Thứ Hai, 6 tháng 6, 2016

ĐƯỜNG VỀ






                                            THI HỌA VÀ THƯ PHÁP VIỆT CỦA MINH ĐẠO                                            
                                            TRONG THI PHẨM “ĐƯỜNG VỀ”  
 
                                                        “Giọt nắng vàng lung linh 
                                                          Bên thềm gió lay nhẹ 
                                                          Nắng gió vẫn vô tình 
                                                          Không sinh cũng không diệt”
  
   Đây là bài thơ “Nắng gió” trong tập thơ Đường về của Minh Đạo. Tác giả sáng tác một cách xuất thần, dựng thành cốt lõi, xương sống cho tác phẩm thi ca nghệ thuật. Bài thơ được thực hiện bằng thư pháp Việt để trình bày bìa sau của tác phẩm mà bạn đọc đang cầm trên tay. 
  
    Đọc cả tập thơ và với bài thơ “Nắng gió”, có thể nói tâm cảm của Minh Đạo là thơ hướng đến trí tuệ, tư tưởng lớn ở phương Đông: giáo lý của đạo Phật. Tác phẩm gồm 95 bài thơ, phần lớn được viết theo thể thơ Đường với niêm luật, khuôn giáo khắt khe đòi hỏi phải chỉn chu về luật thơ.
 
    Chân thành mừng anh Minh Đạo đã “công phu”, chu đáo trong việc dựng thành sách, thành thơ, thành họa và kể cả thành nhạc nữa. Niềm vui cho thi hữu Minh Đạo đã được thầy Thích Tâm Hải đề tựa cho tác phẩm, làm sáng tỏa và thanh thoát việc “khai quang điểm nhãn” cho thi phẩm Đường về này. 
 
    Trong số 95 bài thơ, tác giả đã chọn lọc rồi minh họa gần 40 bức thư pháp, ảnh nghệ thuật và được xếp đặt một cách hợp lý. Tất cả những nội dung ấy đã nói lên việc hướng về cội nguồn uyên nguyên của văn hóa Việt. Tác giả đã trình bày một cách qui ngưỡng, có trước có sau, có ngôi thứ, có trật tự, có lề lối, chung thủy, tri ân, cảm nghĩa của người Việt thanh tao và cao quí. Đó là ơn nước, ơn thầy, ơn sinh thành dưỡng dục, ơn xã hội… được lồng vào nhau một cách lung linh, sùng kính và cung ngưỡng. Càng đọc, càng nhìn, càng nghĩ, càng suy thì lại càng mến tài và trân trọng tác giả hơn. 
  
    Đường về đầy hoa thơm cỏ lạ, ngào ngạt… theo thời gian như muốn đọng lại trong bài “Quỳnh hương”: 
 
                                                     “Trăng lên hoa nở khách đề thơ 
                                                      Hương ngát hoa đời ý vẩn vơ 
                                                      Trà nguội đêm tàn sương tỏa lạnh                                                          
                                                      Say đời say mộng mãi còn mơ”. 
 
    Ngoài ra tôi còn tâm đắc với ý thơ “Thời gian vò võ” và “Đọng lại nghe vò võ” mà anh Minh Đạo đã nhắc đến hai lần trong thi phẩm: 
                                                      “Thời gian vò võ luôn in đậm”   
                                                       (Tuổi thơ) 
                                                      “Thời gian đọng lại nghe vò võ”
                                                       (Chờ xuân)
     Thân chào anh và những người thân về dặm đường mà anh đã ký thác, nuôi dưỡng ước vọng từ lâu cho tác phẩm. 
           
                                                                       Xuân Bính Thân - 2016
                                                                                  Thân hữu 
                                                                             Lê Quang Thái 
                                                        (Tập san Liễu Quán – Tạp chí Sông Hương)


---------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------
               
Xin giới thiệu đến quí thân hữu gần xa tập thơ Đường Về trên trang web Thiền viện Vạn Hạnh:

-----------------------------------------------------------------------------------------------------------                               



  CẢM NHẬN CỦA ĐỘC GIẢ SAU KHI XEM XONG TẬP THƠ ĐƯỜNG VỀ



Lối về của MINH ĐẠO trong “ĐƯỜNG VỀ” (*)
 Tâm Lễ - Nguyễn Ngọc Luật
Thân hữu gần xa biết đến thầy Minh Đạo như là một nhà thư pháp với nét bút phóng khoáng và bản sắc riêng biệt không lẫn vào ai được,  thư pháp của thầy thường là những câu Phật ngôn, thiền ngữ hoặc là những câu thơ ngắn của thầy, thầy cũng vẽ tranh thủy mặc với những nét chấm phá thật độc đáo. Nhưng ít ai biết thầy vẫn miệt mài làm thơ theo thể thất ngôn bát cú đường luật với những quy tắc về niêm, luật, đối… hết sức khắt khe, nghiêm nhặt cho đến khi thầy cho ra mắt tập thơ- thư pháp “ĐƯỜNG VỀ” thì nhiều thân hữu thật sự ngỡ ngàng!
  Thi tập “Đường Về” với 95 bài thơ Đường đa số làm theo thể thgất ngôn bát cú, hầu hết nội dung để chuyển tải những suy tư, trải  nghiệm cũng như thể hiện đời sống tâm linh thật phong phú của thầy. Ngoài ra có một số ít bài thơ tự sự diễn tả những cảm nhận về tình cảm cuộc sống hoặc những giây phút phiêu bồng về một bóng hình rất xa, một cõi mộng thóang qua trong một bất chợt nào đó.
  Tôi đã đọc đi đọc lại nhiều lần toàn bộ các bài thơ trong thi tập và cảm nhận một điều là hầu  hết nội dung các bài thơ cho dù được đề cập về bất kỳ điều gì đi nữa thì tựu trung cũng mang tinh thần “tải ĐẠO”. ĐẠO ở đây không phải là đức tin tôn giáo mà là đạo lý giửa cuộc sống đời thường về tình cảm quê hương, sự tri ân tổ tiên, ông bà, cha mẹ, tình bằng hữu, tình gia tộc và vượt lên trên hết là tình người và sống đạo.
  Thầy nói về đạo lý uống nước nhớ nguồn, tri ân tổ tiên,  cha mẹ với những câu thơ thật tâm thành, dung dị
Tổ đức anh linh luôn tỏa sáng
Để cho gia tộc mãi xuân trường
( Từ đường)
Đã trót sinh ra giửa đất trời
Ân tình sâu nặng nghĩa nào vơi
                       (Ơn nghĩa sinh thành)
Đối với ơn thầy giáo dưỡng thì
Tâm an liễu ngộ người nương pháp
Gặp được minh sư dạ sáng khai
                              (Ơn thầy)
Và kết lại cho trọn tình
Mẹ dưỡng một đời ơn chẳng nhạt
Cha lo bao thuở nghĩa không phai
Vợ chồng duyên số ươm bền chặt
Thân hữu niềm tin giử miệt mài
                                                                      (Trọn tình)
Chỉ với bốn câu mà chuyển tải cả một tinh thần đạo lý trong cuộc sống của thầy.
  Duyên theo dòng luân chuyển của nghiệp thức để đi vào cuộc đời tang thương dâu bể nhuốm mùi tục lụy, chất chứa phiền não của chốn trần ai, mang thân phận kiếp người trôi lăn trong dòng sinh tử , phan duyên, cảm thọ những được-mất, thành-bại, vinh-nhục, hạnh phúc-khổ đau… với hỷ, nộ, ái ố, thất tình lục dục... chống chất lên kiếp sống với những trải nghiệm đắt giá của bản thân. Giờ đây trong tuổi xế chiều thầy đã nhận diện được ĐƯỜNG VỀ nhờ thấm nhuần giáo lý Phật-đà và đã áp dụng một cách diệu dụng vào đời sống hằng ngày bằng cách chọn cho mính lối “SỐNG ĐẠO”. Ta tìm thấy rất nhiều những ý tưởng, tự sự thể hiện nhân sinh quan…của thầy trong rất nhiều bài thơ trong thi tập.
Cửa Phật nương về đèn Bát-nhã
Nhuộm màu đạo pháp thoát bi ai
        (Hành trình)
Sớm tối tọa thiền tâm chẳng nhuốm
Ngày đêm quán chiếu cảnh không lay
(Nơi ấy)
Trong hành trình tìm về nguồn cội thầy Minh Đạo đã chọn cho mình một lồi sống thật an nhiên, tĩnh tại, thong dong với những thú vui tao nhã mà biết bao người mơ ước cũng không có được (hoặc giả họ có điều kiện nhưng thiếu duyên để tìm cho mình một lối sống buông thư như thế!)
Đến đi, đi đến đều không ngại
Là lúc thong dong giửa cõi này
                                                           (Tâm nguyện)
 Thân mang kiếp người, sống trong cõi hồng trần nhưng thầy đã vượt thoát ra ngoài không bị đắm nhiễm mùi tục lụy vì đã liễu ngộ lý vô thường, vô ngã mà buông xả, chuyển hóa thân tâm để dần dần diệt trừ tham dục, kiến lập một cảnh giới an lạc giửa trần gian khổ đau, phiền não.
Buông xã tâm khoan là lẽ sống
Tùy duyên thuận pháp thảy thong dong
                                                                    (Chờ đợi)
Và tự nhủ
Hãy sống bình tâm giửa cõi đời
Để lòng thanh thản bớt chơi vơi
                                                                       (An lạc)
Chọn cho mình lối sống khinh an, thanh thản, thầy Minh Đạo đang đi giửa cõi ta-bà với tâm thái ‘Tâm an, niệm chánh bước dung thông”!
Điều ngộ nhận lớn nhất của  đa số chúng ta là  cứ tưởng đời là thật cho nên tất bật suốt đời, thầy Minh Đạo thì không thế.
Biết đời vốn không thật
Nên sống tình bao la
Nhìn đời bắng tâm Phật
Để yêu đời thiết tha
                                                          (Biết đời)
Biết đời vốn không thật để rồi nhìn đời bằng tâm Phật ( từ bi, hỷ xả, vô ngã, vị tha) để mà yêu đời thiết tha  chứ không phải để rồi bi quan, yếm thế như nhiều người ngộ nhận về đạo Phật. Ta cảm nhận được một lối sống đạo với sự an nhiên, hỷ lạc, thong dong, tự tại làm sao!
Bên nhánh phong lan với tách trà
Lung linh nắng sớm bóng thu qua
Đậm đà vị thắm tìm thanh thản
Thoang thoảng hương đưa thấy thiết tha
                                                                     (Độc ẩm)
Còn nhiều nữa hương vị an lạc, khinh an phảng phất trong rất nhiều bài thơ trong thi tập. Còn lại một số bài với đôi chút lãng đãng sương khói, hoài niệm về một quá khứ xa xăm
Nửa kiếp thời gian còn mãi nhớ
Trăm năm ký ức mãi niềm thương.
                                                                   (Hoài niệm)
Và thế là
Nhớ em anh gởi vào trang giấy
Cách trở xa xăm với những ngày
                                                                       (Duyên xưa)
Một chút lãng đãng, một chút lang thang vào cõi mộng, chỉ là một chút thôi như màu hồng điểm xuyết trên đóa mẫu đơn, trên cành đào phai trong bức tranh thủy mặc của thầy.
  Tập thơ được khép lại với bài thơ mang tựa đề “Như”  bài thơ khái quát lại tinh yếu nội dung trong thi tập với sự trực ngộ lý vô thường, vô ngã, duyên sinh . Thầy đã tự tìm ra “Đường về” nhưng sao lại còn băn khoăn?!
Như là người lữ khách
Thời gian bóng ngựa qua
Chẳng biết đâu là nhà
Đường về quá đỗi xa”
                                                               (Như)
Đường về thì quá xa nhưng mà đã đi là sẽ đến, hành giả đã tìm ra lối về khi nhận chân được trần gian là quán trọ, để rồi một mai kia khi mà:
Quán đời tỉnh mộng tà huy
Trả buồn vui lại ra về tay không!
    Những dòng tản mạn về tập thơ-thư pháp “Đường về” của thầy Minh Đạo đáng ra đã được đặt dấu chấm hết, nhưng tôi lại cảm thấy vô cùng thú vị khi phát hiện một cách ngẫu nhiên bài thơ cuối của tập thơ có tên là “NHƯ” làm tôi liên tưởng tới bốn câu thi kệ của cố Hòa thượng Phước Hậu
Kinh điển lưu truyền tám vạn tư
Học hành không thiếu cũng không dư
Năm nay nghĩ lại chừng quên hết
Chỉ nhớ trên đầu một chử NHƯ!
Và thế là dòng tâm thức của tôi lại tiếp tục lan man, nhưng mà thôi, hãy nói như Phạm Thiên Thư trong tập “Đoạn trường vô thanh”
Thôi thì thôi chỉ phù vân
Thôi thì thôi nhé có ngần ấy thôi!
Thầy Minh Đạo nhé!
                                                                                                         Vào hạ 2016
                                                                                                            Tâm Lễ
(*) Đường về: Thơ và thư pháp-MINH ĐẠO
-------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------

                                                     SÁCH ĐÃ XUẤT BẢN

                                                         Nơi Ấy Bình Yên

 Giấy đăng ký kế hoạch xuất bản số: 79-2013/CBX/43/79/HP và QĐXB số: 124-2013/QĐ-NXB, ngày 4.6.2013.
In xong nộp lưu chiếu Quý II - 2013. Xem
 



---------------------------------------------------------------------------------------------

Liên hệ: minhdao1160@yahoo.com
minhdao1160@gmail.com



                                           

6 DẤU HIỆU CẢNH BÁO 1 TUẦN TRƯỚC KHI XẢY RA ĐỘT QUỴ




Theo nghiên cứu của Trung tâm kiểm soát và ngăn ngừa Dịch bệnh – CDC Hoa Kỳ ước tính, hơn 90% các ca đột quỵ đều diễn ra ngoài bệnh viện. Nghiên cứu này đã kết luận 6 dấu hiệu tiền cảnh báo nguy cơ đột quỵ sẽ xảy ra trong vòng 1 tuần. 

Hiện có 05 nguyên nhân chính gây đột quỵ: Thừa cân béo phì, tiểu đường, chế độ ăn uống không lành mạnh, Lạm dụng rượu thuốc lá, lười hoạt động thể chất. Cũng theo nghiên cứu khảo sát với hầu hết các bệnh nhân bị đột quỵ hoặc tai biến mạch máu não. Đây là những thông tin cực kỳ quý giá, cần chia sẻ cho mọi người tham khảo để tránh được nhiều rủi ro đáng tiếc.

1. Đau tức ngực :
Nó xuất hiện với nhiều hình thức, đa số người cảm thấy ngực như bị đè nặng, rát nóng, đau buốt. Xảy ra bất kỳ lúc nào, kể cả không vận động và vận động. Có đến 70% số người bị tai biến sau đột quỵ khẳng định rằng, họ bị đau tức ngực. Do vậy tốt nhất, bạn nên đến khám bác sỹ, nếu gặp phải bất cứ tình huống như vậy xảy ra. Còn đối với nữ, có thể không gặp trường hợp đau ngực, nhưng vẫn có nguy cơ đột quỵ.

2. Thở khó :

Bạn nên chú ý vài trường hợp cảm thấy khó thở, hoặc thở bị đứt quãng. Đó là dấu hiệu rất nguy hiểm, tim và phổi luôn kết hợp rất nhịp nhàng, nếu tim yếu, chắc chắn phổi không nhận đủ oxy. Điều đó gây khó thở, cần đi khám ngay nếu có thể.

3. Luôn cảm thấy mệt mỏi :

Tự nhiên bạn cảm thấy rất mệt mỏi không rõ nguyên nhân, nó cũng là dấu hiệu lớn của bệnh đột quỵ. Tim phải làm việc vất và hơn, trong khi các động mạnh bắt đầu đóng lại, điều đó khiến cho bạn chỉ cần vận động ít cũng thấy khá mệt. Do đó bạn luôn cảm thấy cần ngủ nhiều hơn ở mọi lúc mọi nơi, cho dù ban đêm hay ban ngày. Do vậy các nhân viên làm những công việc thiếu oxy như nhân viên rút hầm cầu hay làm việc hầm lò, nặng nhọc cần lưu ý hiện tượng này, không nên làm việc gắng sức cả ngày lẫn đêm.

4. Luôn có cảm giác buồn ngủ: 

Đến một thời gian nào đó, bạn luôn muốn ngủ, cho dù đã ngủ rất nhiều. Bạn cần đi khám ngay, trước khi quá muộn. Khi đó tim gặp khó khăn khi bơm máu cho toàn bộ cơ thể, các tĩnh mạch sưng lên, dẩn đến phình giãn. Đặc biệt là ở bàn chân, mắt cá chân, vì đây là những nơi xa tim nhất. Bạn sẽ nhìn trực quan thấy hiện tượng xanh tím ngoại vi ở tay chân và môi. Đó là lúc bạn cần đi khám sức khoẻ.

5. Bị cảm lạnh không dứt :
Liên tục bị cảm lạnh trong khoảng thời gian dài, đồng nghĩa với dấu hiệu bị bệnh tim. Khi tim hoạt động yếu đi, chắc chắn máu có thể rò rỉ ngược vào phổi. Do vậy cần quan sát khi ho, xem có đờm hơi hồng nhạt không. Nếu có, khả năng máu có dấu hiệu tràn vào phổi.

6. Tự nhiên chóng mặt
Hệ thống tuần hoàn sẽ gặp nhiều khó khăn, nếu tim quá yếu. Bộ não không nhận đủ oxy cần thiết. Điều đó sẽ làm bạn luôn cảm thấy chóng mặt, thậm chí đau đầu. Do đó bạn cần chú ý, và đi chuẩn đoán bệnh ngay khi có biểu hiện trên thường xuyên. Nó có thể giúp bạn cứu chính bản thân mình trước khi sự việc xảy ra quá muộn. Các nhân viên thông cống nghẹt và nạo vét hố ga cũng không nên thi công giữa trưa nắng. Dễ xảy ra các hiện tượng nguy hiểm.

Đây đều là biểu hiện rõ nét nhất trước 1 tuần khi cơn đột quỵ xảy ra. Bạn và người thân cần nhận biết, để tự chăm sóc sức khoẻ được tốt nhất. Vì nếu phát hiện sớm, không chỉ tránh được nguy cơ tử vong, mà còn phòng những bệnh do tai biến mang lại, như liệt người, não…

                                                      Nguồn Trung tâm CDC Hoa kỳ
                                                                       (Trích email quangaduc@...)



VỀ MỘT BỨC TRANH CỦA PHẬT THÍCH CA


Lời Ban Biên Tập:Để trả lời nghi vấn của một số độc gỉa TVHS về một bức tranh đen trắng vẽ Đức Phật Thích Ca khi Ngài còn tại thế (khoảng năm 41 tuổi) do một đệ tử của Ngài là Phú Lâu Na (Purna) vẽ, chúng tôi đã liên lạc với tác giả quyển sách Mùi Hương Trầm , GSTS. Nguyễn Tường Bách, người đã đề cập đến bức tranh vẽ này trong quyển sách của ông. Tác gỉa đã gửi cho chúng tôi bài đề ngày 16-1-2003 trả lời ông Vương Như Dương Chuyết Lão, người cũng có thắc mắc tương tự. BBT/TVHS xin cảm ơn tác gỉa quyển sách Mùi Hương Trầm và bài viết này. Riêng về bức tranh vẽ mầu được một Phật tử Trung Hoa làm lại, đưa mầu vào và ghi thêm chữ Hán (dòng chữ Hán bên trên là Thích Ca Mâu Ni Phật và hai hàng chữ Hán hai bên là bài kệ lấy từ kinh Kim Cang: "Nhất thiết hữu vi pháp / Như mộng, huyễn, bào, ảnh / Như lộ diệc như điện / Ưng tác như thị quán." Mời quý độc giả xem tiếp bài viết của GSTS. Nguyễn Tường Bách: Về Một Bức Tranh Của Phật Thích Ca

VỀ MỘT BỨC TRANH CỦA PHẬT THÍCH CA
Nguyễn Tường Bách

Trước hết, người viết bài này xin trân trọng cám ơn những nhận xét đầy khích lệ của tác giả Vương Như Dương Chuyết Lão vềMùi Hương Trầm. Những phê bình tốt đẹp đó đem lại thêm cho người viết lòng tri ân về những nhân duyên sâu kín đã tạo tác nên tác phẩm này, trong đó người viết chỉ làm một nhiệm vụ duy nhất là viết lại những gì mình từng thấy, từng nghe, từng đọc.
Trong bài viết, tác giả Vương Như Dương Chuyết Lão nêu nghi vấn về một tấm hình của đức Thích-ca trích đăng trong “Mùi Hương Trầm“. Tác giả nêu câu hỏi, phải chăng bức hình này đích thực là từ thời lúc Phật còn tại thế truyền lại, do đệ tử của Ngài là Phú-lâu-na (Purna) vẽ lúc Ngài khoảng 41 tuổi. Nghi vấn này cho ta thấy cặp mắt sắc bén của tác giả Vương Như Dương Chuyết Lão, nó đòi hỏi một câu trả lời thành tâm và nghiêm túc.
buctranhphatthichca
Phật Thích-ca lúc 41 tuổi
Trước hết, bức hình này gây nhiều sự kinh ngạc và thú vị cho người xem, trong đó có tác giả của “Mùi Hương Trầm”. Tất cả những hình tượng khác của Phật Thích-ca đều có tính chất tượng trưng. Chỉ duy nhất bức hình trên đây trình bày Ngài như một con người bằng xương bằng thịt. Bức hình này có thật không ?
Về bức hình này cũng như về nhiều chi tiết khác trong “Mùi Hương Trầm“, tác giả phải dựa vào các nguồn thông tin khác, nhất là kinh sách, tư liệu của các tác giả khác, chứ không được thấy tận mắt. Ta có thể tìm thấy thông tin về bức hình trên của Phật Thích-ca trong hai tài liệu sau đây. Một là, trong tác phẩm Vrai Zen của thiền sư Taisen Deshimaru (1914-1982). Thiền sư Deshimaru đến Pháp năm 1967 và xuất bản tác phẩm đầu tay nói trên vào năm 1969. Tác phẩm này cũng đã được Ngô Thành Nhân/Trần Đình Cáo dịch ra Việt ngữ dưới tên “Chân Thiền“ và xuất bản năm 1992. Tài liệu thứ hai là của thiền sư Tinh Vân (Hsing Yun). Thiền sư Tinh Vân, sinh năm 1927 tại Trung Quốc, là tổ thứ 48 của dòng Lâm Tế. Thiền sư Tinh Vân là tác giả của gần 30 tác phẩm, sáng lập hội Buddha's Light International Association (BLIA) và hiện nay đi du hóa trên toàn thế giới.
Trong các tác phẩm của Tinh Vân ta tìm thấy một tài liệu mang tên Seeing the Buddha[1][1]. Trong tác phẩm này Tinh Vân luận giải rất hay về các loại “thân“ của Phật, từ tranh tượng thông thường đến các dạng “hiện tướng“ khác nhau của Pháp thân Phật. Đặc biệt, dựa trên kinh A-hàm, Tinh Vân cho hay, bức tượng đầu tiên của Phật là do nhà vua Udayana của nước Kausambi cho tôn tạo lúc Ngài còn tại thế. Truyền thuyết kể lại, lúc Phật đến cung trời Tam thập tam để giảng pháp cho mẹ, nhà vua cho đẽo bức tượng bằng gỗ chiên đàn để tưởng nhớ đến Phật. Sau ba tháng, lúc Phật trở lại thế gian, bức tượng trở nên sống động và đến “chào“ Ngài. Phật mỉm cười nhìn tượng và nói: “Ba tháng qua chắc ngươi mệt lắm nhỉ!“. Sau nhà vua Udayana, vẫn theo Tinh Vân trích kinh A-hàm, nhà vua Ba-tư-nặc của nước Kiều-tát-la và trưởng giả Cấp Cô Độc cũng cho đúc tượng của Phật.
Cũng trong tác phẩm này, Tinh Vân viết thêm: “Trong những năm qua, chúng ta được nghe có một bức tranh của Phật còn xưa hơn cả bức tượng đầu tiên. Viện Bảo tàng Anh quốc tại Luân Đôn có một sưu tập gồm nhiều bức tranh của Phật. Trong những bức tranh đó có một bức mà viện bảo tàng tôn quí nhất. Đó là một bức tranh vẽ Phật lúc Ngài 41 tuổi. Bức tranh do Phú-lâu-na vẽ, một vị đệ tử của Phật và màu sắc (của bức tranh) ngày nay vẫn còn sinh động. Hình chụp của bức tranh này hiện nay được lưu hành tại Nhật và Đài Loan“.
Như thế, thiền sư Tinh Vân cũng chỉ nghe nói đến bức tranh này chứ chưa được thấy tận mắt. Người viết bài này cũng chưa có dịp đến viện bảo tàng British Museum để tìm kiếm bức tranh nọ, nhưng đã lục lọi trên Internet, vào trong các bộ sưu tập tranh của viện bảo tàng nhưng cũng không thấy bức tranh nọ được trưng bày trong mạng. Vì thế lai lịch bức tranh, liệu nó có thật hay không, vẫn còn là một nghi vấn. Người ta chỉ biết chính xác là rất nhiều cổ vật của Ấn Độ được mang về Anh vì Ấn Độ một thời là thuộc địa của Anh, và không phải cổ vật nào cũng được trình bày cho công chúng xem. Do đó, nghi vấn này không biết bao giờ mới giải đáp chính xác được. Độc giả nếu có ai đã từng xem được bức tranh hay có thông tin gì về nó, xin thông báo cho chúng ta được biết chung.
Trong bài này, ta hãy thử tìm hiểu thêm các nguồn tài liệu khác để có một cái nhìn khách quan về niên đại của tranh tượng về Đức Phật. Một nguồn thông tin cho hay, tượng Phật cổ nhất được tìm thấy là tại Tích Lan, với niên đại của thế kỷ thứ ba trước công nguyên. Theo những tài liệu khác, tại Gandhara (Tây bắc Ấn Độ, ngày nay thuộc về Afghanistan), lúc vùng này bị Hy Lạp chiếm đóng trong khoảng thế kỷ thứ nhất trước công nguyên đến thế kỷ thứ sáu sau công nguyên, con người bắt đầu trình bày Đức Phật với nhân trạng, theo truyền thống Hy Lạp. Theo nhà Phật học W.Schumann[2][2], hình ảnh đức Phật bắt đầu được tôn tạo khoảng 450 năm sau ngày Ngài diệt độ. Theo L.M.Joshi thì bức tượng Phật cổ nhất được tìm thấy tại Mathura (Bắc Aán) với niên đại của thế kỷ thứ nhất sau công nguyên. Nói chung các nhà nghiên cứu khoa học đều thừa nhận là không thể biết đích xác và cũng không hoàn toàn thống nhất về niên đại của tranh tượng đầu tiên của Đức Phật.
Ngoài vấn đề niên đại, các nhà nghiên cứu phương Tây có những lời giải thích hữu lý về vai trò của tranh tượng. Theo họ, ngày xưa đối tượng để thờ cúng không phải là tranh tượng mà là xá lợi và các tháp chứa đựng xá lợi. Theo thời gian, quan niệm thờ cúng xá lợi và bảo tháp hẳn không thể tồn tại được lâu, nhất là với sự phát triển rộng khắp của đạo Phật. Ngày nay người ta phát hiện một văn bản du nhập vào Trung quốc năm 148 sau công nguyên, trên đó có ghi: “...đệ tử đích thực của Phật cần đảnh lễ tranh tượng của Ngài mỗi sáng mỗi tối và thường xuyên đốt đèn để tỏ lòng tôn kính Ngài...“[3][3].
Với những lẽ trên, ta có thể chắc chắn tranh tượng đức Phật đã hình thành chậm nhất từ đầu công nguyên. Đó là điều khoa học có thể chứng minh. Còn các bức tượng bằng gỗ và bằng vàng mà Tinh Vân nói đến, bức tranh vẽ đức Phật của Phú-lâu-na mà cả hai thiền sư khả kính Taisen Deshimaru lẫn Tinh Vân nhắc nhở thì sao? Nói một cách nghiêm túc, các tác phẩm nghệ thuật đó chưa được chính thức khẳng định và thừa nhận. Liệu một ngày nào đó, bảo tàng viện của Luân-đôn sẽ trình bày bức tranh và Phật tử có thể chiêm bái bảo vật vô giá nói trên, điều đó cần một nhân duyên lớn.
Thế nhưng, trong lúc chờ đợi, có lẽ ta nên nghĩ như Tinh Vân trong tác phẩm Seeing the Buddha. Theo đó, Thân Phật chỉ là Ứng thân của Ngài, bức tranh (nếu có) lại càng là một phần của Ứng thân. Còn Pháp thân của Ngài là đang ở khắp nơi và hiện hữu trong từng khoảnh khắc.
NTB (16.1.03)

Bản PDF: VỀ MỘT BỨC TRANH CỦA PHẬT THÍCH CA (Nguyễn Tường Bách)


[1][1] http://www.blia.org/english/publications/booklet/pages/21.htm
[2][2] W.Schumann, Buddhistische Bilderwelt, Diederichs Verlag 1986
[3][3] Theo L.M.Joshi, Buddhistische Kunst und Architektur, trích trong Die Welt des Buddhismus, Orbis Verlag 2002

                            Bài / Sách liên quan đến chủ đề:
                 ● MÙI HƯƠNG TRẦM - Nguyễn Tường Bách

                                                                                                                                                                   Nguồn http://thuvienhoasen.org

Chủ Nhật, 5 tháng 6, 2016

CÁI DANH



                                                                                          CÁI DANH 


                                                                           Gian nan ôm mộng mãi chưa thành,
                                                                           Xếp phận lui về chuyện cái danh.
                                                                           Uổng sức cơm Cha suy chẳng vẹn,
                                                                           Tốn công áo Mẹ nghĩ sao đành.
                                                                           Long đong vạn nẻo sầu chân đất,
                                                                           Lận đận bao đường vắng tướng khanh.
                                                                           Lẩn quẩn vòng đời còn khó nhọc,
                                                                           Thôi thì buông xả nhẹ năm canh.


                                                                                                                Minh Đạo


Thứ Bảy, 4 tháng 6, 2016

TÌM ĐƯỢC NGƯỜI THẤU HIỂU MÌNH MỚI THỰC LÀ NIỀM VUI LỚN NHẤT



Sống trên đời, nếu như có một người biết rõ bạn thích gì, cần gì, khiến bạn cảm thấy gần gũi, thoải mái khi ở bên, thì đó có thể là món quà lớn nhất mà cuộc sống này dành cho bạn.
Người tri kỷ của bạn không nhất định là thập toàn thập mỹ, chỉ là họ có thể lắng nghe được trái tim, có thể thấu hiểu từ sâu thẳm trong tâm hồn bạn, có thể nhìn thấy hết thảy mọi điều trong tâm tư của bạn.
Ở trước mặt họ bạn chính như một vật trong suốt. Bạn đang nghĩ gì, thích gì, yêu gì họ đều biết hết. Ở bên họ bạn sẽ cảm thấy vô cùng thoải mái nhẹ nhõm, không có buồn phiền lo lắng trong tâm, cũng cảm thấy rất an toàn.
Khi tâm trạng của bạn không tốt, họ sẽ kiên nhẫn mà an ủi bạn, dùng đủ lời nói hài hước để bạn thấy vui!
Khi không gặp được bạn, họ sẽ nhắn tin cho bạn, gọi điện cho bạn, sẽ không để bạn cảm thấy cô đơn buồn tẻ, nói bạn hãy chú ý giữ gìn sức khỏe, chú ý an toàn, gửi những tin nhắn hóm hỉnh cho bạn, chọc bạn vui cười!
Những lúc vui vẻ đi bên bạn, họ sẽ không để cho bạn cảm thấy hai người có một khoảng cách xa xôi, mà khiến bạn cảm thấy tâm hồn của hai người đồng điệu với nhau.
Kh bạn gặp phải những nỗi buồn trắc trở, họ sẽ không nói những lời tổn thương mà chỉ dỗ dành bạn khắc phục khó khăn, học cách kiên cường, dũng cảm vượt lên nghịch cảnh.
Người hiểu bạn, là người lý giải được nỗi lòng của bạn, là người cảm thông, có tình yêu thương đối với bạn
Khi bạn vui mừng, họ cũng sẽ vui mừng, cùng chia sẻ niềm vui với bạn. Khi bạn buồn phiền, họ cũng sẽ buồn cùng bạn, nhưng sẽ không tùy tiện nói ra mà sẽ gắng sức giúp bạn giải trừ phiền não!
Một đời có thể gặp được người hiểu bạn là điều rất khó, cũng cần có duyên phận, nhưng nếu gặp được rồi, hai bên nhất định phải biết trân quý nhau.http://tinhhoa.net/wpcontent/uploads/2014/08/BcKCN8.jpg
Người hiểu bạn nhất, trái tim của họ sẽ luôn mãi ở bên bạn, âm thầm lo lắng và che chở cho bạn, cố gắng hết sức không để cho bạn chịu bất cứ tổn thương nào. Người hiểu bạn, tình yêu của họ dành cho bạn là âm thầm lặng lẽ, là tình yêu chân thật xuất phát từ sâu tận con tim.
Người thật sự hiểu bạn, sẽ không nói những lời ngon ngọt để lừa gạt bạn, nhưng sẽ cùng bạn thỏa thích chia sẻ khoảng thời gian vui vẻ của hai người.http://tinhhoa.net/wpcontent/uploads/2014/08/BcKCN8.jpg
Xin hãy trân quý nếu gặp được người thấu hiểu trái tim bạn!

Tiểu Thiện, dịch từ Secretchina


Thứ Năm, 2 tháng 6, 2016

NHỚ BA



                                                                                   NHỚ BA

                                                                 Âm vang não nuột nhớ Ba xưa,
                                                                 Một thuở đàn ôm lúc lặng trưa.
                                                                 Thánh thót dây căng bầu cất tiếng,
                                                                 Rộn ràng nhịp gõ gió đong đưa.
                                                                 Tìm vui khỏa lấp cầu no đủ,
                                                                 Thả hứng quên đi nghĩ thiếu thừa.
                                                                 Mượn cảnh thanh tao bên chỗ dựa,                                                                                                   Buồn ơi! số phận thấy lều thưa.

                                                                                                        Minh Đạo

Thứ Tư, 1 tháng 6, 2016

ĐỨC PHẬT DƯỚI GÓC NHÌN CỦA CÁC NHÀ KHOA HỌC



Không một lời thô bạo nào được thấy thốt ra từ đức Phật trong cơn tức giận, chưa từng có một lời thô bạo trên môi đức Phật kể cả trong lúc tình cờ. 
Dường như người thanh niên hiền lành, ngồi khoanh chân trên tòa sen thanh tịnh với bàn tay phải dơ lên như vừa khuyên nhủ vừa như nói: "Nếu con muốn thoát khỏi sự đau khổ và sợ hãi, con hãy rèn luyện trí tuệ và lòng từ bi".
"Nếu có một tôn giáo nào đương đầu với các lý thuyết của khoa học hiện đại, thì đó là Phật giáo. Phật giáo không cần xét lại quan điểm của mình để cập nhật với những khám phá mới của khoa học. Phật giáo cũng không cần từ bỏ quan điểm của mình để theo quan điểm của khoa học, vì Phật giáo bao hàm cả khoa học cũng như vượt qua khoa học…".
[Albert Einstein (1879-1955)-nhà bác học người Đức]

1. Nhân cách vĩ đại của đức Phật
Ðức Phật là hiện thân của mọi đức hạnh mà Ngài đã thuyết giảng. Trong suốt 45 năm hoằng pháp, Ngài đã biến những lời nói của mình thành hành động; không nơi nào Ngài buông thả theo cái yếu đuối của con người hay dục vọng thấp hèn. Luân lý, đạo đức căn bản của đức Phật là hoàn hảo nhất mà thế giới chưa bao giờ biết đến.
[Giáo sư Max Miller (1823-1900)-Học giả người Ðức]
Không một lời thô bạo nào được thấy thốt ra từ đức Phật trong cơn tức giận, chưa từng có một lời thô bạo trên môi đức Phật kể cả trong lúc tình cờ.
[Tiến Sĩ S.Radhakrishnan(1888-1975)-Triếtgia, Tổng thống Ấn Độ từ 1962-1967]
Ðiều đáng chú ý nhất nơi đức Phật là sự kết hợp gần như độc nhất một đầu óc khoa học trầm tĩnh với lòng thiện cảm sâu xa của từ tâm. Thế giới ngày nay ngày càng hướng về đức Phật, vì Ngài là người duy nhất tiêu biểu cho lương tâm của nhân loại.
[Moni Bagghee, trong cuốn "Ðức Phật của chúng ta"]
Tôi càng ngày càng cảm thấy đức Thích Ca Mâu Ni gần gũi nhất trong tính cách và ảnh hưởng của Ngài. Ngài là Ðường lối, là Chân lý và là Lẽ sống.
[Giám mục Henry Hart Milman (1791-1868), người Anh]

2. Trí tuệ siêu việt của đức Phật
Lần đầu tiên trong lịch sử loài người, đức Phật khuyến dụ, khẩn cầu và kêu gọi con người không nên làm hại một sinh mạng, không nên dâng lời cầu nguyện, lời ca tụng, hay hy sinh (sinh mạng) cho các Thần linh. Với tất cả tài hùng biện, Ngài đã có lần hùng hồn tuyên bố là Thần linh, nói cho đúng, cũng cần đến sự giải thoát cho chính họ.
[Nữ Giáo Sư Rhys Davids (1857-1942)-Học gỉa người Anh]
Ðức Phật không giải thoát con người, nhưng Ngài dạy con người phải tự chính mình giải thoát mình, như chính Ngài đã tự giải thoát Ngài. Con người chấp nhận giáo lý của Ngài là chân lý, không phải vì giáo lý này đến từ nơi Ngài, mà vì lòng xác tín cá nhân, thức tỉnh bởi những lời Ngài dạy, trỗi dậy bởi ánh sáng trí tuệ của chính mình.
[Tiến Sĩ Hermann Oldenburg (1854-1920-Học giả người Ðức]
Dường như người thanh niên hiền lành, ngồi khoanh chân trên tòa sen thanh tịnh với bàn tay phải dơ lên như vừa khuyên nhủ vừa như nói: "Nếu con muốn thoát khỏi sự đau khổ và sợ hãi, con hãy rèn luyện trí tuệ và lòng từ bi".
[Anatole France (1844-1924)-Nhà văn Pháp được giải Nobel văn học năm 1921]

. Cống hiến của đức Phật cho nhân loại
Trên quả địa cầu này, Ngài đem ý nghĩa những chân lý có giá trị trường tồn để thúc đẩy nền đạo đức, sự tiến bộ không chỉ cho riêng Ấn Độ, mà cho cả nhân loại. Ðức Phật là một nhà đạo đức vĩ đại, kỳ tài chưa từng thấy có trên trái đất này.
[Albert Schweizer (1875-1965)-Nhà triết học, thần học người Đức]
Sự thanh tịnh của tâm linh và lòng thương yêu tất cả chúng sinh là giáo huấn của đức Phật. Ngài không nói đến tội lỗi, mà chỉ nói đến vô minh (sự không hiểu biết) và điên cuồng là những chứng bệnh có thể chữa khỏi được bởi sự giác ngộ và lòng từ bi.
[Tiến Sĩ S.Radhakrisnan (1888-1975-Triết gia và chính trị gia Ấn Độ]
Ðức Phật không phải là của riêng người phật tử, Ngài là của toàn thể nhân loại. Giáo lý của Ngài thông dụng cho tất cả mọi người. Tất cả các tôn giáo ra đời sau Ngài, đều đã mượn rất nhiều tư tưởng hay của Ngài.
[Một học giả Hồi giáo]

4. Giáo lý của đức Phật
Phật giáo chưa bao giờ ép ai phải theo dù dưới bất kỳ hình thức nào - hoặc ép buộc tư tưởng và niềm tin đối với người không thích, hoặc bằng bất cứ một sự tâng bốc nào, bằng lừa gạt hay ve vãn, nhằm đạt được thắng lợi để để coi đó là quan điểm riêng tư của mình. Những nhà truyền giáo đạo Phật không bao giờ ganh đua nhau để lôi kéo người đi theo Ðạo của mình.
[Tiến sĩ G. P. Malasekara (1899-1973)-Học giả người Sri Lanka]
Chỉ nói về Phật giáo thôi, ta có thể xác nhận là tôn giáo này thoát khỏi tất cả cuồng tín. Phật giáo khuyến khích mỗi cá nhân tự chuyển hóa nội tâm bằng cách tự chiến thắng chính mình, chứ không nhờ cậy vào sức mạnh hay tiền bạc nào khác. Ðức Phật chỉ rõ con đường giải thoát duy nhất để con người tự quyết định nếu họ muốn theo tôn giáo này.
[Giáo sư Lakshmi Nasaru, sinh ngày 23-5-1968, Học giả người Ấn Độ] 
Là phật tử hay không phải là phật tử, tôi đã quan sát mọi hệ thống của các tôn giáo trên thế giới, tôi đã khám phá ra là, không một tôn giáo nào có thể vượt qua được sự quán triệt Bát chính đạo và Tứ diệu đế của đức Phật. Tôi rất mãn nguyện hướng cuộc đời tôi đi theo con đường đó.
[Giáo sư T.W. Rhys Davids (1843-1922)-Giáo sư người Anh dạy tiếng Pali-thánh ngữ của Phật giáo và tiếng Phạn (Sanskrit)] 
Phật giáo là một phương thức làm sao để đạt được lợi lạc cao nhất từ cuộc sống. Phật giáo là một tôn giáo của trí tuệ mà ở đấy kiến thức và thông minh chiếm ưu thế. Ðức Phật không thuyết giảng để thâu nạp tín đồ mà là để soi sáng người nghe.
[Một Văn hào phương Tây]
Tôn giáo của tương lai sẽ là một tôn giáo toàn cầu, vượt lên trên mọi thần linh, giáo điều và thần học. Tôn giáo ấy phải bao quát cả phương diện tự nhiên lẫn siêu nhiên, dựa trên cơ sở của ý thức đạo lý, xuất phát từ kinh nghiệm tổng hợp mọi lĩnh vực kể trên trong cái nhất thể đầy đủ ý nghĩa. Phật giáo đáp ứng được các điều kiện đó".
[Albert Einstein (1879-1955)-Nhà bác học người Đức)]

                           Vũ Tất Tiến (Sưu tầm và tóm lược theo Phật Pháp Ứng Dụng)