Thứ Tư, 17 tháng 8, 2016

CHÚC MỪNG



                   CHÚC MỪNG
(Cháu Nguyễn Minh Triết (Con NH Ánh+Trị) lên đường du học)

Hạnh phúc mừng vui cháu trưởng thành.
Bên trời xa lạ tiến càng nhanh.
Niềm tin thành quả nguồn hy vọng…
Hảnh diện ngày về với bước danh...

                                               Minh Đạo
                                           



Thứ Bảy, 13 tháng 8, 2016

TÌM HIỂU VỀ VU LAN


 
Nói đến Vu-lan, ý người viết muốn nói về những kinh điển liên quan đến ý nghĩa Vu-lan, bao gồm những chú sớ, trước thuật của lịch đại Tổ sư đã dày công biên soạn và đã được xếp vào Đại Tạng cũng như Tục Tạng Kinh. Tuy nhiên, đây cũng chỉ là một bài viết sơ lược trong khuôn khổ một đặc san, với những tài liệu khiêm tốn mà người viết được đọc. Hơn nữa, những trước tác của các Tổ sư qua nhiều đời về Kinh Vu-lan-bồn quá nhiều (hơn 60 loại), không thể đối chiếu hết được, chỉ xin chọn một vài tác phẩm quan trọng để dẫn chứng. Ngưỡng mong các bậc cao minh thùy từ chỉ giáo.
I. Tổng luận
Kinh Vu-lan-bồn chỉ là một kinh điển nhỏ thuộc Phương Đẳng bộ, vỏn vẹn chưa đầy một trang giấy trong ĐẠI CHÁNH TÂN TU ĐẠI TẠNG KINH, quyển 16. Thế nhưng qua các triều đại ở Trung Quốc, từ Đường, Tống, Nguyên, Minh, Thanh đến đời Dân Quốc, đời nào cũng có chư Tổ trước thuật, chú sớ, luận giải bản kinh này, đủ thấy tầm quan trọng của bộ kinh đối với tín ngưỡng Phật giáo như thế nào. Ở Việt Nam, Kinh Vu-lan và Kinh Báo Hiếu được diễn dịch khá sáng tạo, đã đi vào lòng Phật tử như một thứ TÂM KINH mà gần như ai thường xuyên đi chùa tụng kinh lễ Phật đều ít nhiều thuộc lòng bản kinh này.
Lễ Vu-lan tự nhiên đã trở thành một lễ hội lớn nhất của giới Phật giáo ở Việt Nam, do đó việc tìm hiểu nguồn gốc và ý nghĩa Kinh Vu-lan là một việc làm cần thiết. Hiện chưa có vị nào dịch một bộ sớ nào về Vu-lan để phổ cập cho phật tử hiểu, đây cũng là một thiếu sót rất lớn.
Sự diễn dịch sáng tạo Kinh Vu-lan và Báo Hiếu mà các chùa ở Việt Nam hiện nay đang tụng đọc vào dịp tháng Bảy theo thể văn vần, dễ hiểu, gần gũi với tâm hồn Việt. Tuy nhiên, để thuận tiện cho việc gieo vần, nhiều chỗ trong bản dịch vẫn còn dùng từ Hán Việt quá hàm súc mà giới bình dân khó hiểu được, như "cửu tự cù lao", "hiếu hạnh vi tiên", "thần tỉnh mộ khan" v.v... Điểm thứ hai là toàn bộ kinh chỉ giúp cho người đọc tụng hiểu chữ HIẾU ở phạm vi Nhân thừa, chưa phát huy hết được thâm nghĩa Đại thừa siêu tuyệt của bản kinh nói chung và ý nghĩa của những chi tiết quan trọng trong kinh.
Kinh Vu-lan-bồn (Phạn : Ullambana-sùtra), 1 quyển, do ngài Trúc Pháp Hộ dịch sang Hán văn vào đời Tây Tấn (750 - 801). Nội dung thuật lại việc đệ tử của Phật là ngài Mục-kiền-liên (Phạn: Maudgalyàyana; Pàli: Moggallàna) xót thương cho mẹ đang bị khổ ở đường ngạ quỷ, nên mới hỏi Phật. Phật chỉ dạy vào ngày Rằm tháng Bảy, ngày Tự tứ của chúng tăng, dùng bá vị cơm canh, ngũ quả để cúng dường mười phương chư Phật và Tăng chúng, có thể cứu mẹ thoát khổ nạn.
Hội Vu-lan-bồn mà kinh này nói vốn phù hợp với bổn phận hiếu hạnh của thế gian. Ngài Tông Mật, vị Tổ thứ 5 của tông Hoa Nghiêm đời Tống đã cường điệu tư tưởng làm con hiếu phải báo ân cha mẹ, dung hòa tính chất tương quan giữa Phật giáo và luân lý thế gian của người Trung Quốc, vốn lấy Nho gia làm nền tảng. Từ đó kinh này có tác dụng khá tích cực và được lưu truyền vô cùng rộng rãi.
Đồng bản dị dịch (cùng bản Phạn nhưng khác người dịch) với kinh này là Báo Ân Phụng Bồn Kinh (còn gọi là Báo Tượng Công Đức Kinh), không rõ dịch giả là ai. Kinh Đại Bồn Tịnh Độ được thuật trong PHÁP UYỂN CHÂU LÂM quyển 62 cũng là dị bản của kinh này. Các bộ mục lục lớn như LỊCH ĐẠI TAM BẢO KỶ quyển 6, VÕ CHU SAN ĐỊNH CHÚNG KINH MỤC LỤC quyển 9, KHAI NGUYÊN THÍCH GIÁO LỤC quyển 2 đều cho rằng dịch giả của kinh này là Trúc Pháp Hộ, nhưng cũng có thuyết cho rằng kinh này là ngụy tạo, vì nói nội dung và sự phiên dịch trong bản kinh thường không chính xác. XUẤT TAM TẠNG KÝ TẬP thì cho rằng kinh này không rõ dịch giả.
Thế nhưng, ở Ấn Độ từ xưa đã có tín ngưỡng tin cái khổ "đảo huyền" ở địa ngục, không thể võ đoán kinh này là ngụy tạo. Nếu so sánh kinh văn và một số dị bản thì có thể dịch giả đã thêm vào một số câu trong bản dịch. Điều này cũng thường thấy trong một số bản dịch các kinh khác, dịch giả đã đưa một số chi tiết phù hợp với tín ngưỡng và tư tưởng của địa phương đương thời, miễn là vẫn giữ được tinh thần cốt tủy trong văn kinh.
II. Nguồn gốc chữ Vu-lan-bồn
Ở Việt Nam gần đây có một số sách báo chỉ ra sự sai lầm căn để của một vài cách hiểu chữ Vu-lan-bồn. Đại loại từ trước, ở Việt Nam, nhiều người hiểu chữ "bồn" có nghĩa là cái chậu; "bồn bát" là vật của Tỳ-kheo dùng để đựng thức ăn. Nhiều người đã lớn tiếng công kích và trích dẫn Phạn văn để chứng minh chữ "bồn" cũng là âm dịch trong ba chữ Vu-lan-bồn chứ không phải là cái chậu. Thật ra, sự sai lầm này không phải ở các dịch giả Việt Nam, mà chính từ xưa ở Trung Hoa đã có cách hiểu như vậy rồi.
Vu-lan-bồn là phiên âm từ chữ Phạn Ullambana, có chỗ phiên âm là Ô-lam-bà-noa, nếu dịch ý thì có nghĩa là "Đảo huyền" (cái khổ bị treo ngược). Thật ra, Ullambana là một chuyển ngữ của Avalambana, dụ cho cái khổ của người chết hết sức khó chịu, giống như người bị treo ngược lên vậy. Các bộ sách lớn của Trung Quốc như PHIÊN DỊCH DANH NGHĨA TẬP quyển 9, THÍCH THỊ YẾU LÃM quyển hạ, VU-LAN-BỒN KINH LƯỢC SỚ... đều cho rằng chữ Vu-lan Bồn là phiên âm sai. Bởi vì chữ "bồn" là phiên âm từ chữ "bana" của tiếng Phạn chứ không phải nghĩa "bồn bát" – "dùng bồn bát bằng thất bảo để cúng Phật và Tăng" – như PHÁP UYỂN CHÂU LÂM đã trích dẫn để giải thích ĐẠI BỒN TỊNH ĐỘ KINH, nhưng trải qua nhiều đời, phần nhiều đều viện dẫn nghĩa này một cách sai lầm mà không để ý đến những trích dẫn đã nói ở trên.
Bắt đầu từ tác phẩm VU-LAN-BỒN KINH TÁN THUẬT của ngài Huệ Tịch đời Đường. Ngài cho rằng đặt các trân hào mỹ vị vào trong một cái chậu, rồi dâng cúng cho Phật cùng Tăng để cứu cái khổ "Đảo huyền". Ngài Tông Mật giải thích trong VU-LAN BỒN KINH SỚ quyển hạ rằng Vu-lan nghĩa là Đảo huyền, còn "bồn" là đồ để cứu giúp, cho nên giải thích Vu-lan Bồn là "Cứu đảo huyền, giải thống khổ". Từ cách giải thích này của ngài Tông Mật, đời sau đều y theo đó để hiểu chữ Vu-lan Bồn.
Còn trong VU-LAN BỒN KINH SỚ HIẾU HÀNH SAO quyển thượng của ngài Ngộ Vinh đời Tống thì dịch đề Kinh Vu-lan Bồn là "Giác Giả Thuyết Cứu Đảo Huyền Khí Kinh" (Bậc Giác ngộ nói về Kinh "vật để cứu cái khổ Đảo huyền"). Chữ "bồn" là cách tỉnh lược sai lầm, Cựu dịch là Bồn-tá-na; Tân dịch là Môn-tá-nẵng, tức "Cứu khí" (vật để cứu giúp), đây là cách phiên âm từ chữ munna của tiếng Phạn. Munna là chuyển ngữ (đọc trại) của chữ muccana tiếng Pàli và chữ mocana tiếng Phạn. Nhưng thật ra chữ này có nghĩa là "cứu giúp" chứ không có nghĩa là "đồ cứu giúp", cho nên thuyết của ngài Ngộ Vinh cũng sai lầm.
III. Nguồn gốc của lễ Vu-lan
Lễ Vu-lan hiện nay đã trở thành một lễ lớn và rất quan trọng trong tín ngưỡng các nước Phật giáo. Vậy tư tưởng này xuất phát từ đâu?
Khởi nguyên của Vu-lan-bồn rất sớm, tư tưởng này có trước cả thời Đức Phật tại thế. Trong cả hai bộ Đại sử thi của Ấn Độ cổ đại đều có thuật lại những điều liên quan đến Vu-lan-bồn. Trong chương thứ 74, phần 1 của bộ Mahàbharata nói đến từ Putra, nghĩa là người đàn ông cần phải chẩn cứu (trayate) cha mình ở dưới địa ngục (pun). Do vì ở Ấn Độ ngày xưa tin rằng nếu người đàn ông mà không có con trai nối dõi thì sau khi chết sẽ đọa vào nơi hiểm ác, cho nên một người Bà-la-môn đến 20 tuổi, sau khi học hành đầy đủ rồi phải về nhà lấy vợ, sinh con để nối dõi tông đường, lấy đó để tế cúng tổ tiên.
Còn lễ Vu-lan-bồn mà ngày nay vẫn còn duy trì trong các chùa viện Phật giáo là xuất phát từ Kinh Vu-lan-bồn. Đệ tử của Phật là Mục-kiền-liên dùng Thiên nhãn thông thấy thân mẫu của mình đọa vào ngạ quỷ khổ sở, da bọc lấy xương, đêm ngày bị hành hạ liên tục. Thấy vậy, Mục Liên mới đưa bát cơm đến dâng cho mẹ, nhưng vì nghiệp báo nên bát cơm hóa thành than lửa. Vì muốn cứu thoát mẹ khỏi khổ, Mục Liên về bạch Phật để xin Ngài chỉ bày pháp giải cứu cho mẹ. Đức Phật chỉ dạy rằng vào ngày Rằm tháng Bảy, ngày Tự tứ của chúng tăng, dùng bá vị thức ăn đựng trong bình bát để cúng dường Tam bảo thì sẽ được vô lượng công đức, cứu được cha mẹ bảy đời quá vãng. Ở Ấn Độ từ xưa đã y theo lời dạy này mà thực hành pháp Vu-lan- bồn, như Bình Sa Vương, cư sĩ Tu-đạt, Mạt-lợi phu nhân... đã từng tạo 500 bình bát bằng vàng để cúng dường Phật và Tăng.
Ở Trung Quốc, theo các bộ sử hiện còn thì vua Lương Võ Đế là người đầu tiên thiết cúng Vu-lan-bồn. Năm 538, nhà vua đã đến chùa Đồng Thái mở hội cúng dường Vu-lan rất lớn. Sau đó Vu-lan trở thành một phong tục, các bậc đế vương cũng như thần dân nhiều đời đều có tổ chức hội này để báo đáp ân đức của tổ tiên, cha mẹ.
Vào đời Đường, các vị vua như Đại Tông, Đức Tông hết sức chú trọng việc cúng tế Vu-lan-bồn. Vua Đại Tông cải biến nghi thức cúng thí bồn bát trong các tự viện thành một nghi thức trong cung đình, và dùng những khí vật hết sức trang nghiêm. Ngoài dân gian cũng bắt chước kết hoa đăng trang trí trước cửa nhà hoặc bày biện khắp điện đường, sĩ thứ nô nức đến chùa tranh tu công đức.
Đến đời Tống thì phong tục cúng Vu-lan cũng y như đời Đường, nhưng bình bát và các vật trang nghiêm có phần giảm thiểu, không còn tráng lệ như trước. Theo ĐÔNG KINH MỘNG HOA LỤC quyển 8, điều Trung Nguyên Tiết, vào ngày này, người ta đốt tiền âm phủ, áo giấy, đồng thời diễn kịch Mục Liên cứu mẹ. Trong sách SỰ VẬT KỶ NGUYÊN của Cao Thừa có chỉ trích hội Vu-lan-bồn đã mất đi ý nghĩa đích thực nói trong kinh Phật. Rất nhiều kinh điển của Phật giáo nói nội dung của hội Vu-lan-bồn chỉ là tụng kinh và thí thực mà thôi, còn nếu nghĩ rằng hội Vu-lan-bồn là chỉ để thí thực cho quỷ thần là sai.
Thế mà người đời sau không hiểu, các tự viện cũng quy tụ tín đồ, lấy việc tiến vong độ quỷ làm chính, đó là do xưa bày nay bắt chước, thật ra như thế là trái với ý của Phật. Còn việc dùng "đồ ăn trăm món", "trái cây năm màu" là ý nói tất cả những món ngon vật lạ chứ không phải là đủ số 100; ngũ quả [1] là chỉ chung cho các loại trái cây chứ không phải là "trái cây 5 màu" như Kinh Vu-lan bản Việt ngữ đã dịch. Dùng những món ngon vật lạ cúng dường Phật, Tăng để được phước báo, đời sau không biết lại dùng đủ rau dưa hoa quả, bún bánh cơm canh, hương hoa trà phẩm để cúng thí quỷ thần, quả là sai một ly đi một dặm.
Ở Nhật Bản, việc cúng tế bắt đầu từ thời Suy Cổ Thiên Hoàng (606), đến năm 657 thời Thiên hoàng Tề Minh mới có hội Vu-lan-bồn. Hội Vu-lan dầu sao cũng dễ dung hòa với phong tục "Tổ tiên sùng bái" của dân gian Nhật Bản, cho nên về sau hội này thịnh hành khắp cả trong triều ngoài nội. Phong tục này vẫn còn mãi đến ngày nay.
Ngày nay, hội Vu-lan-bồn được các tự viện tổ chức long trọng. Ngoài việc tụng kinh và thí thực còn có tổ chức cúng dường trai tăng. Gần đây, giới Phật giáo ở Đài Loan xem ngày Rằm tháng Bảy là Tăng Bảo tiết, đây cũng là thời gian mà dân gian gọi là Trung Nguyên tiết. Đối với tín ngưỡng dân gian phần nhiều truyền tụng rằng ngày này cửa địa ngục rộng mở để phóng thích ngạ quỷ, cho nên ngày này họ giết nhiều súc sanh, bày biện đủ thứ thức ăn để đãi cúng cho ngạ quỷ, rồi thỉnh Đạo sĩ tụng kinh siêu độ, với kỳ vọng tiêu tai giải nạn, bảo hộ bình an, làm ăn thuận lợi. Nhưng đứng trên lập trường "Giới sát" của Phật giáo thì làm như thế chẳng những không lợi ích gì mà còn tạo thêm nghiệp sát, gây sự tham lam, sân hận cho mình và mọi loài, quả báo sẽ vô cùng tai hại, hoàn toàn khác xa với ý nghĩa Vu-lan-bồn nói trong kinh Phật.

Chủ Nhật, 7 tháng 8, 2016

KÍNH MỪNG ĐẠI LỄ VU LAN - BÁO HIẾU

                                 Hình được trích trong tập THƠ - THƯ PHÁP SINH THÀNH DƯỠNG DỤC (Minh Đạo)




                 VU LAN

Vu Lan thắng hội đến hôm rày,
Khấn nguyện song thân phút tỏ bày.
Ngoài cửa gió đưa rung mái lá,
Bên chùa hương tỏa lẫn chân mây.
Không gian nhắc lại cùng bao thuở,
Cảnh vật in sâu với những ngày.
Vất vả suốt đời chưa quản ngại,
Thương hoài mãi trọn một vòng tay.

Thương hoài mãi trọn một vòng tay,
Hy vọng đường trần sẽ chuyển lay.
Chức tước không ham trong chốn ấy,
Uy quyền luôn ngại giữa đời nay.
Nhẹ nhàng khuyên bảo theo tâm diệu,
Lặng lẽ trông mong tạo phước dày.
Báo đáp thâm ân sao vẹn nghĩa…
Công ơn dưỡng dục thấm từng ngày.
 
                                                   8/2016


                          MẸ
            
Tháng bảy Vu Lan nhớ Mẹ thương,
Phòng không vắng vẻ dáng quanh tường.
Lay mình trở giấc là thao thức,
Ngẫm kỷ trần gian vốn chẳng thường.

 
Nhớ Mẹ theo Ba về xứ lạ,
Cháo rau vất vả tháng năm qua.
Quê chồng khốn khó cày lên đá,
Chịu đựng nuôi con sống hiền hòa.


 Không ruộng chẳng vườn lên núi xa,
Thiếu cơm bụng rỗng đến chiều tà,
Công kênh lọn củi vài loong gạo,
Cũng đủ cho con đang đợi nhà.




Bao năm lăn lộn thoáng qua mau,
Gánh đậu chuyển qua cũng dãi dầu,
Dậy sớm thức khuya lo ế ẫm,
Trời chiều không hết dạ càng đau.

 
Phố thị Mẹ về cũng nắng mưa,
Theo con nào chẳng khá hơn xưa,
Lưng còng đậu nặng ngày hai buổi,
Nghĩ cảnh trần gian chuyện thiếu thừa.

 
Rồi lại theo về ở phố đông,
Mẹ thương con cháu cứ ngồi trông,
Nhớ xưa thỉnh thoảng luôn thường nhắc,
Tiết kiệm chu toàn mọi việc xong.

 
Qui luật đời người không tránh khỏi,
Mắt mờ sức yếu dáng Mẹ xiêu,
Thương con đã nói điều cần nói,
Giả biệt trần gian gởi vạn điều.

 
Sướng ít khổ nhiều đời Mẹ thế,
Giấy sao viết hết chuyện dài thê,
Chông chênh khổ cực đời không vế,
Dưới ánh sao đời cảnh bước lê.

 
Lòng Mẹ bao la chẳng dáng hình,
Hy sinh tất cả cháu con vinh,
Bóng gương nhật nguyệt hằng soi chiếu,
Tỏa rạng đời sau sống chút tình.

 
                                    
                         Mùa Vu Lan (2016)
                             Minh Đạo






Thứ Năm, 4 tháng 8, 2016

GIÃ TỪ



                    GIÃ TỪ
                               (Kính tặng chị T. và bảo quyến)

Giã từ cõi tạm giữa ngàn thương,
Thoáng chốc qua đi những chặng đường,
Mãn nguyện dựng xây gia hiển đạt.
Đời đời con cháu nguyện noi gương.

                                           Minh Đạo

                TRẦN GIAN
                (Kính tặng chị T. và bảo quyến)

Gặp nhau thoáng chốc lại ra đi,
Vương vấn trần gian thấm ướt mi!
Khổ cực dựng xây gia tộc bởi,
Sướng vui bồi đắp cháu con vì.
Cảnh đời dan díu mong thấu lẽ,
Lý đạo vần xoay hiểu biệt ly.
Động tĩnh tùy duyên theo biến hóa,
Pháp Phật viên tu ngộ tế vi.
  
                                   Minh Đạo


ĐI CHÂN KHÔNG



Điều “kỳ lạ” gì sẽ xảy ra nếu bạn đi chân trần 5 phút mỗi ngày?
Liệu pháp đi chân trần trên đường sỏi đá đặc biệt có lợi cho những người cao tuổi, từ 60 trở lên.
 1.   Câu chuyện làm các nhà khoa học kinh ngạc
Nhà nghiên cứu Mỹ, giáo sư Giôn Phise và các đồng nghiệp của ông thuộc Viện nghiên cứu Oregon khi đến Trung Cộng đã chứng kiến 1 cảnh tượng kỳ lạ. Đó là cảnh nhiều người đi tới đi lui, nhảy múa trên 1 đoạn đường rải đá.
 Không hiểu được ý nghĩa của điều này, các nhà khoa học Mỹ khi trở về đã triển khai 1 cuộc nghiên cứu thực nghiệm bao gồm 108 người tham gia đi chân trần trên đường sỏi, một nửa đi chân không hoàn toàn, một nửa đi tất. Mỗi ngày họ đi bộ nửa giờ trên đường sỏi.
 Sau 16 tuần thí nghiệm, sức khỏe của các thành viên đều tốt lên song chỉ số y học tốt nhất thuộc về nhóm đi chân trần.
  Giáo sư Giôn cho biêt là đối tượng này mỗi năm nên đi mỗi ngày 30 phút chân đất trên sỏi đá trong thời gian tối thiểu 4 tháng và phải đi trên đường sỏi chứ không phải là đường bê tông như ở các thành phố. Đi bộ trên đường bê tông hoặc nền gạch đá hoa không đem lại nhiều kết quả.
 2. Vì sao đi chân trần lại tốt cho sức khỏe?
 Theo Đông y, lòng bàn chân là nơi tập trung rất nhiều huyệt vị phản chiếu tương ứng toàn bộ các cơ quan quan trọng bên trong cơ thể như tim, phổi, gan, thận.
 Bàn chân trái ứng với nửa thân bên trái phản ánh tình trạng sức khỏe của tim, lá lách, hậu môn, trĩ…
  Bàn chân phải ứng với nửa thân bên phải phản ánh gan, mật, ruột thừa.
 Do đó, đi chân đất sẽ khiến lòng bàn chân được chà xát mạnh, kích thích các huyệt vị này, nhờ đó nâng cao sức khỏe của các hệ cơ quan trong cơ thể.
Các nhà nghiên cứu khuyên chúng ta nên đi chân trần trên bề mặt như cỏ, trên cát, gỗ hoặc sỏi để tăng sự nhạy cảm của chân và giúp cơ chân chắc khỏe.
 Đồng thời lòng bàn chân được tiếp xúc trực tiếp với các vật trên sẽ có tác dụng massage hữu hiệu giúp lưu thông máu, tốt cho mạch máu và các mô liên kết gân và dây chằng.
 3. Tác dụng của việc đi chân trần:
 Theo tờ Sức khỏe gia đình, việc đi chân trần mỗi ngày sẽ đem lại những tác dụng sau:
 - Ngay trong vòng 1 giây: Giúp giải tỏa sự căng thẳng ngay lập tức, giảm bớt sự căng cơ và sóng não có sự dịch chuyển.
 - Mỗi ngày 5 phút đi chân trần:
 + Nội tạng của bạn sẽ thay đổi tích cực
+ Độ đặc máu giảm đi, tương tự như hiệu ứng của aspirin
+ Hệ tuần hoàn được cải thiện
+ Tăng lượng ôxy trong máu
+ Huyết áp được cân bằng
+ Đường máu ổn định
 - Mỗi ngày 8 giờ đi chân trần (trong những trường hợp cần trị liệu):
 + Các dấu hiệu loãng xương giảm rõ rệt
+ Chức năng tuyến giáp được cân bằng
+ Mức cortisol (căng thẳng) giảm xuống
 
- Đi bộ bằng chân đất trong nhiều ngày
 + Dễ dàng thích nghi với sự thăng trầm trong cuộc sống
+ Các loại viêm và các loại bệnh liên quan tới viêm ít phát triển
+ Cơ thể phục hồi nhanh hơn từ căng thẳng thần kinh và chấn thương.
  Điều “kỳ lạ” gì sẽ xảy ra nếu bạn đi chân trần 5 phút mỗi ngày?
Liệu pháp đi chân trần trên đường sỏi đá đặc biệt có lợi cho những người cao tuổi, từ 60 trở lên.
 1. Câu chuyện làm các nhà khoa học kinh ngạc
Nhà nghiên cứu Mỹ, giáo sư Giôn Phise và các đồng nghiệp của ông thuộc Viện nghiên cứu Oregon khi đến Trung Cộng đã chứng kiến 1 cảnh tượng kỳ lạ. Đó là cảnh nhiều người đi tới đi lui, nhảy múa trên 1 đoạn đường rải đá.


Không hiểu được ý nghĩa của điều này, các nhà khoa học Mỹ khi trở về đã triển khai 1 cuộc nghiên cứu thực nghiệm bao gồm 108 người tham gia đi chân trần trên đường sỏi, một nửa đi chân không hoàn toàn, một nửa đi tất. Mỗi ngày họ đi bộ nửa giờ trên đường sỏi.

 Sau 16 tuần thí nghiệm, sức khỏe của các thành viên đều tốt lên song chỉ số y học tốt nhất thuộc về nhóm đi chân trần.




Giáo sư Giôn cho biêt là đối tượng này mỗi năm nên đi mỗi ngày 30 phút chân đất trên sỏi đá trong thời gian tối thiểu 4 tháng và phải đi trên đường sỏi chứ không phải là đường bê tông như ở các thành phố. Đi bộ trên đường bê tông hoặc nền gạch đá hoa không đem lại nhiều kết quả.

2. Vì sao đi chân trần lại tốt cho sức khỏe?

 Theo Đông y, lòng bàn chân là nơi tập trung rất nhiều huyệt vị phản chiếu tương ứng toàn bộ các cơ quan quan trọng bên trong cơ thể như tim, phổi, gan, thận.

Bàn chân trái ứng với nửa thân bên trái phản ánh tình trạng sức khỏe của tim, lá lách, hậu môn, trĩ…

 Bàn chân phải ứng với nửa thân bên phải phản ánh gan, mật, ruột thừa.

Do đó, đi chân đất sẽ khiến lòng bàn chân được chà xát mạnh, kích thích các huyệt vị này, nhờ đó nâng cao sức khỏe của các hệ cơ quan trong cơ thể.

Các nhà nghiên cứu khuyên chúng ta nên đi chân trần trên bề mặt như cỏ, trên cát, gỗ hoặc sỏi để tăng sự nhạy cảm của chân và giúp cơ chân chắc khỏe.

 Đồng thời lòng bàn chân được tiếp xúc trực tiếp với các vật trên sẽ có tác dụng massage hữu hiệu giúp lưu thông máu, tốt cho mạch máu và các mô liên kết gân và dây chằng.

3. Tác dụng của việc đi chân trần:

 Theo tờ Sức khỏe gia đình, việc đi chân trần mỗi ngày sẽ đem lại những tác dụng sau:

- Ngay trong vòng 1 giây: Giúp giải tỏa sự căng thẳng ngay lập tức, giảm bớt sự căng cơ và sóng não có sự dịch chuyển.

- Mỗi ngày 5 phút đi chân trần:

+ Nội tạng của bạn sẽ thay đổi tích cực

+ Độ đặc máu giảm đi, tương tự như hiệu ứng của aspirin

+ Hệ tuần hoàn được cải thiện

+ Tăng lượng ôxy trong máu

+ Huyết áp được cân bằng

+ Đường máu ổn định

- Mỗi ngày 8 giờ đi chân trần (trong những trường hợp cần trị liệu):

+ Các dấu hiệu loãng xương giảm rõ rệt

+ Chức năng tuyến giáp được cân bằng

+ Mức cortisol (căng thẳng) giảm xuống

- Đi bộ bằng chân đất trong nhiều ngày

+ Dễ dàng thích nghi với sự thăng trầm trong cuộc sống

+ Các loại viêm và các loại bệnh liên quan tới viêm ít phát triển

+ Cơ thể phục hồi nhanh hơn từ căng thẳng thần kinh và chấn thương.

                                                                                     Nguồn internet

 
 
 

Thứ Ba, 2 tháng 8, 2016

THU VỀ



                THU VỀ

Trời xanh những bóng mây,
Gió lay nhẹ hàng cây,
Đóa hoa vàng thức giấc,
Thu về em có hay…

Cuối phương trời xa xôi,
Thấp thoáng khi mờ tỏ,
Nhạn trắng đã tìm về,
Lượn quanh ngoài đầu ngõ.

Bao nhiêu lần em hỏi:
Hạ thu mãi vờn nhau,
Như chưa hề mệt mỏi,
Tuần hoàn chuyện trước sau?

Thức giấc giữa đêm thâu,
Em vẫn lần xâu chuổi,
Ngăn tháng ngày rong ruổi,
Sám hối và nguyện cầu.

Vạn vật vốn đổi thay,
Đến đi cùng sinh diệt,
Bất an cùng khắc nghiệt,
Diễn ra khắp cõi này.

Với tia sáng nhiệm mầu,
Em hướng về nguồn cội,
Dù khó khăn trôi nổi,
Nguyện qua cảnh bể dâu…

                  Minh Đạo


SỐNG Ở ĐỜI, 45 ĐỘ LÀM NGƯỜI, 90 ĐỘ LÀM VIỆC, 180 ĐỘ ĐỐI NHÂN XỬ THẾ…



Con người khi đối mặt với các sự việc trên đời, cần phải bảo trì một tâm thái khiêm nhường, hòa ái. Hơn nữa, trước những sự tình khác nhau, cũng cần thêm vào một chút ‘lực độ’.

Đối mặt với các mối quan hệ xã hội phức tạp và nhân tình thế sự thay đổi từng thời từng khắc, rất nhiều người cảm thán rằng sống thật quá mệt mỏi.
Kỳ thực, chỉ khi chúng ta luôn hòa ái, không tị nạnh so đo với những được mất trong đời, luôn bảo trì được tâm thái hàm ơn, như vậy chúng ta sẽ sống một cách thỏa mái tự tại, từ đó sẽ phát huy được hết những điều tinh túy, những tố chất ưu việt của mình!

45 độ làm người

Sống ở đời, phải biết cúi đầu xuống, khiêm nhường để nhìn con đường phía trước, dùng thái độ khiêm tốn, vững vàng để tiến lên phía trước.
Không vì thành công tức thời mà tự đại, cũng đừng vì một lúc thất bại mà gục ngã. Con người, ai cũng có mặt ưu việt riêng của mình, đều rất xứng đáng để cho chúng ta học hỏi.http://tinhhoa.net/wpcontent/uploads/2014/08/BcKCN8.jpg

90 độ làm việc

90 độ là đường thẳng đứng, đòi hòi chúng ra khi làm việc phải công chính vô tư, quang minh lỗi lạc, một đời làm việc thẳng thắn thành khẩn, một đời làm chính nhân quân tử.

180 độ đối nhân xử thế

180 độ là đường nằm ngang, đòi hỏi chúng ta phải thẳng thắn bộc trực, không nên úp mở, không sống dối trá hư vinh, chân thành đối đãi với mọi người.http://tinhhoa.net/wpcontent/uploads/2014/08/BcKCN8.jpg

360 độ xử lý công việc

360 độ là một đường tròn, đại biểu cho sự hoàn mỹ, tròn trịa, thành công. Yêu cầu chúng ta phải hết sức chu đáo, cẩn thận, hoàn thành trọn vẹn từng công việc mình đảm nhận, để rồi tiếp tục hỗ trợ những người xung quanh.
Dùng sự chân thành và tự tin của mình, giành lấy sự tín nhiệm và thấu hiểu của người khác, cuối cùng đạt đến một cảnh giới lý tưởng và hoàn mỹ.
Cổ ngữ có câu: “Giàu không học, chỉ giàu một đời! Nghèo không học, sẽ nghèo 3 đời!”.

Học được những điều này, cuộc sống của bạn sẽ không có gì phải lo ngại nữa!

                                                                Lê Hiếu, dịch từ Cmoney.tw


Thứ Hai, 1 tháng 8, 2016

LÀM GÌ KHI BỊ CHOLESTEROL CAO


Bạn nên ăn nhiều chất xơ hơn, ăn cá, hoặc lựa chọn nguồn protein từ đậu nành như đậu hũ... nếu bị cholesterol cao.Cholesterol cao không có biểu hiện rõ ràng nhưng lại ảnh hưởng nghiêm trọng đến cơ thể. Nhìn chung quá nhiều cholesterol có thể dẫn đến sự tích tụ các mảng bám trong động mạch, được gọi là xơ vữa động mạch. Các mảng bám này gây tắc nghẽn mạch máu dẫn đến đau tim, đột quỵ. Tin tốt là bạn dễ dàng phát hiện khi cholesterol cao và có nhiều cách để hạ.
Xét nghiệm kiểm tra cholesterol
Những người từ 20 tuổi trở lên nên đi kiểm tra cholesterol định kỳ ít nhất 4-6 năm một lần. Đây là một xét nghiệm máu đơn giản. Kết quả sẽ cho bạn biết mức độ cholesterol “xấu”, cholesterol “tốt” và cả triglycerid.
Cholesterol “xấu” hay LDL
LDL kết hợp với các chất khác làm tắc nghẽn động mạch. Một chế độ ăn giàu chất béo bão hòa và chất béo chuyển hóa dạng trans có xu hướng làm tăng mức cholesterol xấu trong máu. Với hầu hết mọi người, mức LDL dưới 100 là tốt, với những người có bệnh tim thì yêu cầu thấp hơn.
[Caption]
Cholesterol “tốt” hay HDL
Nó giúp loại bỏ cholesterol “xấu” và ngăn ngừa việc hình thành các mảng bám trong động mạch. Mức cholesterol “tốt” càng cao càng có lợi cho sức khỏe. Những người có lượng HDL quá thấp rất dễ bị bệnh tim mạch hơn. Chế độ ăn với các chất béo có lợi như dầu ô liu giúp tăng cường các cholesterol "tốt" này.
Triglycerid
Cơ thể chuyển hóa năng lượng dư thừa, đường và rượu thành triglyceride hay còn gọi là mỡ máu. Những người quá cân, ít hoạt động, hút thuốc hoặc nghiện rượu thường có mức triglyceride cao. Nếu lượng triglyceride cao hơn 150 bạn có nguy cơ mắc các bệnh chuyển hóa như tiểu đường và bệnh tim.
Cholesterol toàn phần
Chỉ số này là sự kết hợp của LDL, HDL và VLDL trong máu. VLDL là tiền chất của LDL - cholesterol "xấu". Mức bình thường chỉ số này phải ở mức dưới 200. Những người có mức cholesterol toàn phần cao hơn thường có nguy cơ bị bệnh tim mạch.
Cholesterol trong thực phẩm
Những thực phẩm giàu cholesterol như trứng, tôm và tôm hùm không hoàn toàn bị cấm ăn tuyệt đối. Các nghiên cứu chỉ ra rằng lượng cholesterol từ thực phẩm chỉ ảnh hưởng rất nhỏ đến lượng cholesterol trong máu. Thay vì đó, bạn nên lo lắng đến các chất béo bão hòa và chất béo chuyển hóa.
Cholesterol và tiền sử gia đình
Cholesterol đến từ hai nguồn cơ thể và thức ăn, hoặc chỉ một yếu tố cũng khiến cholesterol tăng cao. Một vài người có thể kế thừa gene khiến cơ thể sản sinh ra quá nhiều cholesterol. Với những người khác, chế độ ăn uống mới là yếu tố quyết định. Chất béo bão hòa và lượng cholesterol có sẵn trong thực phẩm gồm thịt, trứng và các sản phẩm từ sữa.
Điều gì làm tăng nguy cơ?
Có một vài yếu tố khiến bạn dễ tăng cholesterol như:
- Chế độ ăn giàu chất béo bão hòa và cholesterol.
- Tiền sử gia đình bị cholesterol cao.
- Người thừa cân, béo phì.
- Người già.
Làm gì khi bị cholesterol cao
- Ăn nhiều chất xơ hơn:
Thay đổi chế độ ăn đóng vai trò quan trọng khi bạn bị cao cholesterol. Chất xơ hòa tan có trong nhiều thực phẩm giúp giảm cholesterol “xấu”. Bạn có thể lựa chọn các loại thực phẩm như ngũ cốc, bánh mì làm từ ngũ cốc, trái cây, bột yến mạch, hoa quả sấy khô, rau và các loại đậu.
- Lựa chọn nguồn đạm phù hợp:
Thịt và các sản phẩm từ sữa cung cấp rất nhiều protein nhưng chúng cũng có cholesterol. Bạn có thể giảm lượng cholesterol “xấu” bằng cách lựa chọn nguồn protein từ đậu nành như đậu hũ trong một số bữa ăn. Cá là một lựa chọn tuyệt vời. Một số loại như cá hồi rất giàu omega- 3, có tác dụng cải thiện cholesterol trong cơ thể. Hội Tim mạch Mỹ khuyến cáo người dân nên ăn cá ít nhất 2 lần mỗi tuần.
- Giảm cân:
Nếu bị thừa cân, béo phì bạn nên tham vấn bác sĩ để bắt đầu chế độ giảm cân, giúp giảm triglycerid, cholesterol “xấu” và lượng cholesterol toàn phần. Ngoài ra giảm cân cũng giúp tăng lượng cholesterol “tốt”.
- Bỏ thuốc:
Bỏ thuốc lá rất khó nhưng bạn nên làm điều này. Một khi ngừng hút thuốc, lượng cholesterol “tốt” tăng lên khoảng 10%. Để thành công, bạn nên có kế hoạch cụ thể, thậm chí tìm lời khuyên từ bác sĩ.
- Luyện tập thể dục:
Nếu khỏe nhưng không phải là người năng động thì bạn hãy bắt đầu tập aerobic để tăng lượng cholesterol tốt lên 5% trong 2 tháng đầu tiên. Tập thể dục đều đặn cũng giúp giảm cholesterol “xấu”. Bạn nên chọn các vận động tốt cho tim như chạy, bơi hoặc đi bộ nhanh với mục tiêu ít nhất 30 phút mỗi ngày trong tuần. 
Phương Trang

Thứ Bảy, 30 tháng 7, 2016

CHÈ XANH




               CHÈ XANH

 Bên tách chè thơm với khóm hoa,
Lâng lâng vị chát tiếp ngày qua.
Cố nhân mấy thuở luôn đằm thắm,
Tri kỷ bao năm chẳng nhạt nhòa.
Khơi dậy tâm sâu tìm chỗ đến,
Xua tan lối tắc nhận đường ra.
Đạo đời xen lẫn nơi trần thế,
Sáng tối đi về mãi bạn ta.

 Sớm tối đi về mãi bạn ta,
Động viên tỉnh giấc chặng đường qua.
Hương nồng đánh thức phai tình lụy,
Vị đắng chan hòa loãng lệ sa.
Hạ đến bên trời tô sắc lá,
Xuân vơi cùng cảnh điểm màu hoa,
Kề nhau thầm lặng nương bao lúc,
Để ngắm đời vui sáng sáng ra.

                                       Minh Đạo