến hương là tự tâm không phan duyên thiện ác. Lấy tu tập để nhận tự bản thân, hanh thông Phật pháp. Biết hạ mình để đối với người, vô nhơn vô ngã, không tính sự đổi thay. 

Dâng hương cúng Phật là niềm thành kín về những hương thơm tốt đẹp. Nguyện cầu giữ gìn giới luật, giữ tâm thiền định. phát triển trí tuệ và tu hạnh giải thoát. 

Minh An (Tổng hợp)

Thứ Tư, 29 tháng 6, 2022

MỌI LOÀI ĐỀU LÀ CON CỦA ĐẤT MẸ

 

Con voi mang thai được tìm thấy hôm 27-5 sau khi con vật chết vì ăn phải trái cây có nhét pháo nổ bên trong tại bang Kerala - Ảnh: AFP

Câu chuyện về cái chết của hai mẹ con voi mới đây có lẽ đều đã chạm tới trái tim của mỗi người. Câu chuyện làm cho tôi nghĩ nhiều về tình thương, tình thương dành cho mình, tình thương dành cho người khác và tình thương dành cho mọi loại.

Hồi biên tập sách Tâm tình với Đất Mẹ của Thiền sư Thích Nhất Hạnh, tôi bất chợt nhận ra và trải nghiệm một điều là tất cả mọi loài đều sinh ra từ Đất Mẹ, và Trái Đất không phải là sở hữu riêng của loài người. Loài vật kiếm ăn khi chúng thấy đói, chúng kiếm ăn cho bản thân, cho con cái, cho đồng loại. Loài người dường như cũng như thế nhưng lại không hẳn thế. Chúng ta đi làm để nuôi sống bản thân gia đình của mình, và đổi lấy những điều chúng ta mong đợi, những giấc mơ của bản thân. Những giấc mơ, những mong đợi đó cũng bình thường nhưng đôi khi ta lại lạc lối trong những cơn mộng rất đời thường như vậy.

Khi mà chúng ta chưa thấy đủ và hài lòng thì có vẻ như ta sẽ còn bị cuồng quay trong những giấc mơ mà chúng ta nghĩ rằng khi giấc mơ thành hiện thực chúng sẽ được hạnh phúc, sẽ được bằng chị bằng em, bằng chúng bằng bạn. Để rồi chúng ta quên mất chính bản thân của mình, quên thương mình thì làm sao chúng ta có thể nhận diện được sự có mặt của những người thân, những điều tốt đẹp xung quanh mình để rồi yêu thương họ, trân quý họ và những thứ mà mình đang nắm giữ trong tay.

Đức Đạt Lai Lạt Ma từng nói : “Nếu không yêu thương chính mình, bạn không thể yêu thương người khác. Nếu bạn không có từ bi đối với mình, bạn không thể phát triển lòng từ bi đối với người khác”.

Làm thế nào ta có thể thương được bản thân mình khi ta vẫn đêm ngày rong ruổi tìm kiếm những điều mình cho là hạnh phúc. Mọi chuyện chỉ có thể diễn ra khi ta chịu dừng lại, có mặt ở giây phút hiện tại để có thể nhận diện tình cảnh của mình, sự hiện diện của những người thương, những điều kiện hạnh phúc sẵn có xung quanh.

Khi có thể dừng lại, lắng đọng ta sẽ thấy được đâu mới là hạnh phúc đích thực, rồi ta cũng thấy rằng ta như đứa trẻ đang lạc lối, mệt nhoài trên hành trình mưu cầu hạnh phúc, ta thấy thương cho đứa trẻ đang hoảng sợ do lầm đường kia nhiều hơn. Và khi ta trải nghiệm được tình thương như vậy với chính ta thì mới có thể hiểu và thương được những người xung quanh mình.

Tình thương đó rất đẹp nhưng cũng vô thường, nó sẽ chết nếu chúng ta không nuôi dưỡng nó. Ta nuôi dưỡng tình thương bằng hiểu biết, hiểu cho đúng đâu mới là hạnh phúc, đâu mới là con đường dẫn đến hạnh phúc đích thực. Khi tình thương được nuôi lớn, ta sẽ thương được những loài khác trên địa cầu nhiều hơn. Mọi loài cũng đều như ta, cũng muốn được sống an lành và tránh những đau khổ không cần thiết.

Tôi thương cảm cho cái chết của hai mẹ con voi và tôi cũng nghĩ nhiều đến những người dân ở đó. Họ có cố tình không, hành vi bảo vệ mùa màng của họ trước những động vật hoang dã có gì sai không, họ có được nghe về ít muốn biết đủ, về hiểu biết và thương yêu không, những điều tôi đang lên án có bị chi phối bởi sự giận dữ, và bị thiên lệch do truyền thông mạng hay không?

Mọi sự đều sẽ được pháp luật nơi sở tại xử lý nhưng nếu mọi hành động hiện giờ của chúng ta bị ngụy trang bởi sự giận dữ, thù ghét những người dân ở đó thì sẽ chẳng thể nào giải quyết được tình trạng - vì chúng ta đã không khơi được trong họ tình yêu thương đối với thiên nhiên, muôn loại.

Mà nghĩ lại, chính bản thân họ, như chúng ta - là con người, cần được thương yêu tưới tẩm.

Tôi nghĩ rằng để có được tình thương yêu bao trùm lên tất cả mọi loài, chúng ta cần thay đổi nếp nghĩ và nếp sống của chính mỗi người. Nếu sống thiểu dục, tri túc, nếp sống từ bi là nếp sống cao đẹp, là nếp sống có thể nuôi dưỡng một tình thương có thể bao trùm lên tất cả mọi loài, mọi đứa con sinh ra từ lòng Đất Mẹ.

“Nguyện cho mọi người và mọi loài được sống trong an toàn và hạnh phúc, tâm tư hiền hậu và thảnh thơi.

Nguyện cho tất cả các loài sinh vật trên trái đất đều được sống an lành, những loài yếu, những loài mạnh, những loài cao, những loài thấp, những loài lớn, những loài nhỏ, những loài ta có thể nhìn thấy, những loài ta không thể nhìn thấy, những loài ở gần, những loài ở xa, những loài đã sinh và những loài sắp sinh.

Nguyện cho đừng loài nào sát hại loài nào, đừng ai coi nhẹ tính mạng của ai, đừng ai vì giận hờn hoặc ác tâm mà mong cho ai bị đau khổ và khốn đốn”.
(Trích kinh Thương Yêu, bản dịch của Thiền sư Nhất Hạnh)

Đông Phong