Thứ Năm, 9 tháng 10, 2014

KHÁM PHÁ “SÁT THỦ” CỦA BỆNH UNG THƯ VÀ TIM MẠCH TRONG QUẢ BƠ

     Bơ được coi là một trong những thực phẩm ngon nhất, giàu dinh dưỡng nhất trên hành tinh. Theo các chuyên gia dinh dưỡng, bơ cũng là một “nhà máy dinh dưỡng” với gần 20 loại vitamin và khoáng chất, giúp con người ngăn ngừa lão hóa, giảm nguy cơ bệnh tật, đặc biệt là bệnh ung thư và tim mạch.

 Một nghiên cứu mới đây cho thấy, những người ăn bơ thường xuyên hấp thụ hàm lượng chất xơ, vitamin E và K cao hơn, bên cạnh đó hàm lượng Magiê và Kali cũng khá ấn tượng.
  Ăn bơ sẽ giúp bạn tăng cảm giác no. Chất béo tốt có trong quả bơ giúp làm chậm lại quá trình dạ dày bị rỗng không, giúp bạn no lâu hơn và trì hoãn sự trở lại của cảm giác đói. Mỗi quả bơ cung cấp 22 gam chất béo, chủ yếu là axit béo đơn không bão hòa có lợi cho tim mạch.
  Trong một khảo sát mới đây, các tình nguyện viên đã đánh giá cảm giác hài lòng sau khi thưởng thức bữa ăn mà có hoặc không ăn bơ. Kết quả là, bổ sung nửa quả bơ vào bữa ăn sẽ tăng đáng kể cảm giác no và giảm cảm giác thèm ăn trong 5 giờ đồng hồ.
  Các axit béo không bão hòa đơn có trong quả bơ đã được chứng minh làm giảm cholesterol và từ đó giúp giảm nguy cơ mắc bệnh tim mạch-sát thủ số 1 của cả nam giới và nữ giới. Bơ cũng là 1 nguồn cung cấp Kali góp phần làm giảm áp lực lên tim và động mạch.

                                                 

Thưởng thức bơ trong các bữa ăn có thể giúp cơ thể hấp thụ nhiều chất chống oxy hóa hơn từ các thực phẩm tốt cho sức khỏe khác. Trong một nghiên cứu của bang Ohio, Mỹ, khi 1 người đàn ông và 1 người phụ nữ ăn sa lát và sốt cùng 2,5 muỗng canh bơ, họ hấp thụ được hơn 8 lần alpha-carotene và hơn 13 lần beta-carotene (loại dinh dưỡng thực vật có khả năng chống ung thư và bệnh tim mạch). Một nghiên cứu khác cho thấy, ăn bơ cùng với nước sốt cà chua và cà rốt làm tăng khả năng hấp thụ vitamin A-một chất dinh dưỡng quan trọng và cần thiết cho làn da khỏe mạnh, khả năng thị giác, và khả năng miễn dịch.
  Bên cạnh đó, ăn bơ mỗi ngày sẽ giúp bạn giảm cân. Theo một khảo sát gần đây, nhiều người lo ngại rằng, ăn nhiều chất béo sẽ khiến cơ thể bị béo phì. Tuy nhiên, việc ăn đúng loại chất béo cần thiết sẽ mang lại hiệu quả giảm cân bất ngờ.
  Chất béo thực vật có trong quả bơ cung cấp chất chống oxy hóa và chống viêm, cả 2 chất này đều có liên quan đến duy trì trọng lượng cơ thể. Đó là lý do tại sao trong thời gian gần đây, những người ăn bơ thường xuyên có cân nặng ít hơn và có vòng eo nhỏ hơn, thậm chí là không cần giảm calo.
                                                                       Theo baomoi


Thứ Ba, 7 tháng 10, 2014

TÂM VÔ CHƯỚNG NGẠI

   Takuan Soho (Trạch Am) - (1573-1645) là một vị thiền sư nổi tiếng của dòng Lâm Tế Nhật Bản. Takuan (Trạch Am) là tên ngài tự đặt cho mình, có nghĩa là “củ cải muối”, món ăn khoái khẩu nhất của ngài. Ngài không chỉ là một người tu thiền, mà còn đem thiền vào trong thơ, họa, thư đạo, và trà đạo. Nhưng điều đặc biệt nhất, như trong bài trích dưới đây, ngài còn là bậc thầy của vị kiếm sĩ lừng danh nhất thời đó là Yagyu Munenori. Ở đây, Takuan giải thích cho vị kiếm sĩ về ý nghĩa của câu nói “tâm không dừng lại ở đâu (tâm vô trụ), đó gọi là trí bất động.”
Vô Thường
  CÁI KHỔ CỦA SỰ TRỤ LẠI TRONG VÔ MINH
 Chỗ trụ có nghĩa là chỗ tâm dừng lại (dính mắc) ở đó, cũng là tâm bất sanh (không vọng theo), không trụ vào một điểm vô minh mà sanh ý niệm chúng sanh.
  Trong sự tu tập Phật pháp, chúng ta biết rằng có 52 tâm sở, tức 52 trạng thái của tâm, và khi tâm dừng lại ở một trạng thái nào đó thì gọi đó là trụ lại. Trụ có nghĩa là dừng lại, và dừng lại có nghĩa là tâm bị giữ lại trong một vấn đề nào đó có thể là rất nhỏ nhặt, không đáng để nghĩ tới. Trong đạo Phật, tâm dừng lại gọi là “si mê”. Vì thế mới gọi là “Cái khổ của sự trụ lại trong vô minh.”
    Trí Bất Động Của Chư Phật.
    Bất động có nghĩa là không lay động.
    Trí tuệ có nghĩa là trí tuệ rõ biết.
 Tuy gọi là trí bất động, nhưng không có nghĩa đó là vô tình, vô cảm như gỗ đá. Nó vẫn chuyển động như tâm thường chuyển động, luân lưu đến phía trước hay phía sau, qua trái hay qua phải, đến mười phương tám hướng, và cái tâm không dừng lại ở đâu đó gọi là trí bất động (không duyên theo cảnh sắc, động theo duyên trần).
   Bất Động Diệu Vương cầm một cây kiếm nơi tay phải và một sợi dây thừng nơi tay trái. Ngài nhe răng, trợn mắt giận dữ, lấy tấn đứng vững chắc, sẵn sàng đánh bại những ác ma đang quấy phá Pháp Phật, dù ở bất cứ nơi nào, chốn nào cũng vậy. Ngài được biểu hiện trong hình tướng của một vị hộ pháp, và là hiện thân của trí bất động. Đó là biểu tượng để hiển thị cho chúng sanh thấy.
  Khi thấy tướng ngài, phàm phu cảm thấy sợ hãi và không dám có ý tưởng chống phá lại đạo Phật. Nhưng người sắp giác ngộ hiểu rằng đó chỉ là hình tượng biểu trưng cho trí bất động, và dẹp tan đi mọi mê lầm. Đối với người nào có thể biểu thị được trí bất động và khéo thực hành pháp này nơi tâm và thân như Bất Động Diệu Vương, họ sẽ không còn bị tà ma quấy phá. Đó là mục đích của biểu tượng Bất Động Diệu Vương.
 Gọi Bất Động Diệu Vương có nghĩa là có một tâm bất động và một thân không lay chuyển. Không lay chuyển có nghĩa là không bị cản trở bởi bất cứ điều gì.
  Khi liếc nhìn một cái gì mà tâm không trụ lại thì gọi là bất động. Đó là bởi vì khi tâm trụ lại ở một chỗ nào đó, những phán xét sẽ nẩy sinh ra đầy ắp, và những khởi niệm dấy lên thật nhiều. Khi những khởi niệm này ngừng lại, tâm đang trụ lại một chỗ sẽ lưu chuyển đi, nhưng không có nghĩa là tâm bị lay động.
  Nói ví dụ có mười người, mỗi người một cây kiếm, đều đang tiến tới chém bạn, nếu bạn đối phó lại mỗi cây kiếm mà không trụ tâm lại nơi bất cứ hành động nào, cứ tuần tự nhi tiến mà làm, bạn sẽ không thiếu sót bất cứ một hành động nào để đối lại với mười tay địch thủ.
  Tuy tâm phản ứng mười lần để đối lại với mười người, nhưng nếu không trụ lại ở đâu cả, cứ phản ứng tuần tự từ trước tới sau, làm sao có hành động thiếu sót được?
  Nhưng nếu tâm trụ lại trước một trong những địch thủ, có thể bạn chống lại được cây kiếm của hắn, nhưng sẽ không kịp có hành động đúng lúc khi nhát kiếm của người sau đâm tới.
  Xem như Thiên Thủ Thiên Nhãn Quan Âm có đến ngàn tay trong một thân, nếu tâm ngài trụ lại ở một cái tay đang cầm bình bát, thì 999 cái tay kia sẽ thành vô dụng.   Chính bởi vì tâm không trụ lại ở đâu cả mà tất cả mọi cánh tay mới được hữu dụng.
Thiên Thủ Thiên Nhãn Quan Âm vì mục đích gì mà có ngàn tay nơi thân? Đây là hình tượng để chỉ cho thấy nếu có trí tuệ bất động là buông xả, thì dù cho có đến ngàn tay trong một thân, tất cả mọi cánh tay vẫn đều hữu dụng như thường.
  Khi nhìn vào một cái cây, nếu bạn chỉ nhìn vào một cái lá đỏ, bạn sẽ không thấy tất cả các lá khác trong cây. Nếu mắt không trụ lại trong một cánh lá nào, và bạn đối diện với cái cây với một tâm không rỗng, tất cả các lá đều được thấy trong mắt bạn, không có giới hạn. Nhưng nếu mắt bạn ngừng lại nơi một cái lá, tất cả các lá khác sẽ không còn được thấy nữa.
  Người hiểu được điều này sẽ không khác biệt với Quan Âm ngàn mắt ngàn tay.
  Người bình thường tin tưởng rằng có ngàn mắt ngàn tay là một ân phước. Kẻ có trí tuệ nửa vời đặt câu hỏi làm sao một người lại có ngàn con mắt được, cho đó là sự dối trá, rồi nói những lời phỉ báng. Nhưng người có hiểu biết hơn sẽ có một niềm tin kính ngưỡng dựa trên nguyên tắc căn bản, không cần niềm tin chất phác của những người bình thường, cũng không phỉ báng pháp Phật, mà người ấy sẽ nhận biết rằng, chỉ với một biểu tượng này thôi, cũng đã là một biểu dương thù thắng của Pháp Phật.
  Vài lời mạn bàn:
Tâm vô chướng ngại là tâm tự tại tự do, không vướng mắc vào đâu cả. Ấy là tâm vô trụ - cũng là tâm bất động. Bất động không có nghĩa là không chuyển động gì cả, mà chính là tâm luân lưu từ sát na này qua sát na khác, từ niệm này sang niệm khác, không dừng lại ở đâu cả. Chính vì không dừng lại nên mới không bị giam hãm vào đâu, và mới có được sự thấy biết toàn thể đối với sự việc.
Động mà không động, cũng như ở trong niệm mà Vô niệm, đều từ vô trụ mà ra - đó là tâm Không, nền tảng của Kiếm đạo, cũng là cốt tuỷ của Thiền.
                                                                          Takuan Soho (1573-1645)
                                                                                                     (st)

Chủ Nhật, 5 tháng 10, 2014

ALBERT EINSTEIN VIẾT VỀ PHẬT GIÁO



"Tôn giáo của tương lai sẽ là một tôn giáo vũ trụ (cosmic religion)... Bao gồm cả thiên nhiên vật lý và tinh thần... Phật giáo bao gồm các thứ đó... Nếu có một tôn giáo nào đáp ứng được yêu cầu của nền khoa học tân tiến, tôn giáo đó chính là Phật giáo”. (The religion of the future will be cosmic religion... cover both the natural and spiritual... Buddhism answers this description... if there is any religion that would cope with the modern scientific needs, it would be Buddhism)
  Thế giới Tây phương ngày càng hâm mộ về những sắc thái tiến bộ, lợi lạc... của Phật giáo. Cựu Tổng thống Bill Clinton đã ăn chay, tọa thiền hàng giờ mỗi ngày và nhiều khoa học gia thượng thặng cũng đã nhận ra rằng tư tưởng Phật giáo đã giúp họ rất nhiều trong việc giải thích những hiện tượng khoa học và dẫn họ đến những tư tưởng mới và khám phá mới trong khoa học.
  Quan niệm về: VŨ TRỤ, VẬT LÝ NGUYÊN TỬ, VI TRÙNG, TRỊ LIỆU Y KHOA..v..v.. của Phật giáo hầu như tương hợp hoàn toàn với những kiến thức ngày naỵ
 Trên 25 thế kỷ trước, Ðức Phật nói kinh A-Di-Ðà:
   Ông Xá-Lợi-Phất! Thế giới phương Tây có Ðức Phật Vô Lượng Thọ, Ðức Phật Vô Lượng Tướng, Ðức Phật Vô Lượng Tràng, Ðức Phật Ðại Quang, Ðức Phật Ðại Minh, Ðức Phật Bảo Tướng, Ðức Phật Tịnh Quang, các Ðức Phật như thế nhiêù như số cát sông Hằng, các Ngài đều ở tại Nước Các Ngài. Mỗi vị đang giáo hóa chúng sinh trên vô lượng hành tinh trong vũ trụ".
  Năm 1960, giáo sư Drake đã đưa ra một công thức để tính số lượng những hành tinh có nền văn minh trong giải Ngân Hà:
  N = T x Sht x Ssv x Sss x Svm x Ssll x Stt
  Công thức này được giáo sư Drake trình bày ở kỳ họp hội đồng thiên văn quốc tế năm 1979 tại Montreal, Canada với đề tài Chiến Lược tìm kiếm sự sống trong vũ trụ.
  Thật sự trong vũ trụ có hàng tỉ giải ngân hà và nói rằng số chư Phật đang giáo hóa chúng sinh tại nước Các Ngài nhiều như số cát sông Hằng không quá sự ước tính của các nhà thiên văn hiện tại.
  Nói đến quan niệm về vũ trụ của Phật giáo chúng ta không thể bỏ qua kinh Hoa Nghiêm, phẩm thế giới thành tựu. Trong phẩm này, Bồ Tát Phổ Hiền tuyên thuyết của mười đặc tính của các thế giới: Nhân Duyên khởi, chỗ Trụ Nương, Hình Trạng, Thể tánh, Thanh Tịnh tánh, Trang Nghiêm tánh, Phật xuất hiện, kiếp trụ, kiếp chuyển biến sai biệt và vô sai biệt.
Trong 10 đặc tính của các thế giới, ta chỉ luận về Hình Trạng của các thế giới trong giải thiên hà, ngân hà. Chúng ta hãy đọc đoạn kinh sau đây: "Lúc đó, Phổ Hiền Bồ Tát lại bảo chúng rằng: Thế giới có nhiều hình tướng sai khác hoặc hình như nước xoáy hoặc hình dạng như hoa..." Các nhà thiên văn có thể quan sát được trong các chòm sao như Letus, Pegasus và Hercules, hình sông là Giải Ngân Hà (Milky Way) và nhiều thiên hà khác, hình dạng như hoa là những khối tinh vân trong khoảng không gian liên-thiên-hà có chứa hàng tỷ ngôi sao... Chúng ta không thể tưởng tượng được ở một thời chưa hề có kính thiên văn. (Mãi đến thế kỷ XVII, Galileo (1564-1642) mới chế ra kính thiên văn) mà Ðức Phật và các vị Bồ Tát đã có những hiểu biết chính xác về vũ trụ như trên. Có lẽ vì khâm phục tri kiến của chư Phật và các vị Bồ Tát, nhà bác học lừng danh nhất thế kỷ XX này, Albert Einstein (1879-1955) khi nghiên cứu vũ trụ đã viết:
  "Tôn giáo của tương lai sẽ là một tôn giáo vũ trụ (cosmic religion)... Bao gồm cả thiên nhiên vật lý và tinh thần... Phật giáo bao gồm các thứ đó... Nếu có một tôn giáo nào đáp ứng được yêu cầu của nền khoa học tân tiến, tôn giáo đó chính là Phật giáo”. (The religion of the future will be cosmic religion... cover both the natural and spiritual... Buddhism answers this description... if there is any religion that would cope with the modern scientific needs, it would be Buddhism).
  Các nhà vật lý nguyên tử hiện đại cũng không khỏi kinh ngạc về tri kiến Phật về hạt nhân mà Đức Phật đã nói trong Kinh Bát Nhã: "Sắc chẳng khác Không, Không chẳng khác Sắc. Sắc bất dị Không, Không bất dị Sắc, Sắc tức thị Không, Không tức thị Sắc". Đoạn kinh này đã đựơc nhà bác học Niels Bohr (1885-1962, giải Nobel vật lý) làm sáng tỏ vì ánh sáng không là Hạt (particle) và cũng chẳng là Sóng (wave) mà nó vừa là Hạt vừa là Sóng, cả hai thứ bổ túc cho nhau, nó vừa Có vừa Không.
  Nếu Hạt Sóng là yếu tố căn bản của ánh sáng thì các khoa học gia đang tìm thành phần nhỏ nhất của vật chất. Mãi đến cuối thế kỷ thứ XIX các nhà vật lý nguyên tử đã tìm được và khẳng định rằng thành phần cuối cùng của vật chất là Nguyên Tử và đặt tên mới bằng tiếng Hy Lạp (Atom) có nghĩa là không thể chia cắt được nữa. Danh từ mới này thật ra đã có từ thời Phật Thích Ca. Ở Ấn Ðộ, thời Phật, danh từ Paramãnu có nghĩa tương đương với nguyên tử. Một hạt bụi rất nhỏ mà ta thấy bay vởn vơ trong làn ánh sáng được gọi là Ratharenu. Một Ratharenu phân làm 36 Tajjaris. Một Tajjaris chia làm 36 Anus và một Anus chia làm 36 Paramãnus (nguyên tử), như vậy thì trong hạt bụi nhỏ có 46656 nguyên tử.
  Ðến đầu thế kỷ XX, các nhà bác học bảo nguyên tử chưa phải là nhỏ nhất, nó được cấu tạo bằng những hạt nhỏ hơn: electron, proton, neutron . . .
Giữa thập niên 60, các nhà bác học lại tìm ra thêm những Phản Hạt của electron, proton, neutron... người ta gọi những hạt này là hạt cơ bản (elementary particle).Tới thập niên 70, khoa học tiến bộ hơn, có những máy gia tốc năng lượng rất lớn, họ đã tìm ra Hạt Quarks, 3 hạt quarks mới bằng một hạt cơ bản. Trong kinh Phật có một danh từ tương đương với Quark là hạt Lân Hư Trần (nghĩa là hàng xóm của Hư Không).
  Các nhà vi trùng học còn kinh ngạc hơn khi biết được Đức Phật mà 25 thế kỷ trước đã thấy những vi sinh vật trong bát nước vừa múc lên từ miệng giếng và Ngài đã chú vãng sinh cho những sinh vật bé nhỏ này trước khi uống:
  "Phật quán nhất bát thủy, bát vạn tứ thiên trùng."
  (Đức Phật đã nhìn thấy vô vàn -bát vạn tứ thiên-những sinh vật nhỏ trong một bát nước)
  Mãi hơn 24 thế kỷ sau, bác sĩ Louis Pasteur (1822-1895) mới tìm ra những vi sinh vật này (vi trùng). Công trình nghiên cứu đã đưa Pasteur lên đài danh vọng: Ông được tặng thưởng huân chương Bắc Ðẩu Bội Tinh và được bầu vào Han Lâm viện Pháp quốc (Academie Francaise). Khi Ông mất, chính phủ Pháp đã tổ chức quốc táng.
  Chúng ta thán phục Phật và các chư vị Bồ Tát đã thấy trước chúng sinh hàng bao thế kỷ: vũ trụ, vật lý, vi trùng v.v. nhưng chủ yếu của đạo Phật là làm cho chúng sinh bớt Khổ Ðau, rồi tiến tới An Lạc và Giải Thoát. Thực vậy, Ðức Phật đã tỏ ra vị thầy thuốc đại tài để chữa bệnh Ðau Khổ cho con Người. Bác sĩ Carl Jung (1875 - 1961) ông Tổ của ngành phân tâm học ca ngợi Phật.
  "Công việc của tôi là chữa trị bệnh đau khổ về tâm thần. Chính điều này đã đẩy tôi làm quen với quan điểm và phương pháp của bậc Thầy vĩ đại của nhân loại mà đề tài chính yếu là sự trói buộc của đau khổ (My task was to treat psychic suffering and it was this that impelled me to become acquainted with the view and the methods of that Great Teacher of humanity, whose principal theme was the chain of suffering).
  Trong những nhà bác học tên tuổi lớn thì có lẽ Albert Einstein là người viết về Đạo Phật nhiều nhất. Ðể kết luận tôi xin trích một đoạn văn ngắn của ông nói về Phật giáo:
  "Phật giáo không cần duyệt xét quan điểm của mình để cập nhật hóa với những khám phá mới của khoa học. Phật giáo không cần phải từ bỏ quan niệm của mình để chấp nhận khoa học bởi vì Phật giáo bao gồm khoa học và đồng thời cũng vượt qua khoa học. Phật giáo là một chiếc cầu nối liền tôn giáo và những tư tưởng khoa học. Chiếc cầu Phật giáo đã kích thích con người khám phá những tiềm năng lớn lao nằm sâu kín trong chính nó và trong môi trường sống chung quanh nó. Phật giáo siêu việt vượt qua thời gian. (Buddhism requires no revision to keep it up today with recent scientific finding. Buddhism needs no surrender its view to science, because it embraces science as well as goes beyond science. Buddhism is a bridge between religious and scientific thoughts, that the stimulates man to discover the talent potentialities within himself and his environment. Buddhism is timeless)

                                                           Nguyễn Mộng Khôi

Thứ Sáu, 3 tháng 10, 2014

THIỀN VÀ SỨC KHỎE


  Đại học Y khoa Harvard ước lượng có khoảng 60 – 90% bệnh nhân đến bác sĩ là do stress. Stress liên quan đến rất nhiều bệnh lý như nhồi máu cơ tim, tăng huyết áp, tiểu đường, suyễn, đau nhức kinh niên, mất ngủ, dị ứng, nhức đầu, đau thắt lưng, một số bệnh ngoài da, ung thư, tai nạn thương tích, tự tử, trầm cảm, giảm miễn dịch… Stress gây tăng cholesterol cao hơn thức ăn (Rosenman, 1993). Trong thời kỳ khủng hoảng kinh tế, nạn thất nghiệp, người làm việc ở những khu vực dễ bị sa thải thì chết vì bệnh tim mạch, tai biến mạch máu não cao gấp đôi các khu vực khác (Chandola, 2006). Stress là nguyên nhân của 50% các bệnh nhân mất ngủ, dẫn tới những vấn đề sức khỏe tâm thần. Stress cũng gây 19% vắng mặt nơi làm việc, 40% bỏ việc, 60% tai nạn xảy ra nơi làm việc. Theo một thống kê của cơ quan bảo hiểm y tế, Thiền giúp giảm thời gian nằm viện của bệnh nhân và giảm số lần đi khám bệnh (Orme Johnson, 1987).
Nghiên cứu đối chứng về cơn đau kinh niên, lo âu, trầm cảm, Thiền làm giảm 50% các triệu chứng tâm thần nói chung và giảm 70% triệu chứng lo âu (Roth,1997).
Hành giả thực hành thiền hơn 5 năm có tuổi già sinh lý trẻ hơn 12 năm so với người cùng tuổi, dựa trên 3 yếu tố là huyết áp, khả năng điều tiết nhìn gần của thị giác và khả năng phân biệt của thính giác.
  Một nghiên cứu trên học sinh cấp 2 có thực tập thiền, cho thấy kết quả học tập tốt hơn, có khả năng tập trung , có thói quen làm việc, cải thiện hành vi (xung đột, hung hãn), tăng lòng tự tin, khả năng hợp tác và quan hệ với người khác (Harrison,2004).
Thiền cũng giúp làm giảm cân, giảm béo phì, nghiện thuốc lá, rượu và các chất ma túy nói chung (Alexxander,19994). Đặc biệt, một nghiên cứu đối chứng ở 44 bệnh viện cho thấy Thiền đã giúp làm giảm sai sót chuyên môn y khoa đến 50%, đồng thời cũng làm giảm 70% các vụ khiếu kiện của bệnh nhân đối với bệnh viện (Jones,1988). Ở các công nhân kỹ thuật có thực tập thiền trong 8 tuần cho thấy họ làm việc phấn khởi hơn, thích thú hơn, nhiệt tâm hơn, giảm thiểu các bệnh cảm cúm thường gặp trong khi nhóm chứng không có gì thay đổi. Tóm lại, hiệu quả của Thiền đã được chứng minh trong nhiều lãnh vực đời sống …
  Khi nói đến Thiền, ta thường nghĩ ngay đến ngồi; ngồi thiền. Rồi nào kiết già, nào bán già, hết sức phức tạp và bí hiểm như chỉ dành riêng cho một giới nào đó. Thiền thực ra không nhất thiết phải kiết già bán già. Đi đứng nằm ngồi gì cũng thiền được cả. Người Nhật, người Tây Tạng đều có cách “ngồi” thiền riêng của mình, người Tây phương còn khác hơn nữa, miễn sao có một tư thế thoải mái, dễ chịu, buông xả toàn thân  là được. Thế nhưng cách ngồi tréo chân (kiết già, bán già) lại có lợi thế hơn cả. Tại sao? Tại vì khi ta đứng, ta đi, các bắp cơ phía trước của hai chân phải co lại để nâng đỡ cả thân mình, trong khi các bắp cơ phía sau thì duỗi ra. Lúc ngồi tréo chân ta đã làm cho các bắp cơ đổi chiều. Đây là phương pháp “đối chứng trị liệu”. Khi nào đi bộ lâu, mỏi chân, ta ngồi xuống, xếp bằng và hít thở một lúc sẽ thấy hai chân  bớt mỏi nhanh hơn. Cơ nào đã duỗi lâu thì được co lại, cơ nào đã co lâu thì được duỗi ra! Thiền hay yoga do vậy khai thác kỹ thuật này để điều trị liệu rất có hiệu quả sự mệt mỏi, không kể ngồi theo cách này cũng giúp làm giảm sự tiêu thụ oxy!
  Giữ lưng thẳng đứng cũng là một yêu cầu vô cùng quan trọng trong Thiền. Ta dễ có khuynh hướng chìu theo độ cong tự nhiên của cột sống dưới sức nặng của thân thể do trọng lực – và nhất là tuổi tác – do đó dễ dẫn đến cong vẹo cột sống hoặc đau cột sống cổ, đau thắt lưng. Ở tuổi trung niên nhiều người đã bị những cơn đau dữ dội đến phát khóc. Đó là những cơn đau cấp tính, nếu nghỉ ngơi và uống thuốc đúng cách chừng mười ngày, nửa tháng sẽ khỏi, nhưng không khỏi hẳn, dễ tái phát do tư thế chưa được điều chỉnh. Nhưng nguồn gốc sâu xa hơn lại là do cách sống căng thẳng, chịu đựng, dồn nén lâu ngày. Cơn đau là tiếng chuông báo động để ta “tỉnh ngộ”! Một người cúi gầm suốt ngày trước máy vi tính hay TV để chơi games online thì sớm muộn cũng bị những hội chứng về cột sống. Một người quen đi chùa lạy Phật mà với tư thế không đúng thì lâu ngày cũng bị  đau cột sống như vậy! Nhất là khi đã có tuổi, cột sống có khuynh hướng cứng lại, mất đàn hồi, các lớp sụn độn giữa hai đốt sống dễ bị bẹp, có khi “xì” ra một bên, chèn ép gây đau, nhiều khi phải phẫu thuật để chữa. Giữ lưng thẳng đứng trong lúc ngồi thiền là điều cần thiết. Kết hợp với tập thể dục bụng, có nghĩa là tập cho thắt lưng được dẻo dai, cũng sẽ làm chậm tiến trình lão hóa.
   Trong Thiền, một yếu tố rất quyết định nữa là sự thả lỏng toàn thân, “buông xả” toàn thân, mà có người ví như thả trôi theo dòng nước. Thả lỏng toàn thân là cách làm cho toàn thân như rủ xuống, xẹp xuống, bình bồng, không còn căng cứng nữa! Có thể nói cơ thể ta như chỉ gồm có hai phần: “thân xác” và “thân hơi”. Thả lỏng là “xì” cho xẹp cái thân hơi đó – mà tiếng Việt ta có một từ rất hay là xả hơi! Khi quá mệt, quá căng thẳng thì nghỉ xả hơi! Khi đó, không một bộ phận nào của cơ thể còn phải căng nữa, phải gồng nữa, kể cả vỏ não. Tiêu hao năng lượng cho trương lực cơ (tonus musculaire) và hoạt động của vỏ não sẽ giảm thấp nhất có thể được. Y học chứng minh tiêu hao năng lượng trong Thiền rất thấp, dưới mức chuyển hóa cơ bản, thấp hơn cả khi ngủ, nhờ vậy mà năng lượng được tích lũy tốt hơn.
  Cơ thể ta có hơn mười ngàn tỷ tế bào. Mỗi tế bào thực chất là một cái túi, một loại “sinh vật” háo ăn, háo làm, háo tiêu thụ oxy – kết hợp với thức ăn qua những phản ứng gọi là oxyt hóa – để tạo ra năng lượng. Nhưng oxyt hóa càng mạnh thì càng tạo thêm các gốc tự do và các chất… bã, làm
  cho cơ thể mau mệt mỏi, già nua! Giống như một thanh sắt để ngoài nắng gió một thời gian sẽ bị oxyt hóa thành rỉ sét. Khi cơ thể có cách nào làm giảm tiêu thụ năng lượng không cần thiết thì các tế bào cũng sẽ được nghỉ ngơi.
   Khi cơ thể đã chùng xuống, đã giãn cơ, tức giảm tiêu hao năng lượng một cách đáng kể rồi thì cũng sẽ thấy bớt cần thiết phải cung cấp các dưỡng chất qua thức ăn như giucid, lipid, protid… vốn là nguồn tạo năng lượng! Ăn ít đi mà vẫn đáp ứng đủ nhu cầu năng lượng thì cơ thể đỡ vất vả, các tế bào đỡ hùng hục làm việc, tinh thần sẽ sảng khoái. Các nghiên cứu gần đây cho thấy các sinh vật bị cho nhịn đói vừa phải thì sẽ sống lâu hơn và trẻ hơn. Do vậy mà các thiền giả không có nhiều nhu cầu về các chất dinh dưỡng được cung cấp bởi thức ăn! Ta thấy giới, định và tuệ gắn bó chặt chẽ với nhau như một tam giác cân, tác động hai chiều là vậy!
  Danh y Tuệ Tĩnh, thế kỷ XIV ở nước ta đã đúc kết một lời khuyên: “Bế tinh – Dưỡng khí – Tồn thần / Thanh tâm – Quả dục – Thủ chân – Luyện hình”. Thử nhìn lại đời sống hiện nay ta thấy: tịnh không bế, khí không dưỡng, thần không tồn, tâm náo loạn… bảo sao các hiện tượng tâm thần, tự tử, béo phì, tiểu đường, huyết áp… kể cả chiến tranh, dịch bệnh, thiên tai… chẳng ngày một gia tăng?
   Đời sống tiết độ, tri túc, kham nhẫn, chánh niệm, tỉnh giác… phải chăng có thể góp phần giải quyết những vấn đề sức khỏe thời đại và bảo vệ môi trường sống của chúng ta hôm nay?
  Đừng tìm đâu cho mất công. Hãy quay về nương tựa chính mình. Quả đúng như vậy. Bởi nói cho cùng, ai có thể “thở” giùm ai? Ai có thể “thiền” giùm ai?.


                                                                     Trích Thiền và sức khỏe
                                                                      BS. ĐỖ HỒNG NGỌC 

Thứ Năm, 2 tháng 10, 2014

KHÁCH VỀ TRỜI CHƯA TỐI.....


Khách về trời chưa tối
Nhẹ tay khép cổng sài
     Quay lưng hiên nắng nhạt
        Hương trầm thoảng thư trai
                                      Sưu tầm
     (Trích trong tập NƠI ẤY BÌNH YÊN-   Minh Đạo )




Chủ Nhật, 28 tháng 9, 2014

CỘI RỄ CỦA SỰ TRƯỞNG THÀNH

       

 
Trưởng thành là một quá trình thay đổi qua nhiều đau đớn và thử thách sức mạnh thật sự của một con người. Một con người phải đương đầu với chông gai, để tôi luyện bản thân, để biết được rằng sức mạnh không đến từ người khác mà đến từ bên trong bản thân mình. “Sức mạnh của con người định hình trong chính sự yếu đuối của người ấy” (Raipl Waldo Emerson

   Hồi còn nhỏ, tôi có một người hàng xóm mà mọi người gọi là bác sĩ Gibbs. Ông không giống như bất kỳ bác sĩ nào tôi từng biết. Ông rất giản dị và hiền từ, nhất là đối với bọn nhóc nghịch ngợm chúng tôi.
   Ngoài giờ làm công việc cứu người, bác sĩ Gibbs thường trồng cây. Ông muốn biến mảnh đất rộng 10 mẫu tây của mình thành một khu rừng mà! Vị bác sĩ hiền lành ấy có những lý thuyết trồng cây rất thú vị, ngược hẳn với nguyên tác mà mọi người cho là hiển nhiên. Không bao giờ ông tưới nước cho những cây mới sinh trưởng – ông giải thích với tôi rằng tưới nước sẽ làm chúng sinh ra hư hỏng, và thế hệ cây kế tiếp sẽ ngày một yếu đi. Vì thế, cần phải tập cho chúng đối mặt với khắc nghiệt. Cây nào không chịu nổi sẽ bị nhổ bỏ ngay từ đầu.
  Rồi ông hướng dẫn cho tôi cách tưới nước cho những cây rễ mọc trên cạn, để chúng khô hạn thì sẽ phải tự bén rễ sâu mà tìm nguồn nước. Thảo nào, chẳng bao giờ tôi thấy ông tưới cây cả. Ông trồng một cây sồi, mỗi sáng thay vì tưới nước, ông lấy tờ báo cuộn tròn lại và đập vào nó: Bốp! Bốp! Bốp! Tôi hỏi ông sao lại làm vậy thì ông trả lời: để làm nó chú ý.
Bác sĩ Gibbs từ giã cõi đời hai năm sau khi tôi xa gia đình. Giờ đây, về nhìn lại những hàng cây nhà ông, tôi lại như mường tượng ra dáng ông đang trồng cây 25 năm về trước. Những thân cây ngày ấy nay đã lớn mạnh và tràn trề sức sống. Như những thanh niên cường tráng, mỗi sáng chúng thức dậy, tự hào ưỡn ngực và sẵn sàng đón nhận những gian nan, thử thách.
  Vài năm sau tôi cũng tự trồng lấy hai cây xanh. Mùa hè cháy nắng tôi tưới nước, mùa đông giá rét tôi bơm thuốc và cầu nguyện cho chúng. Chúng cao gần chín mét sau hai năm, nhưng lại là những thân cây luôn dựa dẫm vào bàn tay người chăm bẵm. Chỉ cần một ngọn gió lạnh lướt qua, chúng đã run rẩy và đánh cành lập cập – trông chẳng khác gì những kẻ yếu đuối!
  Chẳng bù với rừng cây của bác sĩ Gibbs. Xem ra nghịch cảnh và sự thiếu thốn dường như lại hữu ích cho chúng hơn sự đầy đủ.
  Hằng đêm trước khi đi ngủ, tôi thường ghé phòng hai đứa con trai và ngắm nhìn chúng ngủ ngon lành. Nhìn thân thể nhỏ bé đang phập phồng nhịp thở của cuộc sống, tôi luôn cầu nguyện cho chúng có một cuộc sống dễ chịu.
  Nhưng gần đây, tôi chợt nghĩ đã đến lúc cần phải thay đổi lời nguyện cầu ấy. Tôi nguyện cầu cho chúng mạnh mẽ hơn, để chịu được giông gió không thể tránh trong cuộc đời. Có ngây thơ mới mong chúng thoát khỏi gian khổ – bởi lẽ nghịch cảnh, khó khăn luôn là điều hiện hữu tất yếu. Và dù muốn hay không, cuộc đời chẳng bao giờ bằng phẳng cả. Tôi cầu mong cho ‘gốc rễ’ của con mình sẽ bén thật sâu, để chúng có thể hút được sức mạnh từ những suối nguồn tiềm ẩn trong cuộc sống vĩnh hằng.
   Thật sự nhìn lại, tôi đã cầu xin sự an lành quá nhiều rồi, nhưng rất hiếm khi những ước muốn ấy được thỏa nguyện. Điều chúng ra cần là cầu sao cho mình rèn luyện được một cơ thể cường tráng và ý chí cứng cỏi, bền vững, để khi nắng cháy hay mưa dông, bão tố, chúng ta sẽ không bao giờ bị gục ngã.

                  http://ima.edu.vn/qua-tang-cuoc-song-coi-re/#sthash.jiXMs1FI.dpuf

Thứ Năm, 25 tháng 9, 2014

MẨU BÁNH MỲ


   Trong chiến tranh thế giới thứ hai có hai người tù Do Thái trốn thoát khỏi trại tập trung. Họ chạy thục mạng và quyết định chia làm hai ngả.
  Người tù già nắm chặt tay người tù trẻ, đắn đo một lúc rồi nói:
"Này cháu, ta chỉ có một mẩu bánh mỳ, cháu hãy cầm lấy, ta già rồi, chịu đói được lâu hơn cháu. Nhưng cháu hãy hứa với ta rằng: chỉ khi nào cháu không còn một cách nào khác để có cái ăn thì cháu mới giở miếng bánh này ra. Trong rừng có nhiều thứ ăn được. Nếu đến chỗ có dân cháu có thể làm thuê kiếm miếng ăn. Đường từ đây về nhà còn xa lắm. Nếu trong túi vẫn còn một miếng bánh thì cháu vẫn còn có thể chịu đựng được mọi gian truân"
  Người tù trẻ cảm động, hứa với ông già, nắm chặt lấy mẩu bánh mỳ rồi lao đầu chạy.

  Ròng rã bao nhiêu ngày đêm anh nhằm hướng quê nhà mà chạy, khi thì phải lẩn lút trong rừng, khi thì băng cánh đồng. Anh hái quả rừng, lội suối tìm cá, khi gặp những người chăn cừu anh bẻ củi đến cho họ để nhận một bát sữa, hay một miếng thịt cừu thơm lừng.
  Đã có lúc anh tưởng chừng không còn cách nào khác để có một miếng ăn. Để tránh né bọn Đức, anh lẩn lút qua đầm lầy, trong cái nóng hầm hập, xung quanh chỉ một màu xám xịt của lau sậy.
  Không biết bao nhiêu lần anh rút mẩu bánh mỳ đã khô cứng như đá ra khỏi túi. Anh ngắm cái gói nhỏ gói bằng một miếng vải thô, quấn thật chặt và buộc bằng một sợi dây gai thắt nút. Cái gói chỉ bằng nửa miếng xà phòng, chắc mẩu bánh mỳ còn bé hơn. Song anh vẫn nuốt nước miếng, nghĩ đến vị bột ngọt ngào trên đầu lưởi, chắc là có chút ẩm mốc. Anh nhìn cái gói nhỏ rồi lại đút vào túi, bởi anh kinh hoàng nghĩ đến ngày mai, túi rỗng không mà đường thì còn xa lăng lắc.
  Cứ thế anh đi ròng rã và cuối cùng cũng đến cái ngày anh ngã nhào vào tay người thân. Sau những phút vui sướng khóc cười, anh rút ra cái gói nhỏ đã bẩn thỉu hôi hám song vẫn được quấn rất chặt. Anh nói " mẹ ơi, nhờ mẩu bánh này đây mà con thoát chết trở về". Anh cảm động gỡ nút dây, mở lần vải bọc và sững sờ: đó chỉ là một miếng gỗ được gọt đẽo vuông vức như một mẩu bánh mỳ!
 *Bài học kinh doanh: 
Hãy luôn giữ cho mình 1 khoản tiền tiết kiệm, dù có tiêu hết những khoản tiền còn lại thì cũng không được dùng đến chúng. Hãy luôn nghĩ trong đầu, ta vẫn còn chúng thì ta không thể nào chết được. Và, ta phải tìm kiếm như thế nào để tạo ra được những đồng tiền tiếp theo.
 *Bài học cuộc sống: 
Tự tạo cho mình những mẩu bánh mì chứa đầy hi vọng và niềm tin. Sự khác biệt giữa thành công và thất bại chỉ trong gang tấc. Anh ấy thành công vì sự kiên định và có niềm hi vọng. Nếu nhụt chí, từ bỏ và mở gói bọc ra thì anh ta có lẽ sẽ chẳng bao giờ về đến nhà.
                                                             Sưu tầm

Thứ Ba, 23 tháng 9, 2014

CHUYỆN NHỎ ! "Thằng Rái Cá"


   Ở một vùng quê bên nước Anh, có gia đình nọ chuyên nghề làm vườn, gồm hai vợ chồng và đứa con trai duy nhất. Vì hoàn cảnh quá nghèo nên cậu con chưa học hết tiểu học đã phải ở nhà giúp đỡ cha mẹ việc trồng tiả, hoặc đôi khi lên rừng lấy củi, kể cả việc câu cá ở một cái hồ lớn rất đẹp gần nhà để thêm lương thực cho bữa ăn. Trong các việc làm phụ giúp cha mẹ, cậu bé thích nhất là đi câu, bởi vì mỗi buổi đi câu là mỗi lần được tắm, bơi thỏa thích. Cậu bơi tuyệt giỏi, đến mức bạn bè trong xóm gọi cậu là "thằng Rái Cá" (Otter boy).
   Một hôm, khi "thằng Rái Cá" cắm xong mớ cần câu ở góc hồ, đang tính cởi áo nhào xuống nước bơi một tăng cho đã đời, thì nó thấy 3 chiếc xe limousine sang trọng trờ tới đậu ngay gần đó nên nó khớp không tắm nữa, leo lên cây đại lăng ở cạnh hồ, núp mình trong tàng lá để canh chừng cần câu và cũng để ngắm nhìn toán du khách sang trọng.
  Toán du khách đó chính là một gia đình giầu có, quyền qúy, vào hàng đệ nhất qúy tộc của vương quốc Anh. Họ từ thủ đô Luân Đôn đi du ngoạn miền quê, thăm dân cho biết sự tình. Dưới trời nắng đẹp ấm áp, một cái tăng lớn được căng lên lộng lẫy. Bàn ghế picnic bầy ra và thức ăn, cao lương mỹ vị dọn tràn đầy. Tiếng nhạc êm đềm réo rắt tỏa vang rồi đoàn du khách nhập tiệc. Kẻ ăn, người uống, kẻ khiêu vũ, người chụp hình ...
Một lát sau, "thằng Rái cá" ngồi thu mình trên cành cây đại lăng, nhìn thấy một đứa trẻ trong đám du khách, chắc cũng 11, 12 tuổi, cỡ tuổi nó, thay đồ tắm và lội xuống hồ bơi qua bơi lại. Dường như những người lớn chăm chú vào việc ăn uống chuyện trò, không mấy ai để ý đến đứa trẻ ở dưới hồ. Riêng "thằng Rái Cá" nó tò mò quan sát đứa trẻ...
  Ồ, coi kìa, thằng này bơi gì dở ẹc! Rõ ràng là nó không biết bơi ếch, bơi sải, bơi bướm gì cả, đến bơi ngửa chắc cu cậu cũng chẳng làm được! Nó chỉ đập loạn tay chân lên thôi, cái điệu bơi chó như thế là không khá được!
Chợt "thằng Rái Cá" nhoài mình ra chăm chú nhìn. Nó thấy 2 con thiên nga từ xa bơi tới phía đứa trẻ và đứa trẻ chắc là thích con thiên nga nên bơi theo ... Chết chưa ! Nó bơi tuốt ra xa quá rồi, chỗ đó rất sâu, nguy hiểm lắm! Đúng lúc đó, có tiếng thét cấp cứu của đứa trẻ "Help me! Help...Help! !!" Toán du khách khi ấy kịp nghe và nhìn thấy, nhưng thay vì phải nhào ra cứu đứa trẻ thì họ ồn ào, nhốn nháo cả lên. Hai ba người xuống hồ với cả áo quần, nhưng chỉ lội ra nước đến cổ thì đứng lại.
  Trời đất! Hóa ra chẳng ai biết bơi cả mà ngoài xa đứa trẻ đuối sức có vẻ muốn chìm rồi!
  Không đợi lâu hơn được nữa, từ trên cành cây cao, "thằng Rái cá" phóng xuống chạy bay ra hồ trước con mắt ngạc nhiên của tất cả đoàn du khách. Tới bờ cao, nó nhún mình lao xuống nước trong tư thế plunge tuyệt đẹp và chỉ loáng mắt đã sải tay bơi tới chỗ đứa trẻ bị nạn. Nó hụp lặn xuống xốc nách đứa trẻ và như một chuyên viên rescue lành nghề, nó nghiêng người bơi sải từ từ vào bờ trước sự chứng kiến xúc động và tràng pháo tay reo mừng của mọi người. Khi tới bờ, đứa trẻ bị nạn được nhiều người xúm lại khiêng lên đưa vào giữa tăng và tại đó có sẵn một vị bác sĩ (trong toán du khách) lo việc cấp cứu hồi sinh cho đứa trẻ.
  Chừng một tiếng đồng hồ sau, không khí an toàn tươi vui trở lại với mọi người trong toán du khách. Đứa trẻ qua tai nạn hiểm nguy, bây giờ quấn mình trong chiếc mền len và đang được uống mấy muỗng soup. Lúc ấy người ta mới chợt nhớ tới vị ân nhân vừa cứu sống nó.
- Ô hay, cái thằng bé con bơi giỏi hồi nãy đâu rồi nhỉ ?
  Mọi người đổ xô đi tìm. Lát sau phát giác ra chỗ ẩn của nó. "Thằng Rái Cá" trèo lên ngồi yên chỗ cũ, trên cành cây đại lăng. Nó được gọi xuống và trịnh trọng đưa tới trình diện trước một vị quý tộc, ông này chính là cha của đứa trẻ vừa bị nạn.
- Hỡi con, (vị quý tộc nói với "thằng Rái Cá") con vừa làm một chuyện vĩ đại mà tất cả chúng ta đây không ai làm được. Ta xin thay mặt toàn thể cám ơn con.
- Bẩm ông, ("thằng Rái Cá" lễ phép thưa) con có làm gì vĩ đại đâu! Bơi lội là nghề của con mà! Con cứu em là chuyện nhỏ, chuyện phải làm và cũng là chuyện thường đâu có gì khó khăn vĩ đại. Xin ông đừng bận tâm !
- Không đâu con ơi ! con đã cứu mạng con trai ta. Gia đình ta và hội đồng quý tộc mãi mãi mang ơn con. Nay ta muốn đền ơn con, vậy con muốn điều gì hãy nói cho ta biết.
"Thằng Rái Cá" nghe hỏi vậy, ngập ngừng giây lát rồi ngỏ ý muốn xin vài ổ mì dư thừa đem về cho cha mẹ. Lòng hiếu thảo của nó đã khiến cho vị
quý tộc và nhiều du khách cảm động rơi lệ. Vị quý tộc ôm nó vào lòng và nói:
- Hỡi con, điều con vừa xin là chuyện nhỏ, và đó chính là bổn phận của ta, ta biết ta sẽ phải làm gì cho con và gia đình con. Nhưng câu hỏi của ta là sau này lớn lên con ước mơ sẽ làm gì ?
"Thằng Rái Cá" chỉ tay vào vị bác sĩ khi nãy cấp cứu hồi sinh cho đứa trẻ bị nạn, trả lời:
- Lớn lên, con muốn làm việc cứu người như ông kia.
- Ồ, con muốn làm bác sĩ, tốt lắm! Với ta đó cũng là chuyện nhỏ thôi, ta sẽ giúp con.
 Câu chuyện nhỏ trên đây có phần kết luận không nhỏ mà thật là vĩ đại, bởi vì đứa trẻ bị chết đuối hụt có tên là Winston Churchill, sau này là vị Thủ Tướng đã làm rạng danh nước Anh, một vĩ nhân cực kỳ tài giỏi lỗi lạc của thế giới vào thời Đệ Nhị Thế Chiến.

- Còn "thằng Rái Cá", cậu bé đã cứu mạng Churchill tên là Fleming, sau này trở thành vị bác sĩ tài ba lừng danh hoàn cầu. Fleming, chính là nhà bác bọc đã tìm ra thuốc trụ sinh Penicilin, cứu mạng biết bao nhiêu người trên thế giới. Ông đích thực là vị ân nhân vĩ đại của cả nhân loại. 
Từ khởi đầu, chuyện chỉ là một chuyện nhỏ, sự hy sinh, vị tha, sự cho đi rất nhỏ nhoi! Nhưng nhờ đó, thành quả sau này đem đến cho cả nhân loại đã vô cùng lớn lao kỳ vỹ.
  Câu chuyện còn thêm cho phần kết luận điều lý thú nữa, là một ngày nọ, thủ tướng Churchill bị lâm trọng bịnh đến nỗi đã hôn mê, nhiều bác sĩ phải lắc đầu. Tính mạng ông ở vào lúc nguy kịch nhất, thì Fleming xuất hiện như một tiền duyên định mệnh và vị bác sĩ tài ba này, đã lại một lần nữa cứu sống người bạn cố tri của mình. Khi tỉnh dậy sau cơn mê, mở mắt ra nhìn thấy Fleming, Churchill ngạc nhiên xúc động và nói rằng:
- Fleming ! Có phải cứ mỗi lần tôi sắp chìm, Chúa lại cho bạn tới vớt tôi lên?
- Churchill, chúng ta hãy cám ơn Chúa! Nhưng không hẳn là tôi, (Fleming giơ ra một viên thuốc nhỏ tí xíu) bởi cái này đây, chính cái này đã cứu bạn đó (không có Chúa cứu đâu)... Chuyện nhỏ mà!

(Câu chuyện này được lan truyền trên Internet nhưng không phải là một câu chuyện có thật trong lịch sử. Xem bài viết dưới đây của Phan Hạnh)

....Nhưng tiếc thay đó (câu chuyện bên trên) lại không phải là một câu chuyện thật trong lịch sử. Đó chỉ là một trong nhiều huyền thoại được con người thêu dệt dựng lên quanh nhân vật chính khách lỗi lạc Winston Churchill của nước Anh. Huyền thoại trong câu chuyện Thằng Rái Cá đã được một cơ quan thẩm quyền là Trung Tâm và Bảo Tàng Viện Churchill tại Các Phòng Hành Quân của Nội Các Chiến Tranh ở Luân Đôn (The Churchill Centre and Museum at The Cabinet War Rooms, London) chính thức lên tiếng bác bỏ. (Nguồn mạng: http://www.winstonchurchill.org/learn/myths/myths/fleming-saved-him-from-drowning).
Trước khi đọc qua lời lên tiếng chính thức của Bảo Tàng Viện Churchill, thiết tưởng chúng ta nên đọc lại câu chuyện Thằng Rái Cá tại địa chỉ các trang mạng đã dẫn. Hoặc chúng ta có thể xem câu chuyện chưa “bị” thêm thắt râu ria, lần đầu tiên được gửi đến Viện Bảo Tàng Churchill ngày 16 tháng Sáu năm 2000 bởi một người tên Rob Burge, địa chỉ rburge@jaguar.com. như sau:
“Tên ông đó là Fleming, và ông ta là một nông dân Tô Cách Lan nghèo. Một ngày nọ trong khi làm việc trong nông trại để nuôi sống gia đình, ông nghe tiếng kêu cầu cứu của ai đó từ vũng lầy gần bên vang lại. Ông buông đồ dùng đang cầm trên tay và chạy về hướng đó. Ông thấy một cậu bé đang vùng vẫy la thét dưới vũng bùn đen ngập tới thắt lưng. Ông nông dân Fleming đã cứu cậu bé thoát khỏi cái chết từ từ và kinh khủng. Ngày hôm sau, một chiếc xe ngựa sang trọng đỗ xịt trước ngôi trại xác xơ của Fleming. Một người quí phái ăn mặc lịch lãm bước ra và tự giới thiệu mình chính là cha của cậu bé mà nông dân Fleming đã cứu sống. Nhà quí phái nói: “Ông đã cứu con tôi, vậy tôi muốn đền tiền cho ông.”
Ông nông dân Fleming xua tay khước từ và đáp: “Không! Tôi không thể nhận món tiền nầy. Điều tôi làm chỉ là bản năng tự nhiên chứ không phải tôi làm để mong được đền đáp.” Vừa lúc đó, con trai của người nông dân từ trong ngôi nhà tồi tàn bước ra. Nhà quí tộc hỏi: “Phải con ông đó không?” Người nông dân hãnh diện đáp: “Phải.” Nhà quí tộc nói: “Vậy tôi xin thương lượng với ông như vầy, để tôi đem con ông theo và nuôi cho cậu ăn học thành tài. Nếu cậu có tánh tình tốt giống cha cậu, sau nầy cậu sẽ trở thành một người làm cho ông hãnh diện.” Và ông đã làm đúng như thế. Cậu con của ông nông dân Fleming đã tốt nghiệp Trường Y Khoa St. Mary ở Luân Đôn và sau đó đã trở nên nổi tiếng khắp thế giới. Cậu bé đó chính là Alexander Fleming, cha đẻ của thuốc trụ sinh Penicillin.
Nhiều năm sau, người con trai của nhà quí tộc bị sưng phổi, và đã được cứu mạng bởi thuốc Penicillin. Còn tên của nhà quí tộc ư? Đó chính là Randolph Churchill. Còn tên người con của ông ta? Winston Churchill.”

Và sau đây là sự thật do Viện Bảo Tàng Churchill đưa ra.
Hỏi: Có đúng là Alexander Fleming đã cứu mạng Churchill?
Đáp: Câu chuyện cho rằng nhà bác học Alexander Fleming (hoặc cha của ông ta, tùy theo cách sắp xếp khác nhau của câu chuyện) đã cứu mạng Churchill từng lan truyền trên Internet trong thời gian qua. Ít nhất có năm mươi bức điện thư gửi về Viện Bảo Tàng nói về chuyện nầy. Nghe cảm động thật đấy, nhưng đó là chuyện hoàn toàn hư cấu. Câu chuyện đó xuất hiện trong Chương sách có tựa đề “The Power of Kindness”, Sức Mạnh của Nhân Từ, phát sinh từ quyển sách Các Chương Trình Thờ Phượng Dành Cho Thiếu Nhi của hai tác giả Alice A. Bays và Elizabeth Jones Oakbery xuất bản trong thập niên 1950 bởi một cơ quan tôn giáo Hoa Kỳ. Theo hai bà tác giả nầy, Churchill được một cậu trai quê mùa tên Alex cứu khỏi chết đuối tại một hồ nhỏ ở Tô Cách Lan. Mấy năm sau đó, Churchill gọi điện thoại cho Alex bảo rằng để đền ơn, cha mẹ cậu sẽ đỡ đầu cho Alex theo học trường y. Alex tốt nghiệp hạng danh dự năm 1928 và khám phá ra rằng có loại vi khuẩn không thể phát triển trên một số mốc rau cải. Năm 1943, khi Churchill bị bệnh ở Cận Đông, penicillin, phát minh tuyệt vời của Alex, được gửi bằng phi cơ để kịp thời cứu Churchill. Thế là Alexander Fleming một lần nữa đã cứu mạng của Winston Churchill.
Nhưng vấn đề cội rễ của câu chuyện là chứng sưng phổi của Churchill không phải được chữa khỏi bằng penicillin mà bằng thuốc M&B, tên rút gọn của thuốc sulfadiazine bào chế bởi Hãng Dược Phẩm May&Baker. Bệnh sưng phổi khá trầm trọng của Churchill là do vi khuẩn tấn công chứ không phải bị nhiễm trùng. Khỏi bệnh nhờ M&B, Churchill mừng lắm và gọi hai bác sĩ riêng của ông, tên Moran và Bedford, là M&B. Không có bằng chứng, tài liệu hay hồ sơ lưu trữ nào cho thấy ông dùng penicillin cho lần sưng phổi trong thời chiến đó cả. Mãi sau nầy gần lúc cuối đời ông có bị nhiễm trùng vài lần và có dùng thuốc trụ sinh ampicillin mà lúc bấy giờ đã trở nên khá phổ biến rồi. Theo Nhật Ký của Đức Ông Moran (Diaries of Lord Moran, nhà xuất bản Houghton Muffin, Boston năm 1966, trang 335), bác sĩ riêng của Churchill, thì Churchill có hỏi ý kiến của Sir Alexander Fleming ngày 27 tháng Sáu năm 1946 về sự nhiễm trùng khuẩn tụ cầu; nhung Churchill không hề dùng penicillin vì khuẩn tụ cầu đề kháng loại thuốc trụ sinh nầy.
Người viết tiểu sử chính thức của Churchill là Sir Martin Gilbert kể thêm rằng sự chênh lệch về tuổi tác của Churchill và Fleming (hoặc cha của Fleming) đều không thể hỗ trợ cho các cách thuật lại khác nhau của câu chuyện. Alexander Fleming (1881-1955) trẻ hơn Churchill (1874-1965) 7 tuổi. Không có chứng liệu nào cho thấy Churchill suýt chết đuối ở Tô Cách Lan ở lứa tuổi thanh thiếu niên hay bất cứ tuổi nào khác. Và cũng không hề có chứng liệu nào nói về Đức Ông Randolph Churchill nuôi Alexander Fleming ăn học thành bác sĩ cả. Sir Martin Gilbert, nhà nghiên cứu tiểu sử Churchill, cũng nhấn mạnh rằng suốt toàn bộ nhật ký của Moran không hề đề cập đến penicillin hay vụ cho phi cơ chở pinicillin sang Cận Đông cho Churchill.
Alexander Fleming sinh ra trong một gia đình có 8 người con ở một vùng quê xa xôi của Tô Cách Lan. Năm14 tuổi, ông đã rời quê nhà để lên Luân Đôn học nhờ có một người anh vừa tốt nghiệp trường y và đang hành nghề bác sĩ ở đấy. Tốt nghiệp ngành kinh doanh, ông đi làm cho hãng vận chuyển hàng hải một thời gian, đăng lính năm 1900, năm sau quay lại học y khoa, tốt nghiệp năm1906, phục vụ ngành quân y trên chiến trường nước Pháp trong thời gian Đệ Nhất Thế Chiến. Năm 1918, chiến tranh kết thúc, ông trở về trường cũ St. Mary’s Hospital nghiên cứu và giảng dạy. Ngày 28 tháng Chín 1928, ông tìm ra penicillin.
Trở lại với câu chuyện Thằng Rái Cá nêu ở phần đầu của bài viết nầy, chúng ta không khỏi thắc mắc tại sao một câu chuyện đã được thi vị hóa và huyền thoại hóa từ 60 năm trước để dạy cho trẻ con về sức mạnh của lòng tử tế, đã đượctái chế biến, thêm mắm dậm muối và đưa lên xa lộ thông tin Anh ngữ từ mười năm trước, bây giờ nó lại lan truyền trên nhiều trang mạng Việt Ngữ? Có lẽ chúng ta nên có thái độ tích cực, xem đó như là một thông điệp mạnh mẽ đánh động lương tri vì lòng tử tế dường như ngày càng trở nên hiếm hoi. Và giới đọc giả chúng ta ước mong các trang mạng Việt ngữ có nhiều khả năng và phương tiện hơn để làm việc một cách cẩn thận và nghiêm túc hơn trong việc kiểm định giá trị bài vở và đưa tin chính xác.
            Phan Hạnh, Toronto. (http://phanhanh.wordpress.com/page/2/)



Thứ Hai, 22 tháng 9, 2014

BÀI THUỐC CỰC ĐƠN GIẢN CHỮA KHỎI HẲN BỆNH MẤT NGỦ KINH NIÊN



Mất ngủ không những làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến sinh hoạt hàng ngày mà còn gây tổn hại đến sức khỏe không nhỏ.
    Ngày nay, không những người có tuổi mà những người trẻ cũng hay mắc chứng bệnh mất ngủ. Mất ngủ không những làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến sinh hoạt hàng ngày mà còn gây tổn hại đến sức khỏe không nhỏ. Hơn nữa, việc điều trị mất ngủ lại không hề đơn giản, nhiều người uống đủ thuốc Đông - Tây y mà vẫn không ngủ được.
   Chúng tôi xin giới thiệu một bài thuốc rất đơn giản, dễ làm nhưng đem lại hiệu quả không ngờ trong việc chữa trị chứng bệnh mất ngủ. Nếu có điều kiện, người bệnh nên áp dụng thêm một số biện pháp phụ trợ như ngồi thiền, ngâm chân trước khi đi ngủ, chắc chắn sẽ đem lại cho quý vị những giấc ngủ ngon.
1. Bài thuốc chữa mất ngủ từ củ gừng
- Gừng tươi: 1 củ to hay nhỏ tùy vào mức độ ăn cay của từng người.
- Đường phên: Lượng vừa đủ cho lượng nước 500ml.
Cách nấu: Cho gừng vào nước lạnh (khoảng 600ml, cho 1 lần uống) đun sôi, sau khi nước sôi cho đường vào, tiếp tục đun nhỏ lửa khoảng 15 phút là được.
Thời gian uống: Uống vào buổi trưa hoặc buổi chiều để có tác dụng vào lúc đi ngủ.
Lưu ý:
  Ngày nào uống thì chế biến ngày ấy cho tươi mới là tốt nhất. Không cứ người mất ngủ mới uống được, người bình thường muốn ngủ ngon đều có thể uống.
Thời gian đầu khi mất ngủ trầm trọng, có thể uống khoảng 1 lít nước đường gừng. Sau 1 thời gian khi bệnh đã chuyển, có thể giảm xuống uống 500ml rồi dần dần duy trì cách ngày uống 1 lần 500ml.
2. Những biện pháp bổ trợ cho bài thuốc chữa mất ngủ
- Ngày ngồi thiền khoảng 1h.
- Trước khi đi ngủ ngâm chân bằng nước gừng nóng, hoặc nước muối nóng.