Thứ Năm, 16 tháng 6, 2016

17 CÁCH TÍCH ĐỨC KHÔNG TỐN MỘT ĐỒNG

                                                                                             (Ảnh: stevenduncanart.com)


                                                                                                                                                                   

Người xưa có câu: “Có đức mặc sức mà ăn”, ý muốn dạy chúng ta rằng làm gì thì cũng phải coi trọng đức, tích đức và đề cao tầm quan trọng của đức. Vậy làm thế nào để tích đức ngay cả khi không có điều kiện vật chất? Hãy cùng xem 17 cách tích đức không tốn một đồng mà vị lão hòa thượng dạy dưới đây để hành theo!

1. Tích đức từ lời nói
Lời nói cần phải thể hiện sự khoan dung độ lượng đối với người khác.
Lời nói thẳng: Có thể chuyển sang cách nói “vòng, nói giảm, nói tránh” một chút.
Lời nói lạnh như băng: Hãy hâm nóng lên một chút trước khi nói.
Lời nói phê bình người khác: Trước khi nói hãy chú ý cân nhắc đến lòng tự tôn của người nghe.
Một lời khen ngợi đúng lúc có giá trị ngàn vàng.

2. Tích đức từ đôi tay
Học cách ca ngợi, vỗ tay tán thưởng người khác.
Mỗi người đều cần tiếng vỗ tay của người khác bởi vì ủng hộ, khen ngợi người khác là điều cần có ở mỗi người.
Không biết vỗ tay, khen ngợi người khác thì đời người thực sự quá nhỏ hẹp.
Cho người khác tiếng vỗ tay kỳ thực là cho chính bản thân mình.

3. Tích đức từ giữ thể diện cho người khác
Ở một số tình huống việc “không nể mặt” là một thái độ vô lễ lớn nhất.
Người phương đông rất xem trọng thể diện vì vậy ở bất cả thời điểm nào cũng nên giành cho người khác một “lối thoát” để giữ thể diện.
Nhìn thấy rõ một người cũng đừng nên chỉ thẳng ra, hãy lựa lúc mà nói.
Hãy nhớ đừng bao giờ làm tổn thương thể diện của người khác bởi hậu quả của nó là khôn lường.
Trong một số tình huống, vạch trần người khác là một cái tội đẩy người ta đến đường cùng.

4. Tích đức từ việc tín nhiệm người khác
Người có tính đa nghi trời sinh thì khó có người bạn chân thành.
Được người khác tin tưởng, tín nhiệm là một loại hạnh phúc.
Người có bao nhiêu tín nhiệm thì sẽ có bấy nhiêu cơ hội thành công.
Người xưa nói: “Đã nghi ngờ người thì không kết giao, đã kết giao thì không nên nghi ngờ người.

5. Tích đức từ việc cho người khác sự thuận lợi
Cho người khác được lợi cũng chính là làm lợi cho mình.
Thời điểm người khác cần bạn nhất, hãy sẵn sàng cho họ một bờ vai để nương tựa.
Suy nghĩ cho người khác cũng chính là suy nghĩ cho bản thân mình.

6. Tích đức từ việc giữ lễ tiết
Người có lễ tiết đi khắp thiên hạ cũng khó có người trách mắng, không ưng ý.

7. Tích đức từ tính cách khiêm nhượng
Người xưa nói: Người kiêu căng ngạo mạn, thích thể hiện tài năng thì đi đâu cũng có kẻ địch.
Tránh khoe khoang tài năng của mình mọi lúc mọi nơi.
Buông bỏ kiêu căng, giảm bớt tự kỷ.
Không nên ở trước mặt người đang thất ý mà đàm luận về đắc ý của mình.
Làm người, trước là đừng khoa trương tùy tiện, sau đừng đắc ý, nên khiêm nhượng một chút.

8. Tích đức từ việc hiểu người khác
Mọi người, ai cũng mong muốn người khác hiểu và thừa nhận mình.
Hiểu người khác cũng chính là một cách đem lại lợi ích cho người khác.
Đổi vị trí để hiểu người khác.

9. Tích đức từ việc tôn trọng người khác
Đem lòng tự tôn của người khác đặt ở vị trí cao nhất.
Cố gắng để người khác cảm nhận thấy sự tôn nghiêm của bản thân mình.
Tôn trọng người yếu kém hơn mình càng là đáng quý.
Địa vị càng cao thì càng không thể khinh thường người khác.

10. Tích đức từ việc giúp đỡ người khác
Ở vào thời khắc quan trọng, ai mà không hy vọng có người trợ giúp mình?
“Vì người khác” sẽ luôn luôn chiến thắng “vì mình”.
Lòng tốt sẽ luôn luôn được người khác khắc sâu, nhớ kỹ.
Khi giúp đỡ người khác cũng phải tìm cách để đối phương vui cười mà tiếp nhận.

11. Tích đức từ việc thành thật với mọi người
Không thành thật sẽ khó tồn tại, người giả dối tất sẽ không có bạn chân thành.
Luôn lấy thành tín làm gốc, coi trọng thành tín trong mọi mối quan hệ.
Dùng thành tín thu phục người khác, sẽ dễ đạt được thành công.
Một người nếu như mất đi sự thành thật thì làm việc gì cũng khó.
Bất kể lý do gì cũng không thể giải thích được lý do sự giả dối của bản thân.

12. Tích đức từ việc biết cảm ơn người
Cảm ơn là một cách ngợi ca cuộc đời.
Trong cuộc sống, lời cảm ơn kịp thời sẽ khiến mọi người thân thiện với nhau hơn.
Cảm ơn đối thủ là một cách thể hiện của người có chí khí.

13. Tích đức từ lòng nhân ái của bản thân .
Mỗi người đều nên tu dưỡng lòng nhân ái trong mình. Bởi người có tấm lòng nhân ái luôn sống nhẹ nhàng mà lại dễ dàng nhận được sự hợp tác từ người khác.

14. Tích đức từ việc mỉm cười với người khác .
Không có ai cự tuyệt một nụ cười chân thành cả!
Mỉm cười là phương thức kết nối hữu hiệu giữa con người với con người.
Dùng nụ cười để ứng phó với sự “khiêu chiến” của đối thủ mới thực là cao nhân.

15. Tích đức từ lòng khoan dung
Không thể khoan dung người khác có thể là bởi vì lòng dạ của mình còn quá nhỏ hẹp !
Dùng khoan dung có thể cải biến một con người lầm lỗi.
Người có lòng khoan dung sẽ dễ dàng chiếm được lòng người khác.
Hãy học cách tha thứ khuyết điểm của người khác.
Đôi lúc, một quan hệ tốt đẹp là từ nhẫn mà sinh ra đấy!

16. Tích đức từ lòng lương thiện
Không có ai là không muốn làm bạn, làm hàng xóm hay hợp tác với người có tấm lòng lương thiện.
Người lương thiện có thể thu phục người khác. Chớ thấy việc thiện nhỏ mà không làm.

17. Tích đức từ sự biết lắng nghe
Người xưa có câu: “Nhìn nhiều, nghe nhiều và nói ít”. Người biết lắng nghe thường được lòng người khác bởi lắng nghe là một cách lấy lòng người khác tốt nhất.

                                                               Theo www.daikynguyenvn
__._,_.___


Thứ Sáu, 10 tháng 6, 2016

CHUNG THUYỀN

                                                                     

                                                                                         CHUNG THUYỀN

                                                                        Bao đời cách trở lại tìm nhau,
                                                                        Cùng hội chung thuyền trước bể dâu.
                                                                        Hiểu được nhân duyên thôi hối tiếc,
                                                                        Nghe theo giáo pháp vượt lo âu.
                                                                        Phương Tây chẳng thối bền tâm tịnh.
                                                                        Hướng đạo không lay thắm nghĩa mầu.
                                                                        Bè báu kinh vàng nương kẻo lỡ,                                                                                                       Tròn tu phước tuệ nguyện qua cầu.

                                                                                                             Minh Đạo

Thứ Hai, 6 tháng 6, 2016

ĐƯỜNG VỀ






                                            THI HỌA VÀ THƯ PHÁP VIỆT CỦA MINH ĐẠO                                            
                                            TRONG THI PHẨM “ĐƯỜNG VỀ”  
 
                                                        “Giọt nắng vàng lung linh 
                                                          Bên thềm gió lay nhẹ 
                                                          Nắng gió vẫn vô tình 
                                                          Không sinh cũng không diệt”
  
   Đây là bài thơ “Nắng gió” trong tập thơ Đường về của Minh Đạo. Tác giả sáng tác một cách xuất thần, dựng thành cốt lõi, xương sống cho tác phẩm thi ca nghệ thuật. Bài thơ được thực hiện bằng thư pháp Việt để trình bày bìa sau của tác phẩm mà bạn đọc đang cầm trên tay. 
  
    Đọc cả tập thơ và với bài thơ “Nắng gió”, có thể nói tâm cảm của Minh Đạo là thơ hướng đến trí tuệ, tư tưởng lớn ở phương Đông: giáo lý của đạo Phật. Tác phẩm gồm 95 bài thơ, phần lớn được viết theo thể thơ Đường với niêm luật, khuôn giáo khắt khe đòi hỏi phải chỉn chu về luật thơ.
 
    Chân thành mừng anh Minh Đạo đã “công phu”, chu đáo trong việc dựng thành sách, thành thơ, thành họa và kể cả thành nhạc nữa. Niềm vui cho thi hữu Minh Đạo đã được thầy Thích Tâm Hải đề tựa cho tác phẩm, làm sáng tỏa và thanh thoát việc “khai quang điểm nhãn” cho thi phẩm Đường về này. 
 
    Trong số 95 bài thơ, tác giả đã chọn lọc rồi minh họa gần 40 bức thư pháp, ảnh nghệ thuật và được xếp đặt một cách hợp lý. Tất cả những nội dung ấy đã nói lên việc hướng về cội nguồn uyên nguyên của văn hóa Việt. Tác giả đã trình bày một cách qui ngưỡng, có trước có sau, có ngôi thứ, có trật tự, có lề lối, chung thủy, tri ân, cảm nghĩa của người Việt thanh tao và cao quí. Đó là ơn nước, ơn thầy, ơn sinh thành dưỡng dục, ơn xã hội… được lồng vào nhau một cách lung linh, sùng kính và cung ngưỡng. Càng đọc, càng nhìn, càng nghĩ, càng suy thì lại càng mến tài và trân trọng tác giả hơn. 
  
    Đường về đầy hoa thơm cỏ lạ, ngào ngạt… theo thời gian như muốn đọng lại trong bài “Quỳnh hương”: 
 
                                                     “Trăng lên hoa nở khách đề thơ 
                                                      Hương ngát hoa đời ý vẩn vơ 
                                                      Trà nguội đêm tàn sương tỏa lạnh                                                          
                                                      Say đời say mộng mãi còn mơ”. 
 
    Ngoài ra tôi còn tâm đắc với ý thơ “Thời gian vò võ” và “Đọng lại nghe vò võ” mà anh Minh Đạo đã nhắc đến hai lần trong thi phẩm: 
                                                      “Thời gian vò võ luôn in đậm”   
                                                       (Tuổi thơ) 
                                                      “Thời gian đọng lại nghe vò võ”
                                                       (Chờ xuân)
     Thân chào anh và những người thân về dặm đường mà anh đã ký thác, nuôi dưỡng ước vọng từ lâu cho tác phẩm. 
           
                                                                       Xuân Bính Thân - 2016
                                                                                  Thân hữu 
                                                                             Lê Quang Thái 
                                                        (Tập san Liễu Quán – Tạp chí Sông Hương)


---------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------
               
Xin giới thiệu đến quí thân hữu gần xa tập thơ Đường Về trên trang web Thiền viện Vạn Hạnh:

-----------------------------------------------------------------------------------------------------------                               



  CẢM NHẬN CỦA ĐỘC GIẢ SAU KHI XEM XONG TẬP THƠ ĐƯỜNG VỀ



Lối về của MINH ĐẠO trong “ĐƯỜNG VỀ” (*)
 Tâm Lễ - Nguyễn Ngọc Luật
Thân hữu gần xa biết đến thầy Minh Đạo như là một nhà thư pháp với nét bút phóng khoáng và bản sắc riêng biệt không lẫn vào ai được,  thư pháp của thầy thường là những câu Phật ngôn, thiền ngữ hoặc là những câu thơ ngắn của thầy, thầy cũng vẽ tranh thủy mặc với những nét chấm phá thật độc đáo. Nhưng ít ai biết thầy vẫn miệt mài làm thơ theo thể thất ngôn bát cú đường luật với những quy tắc về niêm, luật, đối… hết sức khắt khe, nghiêm nhặt cho đến khi thầy cho ra mắt tập thơ- thư pháp “ĐƯỜNG VỀ” thì nhiều thân hữu thật sự ngỡ ngàng!
  Thi tập “Đường Về” với 95 bài thơ Đường đa số làm theo thể thgất ngôn bát cú, hầu hết nội dung để chuyển tải những suy tư, trải  nghiệm cũng như thể hiện đời sống tâm linh thật phong phú của thầy. Ngoài ra có một số ít bài thơ tự sự diễn tả những cảm nhận về tình cảm cuộc sống hoặc những giây phút phiêu bồng về một bóng hình rất xa, một cõi mộng thóang qua trong một bất chợt nào đó.
  Tôi đã đọc đi đọc lại nhiều lần toàn bộ các bài thơ trong thi tập và cảm nhận một điều là hầu  hết nội dung các bài thơ cho dù được đề cập về bất kỳ điều gì đi nữa thì tựu trung cũng mang tinh thần “tải ĐẠO”. ĐẠO ở đây không phải là đức tin tôn giáo mà là đạo lý giửa cuộc sống đời thường về tình cảm quê hương, sự tri ân tổ tiên, ông bà, cha mẹ, tình bằng hữu, tình gia tộc và vượt lên trên hết là tình người và sống đạo.
  Thầy nói về đạo lý uống nước nhớ nguồn, tri ân tổ tiên,  cha mẹ với những câu thơ thật tâm thành, dung dị
Tổ đức anh linh luôn tỏa sáng
Để cho gia tộc mãi xuân trường
( Từ đường)
Đã trót sinh ra giửa đất trời
Ân tình sâu nặng nghĩa nào vơi
                       (Ơn nghĩa sinh thành)
Đối với ơn thầy giáo dưỡng thì
Tâm an liễu ngộ người nương pháp
Gặp được minh sư dạ sáng khai
                              (Ơn thầy)
Và kết lại cho trọn tình
Mẹ dưỡng một đời ơn chẳng nhạt
Cha lo bao thuở nghĩa không phai
Vợ chồng duyên số ươm bền chặt
Thân hữu niềm tin giử miệt mài
                                                                      (Trọn tình)
Chỉ với bốn câu mà chuyển tải cả một tinh thần đạo lý trong cuộc sống của thầy.
  Duyên theo dòng luân chuyển của nghiệp thức để đi vào cuộc đời tang thương dâu bể nhuốm mùi tục lụy, chất chứa phiền não của chốn trần ai, mang thân phận kiếp người trôi lăn trong dòng sinh tử , phan duyên, cảm thọ những được-mất, thành-bại, vinh-nhục, hạnh phúc-khổ đau… với hỷ, nộ, ái ố, thất tình lục dục... chống chất lên kiếp sống với những trải nghiệm đắt giá của bản thân. Giờ đây trong tuổi xế chiều thầy đã nhận diện được ĐƯỜNG VỀ nhờ thấm nhuần giáo lý Phật-đà và đã áp dụng một cách diệu dụng vào đời sống hằng ngày bằng cách chọn cho mính lối “SỐNG ĐẠO”. Ta tìm thấy rất nhiều những ý tưởng, tự sự thể hiện nhân sinh quan…của thầy trong rất nhiều bài thơ trong thi tập.
Cửa Phật nương về đèn Bát-nhã
Nhuộm màu đạo pháp thoát bi ai
        (Hành trình)
Sớm tối tọa thiền tâm chẳng nhuốm
Ngày đêm quán chiếu cảnh không lay
(Nơi ấy)
Trong hành trình tìm về nguồn cội thầy Minh Đạo đã chọn cho mình một lồi sống thật an nhiên, tĩnh tại, thong dong với những thú vui tao nhã mà biết bao người mơ ước cũng không có được (hoặc giả họ có điều kiện nhưng thiếu duyên để tìm cho mình một lối sống buông thư như thế!)
Đến đi, đi đến đều không ngại
Là lúc thong dong giửa cõi này
                                                           (Tâm nguyện)
 Thân mang kiếp người, sống trong cõi hồng trần nhưng thầy đã vượt thoát ra ngoài không bị đắm nhiễm mùi tục lụy vì đã liễu ngộ lý vô thường, vô ngã mà buông xả, chuyển hóa thân tâm để dần dần diệt trừ tham dục, kiến lập một cảnh giới an lạc giửa trần gian khổ đau, phiền não.
Buông xã tâm khoan là lẽ sống
Tùy duyên thuận pháp thảy thong dong
                                                                    (Chờ đợi)
Và tự nhủ
Hãy sống bình tâm giửa cõi đời
Để lòng thanh thản bớt chơi vơi
                                                                       (An lạc)
Chọn cho mình lối sống khinh an, thanh thản, thầy Minh Đạo đang đi giửa cõi ta-bà với tâm thái ‘Tâm an, niệm chánh bước dung thông”!
Điều ngộ nhận lớn nhất của  đa số chúng ta là  cứ tưởng đời là thật cho nên tất bật suốt đời, thầy Minh Đạo thì không thế.
Biết đời vốn không thật
Nên sống tình bao la
Nhìn đời bắng tâm Phật
Để yêu đời thiết tha
                                                          (Biết đời)
Biết đời vốn không thật để rồi nhìn đời bằng tâm Phật ( từ bi, hỷ xả, vô ngã, vị tha) để mà yêu đời thiết tha  chứ không phải để rồi bi quan, yếm thế như nhiều người ngộ nhận về đạo Phật. Ta cảm nhận được một lối sống đạo với sự an nhiên, hỷ lạc, thong dong, tự tại làm sao!
Bên nhánh phong lan với tách trà
Lung linh nắng sớm bóng thu qua
Đậm đà vị thắm tìm thanh thản
Thoang thoảng hương đưa thấy thiết tha
                                                                     (Độc ẩm)
Còn nhiều nữa hương vị an lạc, khinh an phảng phất trong rất nhiều bài thơ trong thi tập. Còn lại một số bài với đôi chút lãng đãng sương khói, hoài niệm về một quá khứ xa xăm
Nửa kiếp thời gian còn mãi nhớ
Trăm năm ký ức mãi niềm thương.
                                                                   (Hoài niệm)
Và thế là
Nhớ em anh gởi vào trang giấy
Cách trở xa xăm với những ngày
                                                                       (Duyên xưa)
Một chút lãng đãng, một chút lang thang vào cõi mộng, chỉ là một chút thôi như màu hồng điểm xuyết trên đóa mẫu đơn, trên cành đào phai trong bức tranh thủy mặc của thầy.
  Tập thơ được khép lại với bài thơ mang tựa đề “Như”  bài thơ khái quát lại tinh yếu nội dung trong thi tập với sự trực ngộ lý vô thường, vô ngã, duyên sinh . Thầy đã tự tìm ra “Đường về” nhưng sao lại còn băn khoăn?!
Như là người lữ khách
Thời gian bóng ngựa qua
Chẳng biết đâu là nhà
Đường về quá đỗi xa”
                                                               (Như)
Đường về thì quá xa nhưng mà đã đi là sẽ đến, hành giả đã tìm ra lối về khi nhận chân được trần gian là quán trọ, để rồi một mai kia khi mà:
Quán đời tỉnh mộng tà huy
Trả buồn vui lại ra về tay không!
    Những dòng tản mạn về tập thơ-thư pháp “Đường về” của thầy Minh Đạo đáng ra đã được đặt dấu chấm hết, nhưng tôi lại cảm thấy vô cùng thú vị khi phát hiện một cách ngẫu nhiên bài thơ cuối của tập thơ có tên là “NHƯ” làm tôi liên tưởng tới bốn câu thi kệ của cố Hòa thượng Phước Hậu
Kinh điển lưu truyền tám vạn tư
Học hành không thiếu cũng không dư
Năm nay nghĩ lại chừng quên hết
Chỉ nhớ trên đầu một chử NHƯ!
Và thế là dòng tâm thức của tôi lại tiếp tục lan man, nhưng mà thôi, hãy nói như Phạm Thiên Thư trong tập “Đoạn trường vô thanh”
Thôi thì thôi chỉ phù vân
Thôi thì thôi nhé có ngần ấy thôi!
Thầy Minh Đạo nhé!
                                                                                                         Vào hạ 2016
                                                                                                            Tâm Lễ
(*) Đường về: Thơ và thư pháp-MINH ĐẠO
-------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------

                                                     SÁCH ĐÃ XUẤT BẢN

                                                         Nơi Ấy Bình Yên

 Giấy đăng ký kế hoạch xuất bản số: 79-2013/CBX/43/79/HP và QĐXB số: 124-2013/QĐ-NXB, ngày 4.6.2013.
In xong nộp lưu chiếu Quý II - 2013. Xem
 



---------------------------------------------------------------------------------------------

Liên hệ: minhdao1160@yahoo.com
minhdao1160@gmail.com



                                           

6 DẤU HIỆU CẢNH BÁO 1 TUẦN TRƯỚC KHI XẢY RA ĐỘT QUỴ




Theo nghiên cứu của Trung tâm kiểm soát và ngăn ngừa Dịch bệnh – CDC Hoa Kỳ ước tính, hơn 90% các ca đột quỵ đều diễn ra ngoài bệnh viện. Nghiên cứu này đã kết luận 6 dấu hiệu tiền cảnh báo nguy cơ đột quỵ sẽ xảy ra trong vòng 1 tuần. 

Hiện có 05 nguyên nhân chính gây đột quỵ: Thừa cân béo phì, tiểu đường, chế độ ăn uống không lành mạnh, Lạm dụng rượu thuốc lá, lười hoạt động thể chất. Cũng theo nghiên cứu khảo sát với hầu hết các bệnh nhân bị đột quỵ hoặc tai biến mạch máu não. Đây là những thông tin cực kỳ quý giá, cần chia sẻ cho mọi người tham khảo để tránh được nhiều rủi ro đáng tiếc.

1. Đau tức ngực :
Nó xuất hiện với nhiều hình thức, đa số người cảm thấy ngực như bị đè nặng, rát nóng, đau buốt. Xảy ra bất kỳ lúc nào, kể cả không vận động và vận động. Có đến 70% số người bị tai biến sau đột quỵ khẳng định rằng, họ bị đau tức ngực. Do vậy tốt nhất, bạn nên đến khám bác sỹ, nếu gặp phải bất cứ tình huống như vậy xảy ra. Còn đối với nữ, có thể không gặp trường hợp đau ngực, nhưng vẫn có nguy cơ đột quỵ.

2. Thở khó :

Bạn nên chú ý vài trường hợp cảm thấy khó thở, hoặc thở bị đứt quãng. Đó là dấu hiệu rất nguy hiểm, tim và phổi luôn kết hợp rất nhịp nhàng, nếu tim yếu, chắc chắn phổi không nhận đủ oxy. Điều đó gây khó thở, cần đi khám ngay nếu có thể.

3. Luôn cảm thấy mệt mỏi :

Tự nhiên bạn cảm thấy rất mệt mỏi không rõ nguyên nhân, nó cũng là dấu hiệu lớn của bệnh đột quỵ. Tim phải làm việc vất và hơn, trong khi các động mạnh bắt đầu đóng lại, điều đó khiến cho bạn chỉ cần vận động ít cũng thấy khá mệt. Do đó bạn luôn cảm thấy cần ngủ nhiều hơn ở mọi lúc mọi nơi, cho dù ban đêm hay ban ngày. Do vậy các nhân viên làm những công việc thiếu oxy như nhân viên rút hầm cầu hay làm việc hầm lò, nặng nhọc cần lưu ý hiện tượng này, không nên làm việc gắng sức cả ngày lẫn đêm.

4. Luôn có cảm giác buồn ngủ: 

Đến một thời gian nào đó, bạn luôn muốn ngủ, cho dù đã ngủ rất nhiều. Bạn cần đi khám ngay, trước khi quá muộn. Khi đó tim gặp khó khăn khi bơm máu cho toàn bộ cơ thể, các tĩnh mạch sưng lên, dẩn đến phình giãn. Đặc biệt là ở bàn chân, mắt cá chân, vì đây là những nơi xa tim nhất. Bạn sẽ nhìn trực quan thấy hiện tượng xanh tím ngoại vi ở tay chân và môi. Đó là lúc bạn cần đi khám sức khoẻ.

5. Bị cảm lạnh không dứt :
Liên tục bị cảm lạnh trong khoảng thời gian dài, đồng nghĩa với dấu hiệu bị bệnh tim. Khi tim hoạt động yếu đi, chắc chắn máu có thể rò rỉ ngược vào phổi. Do vậy cần quan sát khi ho, xem có đờm hơi hồng nhạt không. Nếu có, khả năng máu có dấu hiệu tràn vào phổi.

6. Tự nhiên chóng mặt
Hệ thống tuần hoàn sẽ gặp nhiều khó khăn, nếu tim quá yếu. Bộ não không nhận đủ oxy cần thiết. Điều đó sẽ làm bạn luôn cảm thấy chóng mặt, thậm chí đau đầu. Do đó bạn cần chú ý, và đi chuẩn đoán bệnh ngay khi có biểu hiện trên thường xuyên. Nó có thể giúp bạn cứu chính bản thân mình trước khi sự việc xảy ra quá muộn. Các nhân viên thông cống nghẹt và nạo vét hố ga cũng không nên thi công giữa trưa nắng. Dễ xảy ra các hiện tượng nguy hiểm.

Đây đều là biểu hiện rõ nét nhất trước 1 tuần khi cơn đột quỵ xảy ra. Bạn và người thân cần nhận biết, để tự chăm sóc sức khoẻ được tốt nhất. Vì nếu phát hiện sớm, không chỉ tránh được nguy cơ tử vong, mà còn phòng những bệnh do tai biến mang lại, như liệt người, não…

                                                      Nguồn Trung tâm CDC Hoa kỳ
                                                                       (Trích email quangaduc@...)



VỀ MỘT BỨC TRANH CỦA PHẬT THÍCH CA


Lời Ban Biên Tập:Để trả lời nghi vấn của một số độc gỉa TVHS về một bức tranh đen trắng vẽ Đức Phật Thích Ca khi Ngài còn tại thế (khoảng năm 41 tuổi) do một đệ tử của Ngài là Phú Lâu Na (Purna) vẽ, chúng tôi đã liên lạc với tác giả quyển sách Mùi Hương Trầm , GSTS. Nguyễn Tường Bách, người đã đề cập đến bức tranh vẽ này trong quyển sách của ông. Tác gỉa đã gửi cho chúng tôi bài đề ngày 16-1-2003 trả lời ông Vương Như Dương Chuyết Lão, người cũng có thắc mắc tương tự. BBT/TVHS xin cảm ơn tác gỉa quyển sách Mùi Hương Trầm và bài viết này. Riêng về bức tranh vẽ mầu được một Phật tử Trung Hoa làm lại, đưa mầu vào và ghi thêm chữ Hán (dòng chữ Hán bên trên là Thích Ca Mâu Ni Phật và hai hàng chữ Hán hai bên là bài kệ lấy từ kinh Kim Cang: "Nhất thiết hữu vi pháp / Như mộng, huyễn, bào, ảnh / Như lộ diệc như điện / Ưng tác như thị quán." Mời quý độc giả xem tiếp bài viết của GSTS. Nguyễn Tường Bách: Về Một Bức Tranh Của Phật Thích Ca

VỀ MỘT BỨC TRANH CỦA PHẬT THÍCH CA
Nguyễn Tường Bách

Trước hết, người viết bài này xin trân trọng cám ơn những nhận xét đầy khích lệ của tác giả Vương Như Dương Chuyết Lão vềMùi Hương Trầm. Những phê bình tốt đẹp đó đem lại thêm cho người viết lòng tri ân về những nhân duyên sâu kín đã tạo tác nên tác phẩm này, trong đó người viết chỉ làm một nhiệm vụ duy nhất là viết lại những gì mình từng thấy, từng nghe, từng đọc.
Trong bài viết, tác giả Vương Như Dương Chuyết Lão nêu nghi vấn về một tấm hình của đức Thích-ca trích đăng trong “Mùi Hương Trầm“. Tác giả nêu câu hỏi, phải chăng bức hình này đích thực là từ thời lúc Phật còn tại thế truyền lại, do đệ tử của Ngài là Phú-lâu-na (Purna) vẽ lúc Ngài khoảng 41 tuổi. Nghi vấn này cho ta thấy cặp mắt sắc bén của tác giả Vương Như Dương Chuyết Lão, nó đòi hỏi một câu trả lời thành tâm và nghiêm túc.
buctranhphatthichca
Phật Thích-ca lúc 41 tuổi
Trước hết, bức hình này gây nhiều sự kinh ngạc và thú vị cho người xem, trong đó có tác giả của “Mùi Hương Trầm”. Tất cả những hình tượng khác của Phật Thích-ca đều có tính chất tượng trưng. Chỉ duy nhất bức hình trên đây trình bày Ngài như một con người bằng xương bằng thịt. Bức hình này có thật không ?
Về bức hình này cũng như về nhiều chi tiết khác trong “Mùi Hương Trầm“, tác giả phải dựa vào các nguồn thông tin khác, nhất là kinh sách, tư liệu của các tác giả khác, chứ không được thấy tận mắt. Ta có thể tìm thấy thông tin về bức hình trên của Phật Thích-ca trong hai tài liệu sau đây. Một là, trong tác phẩm Vrai Zen của thiền sư Taisen Deshimaru (1914-1982). Thiền sư Deshimaru đến Pháp năm 1967 và xuất bản tác phẩm đầu tay nói trên vào năm 1969. Tác phẩm này cũng đã được Ngô Thành Nhân/Trần Đình Cáo dịch ra Việt ngữ dưới tên “Chân Thiền“ và xuất bản năm 1992. Tài liệu thứ hai là của thiền sư Tinh Vân (Hsing Yun). Thiền sư Tinh Vân, sinh năm 1927 tại Trung Quốc, là tổ thứ 48 của dòng Lâm Tế. Thiền sư Tinh Vân là tác giả của gần 30 tác phẩm, sáng lập hội Buddha's Light International Association (BLIA) và hiện nay đi du hóa trên toàn thế giới.
Trong các tác phẩm của Tinh Vân ta tìm thấy một tài liệu mang tên Seeing the Buddha[1][1]. Trong tác phẩm này Tinh Vân luận giải rất hay về các loại “thân“ của Phật, từ tranh tượng thông thường đến các dạng “hiện tướng“ khác nhau của Pháp thân Phật. Đặc biệt, dựa trên kinh A-hàm, Tinh Vân cho hay, bức tượng đầu tiên của Phật là do nhà vua Udayana của nước Kausambi cho tôn tạo lúc Ngài còn tại thế. Truyền thuyết kể lại, lúc Phật đến cung trời Tam thập tam để giảng pháp cho mẹ, nhà vua cho đẽo bức tượng bằng gỗ chiên đàn để tưởng nhớ đến Phật. Sau ba tháng, lúc Phật trở lại thế gian, bức tượng trở nên sống động và đến “chào“ Ngài. Phật mỉm cười nhìn tượng và nói: “Ba tháng qua chắc ngươi mệt lắm nhỉ!“. Sau nhà vua Udayana, vẫn theo Tinh Vân trích kinh A-hàm, nhà vua Ba-tư-nặc của nước Kiều-tát-la và trưởng giả Cấp Cô Độc cũng cho đúc tượng của Phật.
Cũng trong tác phẩm này, Tinh Vân viết thêm: “Trong những năm qua, chúng ta được nghe có một bức tranh của Phật còn xưa hơn cả bức tượng đầu tiên. Viện Bảo tàng Anh quốc tại Luân Đôn có một sưu tập gồm nhiều bức tranh của Phật. Trong những bức tranh đó có một bức mà viện bảo tàng tôn quí nhất. Đó là một bức tranh vẽ Phật lúc Ngài 41 tuổi. Bức tranh do Phú-lâu-na vẽ, một vị đệ tử của Phật và màu sắc (của bức tranh) ngày nay vẫn còn sinh động. Hình chụp của bức tranh này hiện nay được lưu hành tại Nhật và Đài Loan“.
Như thế, thiền sư Tinh Vân cũng chỉ nghe nói đến bức tranh này chứ chưa được thấy tận mắt. Người viết bài này cũng chưa có dịp đến viện bảo tàng British Museum để tìm kiếm bức tranh nọ, nhưng đã lục lọi trên Internet, vào trong các bộ sưu tập tranh của viện bảo tàng nhưng cũng không thấy bức tranh nọ được trưng bày trong mạng. Vì thế lai lịch bức tranh, liệu nó có thật hay không, vẫn còn là một nghi vấn. Người ta chỉ biết chính xác là rất nhiều cổ vật của Ấn Độ được mang về Anh vì Ấn Độ một thời là thuộc địa của Anh, và không phải cổ vật nào cũng được trình bày cho công chúng xem. Do đó, nghi vấn này không biết bao giờ mới giải đáp chính xác được. Độc giả nếu có ai đã từng xem được bức tranh hay có thông tin gì về nó, xin thông báo cho chúng ta được biết chung.
Trong bài này, ta hãy thử tìm hiểu thêm các nguồn tài liệu khác để có một cái nhìn khách quan về niên đại của tranh tượng về Đức Phật. Một nguồn thông tin cho hay, tượng Phật cổ nhất được tìm thấy là tại Tích Lan, với niên đại của thế kỷ thứ ba trước công nguyên. Theo những tài liệu khác, tại Gandhara (Tây bắc Ấn Độ, ngày nay thuộc về Afghanistan), lúc vùng này bị Hy Lạp chiếm đóng trong khoảng thế kỷ thứ nhất trước công nguyên đến thế kỷ thứ sáu sau công nguyên, con người bắt đầu trình bày Đức Phật với nhân trạng, theo truyền thống Hy Lạp. Theo nhà Phật học W.Schumann[2][2], hình ảnh đức Phật bắt đầu được tôn tạo khoảng 450 năm sau ngày Ngài diệt độ. Theo L.M.Joshi thì bức tượng Phật cổ nhất được tìm thấy tại Mathura (Bắc Aán) với niên đại của thế kỷ thứ nhất sau công nguyên. Nói chung các nhà nghiên cứu khoa học đều thừa nhận là không thể biết đích xác và cũng không hoàn toàn thống nhất về niên đại của tranh tượng đầu tiên của Đức Phật.
Ngoài vấn đề niên đại, các nhà nghiên cứu phương Tây có những lời giải thích hữu lý về vai trò của tranh tượng. Theo họ, ngày xưa đối tượng để thờ cúng không phải là tranh tượng mà là xá lợi và các tháp chứa đựng xá lợi. Theo thời gian, quan niệm thờ cúng xá lợi và bảo tháp hẳn không thể tồn tại được lâu, nhất là với sự phát triển rộng khắp của đạo Phật. Ngày nay người ta phát hiện một văn bản du nhập vào Trung quốc năm 148 sau công nguyên, trên đó có ghi: “...đệ tử đích thực của Phật cần đảnh lễ tranh tượng của Ngài mỗi sáng mỗi tối và thường xuyên đốt đèn để tỏ lòng tôn kính Ngài...“[3][3].
Với những lẽ trên, ta có thể chắc chắn tranh tượng đức Phật đã hình thành chậm nhất từ đầu công nguyên. Đó là điều khoa học có thể chứng minh. Còn các bức tượng bằng gỗ và bằng vàng mà Tinh Vân nói đến, bức tranh vẽ đức Phật của Phú-lâu-na mà cả hai thiền sư khả kính Taisen Deshimaru lẫn Tinh Vân nhắc nhở thì sao? Nói một cách nghiêm túc, các tác phẩm nghệ thuật đó chưa được chính thức khẳng định và thừa nhận. Liệu một ngày nào đó, bảo tàng viện của Luân-đôn sẽ trình bày bức tranh và Phật tử có thể chiêm bái bảo vật vô giá nói trên, điều đó cần một nhân duyên lớn.
Thế nhưng, trong lúc chờ đợi, có lẽ ta nên nghĩ như Tinh Vân trong tác phẩm Seeing the Buddha. Theo đó, Thân Phật chỉ là Ứng thân của Ngài, bức tranh (nếu có) lại càng là một phần của Ứng thân. Còn Pháp thân của Ngài là đang ở khắp nơi và hiện hữu trong từng khoảnh khắc.
NTB (16.1.03)

Bản PDF: VỀ MỘT BỨC TRANH CỦA PHẬT THÍCH CA (Nguyễn Tường Bách)


[1][1] http://www.blia.org/english/publications/booklet/pages/21.htm
[2][2] W.Schumann, Buddhistische Bilderwelt, Diederichs Verlag 1986
[3][3] Theo L.M.Joshi, Buddhistische Kunst und Architektur, trích trong Die Welt des Buddhismus, Orbis Verlag 2002

                            Bài / Sách liên quan đến chủ đề:
                 ● MÙI HƯƠNG TRẦM - Nguyễn Tường Bách

                                                                                                                                                                   Nguồn http://thuvienhoasen.org